Đèn Saigon ngọn xanh, ngọn đỏ

Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu

Anh về học lấy chữ nhu

Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

(Ca dao Nam Bộ)

3)- Đường sá

Theo các kinh tế gia thì muốn phát triển đất nước, ưu tiên phải phát triển giao thông, nghĩa là đường sá đi lại dễ dàng, thuận tiện. Trong viễn tượng đó, ngày nay, Saigon – xin gọi theo tên cũ, có lẽ nên vậy –  thì đường sá phát triển nhiều. Có những xa lộ được xây nên, cũng dễ hiểu, có cái người ta làm nhưng tôi không rõ xây lên như thế để làm gì. Có phải Việt Cộng xây dựng sẵn, để ba mươi năm sau – con số tôi viết chừng – mới xử dụng tới hay sao?

Xa lộ từ Saigon đi ra miền Trung, bắt đầu từ khoảng bến xe miền Đông ra quá ngã ba Dầu Giây, xe chạy thoải mái vì… vắng hoe! Tiện thì cũng tiện đấy, khỏi qua Thủ Đức, khỏi qua Hố Nai… nhưng xe cộ ít quá, chạy xe trên đường một mình, thấy cũng… buồn.

Nhưng về các cây cầu thì tôi không ngờ…

Cầu Bến Lức được xây trước 1975. Cầu Mỹ Thuận (Tiền Giang) xây xong sau 1975. “Bắc” Cần Thơ trên sông Hậu, sông nầy rộng và sâu, nhưng cũng làm cầu xong rồi. Vậy là hay. Nhưng khi qua cầu nầy, tôi bỗng nhớ Trần Thiện Thanh:

“Em xinh tươi trong chiếc áo bà ba
Em đi mau kẻo trễ chuyến phà đêm
Qua bến Bắc Cần Thơ…”

(Chiếc áo bà ba – Trần Thiện Thanh)

Sau 1975, sau khi ở tù về, tôi có việc phải đi Cần Thơ, dự định về trong ngày. Khi tôi ra bến xe về Saigon thì đã hết xe. Tôi tìm tới nhà một người quen định ngủ nhờ qua đêm. Chủ nhà rất tử tế, – “thầy trò” cũ mà – nhưng khi tôi hỏi câu, tôi đi tù về, ở lại nhà anh ta, anh có ngại Công An không thì anh ta làm thinh, một lúc mới trả lời: “Em liệu được, chắc không có gì!” Nghe câu nói có chút ngại ngùng, tôi bèn từ giã anh ta ra ngồi ở “bến bắc” cầu âu; may có chiếc xe tải nào về Saigon sẽ xin quá giang.

Nhìn giòng nước sông chảy mạnh, tôi bỗng nhớ sông Hương, nhớ câu thơ của Thu Bồn: “Con sông dùng dằng, con sông chảy”, nhưng cũng nhớ chiếc áo bà ba của Trần Thiện Thanh.

Ông ta sáng tác bài nầy lúc nào? Có phải vào thời gian ông ta đi “hát chui”, như một số nghệ sĩ miền Nam, như Ngọc Minh, như Nhật Ngân, Duy Khánh… sau 1975 để trốn Việt Cộng. Rồi một đêm nào đó, Trần Thiện Thanh qua “bắc” Cần Thơ và nhìn lại mình, quê hương đất nước mình, xúc cảm mà viết nên bài ca!

Trước 1975, người ta hát ở Saigon, trên đài phát thanh, TV, phòng trà… cho “giai cấp trên” của xã hội. Sau 1975, người ta về hát chui ở các xã, các huyện, cho nông dân, cho “giai cấp dưới” của xã hội! Những nông dân, tiểu thương, buôn bán đầu sông cuối chợ, những người lao động chân tay vất vả, trước kia cũng như bây giờ, đều là “giai cấp dưới” của xã hội cả. Ngày xưa ai hát cho họ nghe? Thường là các gánh cải lương. Âm nhạc cải cách, “nhạc vàng”, ít khi ngó ngàng tới họ, dù có hát nhạc bolero, “Lối Về Xóm Nhỏ”, “Chiều Làng Em”, “Đường Về Hai Thôn”… thì cũng để cho “dân Saigon” hay các tỉnh thành nghe. Ở các xã, mấy khi thấy các đoàn hát của Bộ Thông Tin, Dân Vận Chiêu Hồi… Nay thì người ca sĩ Saigon về “hát chui”, về với họ sau khi đã “mất” họ.

