Sự hãnh tiến nông cạn

Ngay trước khi chiếm được miền Nam VN tháng Tư. 1975, người Cộng Sản Việt Nam đã có thái độ kiêu hãnh đáng ghét.

Trước hết là họ tự kiêu với chủ nghĩa Mác mà họ tôn thờ, coi như một thứ “kinh thánh”, luôn luôn soi sang cho họ, soi đường chỉ lối cho họ tiến tới và “đạt thắng” lợi.

Hình như trong “Hồ Chí Minh toàn tập”, y dạy dỗ đảng viên như thế nầy: Ngày xưa, người ta lên núi “tầm sư học đạo”. Học xong rồi, trước khi “xuống núi”, sư phụ cho đệ tử một cái cẩm nang, dặn rằng hễ khi nào gặp điều chi khó khan không biét làm như thế nào thỉ mở cẩm nang ra, trong đó có chỉ cho cách giải quyết. “Nay ta” (câu HCM dạy đảng viên) cũng có cẩm nang. Đó là chủ nghĩa Mác-Lênin. Hễ khi gặp khó khan không biết làm như thế nào thì hãy mở “cẩm nang của ta ra” (HCM dạy). Trong dó có chỉ cách giải quyết.”

Nói như thế là cuồng tín dữ lắm, mê muội dữ lắm, và cũng hãnh tiến về cái chủ nghĩa Mác của họ dữ lắm, cho rằng nó không chi kinh thánh. Người Cộng Sản học chủ nghĩa Mác như học một thứ “kinh điển” của một tôn giáo vậy.

Từ mấy chục năm nay, Cộng Sản nói chung và Cộng Sản VN giành được nhiều chiến thắng, bằng thực tế cũng có, bằng tuyên truyền cũng có, làm cho người Cộng Sản vốn đã cuòng tín thì lại cuồng tín, mà cuồng tín thì không ai cho là khôn cả.

Ví dụ như trong cuộc chiến tranh trước, Cộng Sản Việt Nam thắng Pháp ở Điện Biên Phủ. Trong cuọc chiến tranh xam lăng miền Nam của Cộng Sản, họ thắng Mỹ bằng một “Trận Điện Biên Phủ trên không”. Đây là một sự chiến thắng “ảo”, tức là không có thực, chỉ là tuyên truyền. Hiệp định ngưng bắn Paris là một thắng lợi cua họ đối với Mỹ, và “Mùa Xuân Đại Thắng”, như cách nói của Văn Tiến Dũng, là một thắng lợi thật, – không có chiến mà có thắng – giữa một người trang bị võ khí đầy đủ và một người có súng mà không có đạn, tức là người chỉ có hai tay không!

Mấy chục năm qua rồi, gặp một người Cộng Sản gốc Bắc Kỳ, dù già hay trẻ, họ vẫn còn huênh hoang với chiến thắng 30 tháng Tư, nhắc lại những thắng lợi ấy với lòng kiêu hãnh, tự cho là vô địch, là “chiến thắng vang dội khắp thế giới”, là “đế quốc Mỹ phải xin ta cho trở lại, để buôn bán với ta”, v.v… và v,v… Họ biết hay giả bộ lơ, rằng sau “mười năm giải phóng”, Cọng Sản VN đang đứng trên bờ vực thẳm, phải “mở cửa ra với Tây phương”. Tây phương, dù nói cách nào, bao giờ đứng đầu cũng là Mỹ.

Người đảng viên Cộng Sản, bất cứ đảng viên “cao cấp” hay “hạ cấp” như thế nào, cũng không thấy, không biết cái thế sắp sửa sụp đổ của họ sau “mười năm giải phóng” như thế nào. Các nước Cộng Sản bao giờ cũng có một cái hàng rào bao kín chung quanh. Ở ngoài, khó ai vô được và không ai có thể nào biết có gì xảy ra ở bên trong. Khi họ “mở cửa ra” với bên ngoài là khi họ ở cái thế chẳng đặng đừng, tức là họ ở cái thế THUA. Tuy vậy, không khi nào họ thấy họ ở cái thế THUA mà phải mở cửa, lại cho rằng mở cửa là vì các nước tư bản đến XIN họ mở cửa buôn bán.

Có người bạn kẹt lại trong nước nói với tôi: “Bọn nó không thấy THUA không phải là vì bị tuyên truyền đâu, mà bởi trình độ hiểu biết của chúng thấp quá, nên không thấy cái thế thắng thua của Cộng Sản VN.” Anh nói thêm: “Dốt quá nên dễ bị tuyên truyền. Với người miền Nam trước 1975, khó tuyên truyền họ bởi họ có trình độ hiểu biết.”

So với thời kỳ mới chiếm Saigon, đường sá cầu cống bây giờ tốt hơn. Họ cho là nhờ họ tài giỏi.

Thật ra, điều đó không phải nhờ Việt Cọng tài giỏi. Nói như vậy có quá không?

