“Ngôn ngữ là con người!”

“Thằng Mỹ, thằng Tây, thằng Tàu.

Ông Liên Xô, ông Trung Quốc!”

Việt Cộng thì kiêu hãnh vì là kẻ chiến thắng, trong khi người Việt Nam, nói chung, lại có tâm lý kẻ chiến bại. Vì vậy, tuy bị Tây, Tàu cai trị mà người Việt vẫn cứ gọi kẻ thống trị mình bằng thằng: Thằng Tây (Pháp), thằng Tàu, và cả “thằng Mỹ”.

Trong cuốn “Bèo giạt” kể chuyện vượt biên, tôi có thuật lại câu chuyện vui:

Cựu trung tá TQLC Mỹ Arlington, sau khi giải ngũ, làm việc cho bộ ngoại giao Hoa Kỳ. Thỉnh thoảng, ông ta đến trại tỵ nạn Sungei Bishi ở bên ngoài thủ đô Kuala Lampur để những thuyền nhân xin đi định cư ở Mỹ.

Hôm đó, ông ta hai mẹ con, người chồng đã ở Mỹ. Sau khi hỏi xong người mẹ, ông ta cho bà mẹ ra khỏi phòng. Người con gái vào, hỏi xong, đi ra. Cô gái vừa ra khỏi cửa, có người mẹ đang đứng chờ ở đó, nôn nóng hỏi:

-“Thằng Mỹ hỏi mầy sao?”

Arlington liền đứng lên, gọi bà mẹ vào nói, bằng tiếng Việt, không phải qua thông dịch viên như lúc nảy:

-“Tôi gọi bà bằng bà, tôi gọi con gái bà bằng cô. Sao bà gọi tôi bằng thằng?”

Bà mẹ sợ quá, liền sụp xuống lạy:

-“Tui lạy ông! Tui lạy ông, tui lỡ lời.”

Phong ời bình dân Việt Nam đấy. Trong phong cách ấy, có khi là do văn hóa. Việc người phụ nữ Việt Nam lấy chồng ngoại quốc, được (hay bị?) quần chúng nhìn bằng con mắt, nói cho lịch sự một chút, là không được kính trọng lắm. Lấy chồng Tây phương, Tây chẳng hạn, thường gọi bằng “me” – có thể do chữ mère trong tiếng Pháp mà ra: “Me Tây, me Mỹ”, lấy chồng Tầu thì người ta gọi bằng “thím”. Thím là vợ của chú: Chú Ba là “Ba Tầu”; chú Bảy là “Chú Bảy Chà” (Chà Và, tức Ấn Độ. “Chà Và Maní” là chú Bảy / Chà Và từ Phi Luật Tân qua. Ma-ní là Manille, thủ đô của Phi-Líp-Pin (Philippine)…

Hồi xưa, xưa là trước 1945, người Tầu thì gọi bằng Tàu, vì họ đến nước ta bằng tàu. Ở miền Trung, tôi biết từ bên Tàu qua, họ cập tàu vào “Sịa” là bến tàu trong phá Tam Giang. Họ định cư ở Sịa – Sịa coi như “phố Tầu” hoặc lên Huế, phần đông cư trú, làm ăn ở Gia Hội. Gia Hội là phố Tàu của Huế. “Đông Ba/ Gia Hội hai cầu, Ngó lên Diệu Đế bốn lầu hai chuông” hoặc định cư ở thị xã Quảng Trị, , Diên Sanh của Quảng Trị hay Nong, Truồi của Huế. Bất cứ ở chợ phủ, chợ huyện hay chợ xã đều có tiệm Ba Tầu, bán thuốc Bắc hay “chạp phô”.

Gọi “Ba Tầu” hay tệ hơn là “Chệt” (có khi thấy viết là Chiệc) là không tỏ ý kính trọng lắm đâu. Tuy nhiên, đọc “Chân Trời Cũ” của , người ta cũng thấy bùi ngùi thương xót cho người xa xứ, lưu lạc quê người. là nhà văn, nhà thơ Việt Nam lai Tàu. “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé, Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân”. Cô gái không giữ lời hẹn, có phải vì là con trai chú Ba?