Vậy thì ai “trung thành” với người nghệ sĩ. Ngồi trên bến “bắc” Cân Thơ vào một đêm nào đó, ông Trần Thiện Thanh có nghĩ tới thân phận mình, thân phận của người nghệ sĩ, tới những người từng yêu mến ông. Những chiếc áo dài, những “khăn là áo lụa” nay đâu rồi. Có phải người nghệ sĩ, khi “mất” Hòn Ngọc Viễn Đông mới thấy cái đẹp của ruộng đồng và chiếc áo bà ba??? Với bài hát “Chiếc áo bà ba”, tôi không nghĩ nhạc sĩ Trần Thiện Thanh “về” với Dân Tộc, nhưng bây giờ ông đi “gần” với Dân Tộc hơn, bởi vì dân tộc Việt Nam không chỉ là “dân thành phố”. Tám mươi phần trăm dân số là nông dân, ai nghĩ tới họ, lo cho họ trong bao nhiêu năm chiến tranh?

Về Gò Công, qua cầu trên “bác Cầu Nổi” tôi lại càng ngạc nhiên hơn. Trong gần một năm phục vụ ở Gò Công, từ Saigon về bản quán của bà Từ Dũ, tôi qua “bắc” nầy không biết bao nhiêu lần. Bờ bên nầy là Cần Đước, bờ bên kia là Bình Đông(?) thuộc tỉnh Gò Công cũ, hai bờ xa chút mút. Sông rộng bờ xa, sát biển, tôi không nghĩ có ngày nơi đây lại được xây cầu. Những ngày mưa nặng hạt, đứng bờ bên nầy không thấy bờ bên kia, lòng kẻ tha phương nhiều thương nhớ và tủi cho thân phận người lính xa nhà. Khi tôi trở lại đây, bến “bắc” không còn nữa. Xe chạy một lèo qua cầu, lòng tôi vui như… mọi người.

Hôm trở về, tài xế vô tình cho xe chui đường hầm, chạy lạc qua Thủ Thiêm rồi vòng lại.

Tại sao lại làm hầm mà không làm cầu như trong “Chương trình phát triển kinh tế hậu chiến” (1961) và “Phúc Trình Stanley-Thúc” đã vạch ra từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa?

Giữa năm 1982, tôi đi tù cải tạo về. Mấy năm sau, trước khi vượt biên năm 1989, ông Nguyễn Xuân Quỳnh, xui gia với anh chị tôi, gọi tôi tới chơi, như nhiều lần trước.

Ông Quỳnh xuất thân “Haute Commerce” bên Tây về, từng làm “Cố vấn Kinh tế” cho tổng thống Thiệu, đang giữ chức vụ Tổng Giám đốc Ngân hàng thì “đứt phim”. Sau 1985, Việt Cộng tìm tới anh ấy và “tham vấn” về các chương trình phát triển kinh tế của chế độ cũ. Anh ấy gọi tôi tới, hỏi tôi về việc có thời gian ngắn làm việc ở Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc trách Kinh tế Hậu chiến, và “Cậu còn nhớ gì về các chương trình của ông Thúc hay không?” Tôi trả lời nhớ chút chút vì “Chương trình Stanley Thuc là hay lắm, tôi mê lắm.” Anh yêu cầu tôi viết những gì còn nhớ vì tài liệu không còn, “Việt Cộng tìm không ra”.

Theo tôi nhớ thì chương trình cũ đâu có kế hoạch đào hầm qua Thủ Thiêm mà là một cây cầu, từ cuối đường Hàm Nghi đi thẳng lên cầu rồi qua bên Thủ Thiêm.

Sao bây giờ Việt Cộng không làm cầu mà làm hầm.

Trên một con sông, cây cầu thường “tô điểm” cho vẽ đẹp của một con sông. “Chiếc cầu thì cong mà con đường thì thẳng”. Cầu Trường Tiền không đẹp lắm đâu, không như cầu Long Biên trên sông Hồng, nhưng Trường Tiền sáu vài mười hai dịp (nhịp) không chỉ nối hai bờ sông Hương mà “nối” bao nhiêu tình, bao nhiêu nhớ, bao nhiêu thương với nhau, và nằm im ở đấy, trong tâm hồn những người Huế xa quê.