Làm được cái gì, điều căn bản là có tiền hay không?

Sau khi Cộng Sản VN mở cửa, các nước tư bản “đổ” tiền vào VN để thực hiện các công trình giao thông để phát triển kinh tế như tôi nói ở bài trước. Chính quyền Cộng Sản vay thật nhiều. Tiền vào nhiều bao nhiên thì có lợi cho họ bấy nhiêu. Nhà thầu nào đầu tư được công trình nào thì đều phải trà nước cả. Trong một xã hội có tự do, người nhận tiền trà nước phải sợ nhiều cơ quan có nhiệm vụ thanh tra, ngăn ngừa, chống tham nhũng.

Chế độc tài thì không sợ thanh tra, sợ “chống tham nhũng”. Nói nôm na thì có ô dù, v.v… Việc nầy khỏi nói, người dân, nhất là người dân Việt, biết quá việc tham nhũng ở nước ta, xưa cũng như nay. Càng độc tài, tham nhũng càng “quá quắt”.

Việc ngoại quốc “đổ” tiền vào, “có lợi trước mắt, nhưng có hại sau lưng”. Các thế hệ sau “trả nợ chết luôn”. Thành ra, việc xây dựng và cải tiến giao thông bây giờ, nhìn lại, người Cộng Sản VN không có gì để mà hãnh tiến cả.

Hòa bình cũng là một yếu tố quan trọng. Ngày trước, xây dựng bao nhiêu, Việt Cộng phá hoại bấy nhiêu. Mới bữa nay “khánh thành” cây cầu; vài hôm sau, Việt Cộng giựt mìn phá sập cậu rồi. Có nơi, có công trình, xây đi xây lại năm bảy lần cũng như không. Tựu chung, chỉ khổ cho người dân nghèo!

Sự hãnh tiến, kiêu ngạo của người Cộng Sản VN làm cho mọi người “né” họ, nhất là những người có quan hệ ít nhiều đến chế độ cũ.

Vài người bạn tôi, vì có khả năng chuyên môn, được Việt Cộng “lưu dung” sau 1975.

Chỉ hai tiếng “lưu dung” nghe đã chói tai rồi: Lưu là giữ lại. Giữ lại cho (hay để) “phục vụ cách mạng”. Dung là tha thứ, như tiếng dung tha chẳng hạn. Có nghĩa là người ấy có tội và được dung tha cho làm việc trở lại.

Có anh bạn làm ở “Saigon thủy cục” (tên hồi chế độ cũ) tức giận nói: Dung tha cái gì. Tụi nó không biết làm, không làm được nên phải dùng mình, cũng bóc lột như tư bản – còn tệ hơn tư bản – chớ có “khoan hồng nhân đạo” gì đâu!

Khi họp hành để thương thảo ký hiệp định Ba Lê, Cộng Sản trong Nam cũng như ngoài Bắc thường lớn tiếng kêu gọi “hòa hợp hòa giải dân tộc” để “dụ dỗ” người cả tin. Một đám phản chiến ở miền Nam, cũng phụ họa “hòa hợp hòa giải dân tộc”. Chiếm miền Nam xong rồi, Việt Cộng không đá động gì tới “hòa hợp hòa giải” nữa cả. Mới vô trại cải tạo, nhiều anh “cải tạo viên” ngây thơ hy vọng có “hòa hợp hòa giải” để được tha sớm.

Bây giờ chẳng ai nói tới “hòa hợp hòa giải”.

Với Việt Cộng, nhất là với những tên Việt Cộng kiêu hãnh, làm sao mà có “hòa hợp hòa giải”.

Người Cộng Sản hãnh tiến là người bao giờ cũng thấy mình trên người , “to” hơn người , khôn hơn người , tài trí hơn người . Cái gì cũng “đảng ta trí tuệ”, “đảng ta khôn ngoan”, “đảng ta…” cái gì đó nữa; toàn là nững lời khoe khoang.

Cái mà họ cho là khôn ngoan, trí tuệ đó, thực chất là gì? Là lưu manh, xỏ lá ba que, lường gạt, phỉnh phờ…

Tôi có nghe một anh bạn “tù cải tạo” từng làm chuyên viên trong hội nghị La-Cell-Saint-Cloud kể câu chuyện như thế nầy:

Trong một lần Lê Đức Thọ họp riêng với Kissinger ở Ba Lê, Thọ biếu Kiss một giò hoa , nói là lan ở rừng Trường Sơn, do bọ đội Cọng Sản hái về. Kiss khoái lắm, đem về treo trước hiên nhà. Có người bạn của Kiss, là một nhà thực vật học đến chơi, xem giò lan, nói với Kiss: Không phải hoa , mà là một “cây tầm gửi.”

Cai khôn của Cọng Sản là như vậy đấy, lợi dụng sự “không hiểu biết” để chưởi khéo tư bản là “đồ ăn bám” đấy. Kiss có phải là nhà thực vật học đâu mà biết giò hoa ấy là hay tầm gửi.