Tiếng Chệt là tiếng người ta thường dùng ở ngoài, nhưng đôi khi cũng có trong văn chương:

            Ba mươi tết, tết lại ba mươi,
Vợ thằng Ngô đ
ốt vàng cho chú h,
M
ột tay cầm cái dù rách
M
ột tay xách cái chăn bông
Em đ
ứng bờ sông
Em trông sang nư
ớc người:
“Hỡi chú Chi
ệc ơi là chú Chiệc ơi”
Một tay em cầm quan tiền,
Một tay em xách th
ằng bù nhìn
Quan ti
ền nặng thì quan tiền chìm
Bù nhìn nh
ẹ thì bù nhìn nổi,

            Ối ai ơi của nặng hơn người!

Có một điều đáng suy nghĩ. Cụ là một người nổi tiếng đạo đức, đứng đắn trong nhiều lãnh vực: – cụ là một nhà giáo – Văn Hóa, cụ là tác giả “Nho Giáo”, “Việt Nam Sử Lược”, coi như “chính sử” trong tất cả những tác phẩm sử học của thế kỷ trước – Chính Trị, cụ làm thủ tướng thời hậu thực dân Pháp năm 1945. Vậy mà trong suốt tác phẩm sử học nổi tiếng nói trên, về Trung Hoa, cụ viết rặt một chữ “Tàu” mà thôi. Nếu nói riêng từng “nhà” bên Tầu, thì cụ gọi là “Nhà Đường”, “nhà Tống”, “nhà Minh”, “nhà Thanh”… Còn như nói chung về Trung Hoa, cụ gọi là Tàu. Ví du, cụ viết:

(ở trang 21)

-Chương III

Xã Hội Nước Tàu

Về đời Tam Đại và đời nhà Tần.

(trang 66)

III. Đời Ngũ Quí (907-959)

1.Tình thế nước Tàu.

Nói chung, trong suốt cả hai cuốn 1 và 2, về Trung Hoa, cụ chỉ gọi nước ấy là “Nước Tàu”.

Cụ viết như thế là theo cách nói thông thường của người Việt Nam, “nôm na”, không coi thường mà cũng không tâng bốc.

Thời , một ông tổng thống không mấy ưa những cái gì không được văn hoa, như quận “Bù Đốp” thì ông biểu sửa lại là Bố- Đức, quận “Giồng Riềng” thì cho sửa là “Kiên Bình”… Thay vì như dân chúng gọi tòa đại sứ trên đường Hai Bà Trưng là “Tòa Đại Sứ Tàu”, thì chính phủ Việt Nam Cộng Hòa gọi là “Tòa Đại Sứ Trung Hoa Quốc Gia” hay “xứ” Đài Loan thì gọi là “Nước Cộng Hòa Trung Hoa Dân Quốc”.

Trước 1975, trên văn kiện chính phủ, hay trên miền Nam, không thấy chữ “Trung Quốc” bao giờ. Về vùng đất do Mao cai trị, người ta gọi là “Trung Hoa Cộng Sản” – hay gọi tắt là “Trung Cộng” – hay “Trung Hoa Lục Địa”, hay “Tàu Cộng”.

Dù nước ấy có là “cộng” hay không, người ta cũng không thể gọi nó là Trung Quốc. Hiểu theo cách phổ thông thì Trung là ở giữa, Quốc là nước. Người Tầu họ ưa gọi nước họ là “Chung Cuốc” (Trung Quốc) vì trong cái trình độ địa lý thấp kém, chưa mở rộng trí óc của người Tàu, thì quả đất hình vuông, chung quanh là biển. Câu “Tứ hải giai huynh đệ” là theo nghĩa đó. Nước Tàu ở giữa, chung quanh là phiên ly, rào giậu, là canh nhà cho chủ, để chủ ngủ ngon. Trong ý nghĩa đó, Tàu là hạng trên, các nước phiên ly là hạng dưới. Chú Chệt là ông chủ, Tây Tạng, Mông Cổ, Hồi Đột, Cao Ly, Việt Nam là đầy tớ, v.v… Theo cách nghĩ của bọn Tàu là như thế.

Khi ta gọi Tàu là Trung Quốc là cố tình hay vô ý coi chúng nó ở trên đầu trên cổ chúng ta. Chúng ta ở duới.