“Cầu Xa Lộ” nhưng nếu như song song với nó, có một cây cầu nữa trên sông Saigon thì Saigon đẹp hơn biết bao nhiêu! Thêm một cây cầu là tô điểm thêm vẽ đẹp cho một thành phố. Nhiều người nghĩ Paris đẹp cũng là nhờ có nhiều cầu bắc qua sông Seine.

Vậy thì tại sao không làm cầu cho Saigon đẹp hơn?

Có gì đâu. Rất dễ hiểu.

Mặc dù ông Đỗ Mười nói rằng cầu thì “dễ bị địch tấn công”. Vậy thì làm hầm địch không tấn công được hay sao? Không phải người ta không thấy sự thông minh của ông “cựu” hoạn lợn đâu. Ông ta khôn lắm đấy. Làm cầu, ngân sách chi ba trăm triệu đô-la Mỹ. Làm hầm, chí tới bốn trăm triệu. Chọn số tiền lớn mà không chọn số tiền nhỏ, là vì tiền lớn thì “lại quả” lớn; tiền nhỏ thì “lại quả” nhỏ. Vậy thôi!

Tiền ấy từ đâu ra? Nhiều kinh tế gia giải thích rồi. Làm cầu, làm đường là từ “vốn xây dựng”, là từ chương trình “Hỗ trợ phát triển chính thức” (Official Development Assistance gọi tắt là ODA) do các nước tư bản cho chính phủ Việt Nam Cộng Sản vay, nhiều nhứt là từ Nhựt Bản.

Chính phủ Hà Nội cứ vay bừa, vay như thế nào, có tiền lời hay không tiền lời đều được, miễn sao kiếm được “chút cháo vài trăm triệu đô” được. Ngày sau, con cháu sẽ trả, “nợ ngập đầu” cũng chẳng sao. Chuyện đời sau, đâu phải chuyện dời nay mà lo, “mất đảng” là mất cái nồi cơm bằng vàng

Làm cầu qua Thủ Thiêm để làm gì?

Theo chương trình cũ, có từ thời tổng thống Diệm thì Saigon sẽ phát triển bằng cách “nối” ba thành phố Saigon – Biên Hòa – Vũng Tầu làm một. Thủ Thiêm trở thành “khu quốc tế” của Saigon: Sân bay quốc tế, công nghiệp, thương mãi, giao dịch, du lịch quốc tế… đều ở Thủ Thiêm. Saigon cũ chỉ còn giữ nhiệm vụ “nội địa”.

Nếu tin về phong thủy, “thủ đô” của nước Việt Nam đặt ở Thủ Thiêm “đắc địa” hơn Saigon hiện nay bởi vì Thủ Thiêm có hai mặt sông: Sông Saigon và sông Đồng Tranh (còn gọi là sông Thị Vãi). Núi Thị Vãi là cái “chẫm” hay còn gọi là cái “lưng dựa” của thủ đô. “Thế đất” như vậy, vừa bảo vệ vừa phát triển “trung tâm của đất nước”.

“Chính phủ Việt Nam Cộng Sản” (phải gọi như thế cho đầy đủ ý nghĩa) đang thực hiện “chương trình phát triển kinh tế hậu chiến” Stanley- Thúc đó hay sao?

Có thể!

Nhưng họ “phát triển” theo phương cách đặc biệt của họ: Thượng tọa Không Tánh mất nơi tu hành, chùa Liên Trì thành bình địa, và mấy “bà xơ” mất nơi thờ phượng Chúa Giê Su.

Việt Cộng phát triển Saigon bằng cách phá chùa, phá nhà thờ thì liệu có “đăc địa” được hay không???!!!

Điều tôi nghĩ những người lãnh đạo đất nước phải làm, thì họ không làm. Đó là đường xe lửa.

Tại sao Việt Cộng không có chương trình phát triển đường xe lửa? Họ sợ mất lòng ông Lê Duẫn, vốn ngày xưa là “người bẻ ghi” hay nói một cách văn hoa là “công nhân hỏa xa”, cũng như Visan hoạt động yếu vì mở rộng ra nữa thì mất lòng ông Đỗ Mười. Người ta ai cũng muốn quên thuở hàn vi của mình.

