Saigon, “âm thịnh dương suy…”

 

“Chợt ngoảnh lại thấu màu dương liễu

Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong”

(Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm)

 

(Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,

Hối giao phu tế mịch phong hầu

( – Thịnh Đường)

 

Chuyện cũ:

Năm 1968, sau Tết Mậu Thân, tôi tự động trình diện nhập ngũ, theo lệnh “tổng động viên”, không có “lệnh gọi cá nhân”. Đang học giai đoạn 1 ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung thì có thông báo của Bộ Quốc Phòng cho một số giáo chức được làm đơn xin biệt phái trở về nhiệm sở cũ.

Tôi ra số 70 Lê Thánh Tôn, Saigon, xin gặp ông thiếu tá trưởng phòng Quân Vụ bộ . Ông ta nói thẳng thừng: “Có (bảy chục ngàn – khoảng bao nhiêu lạng như trong truyện Kiều? – việc nầy mới xong!” Một phần tôi không có tiền, một phần, tôi tự nghĩ: “Con đường cũ” là con đường “đem cái tinh hoa của người xưa mà truyền lại cho người đời sau”, là con đường trong tâm tưởng. Con đường ấy rất đẹp, nếu nó còn ở trong tâm hồn mình. Đem nó trở lại với thực tế, sẽ gặp nhiều phũ phàng. Tôi bèn dẹp cái chuyện “biệt phái” qua một bên, tiếp tục công việc “quân trường đổ mồ hôi…”

Tuy nhiên, tôi vẫn hoài niệm “con đường cũ”, nhất là với những tác phẩm “Cổ Văn”. Năm 1973, đi hành quân ở “Quần đảo Hải Tặc” (1) – Nói là hành quân cho đúng với “chữ nghĩa quân sự” – thật ra, trong lòng tôi là “đi cho biết” nơi mình làm việc, nơi mình “chịu trách nhiệm”… Tôi đi quanh những cù lao trong vịnh Rạch Giá, từ Hòn Heo, Hòn Đầm, cho tới Hòn Nghệ… rồi quay trở lại Hòn Chông, căn cứ cũ của “Kiếm bạt ” Nguyễn Trung Trực, thăm “Hang Tiền” là cái hang đúc tiền (hay giấu tiền) của Nguyễn Vương, rồi lại quay ra “Hải Sơn Tự” tức là Chùa Hang dưới chân núi An Hải Sơn. Tôi khó quên cái cảm giác khi ra khỏi Chùa Hang, cửa phía biển – gió biển thổi lồng lộng, làm như thổi hết những gịot mồ hôi trên thân thể tôi sau một chuyến hành trình xa và mệt; lại thấy “đám học trò thời kỳ 1956, 57… khi đất nước còn hòa bình, “tụi nó” từ Saigon hay từ Cần Thơ, Rạch Giá đến đây… khắc tên mình và… “bồ” trên những vách đá phía ngoài cửa hang, khiến tôi nhớ những năm, cùng thời kỳ ấy, tôi cũng từng “đi chơi lăng” của các ông vua triều Nguyễn, cũng cùng với… “bồ” hay với bạn. Tôi chợt thấy phía biển, và… ngạc nhiên: Hòn Phụ Tử?

Ngày xưa, tôi “ngoạn cảnh” trong sách vở, như lời ông Võ Liêm Sơn, trong bài thơ “Ngăm Non Hồng”:

 

“Ông thầy áo thụng ngồi giường cao,

                        Sân Trình, cửa Khổng đã ra vào

                        Bảo tôi trong những đống sách c

                        Thiếu gì non nước để tiêu dao!

 

Nay thì tôi đang đi “hành quân” nhưng thực tế là “tiêu dao Hà Tiên Thập Cảnh” trên thực địa, không phải trong “đống sách cổ” như lời ông đồ Nho, thầy dạy cụ Võ Liêm Sơn, và tôi lại thắc mắc về “Hòn Phụ Tử”.

Trên giải đất hình chữ S của nước ta, không thiếu “Hòn Vọng Phu”, hay “Hòn Mẫu Tử” tức “Mẹ Bồng Con” hay “Mẹ thương con ra ngồi cầu Ái Tử, Vợ trông chồng lên đứng núi Vọng Phu”. Nhưng mà “ái tử” có đâu xa, chỉ ở phía bên kia sông Thạch Hãn. Sông Thạch Hãn là nơi tôi sinh ra, tôi lớn lên, tôi đi học và trốn nhà ra đi, xa rời con sông nầy, năm tôi 15 tuổi. Qua bên kia sông Thạch Hãn, đi ngang qua làng Nhan Biều là quê ngoại tôi, đi qua chiếc cầu sắt ngắn trên con sông nhỏ Ái Tử, là tới “Truông Ái Tử”, nơi đóng quân đầu tiên của Chúa Nguyễn Hoàng, khi ông vào nam năm 1558.

