Sống chết với đảng!

Tôi đi thăm một người bạn cũ, nói rõ hơn là một trí thức chế độ cũ, từng giữ một nhiệm vụ không nhỏ dưới thời VNCH. Anh ấy “học tập” chưa đủ ba năm, vì có người anh “đi tập kết” về bảo lãnh cho ra sớm, nên không đi HO được. Cuộc sống của anh ấy bây giờ cũng vất vả, tuy đã già.

Gặp tôi, anh ấy bảo: -“Ông Việt, anh vợ ông anh mầy, bán được căn nhà 9 ngàn lượng vàng. Trúng dữ.”

Tôi nói:

-“Tao nghe nói tới ông ta từ khi tao còn nhỏ, biết rõ gia đình ông. Ông ta theo đảng là phải, theo cách nghĩ của ông ta và gia đình ông.”

Ông bạn tôi chỉ cười, tỏ ý hiểu tôi.

Ông Việt, người làn An Tiêm, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Quảng Trị, hồi trước 1945, “nổi tiếng” có hai “làng Cộng Sản”: Làng Huỳnh Công (Đông), phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, làng của ông Trần Công Khanh, người đầu tiên làm Chủ tịch Ủ Hành chánh Trung bộ, khi Việt Minh mới “cướp chính quyền”. Em gái ông là Trần Thị Biền bị Việt Minh xử bắn hồi ấy, vì “tội phản đảng”. Làng An Tiêm có anh em nhà ông Đặng Thí, Đăng Lang, “theo” Lê Duẫn, “dân Quảng Trị” với nhau, được làm to hồi trước 1975.

Ông Việt là anh của bà chị dâu tôi. Gọi là anh nhưng máu mũ, bởi vì người anh là con riêng của ông, chị dâu tôi là con riêng của bà, kiểu như người ta thường nói đùa “Con của anh, con của em đánh con chúng ta”, nên có máu mũ gì đâu!

Bố ông anh đi lính Khố Đỏ thời Tây còn cai trị xứ An Nam nầy, “đóng loon” đội, nên dân làng gọi là “ông đội”, vợ là “bà độì”. Khi “Nhựt đảo chánh Pháp”, lính Khố Đỏ bị Nhựt giải tán, ông về làng làm ruộng, giống như câu ca dao: “Mãn mùa cai đội hồi hương, trai vui về làm ruộng, gái bán buôn nuôi mẹ già”.

Ông có “vui làm ruộng” không thì tôi không biết, nhưng mỗi khi đi làm ruộng thì đi cả hai cha con: “Ông đội” và cậu con trai đầu của ông. Khi Việt Minh “cướp chính quyền”, cả hai cha con đều “theo cách mạng”. Ông đội mất sớm, người con tập kết ra Bắc năm 1954.

Có lẽ vì “theo cách mạng” nên tên của ông Việt thêm vào chữ “quốc”. Quốc là “nước”: , – nước Việt Nam, giống như Hà Bá Cang vậy. Tên là Hà Bá (chuyên dìm người xuống nước cho theo vua Thủy Tề) thì đổi thành Hoàng . Thêm chữ “Quốc” để tỏ rõ “lòng yêu nước”. Những người theo Việt Cộng phần nhiều như thế cả, “nổ dễ sợ”, nhưng có yêu nước hay không là chuyện tính sau.

Khi Saigon mới “giải phóng”, nghĩa là Trà mới ngồi trong Dinh Độc Lập, chưa nóng chỗ, thì ông Việt còn ở ngoài Bắc, gởi cho cô em gái ở Saigon một gói quà, gồm có hai cục “xà bông Thăng Long” và một cái khăn lau mặt hiệu “Điện Biên”. Bà chị dâu tôi nhận quà, mở ra xem rồi quẳng (ném) ra sân, trước mặt người đem quà, nói: “Thứ nầy con ở tui cũng không thèm dùng”.

Bây giờ thì người anh, “nhờ ơn Bác, nhờ ơn “Đảng”, có được 9 nghìn lượng vàng, còn người em gái thì qua đời ở xứ người vì bị “đột quị”, không một người thân, không chồng (qua đời trước), các con ở xa…

Tôi nói với người bạn:

-“Tài sản như thế thì không “theo đảng” thế nào được. Giả tỉ như hồi đó, Việt Minh không cướp chính quyền, nếu “không có đảng”, đời ông ta sẽ thế nào! Vẫn làm ruộng, vẫn “con trâu đi trước, cái cày theo sau”, làm sao có được chừng ấy lượng vàng để hưởng đời giàu sang.”

Bạn tôi nói:

-“Hồi mới “giải phóng”, anh thằng bạn “moi” là đại tá chế độ cũ, có người rủ ông ta “theo phục quốc”. Ông ta từ chối, bảo: “Người ta chiến đấu mấy chục năm, chết hàng triệu người, tốn bao nhiêu xương máu mới có cái kết quả ngày hôm nay, không dễ gì người ta nhả ra chia cho mình mà tranh giành.”

Tôi cười:

-“Vậy thì đây là một sự tranh giành. Tranh giành quyền lực. Có quyền lực thì có quyền lợi.”