Việc nầy cũng cho chúng ta thấy, trong Hòa Đàm Ba Lê, Mỹ thua Việt Cộng là phải. Đối với Cộng Sản phải luôn luôn đề phòng chứ, dù là với một hành động “hữu nghị” của họ. Người Tầu không nói “hữu nghị” với Việt Nam ra rả đó hay sao? Có tin Tàu Cộng được không?

Tại Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên tại Camp David trong phi trường Tân Sơn Nhất cũng có câu chuyện như sau:

Tên đại tá Hoàng Anh Tuấn (tên thật của y là Hoàng Trọng Anh, người làng Nguyệt Biều, Hương Thủy, Thừa Thiên), trong phái đoàn Việt Cộng cứ xoen xoét cái miệng giả dối “tình dân tộc, nghĩa đồng bào” mỗi khi tranh cãi với phái đoàn quân sự VNCH về việc Cộng Sản vi phạm hiệp định Ba Lê.

Trong khi đó thành phần nhân sự trong phái đoàn miền Nam thì ghét cái giả dối của Cộng Sản, đã theo Cộng Sản, “văn hóa Mác-xít” mà cứ đem dân tộc, đồng bào tuyên truyền. Người miền nam chỉ có “văn hóa dân tộc”, như trong câu thơ của Trạng Trình vậy: “Xưa nay đều trọng người chân thật, Thiên hạ nào ưa kẻ đãi bôi.” Bực mình vì thói gian manh của Cộng Sản, một ông tướng VNCH cầm cái gạt tàn thuốc ném vào mặt tên Hoàng Anh Tuấn. May mà “ném trật”. Tôi không tin ông ném trật đâu. Cảnh cáo đấy! Ông ta bảo: “Trong tôi chỉ có dòng máu chống Cộng mà thôi!” Đúng đấy. Chống Cộng là chống sự gian trá, xảo quyệt đấy!

Trong hồi ký về chiến tranh Triều Tiên của tướng Mỹ Mark W. Clark, tư lệnh lực lượng LHQ cuộc chiến tranh nầy, ông thuật lại câu chuyện cho người ta thấy tính chất xỏ lá của Cộng Sản. Các buổi họp thường lệ xảy ra tại một phòng họp ở làng dình chiến Bàn Môn Điếm. Phía bên nầy bàn là tướng Clark cùng các cộng sự viên; phía bên kia là một viên tướng Cộng Sản Tầu và đoàn của y. Mỗi khi tranh luận, vị thế tướng Clark “trội” hơn vì ông người to cao, trong khi viên tướng Tầu nhỏ con hơn, phải “lép vế”. Một hôm vào phòng họp, ông ta cảm thấy cái ghế của ông bỗng thấp xuống. Cái đầu của ông thấp hơn cai đầu của viên tướng Tầu, thay vì như mọi khi, đầu ông cao hơn. Coi lại, ông mới biết bọn Tầu đã lén cưa 4 chân ghế của ông để cái ghế thấp xuống. Cộng Sản, dù Cộng Sản Tầu hay Việt, đều tự cho việc làm như thế là khôn hơn người!

Với những người hãnh tiến mà ngu dốt, lại thêm tính “ba que xỏ lá” mà lại cứ nghĩ rằng khôn, thì có cách nào mà gọi là “hòa hợp hòa giải”.

Muốn có “hòa hợp hòa giải” thì những người thuộc phe nầy nhóm kia phải có những cái đồng nhứt. Chúng ta cần nhiều cái đồng nhứt lắm. Ví dụ: Đồng nhất về văn hóa.

Giữa người Cộng Sản và chúng ta có đồng nhứt về văn hóa không? Văn hóa của họ là “Văn hóa Cộng Sản”. Văn hóa của chúng ta là “Văn hóa Dân tộc”. Hai văn hóa nầy nhau, đối chọi nhau như nước với lửa, tôi khỏi trình bày. Đây là một vấn đề lớn, không thể bàn vài câu mà xong được, nhưng có một điều rất căn bản. Chỉ một điều căn bản nầy thôi, ai cũng thấy, khỏi cần bàn thêm dông dài.

Như trên, tôi đã trích dẫn câu thơ của Trạng Trình. “Xưa nay đều rọng người chân thật.” Nay cũng vậy thôi. viết, trong bài thơ “Lời Mẹ Dặn”: “Tôi muốn làm một người chân thật. Chân thật trọn đời.” Trong mấy chục năm sống dưới chế độ Cộng Sản, không làm “người chân thật” được, ông đành im tiếng, ôm trong lòng, than thở riêng: “Hễ đi với nhân dân, Thì thơ không thể . Dân máu lệ khôn cùng, Thơ chết áo đắp mặt” (Đêm ở Nghi Tàm, đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe”)

Không chân thật thì hòa hợp nỗi gì!