Trong tất cả các “bài nói” (danh từ Việt Cộng đấy), “bài viết” của Hồ Chí Minh không bao giờ gọi nước Tàu, người Tàu, lại không gọi là Ngô (như trong Bình Ngô Đại Cáo), hay thằng Chệt, chú Ba. Bao giờ ông ta cũng gọi một cách kính cẩn “ông chủ của ông ta” là “Trung Quốc”, “Trung Quốc Vĩ Đại”, “đồng chí Trung Quốc”… Dĩ nhiên, Trường Chinh, Phạm Văm Đồng, Võ Nguyên Giáp… thì cũng cùng một giuộc như nhau, cũng “Kính thưa đồng chí Trung Quốc Vĩ Đại kính mến”. Quá lắm như Tố Hữu cũng chỉ nói bóng gió:

“Tình bạn ngày nay đã xưa                  

            Rằng e sớm nắng lại chiều mưa

            Chợ trời thật giả, đâu chân lý

            Hàng hóa lương tâm vẫn thiếu thừa

Trên đường đi Liên Xô về, ghé Bắc Kinh, Tàu Cộng tiếp Tố Hữu lạnh nhạt vì quan hệ giữa Tầu Cộng và Việt Cộng đang căng thẳng, Việt Cộng thì tấn công vào tới PhnomPênh, Tầu Cộng chuẩn bị “dạy cho Việt Nam” (Cọng Sản) một bài học. Dù vậy, Tố Hữu cũng không dám gọi thẳng đích “danh thủ phạm” mà chỉ nói bóng gió.

Chỉ từ khi Việt Cộng chiếm miền Nam rồi, người Miền Nam mới nghe trên đài phát thanh, trên các bài diễn văn, trên , sách vở… hai chữ Trung Quốc. Và cứ thế, người ta gọi Tầu Cộng là “Trung Quốc” theo… thói quen.

Khi về nước, gặp một người bạn cũ, tôi hỏi:

-“Người miền Nam nhắm bộ “khoái” Việt Cộng lắm hay sao?”

-“Khoái gì!” Người bạn trả lời. “Người ta cũng ngán lăm chớ, nhưng tâm lý chung của mọi người là muốn yên ổn làm ăn, nên cũng đành “nín thở qua sông.”

-“Tại sao, đi đâu tui cũng nghe, người ta dùng hai chữ “giải phóng” một cách tĩnh bơ. “Sau giải phóng”, “Từ ngày giải phóng”…  cứ “giải phóng” mà nói một cách tự nhiên. Người ta phải biết “giải phóng” là cái gì chớ. Ông có biết bài hát của Nhật Ngân: “Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh?”

-“Ở bên Mỹ người ta hát hò với nhau, người ta nghe, người ta hiểu. Có ai về đây hát cho đồng bào nghe đâu mà biểu đồng bào “giác ngộ”, hiểu ra được. Đi đâu, ở đâu người ta nói “giải phóng” thì cứ “giải phóng” mà nói cho gọn, cho nhanh. “Ông” nên nhớ rất nhiều khi người ta nói một tiếng nào đó, người ta hiểu một cách tổng quát, theo thói quen mà không suy nghĩ gì hết. Họ đâu có có cần phải tra tự điển, tìm trong “Tầm Nguyên Tự Điển” để mà hiểu “giải” là gì, “phóng” là gì. Họ cứ nghĩ trong trí “giải phóng là ngày miền Nam thua, tụi Bắc Kỳ vô Nam cầm quyền, đơn giản vậy thôi.”

-“Còn hai tiếng Trung Cộng?” Tôi hỏi.

-“Thì họ hiểu “Trung Cộng” là Tàu, là Chệt, là “Chú Ba”. Tui nói rồi, họ nói theo thói quen. Xưa thì gọi là “Tầu”, là “Chú Ba”, là “Chệt” thì người ta cũng gọi theo là “Chú Ba”, là “Chệt”. Nay tụi ngoài kia vô, gọi là “Trung Quốc”. Ông Hồ gọi là “Trung Quốc”, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, , phát thanh gọi là “Trung Quốc” thì họ cũng gọi là “Trung Quốc” theo như mọi người. Gọi đi, biết dâu Công An nghe được thì phiền. “Ông” nên nhớ, quần chúng không phải ai ai cũng là “trí thức”.

-“Ông” nói vậy thì “trí thức” phải gọi đi!” Tôi hỏi.