Đường xe lửa Nam Bắc VN do Tây xây dựng hoàn tất vào năm 1936, bề ngang giữa hai đường “rây” (rail) chỉ có 9 tấc. Đường xe lửa nầy bị Việt Cộng phá hủy hoàn toàn trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-54), nhất là đoạn đường trong phạm vi bốn tỉnh Nam – Ngãi Bình – Phú là vùng Việt Cộng kiểm soát cho đến Hiẹp Định Genève 1954, các tỉnh nầy thuộc quyền cai trị của chính quyền Nam Vĩ Tuyến 17.

Trong thời kỳ chiến tranh, ở miền Trung và miền Nam, xe lửa chỉ hoạt động hai đoạn: Từ Trà Kiệu (Quảng Nam) tới Đông Hà (Quảng Trị), và từ Saigon ra Ninh Hòa (?), thuộc tỉnh Khánh Hòa.

Tổng thống Ngô Đình Diệm làm tổng thống kể từ 26 tháng 10 năm 1955, sau khi lật đổ Quốc Trưởng Bảo Đại 23 tháng 10 năm ấy. Bốn năm năm sau, đường xe lửa miền Nam được nối liền từ Saigon đến Đông Hà. Năm 1959, sau khi đường xe lửa ở miền Nam được “thống nhất”, ông Bộ Trưởng Quốc Gia Tr6àn Hữu Thế ra “thăm” Huế bằng đường xe lửa. Tôi được lệnh ông hiệu trưỏng dẫn học sinh đi đón chào ông bộ trưởng ở Ga Huế, tặng hoa, cầm cờ hoan hô,v.v… và v,….

Chương trình cải tiến “hệ thống hỏa xa” thời TT Ngô Đình Diệm là thay đường “rây” rộng 9 tấc như hiện tại thành 1m2 hay 1m4, tôi không nhớ rõ, mục đích là để an toàn hơn và xe chạy nhanh hơn. Ví dụ: hồi bấy giờ, chuyến xe lửa khởi hành từ Saigon “sáng hôm nay” thì mãi đến “chiều hôm sau” mới đến Huế. Theo dự trù, nếu thay thế bằng đường sắt rộng hơn, xe lửa Saigon – Huế chạy chưa tới 24 giờ đã tới nơi.

Chương trình nầy ở Saigon thì “ngoạn mục” hơn. Từ cầu Bình Lợi vào, xe lửa chạy trên không, không còn những “Cổng xe lửa số 6, số 10”… như tình hình lúc đó. Để tiện lợi, xe lửa có hai đường vô ra riêng biệt trong khoảng đường Bình Lợi – Ga Saigon.

Ga Saigon vẫn ở địa điểm cũ, ngay trước Chợ Bến Thành. Ga là một ngôi nhà 5 tầng lầu: Tầng trệt (đất) là bãi đậu xe. Tầng 1 là Ga, xe lửa đến và đi, hành khach lên xuống, v.v… Người nào “đói bụng, khát nước”, mời lên tầng hai, có chợ, phố, nhà hàng…  Tôi không nhớ tầng 3 tầng 4 để làm gì, nhưng tầng 5 là “trụ sở “Bộ Giao Thông – Công Chánh”

Cũng từ Saigon, có đường xe lửa qua “Kho Tân Thuận” để vận chuyển hàng hóa xuất nhập cảng…

Chương trình nầy cũng cải tiến đường xe lửa Saigon – Lộc Ninh để vận chuyển Cao su, hay Saigon Đắk-Nông, để vận chuyển quặng “bô-xít nhôm”. Mỏ nhôm nầy được tìm thấy thừ thời Pháp thuộc nhưng chưa khai thác được.

Tôi không thấy có tài liệu phục hồi đường xa lửa Saigon – Mỹ Tho đã có từ thời Tây, và bị phá hủy thời Việt Minh.

[post_connector_show_children slug=”v%e1%bb%81-n%c6%b0%e1%bb%9bc-th%e1%ba%a5y-g%c3%ac-ngh%c4%a9-g%c3%ac” parent=”29506″ link=”true” excerpt=”false”]