Ngay ở bên Mỹ nầy, cuộc nội chiến chấm dứt đã hơn 150 năm nay (1861-65), thế mà cái hậu quả của nó đã dứt hẳn đâu! Thỉnh thoảng vẫn có những chuyện “mâu thuẫn” xảy ra.

Điều chính là “đất nước thống nhứt” mà lòng người có thống nhứt không! Cộng Sản VN chiếm xong miền Nam, làm lễ mừng chiến công “thống nhứt đất nước”. Họ có biết “đất nước thống nhứt” mà lòng người ly tán hay không? Biết chớ! Họ biết cả, nhưng với “bạo lực cách mạng” có nghĩa là với vũ khí, quân đội và công an, “bọn phản động” và các “thế lực quốc tế” chẳng làm gì được ta”.  Đâu phải chỉ là “bọn phản động” mà toàn thể dân chúng miền Nam và cả những người Bắc “sáng mắt ra” nữa đấy.

Về VN, thực chất, người ta thấy, vấn đề là quyền lợi. Những người Cộng Sản “bám” cứng vào đảng, như tôi trình bày ở bài trước, là vì quyền lợi. Một số người Nam, trước kia có dính líu ít nhiều đến chính quyền miền Nam, nay chạy theo Cộng Sản, cũng chỉ để “kiếm ăn”. Một số Việt Kiều về nước, kinh doanh, hợp tác với Việt Cộng, cũng chỉ là “kiếm ăn”.  Toàn một lũ “kiếm ăn”. Họ quanh quẩn ở Ha Nội, Saigon, thành phố lớn, đâu có về miền quê, chỗ bùn lầy nước đọng, nắng bụi mưa bùn, thâm sơn cùng cốc, kinh cùng rạch chẹt, để có thể nghe tiếng chim cuốc kêu, như Nguyễn Khuyến khi cáo quan về sống ở làng:

“Đêm đêm ròng rã kêu ai đó,

            Giục h giang hồ dạ ngẩn ngơ!

(Quốc kêu cảm hứng)

 

           Ông đứng làm chi đó hỡi ông

           Trơ trơ như đá, vững như đồng

           Đêm ngày coi sóc cho ai đó,

           Non nước đầy vơi có biết không?

(Ông phổng đá – Nguyễn Khuyến)

Họ còn tệ hơn ông phổng đá. Ông phổng đá không làm hại dân, hại nước, còn họ thì đang làm gì. Ai có biết không?

Những cái xấu (tiêu cực) ở Saigon, ở Miền Nam bây giờ, phần lớn nhất là do Cộng Sản Bắc Việt đem vào, là “hành trang bất nhân” của kẻ chiến thắng, của quân viễn chinh. Xã hội cũ có cái xấu, nhưng cái xấu đó ít, vì Cộng Sản mà cái xấu đó càng “lớn mạnh” thêm ra.

Ví dụ: Chế độ cũ cũng có tham nhũng, nhưng cái tham nhũng thời đó, không ghê gớm, không tác tệ, không vô lương như cái tham nhũng bây giờ!

Tại sao?

Trên bình diện chính trị, tập đoàn Hồ Chí Minh có tội lớn với Tổ quốc và dân tộc. Xin giải thích:

Nước Đức, nước Triều Tiên bị chia cắt ngay sau khi “Thế giới Chiến tranh thứ Hai” chấm dứt, là do sự phân chia thế giới của các siêu cường. Xin đọc “Yalta, ou le partage du Monde” (“hội nghị” Yalta hay là sự phân chia thế giới) của Arthur Conte. Việc chia cắt nầy không thuộc trách nhiệm của các lãnh tụ nước Đức hồi đó như Franz Blucher và Wilhelm Pieck hay Thành, Lý Thừa Vãn của Triều Tiên. Chia cắt đất nước là thuộc trách nhiệm các cường quốc. Cai trị đất nước là công việc của các lãnh tụ vừa nói trên, sau khi việc chia cắt đã quyết định rồi, trong hoặc sau hội nghị Yalta hồi tháng 2 năm 1945.

Tình hình nước ta hẳn. Hội Nghị Genève 1954 chia cắt việc Nam ra làm hai, được ký ngày 20 tháng 7 năm 1954, do hậu quả “Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ Nhất” (tên Tây phương thường gọi) và “Trận Điện Biên Phủ”, do Liên Xô, Tầu Cộng, Pháp, Anh đồng âm mưu với nhau, có Cộng Sản Việt Nam, được cái gọi là (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) hoan hô, ủng hộ. Các nước nói trên đều ký tên vào hiệp định chia cắt Việt Nam nầy, kể cả chữ ký của (thủ tướng) Phạm Văn Đồng, trưởng phái đoàn Cộng Sản Việt Nam, với danh nghĩa là ngoại trưởng của cái chính phủ nói trên.

Xin nhớ một điều quan trọng: Ngoại trưởng Chính phủ Quốc Gia Việt Nam Nguyễn Quốc Định, kế nhiệm là bác sĩ Trần Văn Đỗ, cũng như  thứ trưởng ngoại giao Mỹ Walter B. Smith không ký tên, chỉ hứa sẽ tôn trọng hiệp định nầy mà thôi.