-“Đã gọi là “thức” mà “ông”. Thức là biết đấy chớ gì?” Người bạn trả lời.

Tôi nói:

-“Không riêng gì trong nước đâu. Tui ở bên Mỹ, nhiều người là học giả, là trí thức vẫn cứ nói ra rả trên TV, một tiếng là “Trung Quốc”, hai tiếng là “Trung Quốc”, nghe phát mệt luôn. Tắt đài TV là xong”

-“Có gì đâu! Không là “học giả” thì họ là “học thiệt”, không là “trí thức” thì họ là “trí ngủ”. Có chi khó hiểu đâu!” Người bạn tôi mai mỉa.

-“Không! Tui muốn nói về một khía cạnh kia. Không dám gọi là Tàu, mà gọi “Trung Quốc” là hèn đấy, là sợ Tàu, là “tinh thần nô lệ” đấy. Cái “tinh thần nô lệ” ấy biểu lộ qua việc xử dụng ngôn ngữ. Đó là một; còn một vấn đề nữa.”

-“Thông minh nhiều chuyện” cái gì đây?” Người bạn nói đùa với tôi.

-“Trong ngôn ngữ, Việt Cộng rất cực đoan. Ví dụ như việc dùng danh từ Hán-Việt. Sau “đứt phim”, ở trong tù, đọc báo Việt Cộng, vài người bạn hỏi tôi: “Bị vong lục” là cái gì anh Hải. nói hoài! Bị hỏi bất thần về một chữ chưa từng nghe, tôi phải “vân dụng trí óc” để giải thích cho mấy ông bạn trẻ. Tui nói như thế nầy: Bị là hoàn bị, đầy đủ; giống như “Chinh Phụ Ngâm Bị Khảo” của Hoàng Xuân Hãn vậy. Vong là quên, giống như “vong ân bội nghĩa”, còn lục là soạn ra, viết ra. Nói nôm na nó gần giống như Bạch Thư hay “Sách Trắng”. Bộ ngoại giao Việt Cộng ghi chép lại những điều quan hệ ngoại giao giữa Tàu Cộng và Việt Cộng trong một thời gian dài đã qua, rồi gọi nó là “Bị vong lục”.

-“Anh bạn trẻ lại hỏi: “Thế tại sao Phạm Văn Đồng biểu phải “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” không dùng “phi cơ trực thăng” mà gọi là “máy bay lên thẳng”.

-“Vậy mới “ngộ”. Mà bọn cấp dưới thì với “tinh thần nô lệ” giống như thời vua chúa vậy. Cái gì vua chúa phán ra đều tuyệt đối đúng cả, nên “trên bảo sao nghe vậy”, giống như Nguyễn Thị Định từ trong Nam ra, đêm ngủ lại với “bác” trong nhà sàn của “bác” để “kể chuyện miền Nam cho “bác” nghe là “phải đạo” vậy thôi.

-“Hiện tượng nầy có hậu quả gì không?” Tôi hỏi người bạn cũ.

-“Sao không? Hậu quả là xử dụng ngôn ngữ một cách bừa bãi, thiếu suy xét, chọn lựa. Ví dụ như bây giờ, đâu đâu tui cũng nghe hai tiếng “chia xẻ”. “Anh chia xẻ như thế”. “Đồng chí bí thư vừa chia xẻ”. “Nữ đồng chí chia xẻ cho các nam đồng chí”. Có nhiều chữ đồng nghĩa với chữ “chia xẻ” chẳng hạn như “trình bày”, “phát biểu”, “diễn tả”, “mô tả”… Bây giờ, gom chung lại thành “chia xẻ” cho nó gọn. Điều nầy chứng tỏ kém suy nghĩ, lười biếng suy nghĩ, chọn lựa. Nó làm cho ngôn ngữ của mình nghèo đi, mà cũng chứng tỏ dốt ngôn ngữ nữa…”

-“Tui thấy một điều lạ. Cái chi, Việt Cộng cũng tổ chức nghe xôm trò lắm, giống như Âu Mỹ. Nhưng ngôn ngữ dùng như vậy thì “Viện Ngôn Ngữ” không có việc gì làm hay sao?”