Ngay từ “địa đầu tổ quốc”, dân tộc Việt Nam đã có “Đồng Đăng”, “Kỳ Lừa”, Chùa “Tam Thanh”, “Nàng Tô Thị”… (Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa, có Nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.).   Đi xuôi về phương nam, chúng ta thấy rất nhiều “Nàng Tô Thị”, có khi gọi là Núi Vọng Phu, Mẹ Bồng con. Hầu hết là người Mẹ. Thế tại sao ở đây, phía ngoài cửa Chùa Hang, trong Vịnh Rạch Giá, là “Hòn Phụ Tử”, là người Cha thay cho hình ảnh người Mẹ?

Lịch sử Nam Tiến của người Việt có thay đổi gì chăng?

Vâng! Đúng vậy! Ở vùng đất mới của các lưu dân miền Tây Nam Bộ, vì công việc khai khẩn đất đai, đào kinh, đốt rừng nặng nhọc, vì sông rộng đồng sâu, người đàn bà không kham nổi công việc phá rừng, đồng áng, đành giao lại công lao cho người chồng. Có phải một thời kỳ mẫu hệ qua đi, nay trở lại chế độ phụ hệ như trong lịch sử phát triển của nhân loại.

Trước khi Cộng Sản chiếm miền Nam, thống trị Saigon, vai trò người đàn ông, bao giờ cũng là người đứng đầu gia đình. Điều đó, là truyền thống văn hóa của gia đình Việt Nam. “Bức hình chụp ba mẹ” người tinh ý nhận thấy, dù “hai ông bà đứng chung” nhưng bao giờ mẹ cũng thụt lùi sau ba một chút. Đó là lòng kính trọng của mẹ đối với ba. Mặt mẹ nhu mì, nghiêm trang, nụ cười rất nhẹ, không  một chút “nghênh ngang” khi bên cạnh chồng.

Dù ba bao giờ tôn trọng mẹ, coi mẹ là người ngang hàng, bình đẳng, nhưng khi có việc gì hơi quan trọng một chút, hỏi mẹ, xin mẹ, mẹ biểu: “Chờ ba về!”, “Để hỏi ba!”, có khi “Để ba quyết định”.

Thế rồi “đổ đời”. Cờ đỏ treo khắp nơi. Màu đỏ như là một màu đe dọa. Ba vô tù, ba “đi học tập cải tạo”, ba thất nghiệp, ba không được “lưu dung”. Ba ngồi nhà nhổ râu, ba xuống bếp vo gạo, ba lo lặt rau để các con đi học, học bài… Còn mẹ “xông ra” đường, buôn thúng bán mẹt, ngồi chợ trời, buôn vặt cái áo cũ, cái quần cũ, cái mũ cũ, đôi dép cũ… Cái mới không được sắm thêm, cái cũ đem ra đường. Chế độ chỉ cho phép chừng ấy. Khả năng của mẹ cũng chỉ có chừng ấy, bởi vì mẹ xuất thân là học trò, là sinh viên, là thư ký, là cô giáo… Mẹ chưa từng xông pha chợ đời để kiếm gạo nuôi con, nuôi chồng; có khi mẹ được một ngày “vinh quang chiến thắng”, giỏ xách mẹ đem về có gạo, có rau, có cá, có thịt. Những cũng có lắm ngày, mẹ đạp xe ra về, mặt rầu như ông đại tướng khi ra lệnh đầu hàng. Cái mặt rầu ấy là một trong muôn triệu cái mặt rầu của người miền nam. Hai con mắt đờ đẩn ấy, là một trong những triệu đôi mắt của người miền nam. Ông đại tướng chỉ rầu có một ngày, mặt mẹ rầu cả mấy chục ngàn ngày. Hai mắt mẹ đờ đẩn đạp xe trên con đường về. Mắt mẹ nhìn đường mà tưởng như mẹ không thấy gì. Trời đã chiều, bóng tối phủ đầy, mắt mẹ tối hơn.