Nhìn chung, về phía nội bộ nước Việt Nam, việc chia cắt đất nước là thuộc trách nhiệm Cộng Sản Việt Nam, không thuộc trách nhiệm những người Quốc Gia, những người chống Cộng, đứng về phía Thế giới Tự Do.

Đối với Tổ Quốc và Dân Tộc, chia cắt đất nước là một “trọng tội”. Quí độc giả đọc lời ca bài hát “Hờn sông Gianh” của Lưu Hữu Phước thì biết: “Ơi sông Gianh lòng mi tủi chăng? Hồn mi hổ chăng?”  Vì vậy, người Cộng Sản, để chuộc tội, họ phải dùng mọi cách, dù phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn” như Hồ Chí Mnh nói, hay hy sinh hàng triệu người, không kể người miền Nam hay miền Bắc, để thống nhất đất nước, để “xóa tội với lịch sử”.

Hơn thế nữa, đây là “nhiệm vụ quốc tế” – hy sinh hạnh phúc dân tộc để thực hiện nhiệm vụ Cộng Sản Quốc Tế giao cho. Lê Duẫn đã xác nhận cái nhiệm vụ làm tay sai đó: “Ta đánh đây (xâm lăng miền Nam – tg) là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc”.

Về mặt kinh tế, muốn xây dựng chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa ở Miền Bắc, Cộng Sản Việt Nam phải xâm lăng miền Nam.

Dân số Nam vĩ tuyến 17 là 17 triệu người, có vựa lúa lớn nhất nước là đồng bằng Long. Dân số Bắc vĩ tuyến 17 là 21 triệu người, có đồng bằng sông Hồng sản lượng lúa ít hơn, lại thường hay bị lũ lụt, thiên tai.

Năm 1944, 45 việc giao thông giữa hai miền Nam – Bắc gặp khó khăn lớn vì chiến tranh, gạo của Miền Nam không vận chuyển ra Bắc được, vì “chế độ cai trị hai tầng” Pháp/ Nhật, lại có thêm thiên tai, hạn hán, bão lụt… Chỉ một mùa giáp hạt năm 1945, nạn đói xảy ra ở phía Bắc làm chết hai triệu người.

Trước kinh nghiệm lịch sử đó, Cộng Sản Bắc Việt phải chiếm cho được miền Nam, tức là chiếm “vựa lúa” miền Nam, để giải quyết vấn nạn lương thực của miền Bắc.

Về mặt “quần chúng” – chưa nói tới chính sách của chính phủ Cộng Sản Hà Nôi, “tâm lý kẻ chiến thắng năm 1975 là tâm lý quân viễn chinh”, có nghĩa tâm lý cướp bóc của kẻ chiến thắng, giống như tâm lý của tên tham lam trong truyện Cổ Học Tinh Hoa “Lấy của ban ngày” của Long Môn Tử mà tôi từng viết về câu chuyện nầy và post trên Quanvan.net.

Người Cộng Sản “chiến thắng ở miền Nam” không chỉ có tâm lý quân viễn chinh mà thôi, mà còn mang thêm “tâm lý thù hận”, ghen ghét, đố kỵ người miền Nam. Thù hận giai cấp là căn bản của chủ nghĩa Mác. Người đảng viên Cộng Sản phải luôn luôn nuôi dưỡng lòng thù hận vì có thù hận mới giữ được “ngọn lửa đấu tranh”. Giai cấp thống trị các chế độ ngoài chế độ Cộng Sản, dù xưa là phong kiến, quân chủ; dù nay là “đế quốc tư bản” đều là kẻ thù của “giai cấp vô sản. Người miền Nam làm tay sai cho Đế Quốc Mỹ là kẻ thù của Cộng Sản. Vì làm tay sai cho Đế Quốc Mỹ nên người miền Nam có “bơ thừa sữa cặn”, thế cũng là hơn người Cọng Sản ở trên Trường Sơn, trong mật khu, dù chỉ cơm với muối cũng không đủ ăn. Nhớ tới “những ngày chiến đấu gian khổ, đói khát”, người Cộng Sản có đủ tâm lý thù hận, ganh ghét để trả thù người miền Nam rồi.