-“Để tui kể “ông” nghe. Miền Nam hồi xưa không tổ chức viện nầy, viện kia gì nhiều. Nhưng tui có nghe ông kể một câu chuyện lý thú:

“Một nhà văn đã lớn tuổi, một buổi sáng, ông từ nhà ở ngoại ô, vào Saigon để tham dự một buổi hội thảo với các nhà văn nhà báo, bàn về việc có nên “đơn giản hóa” tiếng Việt, để cho việc viết, đánh máy, sắp chữ được nhanh hơn. Có lẽ họ thấy người Mỹ hay viết tắt như “I am” thành “I’m” vậy. Người ta đã gợi ý có nên thay chữ “ph” (hai chữ cái) thành “f” (một chữ cái) hay không? Việc nầy không lạ, vì “chữ Quốc Ngữ” là phát minh của các ông cha cố trong việc viết kinh thánh từ tiếng La Tinh thành tiếng Việt. Vì gốc các dòng tu đạo Thiên Chúa ở Việt Nam là từ Hồng Kông, nên tiếng Việt của các ông cha Tây ở Hồng Kông viết tiếng Việt theo cách “f” thay cho “ph” và chữ “K” thay cho “C” như tên ông giáo sư Anh Văn Lê Bá Kông chẳng hạn. Hai ông Lê Bá Khanh và Lê Bá Kông hồi nhỏ nhờ có thân phụ là ông Lê Đức Thoan, làm tài xế xe lửa chạy đường Hà Nội – Lang Sơn, con đường đi lại của các linh mục thuộc dòng tu nói trên, nên quen biết các ông linh mục nầy. Qua sự quan hệ đó, ông Lê Bá Khanh và Lê Bá Kông sang du học ở Hồng Kông. Do đó, tên của các ông được viết theo cách Quốc Ngữ của các ông cha cố Hồng-Kông.

“Khi ông Hồ Chí Minh hoạt động ở Hồng-Kông, ông mới học thêm chữ Quốc Ngữ Hồng Kông. Nên nhớ, trước 1911, trước khi sang Tây, Hồ Chí Minh biết chữ Quốc Ngữ rất kém. Di chúc bản viết tay của ông Hồ viết theo cách chữ Quốc Ngữ Hồng Kông. “Ông” đọc lại, thấy tui nói là đúng.”

“Ông nhà báo già cứ cho rằng thay chữ “f” cho “Ph” là không được, nhưng ông không tìm ra lý dó tại sao mà “không được”.

Hồm đó, ông có phải đưa đứa cháu ngoại vô trường trước khi ông đi họp mặt. Ông vào quán hủ tiếu của một chú Ba Tầu ở Chợ Lớn, kêu một cốc càphê. Ông đang uống càphê thì đứa cháu thúc hối ông ngoại uống nhanh lên vì nó sợ trễ. Ông chợt thấy có một người ở bạn bên cạnh, muốn càphê mau nguội – có lẽ ông ta cũng muốn đi gấp – nên đổ càphê ra một cái dĩa mà uống. Hình ảnh đó làm cho ông nhà văn già nhớ lại ông ngoại ông ta cũng từng uống cách đổ càphê ra dĩa như vậy.

“Vậy là ông chợt nhớ ra, hồi ấy, khi ông nhà văn về quê ở với ông ngoại và có một cô bồ. Ông ta yêu cô bồ say đắm, Rồi người tình ấy phụ tình nhà văn. Trong thư chia tay, cô ta viết “chúng ta fải xa nhau”. Chữ “phải” cô ta viết chữ “f”  thay vì “ph”. Nhà văn như chợt nhớ ra một “Hồn Ma Cũ” và cái “hồn ma cũ” khiến ông chủ trương không nên thay “ph” bằng “f”.

“Hồn Ma Cũ” là tên truyện ngắn nầy của .

“Chúng ta có bao nhiêu “hồn ma cũ” để thay đổi cách viết chữ Quốc Ngữ? như người ta đang “loạn bàn”.

Còn về Bùi Hiền?

“Thằng cha” ấy không phải bị “hồn ma cũ” mà bị “hồn quỷ” Mác-Lê hớp hồn đấy./

(còn tiếp)

[post_connector_show_children slug=”v%e1%bb%81-n%c6%b0%e1%bb%9bc-th%e1%ba%a5y-g%c3%ac-ngh%c4%a9-g%c3%ac” parent=”29506″ link=”true” excerpt=”false”]