Mẹ! hàng triệu người mẹ miền nam, “xuống đường” từ ngày ấy…

Tôi và người bạn ngồi trong sân nhà anh, để nghe anh kể những câu chuyện về “người mẹ xuống đường” từ Tháng Tư năm ấy, trong khi cán bộ Cộng Sản hô hào “phụ nữ miền Nam hãy đứng lên đòi nam nữ bình quyền”, đòi “giải phóng phụ nữ”, “đứng ngang hàng với người chồng”, đòi “phụ nữ phải được tôn trọng”. Người cán bộ Cộng Sản, nói như con vẹt, đâu biết ở xã hội miền Nam trước 1975, không mấy khi “ba không tôn trọng mẹ”.

Tôi hỏi người bạn: “Vậy nên bây giờ, một xã hội mới hình thành: Người chống quanh quẩn trong nhà, người vợ xông pha ngoài… đường phố.

Người bạn hỏi ngược tôi:

-“Ông” có thấy hình ảnh người đàn bà, con gái Saigon ngoài đường phố như thế nào khong?”

-“Văn minh lắm chớ “ông”: Mũ rộng vành, đeo kiếng đen, khẩu trang che mồm miệng, “gang” tay tới cùi chỏ, quần tây hoặc áo đầm, giày dép da gót cao, luồn lách xe gắn máy rất tài tình…”

-“Cái gì sau xe gắn máy?” Anh bạn bất thần hỏi. Tôi chưa kịp trả lời thì anh ấy nói tiếp: Chồng chất lên nhau năm bảy cái thùng giấy, thùng nhôm đựng đầy hàng hóa. Họ đi buôn, họ đi giao hàng, họ đi lấy hàng, họ lo kiếm tiền để nuôi cả gia đình đấy! Không như ngày xưa, người đàn bà phần đông ở nhà lo việc nội trợ.”

-“Vậy thì người đàn ông làm gì?” Tôi hỏi.

-“Đàn ông à?! Sáng: đưa con đi học, ghé chợ mua rau cá… Xong ra ngồi quán cà-phê chuyện gẫu với bạn bè, hàng xóm. Xong, về nhà ngủ; dậy nấu cơm, luộc rau; lại đón con đi học về; đưa con đi “học thêm” – để được cô thầy “chiếu cố” cho con khi con học ở lớp. Lại đón con về, cha con cùng ăn cơm, không chờ mẹ vì “mẹ về khuya lắm”, “cho con ăn cơm sớm để con học bài…” Người bạn kể một hơi.

-“Không có bữa cơm gia đình?” Tôi hỏi.

-“Chuyện ấy xưa rồi, đã “đi vào lịch sử” kể từ ba mươi tháng Tư!”

-“Ông” không nghĩ “bữa cơm gia đình” là sinh hoạt cần thiết cho sự sum họp gia đình hay sao?” Tôi nói như lời than!

-“Người miền Nam họ biết lắm chớ! Nhưng “đánh phá gia đình” không phải là sách lược của “tam vô” hay sao? Con cái sau nầy lớn lên, gia đình không còn là môi trường cần thiết! Trẻ con sẽ là sản phẩm của “học đường của xã hội xã hội chủ nghĩa”, là sản phẩm của các “tổ chức xã hội xã hội chủ nghĩa”, của “đoàn”, của “đảng” và của xã hội mới theo tiêu chuẩn của chủ nghĩa Mác Lê-Nin.”

-“Không có “văn hóa dân tộc”?Tôi hỏi.

-“Văn hóa dân tộc” là cái gì? Là “chế độ phong kiến”, là “tôn giáo phản động?” là “địa chủ phản động”, là “tiểu tư sản phản động”, là “trí thức phản động”, là “đồi trụy”, là “ngoại lai”, là “tàn dư đế quốc, tư bản” là “chiếc áo dài”, là “quần ống loe”…

-“Những cái đó bây giờ hết rồi, các cô cũng ăn mặc hở hang, cũng sexy?’ Tôi lại cãi.

-“Ông” lại quên “bài học” rồi. Cái gì là bản chất? Cái gì là hiện tượng. Những cái “ông” nói, bây giờ người ta còn làm mạnh hơn, còn thi hoa hậu nữa mà. Chắc chắn không có “hoa hậu nữ Tarzan Cô Nhíp” mà hoa hậu có tiêu chuẩn như Âu – Mỹ. Áo da, quần bò, khiêu vũ, nhạc vàng… chỉ là “hiện tượng”, bản chất vẫn là “Chủ nghĩa Mác – Lênin”. Trong tương lai, Việt Cộng sẽ “điều chỉnh” lại xã hội, sẽ có “cách mạng văn hóa” như thời Mao. Tàu làm gì, Cộng Sản Việt Nam sẽ rập khuôn!”