Dưới con mắt của người đảng viên Cộng Sản VN, người miền Nam đáng bị coi thường, khinh rẻ vì họ sống không có lý tưởng gì cả, trong khi người Cộng Sản có lý tưởng cao cả là đấu tranh và xây dựng xã hội XHCN, “xây dựng tương lai cho nhân loại”, cho “con cháu muôn đời mai sau”, v.v. và v.v…

Nhưng điều quan trọng nhất là “phản tuyên truyền”. Chính quyền Cộng Sản tuyên truyền dân chúng miền Nam bị “đế quốc Mỹ” bóc lọt nên họ nghèo lắm. “Phải dùng “cái muỗng dùa” thay cho cái chén ăn cơm”. “Chính “chị Út Tịch” nói như thế trên đài phát thanh Hà Nội. Đến khi vào tới Saigon, tới miền Tây, người Cộng Sản thấy được những gì ở miền Nam và tức giận vì đã bị lừa. Tâm lý chung là “phá cho bỏ ghét”. Mỹ lại dùng “Chủ nghĩa Thực chứng” để làm mở mắt người Cộng Sản. Họ để lại “nguyên xi” cái gì miền Nam đã có. Chính cái “nguyên xi” đó làm cho người cán bộ Cộng Sản “té ngữa xuống đất” khi thấy người miền Nam sung sướng, no đủ, vui tươi, không rách rưới, đói khổ, túng bẩn như đã bị cán bộ Cộng Sản tuyền truyền.

Đó là hậu quả của “phản tuyên truyền”. Hậu quả nầy bao giờ cũng sâu sắc, triệt để, thấm thía hơn tuyên truyền hàng ngàn lần.

Tình trạng xã hội của thành phố Saigon cũng na ná như nước Mỹ. Không có ai là “Saigon native” như người da đỏ ở nước Mỹ. Tất cả dân chúng Saigon đều là “di dân”. Bản quán người Saigon đủ ba miền Trung Nam Bắc, dù họ sinh ra ở Saigon và trải qua nhiều đời kể khi người như Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch được chúa Nguyễn cho vào sinh cơ lập nghiệp ở Đông Phố, Mỹ Tho.

Chính người Khmer Krom mới là “người Saigon bản địa”, nhưng mấy trăm năm qua rồi, người “Khmer Krom Saigon” nay chẳng còn ai!

Sau khi Pháp “đóng đô” ở Saigon, Saigon là nơi dân miền Trung, miền Đông, miền Tây Nam Bộ di cư tới. Trong tình trạng đó, chỉ kể trong Thế kỷ 20, có ba đợt người Bắc ồ ạt định cư ở Saigon.

-) Đợt thứ nhứt xảy ra do hậu quả cuộc khủng hoảng kinh tế của Mỹ hồi đầu thập niên 1930. Một số tiểu thuyết thời tiền chiến đã “phản ảnh” tình trạng người Hà Nội tìm vô Saigon kiếm sống vì tình trạng kinh tế miền Bắc VN suy sụp. Độc giả có thể đọc “Người Anh Cả” của Lê Văn Trương, “Nhà Quê” của , “Sống Mòn” cua

Riêng cá nhân tôi, tôi được cụ Mỹ Tín (Nguyễn Đức Trọng), nhạc sĩ vĩ cầm, nguyên giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Saigon trước 1975,  thuật lại câu chuyện cụ rời quê cụ (làng Đốc Tín) vào Nam hồi giữa thập niên 1930. Cụ kể, trước khi ra đi, cụ thân sinh dặn dò, vì cuộc sống khó khăn thì phải đi, nhưng phải nhớ một điều, làm gì thì làm, dù với lý do gì cũng không được giết người.

Đó là văn hóa của người Việt Nam?

Những người rời miền Bắc hồi đó, vô Saigon lập nghiệp, sau nầy thành công lắm. Những dãy phố trên đường Gia Long (cũ) ngang chợ Bến Thành, phần lớn chủ nhân là những người phía Bắc di dân vào thời kỳ ấy.

Đợt di dân nầy là đợt sau việc “mộ phu” của Bazin (1). Những người “mộ phu” nầy vào Nam làm phu đồn điền cao su ở Đất Đỏ, Phú Giềng, hoặc làm ruộng như ở Cờ Đỏ (Long Xuyên) Nam Thái Sơn (gốc Nam Định, Thái Bình, Sơn Tây) ở Rạch Giá hay Caledonia ở Châu Đại Dương (gồm Úc).

Thực dân Pháp đã thất bại trong cố gắng chia rẽ người Bắc, người Nam ở Saigon hồi đầu thập niên 1940.

Thực dân Pháp cho rằng “Trung ương đảng Cộng Sản VN” lãnh đạo cuộc “Nam Kỳ Khởi Nghĩa” năm 1940 sau khi bộ phận nầy từ Hà Nội di chuyển vào Saigon. Vì vậy, để gây khó khăn cho Cộng Sản, bọn Tây xúi người Việt “kỳ thị Bắc Nam”, dung nó như là một phương cách giúp chúng đàn áp các cuộc “cách mạng” – danh từ gọi chung các tổ chức chống Thực dân thời kỳ ấy -. Saigon một thời “dậy” lên phong trào “đánh Bắc Kỳ”. Phong trào nầy tàn lụi rất nhanh vì nó ngược lại tinh thần dan tộc của người Việt Nam, nhất là với tính tình phóng khoáng, hào hiệp của người Nam Bộ.