-“Bây giờ là quyền lợi của ba triệu đảng viên, trên tài sản của chín mươi triệu dân, chưa kể “tiền rừng bạc biển”, “tất đất tất vàng”. Cứ đo đất mà bán cho “nước ngoài” là có tiền. Đánh đổ ba triệu đảng viên đó, để giành lại quyền lợi! Được không? Dù gì thì họ cũng “cố sống cố chết” để giữ đảng, giữ quyền lợi. Không dễ đâu!” Người bạn tôi nói.

-“Dù gì thì cũng phải chết sống giữ chín ngàn lượng vàng, phải không?! Biết mấy đời mới có lại được.” Tôi góp ý.

-Tôi chỉ cho “ông” thấy mấy điều nầy – Người bạn tôi nói – Thứ nhất, họ là người Cộng Sản, nghĩa là họ có “đủ cả”: Thủ đoạn, mưu lược, xảo trá, lường gạt, lừa phỉnh… Cái gì họ cũng hơn ta. “Văn hóa Dân tộc” và “Văn hóa Cộng Sản” đối nghịch nhau từng điều một, trăm phần trăm. Thứ hai, dân Bắc kỳ “Chí Phèo”. “Ông” có đối đầu được không? Ba là “Cách mạng triệt để”, làm là làm tới nơi, “cạn tào ráo máng”. “Ông” có chơi “cạn tào ráo máng” như kẻ thù được không? Tất cả là “Tán tận lương tâm”. “Ông” có làm điều “tán tận lương tâm” được không? Hãy nhìn lại mình đi rồi nói chuyện chống Cộng. Người miền Nam có được kinh nghiệm gì sau ba mươi năm chống Cộng?”

Người bạn tôi nói một hơi, như trút lên đầu tôi những điều anh ấy ấm ức bao lâu nay, vì còn ở lại trong nước, sống với Việt Cộng. Điều nầy làm cho tôi thoáng nhớ lại những cuốn sách “chống Cộng” mà tôi đã đọc trước 1975: “Trại Đầm Đùn” của Thái, “Về R” của , “Ai có qua cầu” của Hà Lang, “Kẻ Nội Thù” của linh mục Raymonh De Jaegher, “Đêm hay Ngày” của Koestler và hay nhất, gần gũi nhất là “Đêm Giữa Ban Ngày” của ông , “Hoa Xuyên Tuyết”, “Mặt Thật” của ông , “Đèn Cù” của , các cuốn tiểu thuyết của . Và cuối cùng là câu tực ngữ “Ở trong chăn mới biết chăn có rận” và người bạn tôi đang trong cảnh “Đoạn trường ai có qua cầu…”

Nếu chỉ nói về quyền lợi, như cá tính của người Cộng Sản, trong cuộc “đấu đá” nầy, họ không bao giờ chịu thua, mặc dù họ chỉ có ba triệu đảng viên, phía đối thủ có chín mươi triệu dân.

Nhưng đây không phải là “đấu đá” bởi vì đã “đấu đá” thì có chính nghĩa gì đâu! Đây là cuộc tranh đấu, chín mươi triệu dân có chính nghĩa, bởi vì cái họ muốn nắm giữ là quyền lợi, là đời sống, là sự sinh tồn của dân tộc. Trong viễn tượng đó, dân chúng có lý tưởng, có ý chí, có chính nghĩa. Như người ta thường nói, “Chính nghĩa sẽ thắng”.

Dân chúng có chính nghĩa thật sự, rõ ràng, sáng tỏ. Còn người Cộng Sản bây giờ họ có chính nghia gì, lý tưởng gì?

Tuy nhiên, cuộc chiến đấu nầy không dễ thắng lợi. Dân chúng thì chỉ có ý chí, có lý tưởng, có lòng yêu nước. Khi nghe tin Miền Nam thất trận, viết:

Cuộc chiến đấu nầy vẫn chưa phân thắng phụ

                        Ta vẫn còn đây và sắt thép còn kia

                        Chết chóc thầm âm, cốt nhục chia lìa

                        Ta vẫn sống và không hề lẩn lú!

Nhà thơ khẳng định “chưa phân thắng phụ” là vì ông đứng về phía dân tộc, phía chính nghĩa. “Ta vẫn còn đây” và “Ta vẫn sống” có nghĩa là dân tộc đang còn, đang sống, và sẽ có ngày quật khởi.

Với vũ khí từ bên ngoài đưa vào, trang bị tận răng cho các lực lượng “bạo lực cách mạng”, vậy mà Cộng Sản Việt Nam phải trải qua ba mươi năm mới giành được chính quyền, huống chi dân chúng chỉ có hai bàn tay không.

Tuy nhiên, không chỉ chúng ta ở hải ngoại, dân chúng ở trong nước vẫn tin chắc Cộng Sản sẽ sụp đổ. Dù ta phải trải qua sáu mươi năm, gấp đôi hời gian của Việt Cộng cướp chính quyền, thì thời gian chúng ta phải đi qua vẫn còn là ngắn.

Nỗi điêu linh của dân tộc Việt Nam chính là ở chỗ đó, Chính là Cọng Sản và lòng tham lam của chúng, chớ không phải ở lý tưởng gì cả./

(Kỳ tới: Hủ hóa giới trẻ)

[post_connector_show_children slug=”v%e1%bb%81-n%c6%b0%e1%bb%9bc-th%e1%ba%a5y-g%c3%ac-ngh%c4%a9-g%c3%ac” parent=”29506″ link=”true” excerpt=”false”]