Tôi thẩn thờ trên đường về nhà trọ – nhà chị tôi – trong trí tôi “lộn xộn” những hình ảnh của người phụ nữ xưa và nay. Xưa là hình ảnh người “chinh phụ” trong “Chinh Phụ Ngâm” mà tôi đã dạy mười năm cho các lớp học trò. Người đàn bà ngày xưa, đâu có thể nghĩ ra một ngày kia, trở thành người đàn bà chờ chồng đi đánh giặc ở xa:

 

“Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ

                        Chàng há từng học lũ vương tôn

                               Cớ sao cách trở nước non

                        Khiến người thôi sớm thôi hôm cũng sầu!”

 

                        . . . . . .

                        Nay một thân nuôi già dạy trẻ

                        Nỗi qui mang mẻ xiết bao

 

Dù đó là những hình ảnh xưa cũ của tổ tiên, nhưng khi đứng trước bảng đen, hình ảnh đó là “thần tượng” tôi đã vẽ ra cho các thế hệ đang lớn lên. Tôi không hối hận khi những “cậu” học trò của tôi, nghe lời thầy mà “Xếp bút nghiên theo việc đao cung” hay các cô “Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai.”

Văn chương ấy, con người ấy và cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm chống Cộng Sản Bắc Việt xâm lăng miền Nam, không bao giờ tôi thấy lòng hối tiếc về những điều tôi đã nói với học sinh, để cuối cùng tôi cũng bỏ phấn cầm súng theo gương… học trò của mình.

Trong cuộc đời người lính “trên bốn vùng chiến thuật”, không mấy khi tôi không thấy cảm thương cho thân phận của người phụ nữ Việt Nam, trong đó có mẹ tôi, các chị tôi, các em tôi, các cô gái ở quê tôi, trong hoàn cảnh “chẳng tưởng ra người chinh phụ” và lắm người “góa phụ”.

Chiến tranh qua rồi, gần nửa thế kỷ. Về nước kỳ nầy, tôi lại thấy “Mũ rộng vành, đeo kiếng đen, khẩu trang che mồm miệng, “găng” tay tới cùi chỏ, quần tây hoặc áo đầm, giày dép da gót cao, luồn lách xe gắn máy rất tài tình…” ở yên sau cái xe là “chồng chất lên nhau năm bảy cái thùng giấy, thùng nhôm đựng đầy hàng hóa. Họ đi buôn, họ đi giao hàng, họ đi lấy hàng…

Đây chỉ là muôn một hình ảnh người đàn bà Saigon, người đàn bà Viẹt Nam bây giờ, còn có bao nhiêu cảnh “khóc hận cười đau” nữa, nói sao cho hết!

Còn đàn ông, con trai: Sáng la cà caphê, đánh cờ tướng, chiều quán nhậu, như người “thất chí”. “Chí khí lạnh tanh”, tinh thần bạc nhược.

Biết ai còn nhớ câu thơ của Phạm Hầu:

 

Ngày xưa mẹ đóng cho con sách

                        Mẹ gởi cho con đến học đường!

                        Ngày nay để vá non sông rách,

                        Mẹ gởi con ra bãi chiến trường!

 

Một dân tộc như thế, có thể “làm được gì” trước hoa xâm lăng!

 

“Toàn dân nghe chăng?”

Có ai nghe được gì chăng?

 

Có! Tôi có nghe “tiếng loa phường”

Phường tôi, mà cũng là “phường tuồng”!

 

 

(1)-“Quần đảo Hải tặc” là một loạt các đảo lớn nhỏ trong vịnh Rạch Giá: Hòn Lại Sơn, Hòn Tre, Hòn Nghệ, Hòn Đầm, Hòn Heo (Hòn Đội Trương)… là nơi trú ẩn của đám hải tặc trong vịnh Thái Lan hồi mấy thế kỷ trước. Bọn hải tặc nầy phần đông gốc dân đảo Hải Nàm, bên Tàu. Về già, giải nghệ, không dám về xứ sở, phần đông định cư ở vùng bờ biển Rạch Giá/ Hà Tiên hay Thái Lan, Mã Lai.

[post_connector_show_children slug=”v%e1%bb%81-n%c6%b0%e1%bb%9bc-th%e1%ba%a5y-g%c3%ac-ngh%c4%a9-g%c3%ac” parent=”29506″ link=”true” excerpt=”false”]

Kết nối với FB của Văn tuyển!
Chia sẻ tin tức, video, quảng cáo, rao vặt và ....
No posts found.
No posts found.