Thật ra, tâm lý chung, kỳ thị là điều khó tránh được, nhất là với những người nhiều định kiến. Người miền Nam có kỳ thị Bắc kỳ đấy, nhưng vốn hời hợt, đùa vui hơn là trong công việc sinh sống đứng đắn hằng ngày. (2)

-)Đợt di dân thứ hai là do kết quả của Hiệp Định Genève 1954, gần một triệu người ở phía Bắc vĩ tuyến 17 – từ phủ Vĩnh Linh, thuộc tỉnh Quảng Trị ra tới cực Bắc nước ta, di cư về phía Nam. Những người di cư gồm đủ thành phần xã hội miền Bắc: Dân Hà Nội và các thành phố lớn/ nhỏ, dân miền quê, từ những người giàu có, một số địa chủ sống sót sau các đợt “Cải Cách Ruộng Đất” của Hồ Chí Minh, trung nông, tiểu nông, và kể cả bần nông… Số đông là đồng bào theo đạo Thiên Chúa thấy rằng “không thể ở với “Cộng Sản vô thần” được.

Những di dân nầy không ít người định cư ở ngay Saigon, vùng ngoại ô được mở rộng thêm cho người Bắc định cư, và cả những vùng núi hay đồng bằng có tính cách chiến lược về kinh tế cũng như quân sự.

Mặc dù có sự biệt vè tôn giáo – nhất là những người theo đạo Thiên Chúa, họ cũng giống như những người đi dân trước, đều mang bản sắc và văn hóa dân tộc Việt Nam, không có gì nên người di dân hai đợt nầy hội nhập rất nhanh vào xã hội miền nam, nhất là ở Saigon.

Về miền quê, người ta có thể thấy sự biệt ít nhiều giữa “người Bắc di cư” ở các “dinh điền”, “khu trù mật” với “đồng bào địa phương” (người miền Nam), như tôi có trình bày trong cuốn “Hương Tràm Trà Tiên” (Kể chuyện đánh giặc ở Nguyễn Tấn Dũng) – bài “Bắc Nam một nhà” – nhất là khi họ “ăn nhậu” với nhau thì “hòa hợp” khỏi nói.

Ở Saigon thì khó phân biệt được thế nào là Nam. Bắc; khó phân biệt được một cô học trò “dân di cư” với một cô học trò “gốc Nam bộ”. Ngồi ở Mai Hương trên đường Lê Lợi, nhìn mấy con nhỏ ăn mặc hippy đi ngang, đeo vòng, đeo giây xích kêu lẻng xẻng, đố ai phân biệt được mấy con nhỏ nầy là “dân di cư” hay “dân Saigon”.

-)Đợt thứ ba là Việt Cộng vào Nam ngay hoặc sau tháng Tư/ 1975. Bọn nầy thì khắc hẳn dân Saigon, dù so sánh với “dân Saigon chính cống” hay “dân Saigon Bắc di cư”.

Có rất nhiều sự biệt: về hình dáng, mặt mũi, tác phong, nói năng – giọng nói và cách nói – , hình dáng… Ở đây tôi, tôi chỉ xin trình bày sự biệt về văn hóa, bởi vì điều nầy là căn bản nhất.

Văn hóa của người Saigon cũ là “văn hóa Dân tộc”, dù là người Saigon chính cống hay Saigon gốc bắc. Văn hóa của người Saigon vào sau 1975, thường người ta gọi là “Bắc kỳ 75” là “văn hóa vô sản”, hay còn gọi là “văn hóa Cộng Sản”.

Về Saigon, tôi thấy nhà cửa dựng lên lung tung. Một người bạn cũ, còn ở Saigon giải thích với tôi: “Bệnh công thần đấy! Người bộ đội Cộng Sản họ thấy là họ có công nên muốn lấy gì của ai thì lấy, dựng lên được cái gì thì dựng. Cả một vùng đất đai thuộc bộ Tổng Tham Mưu cũ, sân golf ở cổng số 6, họ chia nhau xây nhà hết, không qui hoạch gì cả.”

Theo tôi hiểu đó là khu vực những con đường như Đào Duy Anh, đường (chùa) Phổ Quang, đường Hồng Hà…

Tính chất biệt của những “(người) di dân”, “dân di cư” từ 1954 trở về trước là tâm lý của người đi tìm đất sống, tìm nơi “đất lành chim đậu”, tìm sự hòa hợp thương yêu giữa người đến trước, kẻ đến sau. Kẻ trước người sau sống hòa hợp. Họ mang tâm lý của cha ông trong cuộc Nam Tiến:

Tới đây đất nước lạ lùng,

     Con chim kêu cũng sợ, con các vùng cũng kinh!

 

hoặc là:

Rồng chầu ngoài Huế,

           Ngựa tế Đồng Nai.

           Nước sông xanh sao lại chảy hoài,

     Thương người xa xứ lạc loài tới đây!

Nhìn chung, họ là người xa xứ, là kẻ lạc loài, là lưu dân. Hành trang tinh thần của họ là văn hóa Dân Tộc.

“Bắc kỳ 75” có đi chăng?

Không những mà còn trái ngược. Tâm lý của họ là tâm lý kẻ chiến thắng, tâm lý kẻ đi cai trị, – cai trị miền Nam -, tâm lý công thần, cái gì cũng muốn, cái gì cũng ưu tiên… và hành trang tinh thần của họ là văn hóa vô sản, là đấu tranh giai cấp, là giai cấp thù hận

Những người tham gia trong vụ Phật tử đấu tranh chống nhà Ngô năm 1963, thấy người Bắc, người Nam đủ mặt. Họ đứng về một phía đòi tự do.

Ngày nay, điều đó không thể nào có được. Các nhà mặt tiền trên các đường phố “tp Hồ Chí Minh” bây giờ, nhất là ở quận 1 và quận 2 (cũ) đều là nhà của cán bộ, đảng viên, của “Bắc kỳ 75”. Người Saigon cố cựu, nếu còn ở lại Saigon, không di tản, không vượt biên được thì sống trong các con hẽm của Saigon. Người bạn cũ tôi nói:

-“Nếu có ai từ trong hẽm xông ra biểu tình, chưa tới đầu hẽm thì dân “Bắc kỳ 75” ở ngoài phố đã đè cổ xuống, giựt mất biểu ngữ rồi, cần chi tới Công An”.

Chưa bao giờ thành phố Saigon phân hóa sâu sắc đến như vậy.

Người ngoài mặt phố tiếp tục giàu.

Người sống trong hẽm tiếp tục nghèo!

Tương lai Saigon chính là chỗ đó vậy!

Kỳ tới: Ngôn ngữ Saigon)

hoànglonghải

Phụ lục:

(1)-Alfred François Bazin là một người Pháp sang Đông Dương làm cai mộ phu ở Bắc Kỳ để gửi người đi làm thuê ở các đồn điền cây công nghiệp của người Pháp. Đồn điền thường là đồn điền cao su ở Nam Kỳ, Trung Kỳ, hoặc có khi đưa cả sang Tân Đảo, Vanuatu (đảo Tân Thế giới) và Tahiti. Đời sống dân phu đầy kham khổ nên con số tử vong có nơi lên đến 40%. Làm trung gian giữa các xí nghiệp và dân lao động, người mộ phu được trả từ 10 đến 20 đồng bạc Đông Dương cho mỗi người phu ghi danh. Bazin ở địa vị Giám đốc Tổng nha Nhân lực Đông Dương (Office générale de main d’oeuvre indochinoise) là người then chốt trong việc tuyển người. Bazin lại có tiếng là tuyển người bằng mánh khóe lừa lọc và nếu người phu muốn rút ra, hủy bỏ giao kèo thì bị hăm dọa, đánh đập, có khi bị bắt cóc đem xuống tàu nên bị nhiều người oán giận, nhất là trong giới thợ thuyền. Trong khi đó Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội cũng rải truyền đơn tố cáo việc làm bất chính của Bazin mà nhà chức trách Bảo hộ làm ngơ, cho rằng việc làm của Bazin là do một cá nhân chứ không phải là do nhà nước khiến dư luận thêm phẫn nộ. Dựa lúc khí thế dân chúng bị khuấy động, Ủy viên Thành bộ Hà Nội của Việt Nam Quốc dân Đảng là Nguyễn Văn Viên đưa ra kế giết Bazin để gây thanh thế cho Đảng. Lãnh tụ Đảng là Nguyễn Thái Học không đồng tình nên Nguyễn Văn Viên cùng hai chiến hữu khác, Nguyễn Văn Lâm và Nguyễn Đức Lung (Ký Cao) tý ra tay. Vào đêm Giao thừa Tết Mậu Tý (tức ngày 9 tháng 2 năm 1929), ba đảng viên trên chờ sẵn ở trước nhà số 110 Phố Huế (rue Hue) của Germaine Carcelle, tình nhân của Bazin, đợi khi Bazin bước ra thì Nguyễn Đức Lung tiến tới giao cho Bazin một phong thư, trong chứa bản án tử hình. Tiếp theo Lâm cầm súng bắn hai phát vào Bazin. Bazin chết ngay tại chỗ.

(trích Wikipedia)          

(2)

Ở Saigon, tôi từng nghe câu cải lương như sau:

“Cái con nh

Đau làm sao?

Sau đít có cọng rau

Ôi trời ơi!

Đau làm sao?

Người Nam “Dziệt” đâu có kỳ như vậy!

Chắc là

Bắc kỳ!

Chớ gì!”

[post_connector_show_children slug=”v%e1%bb%81-n%c6%b0%e1%bb%9bc-th%e1%ba%a5y-g%c3%ac-ngh%c4%a9-g%c3%ac” parent=”29506″ link=”true” excerpt=”false”]

Kết nối với FB của Văn tuyển!
Chia sẻ tin tức, video, quảng cáo, rao vặt và ....
No posts found.
No posts found.