Nghệ sĩ,

người ở đâu?

Người bạn hỏi tôi:

-“Ở bên Mỹ, “ông” có coi phim Việt Nam không?”

Tôi trả lời:

-“Có! Tôi coi qua youtube!”

-“Phim nào hay?” Người bạn hỏi.

-“Những phim thuộc loại kinh điển, như “Ngọn Cỏ Gió Đùa”. “Lều Chỏng”. Gần đây nhứt là “Thương Nhớ Ở Ai?” Đó là những phim hay, kể chung, người viết biên kịch, đạo diễn, cũng như tài tử.”

-“Hay cái gì?”

-“Hay là do nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhứt là không tuyên truyền.”

-“Tuyên truyền chỉ là một yếu tố. Nhưng người xem, như “ông” chẳng hạn, “ông” phải có cái gì “ông” mới thấy nó hay. Nếu lòng “ông” trống trơn, không có trình độ, kiến thức gì hết, làm sao “ông” thấy nó hay!” Người bạn tôi nói, có vẻ gay gắt.

-“Trước hết là nói về “Đề Cương Văn Hóa Việt Nam” của Trường Chinh. Nói thật đúng, chỉ là Trường Chinh “chôm” lại “tư tưởng Mao”. Nhiều người bị tuyên truyền, tưởng là “tư tưởng Trường Chinh”. Làm gì mà có chuyện văn nghệ đạt tới đỉnh cao là tuyên truyền. Thành ra, biết cái gì hay hay không hay là do văn hóa. Ví dụ như khi còn đi học, hay khi lớn lên, người ta sống trong một môi trường có văn hóa tốt, thấm nhuần văn hóa tốt, thì sẽ biết cái gì hay, cái gì dở. Cụ thể hơn là như thế nầy. Chúng ta từng được học chương trình giáo dục Việt Nam Cộng Hòa, có ba tiêu chuẩn căn bản. Đó là Nhân bản, Dân tộc Khai phóng. Nôm na, về Nhân bản là chúng ta học về con người, về phẩm giá con người, về tình người, về lòng thương người, về nhân quần… Về dân tộc thì dễ thấy hơn là chúng ta học về tinh hoa của dân tộc Việt Nam, về cái hay cái đẹp con người Việt Nam… Về khai phóng thì trí óc mở rộng ra, tâm hồn mở rộng ra, nhìn vấn đề rộng ra với thế giới bên ngoài, với nhân loại… Tất cả ba tiêu chuẩn nầy, cái nào cũng mâu thuẫn với Cộng Sản, dù là về mặt nhân bản, dân tộc hay khai phóng.

Đối với chủ nghĩa Cộng Sản, nói về nhân bản là nhân bản trên quan điểm nào? Phải là nhân bản trên quan điểm Cộng Sản, không thể có quan điểm nhân bản chung chung. Nói về con người thì phải là con người Cộng Sản, có nghĩa là con người theo quan điểm Cộng Sản. Nếu nói về phẩm giá thì phải là phẩm giá theo quan điểm Cộng Sản. Theo quan điểm Cộng Sản thì phẩm giá là gì? là lợi ích của đảng. Không vì lợi ích của đảng thì con người đó không có phẩm giá gì hết. Ví dụ nói về tình người thì cái tình người đó cũng phải theo quan điểm của đảng thì cái tình đó phải là tình đảng, vì lợi ích của đảng, tình giữa những người trong đảng, trong cùng một giai cấp, không thể có cái tình người chung chung cho tất cả mọi người, cho nhân loại. Không thể có lòng thương người chung chung, không thể có tình nhân loại chung chung. Quan điểm nhân quyền của Tây phương không thể là quan điểm nhân quyền của Cộng Sản. Nhân quyền Tây phương là quyền con người nói chung, không có quan điểm hay phân biệt về màu sắc chính trị hay văn hóa. Quan điểm nhân quyền Cộng Sản là phải nhìn qua lăng kính giai cấp và “tính đảng”. Về dân tộc cũng vậy. Với Cộng Sản, không thể có dân tộc nói chung, mà phải là dân tộc của nhân dân lao động, của vô sản mà không thể có tư sản, tiểu tư sản hay giai cấp nào khác. Trí phú địa hào là ngoài “nhân dân lao động” là “ngoài dân tộc” (dân tộc hiểu theo nghĩa CS là “nhân dân “chúng ta”. Chúng ta là Cộng Sản). Nhìn vấn đề như vậy là thu hẹp, là đi ngược với khai phóng.

Vì vậy, nền giáo dục của Cộng Sản chỉ có MỘT mà không phải là BA như trong chế độ VNCH. MỘT đó là gì? Là Tính Đảng”. “Tính đảng” khởi đầu từ chủ nghĩa Mác, từ những cuộc cách mạng vô sản trên thế giới. Nghĩa là từ khi đó nhân loại mới hình thành. Trước Cộng Sản, không có nhân loại, không có văn hóa, không có tư tưởng, không có Thế Kỷ Ánh Sáng, không có Phật, không có Khổng, không có Chúa, nhất là Chúa. Tính cách cực đoan của Thiên Chúa Giáo La Mã và tính cách cực đoan của Cộng Sản là đối chọi kịch liệt, một mất một còn, ngay hiện tại, ngay bây giờ, không có “hẹn” ngày mai hay ngày kia, không có cái gọi là “Cách Mạng Tư Sản”.

Nhìn vấn đề như vậy, thì quan điểm giáo dục VNCH không thể không đối chọi với quan điểm giáo dục có tính đảng của Cộng Sản.

Chúng ta, chính vì nhờ nền giáo dục khai phóng, nên chúng ta nhìn vấn đề nào cũng rộng hơn. Chính vì vậy mà chúng ta hiểu và thông cảm đối tượng, dù đối tượng là kẻ thù hay không phải là kẻ thù. Có thông cảm mới có tha thứ. Từ tha thứ chúng ta mới có “tấm lòng”, dù với thù hay bạn.”

-“Mình tha thứ cho kẻ thù được sao?”

-“Tôi kể bạn nghe một câu chuyện:

“Khoảng giữa năm 1974, Việt Cộng tấn công “Nhà Máy Xi-Măng Hà Tiên” ở Kiên Lương. Một đại đội của Sư Đoàn 21 tăng cường cho lực lượng quân sự địa phương phản công địch. Sáng hôm sau, đại đội nầy truy kích Việt Cộng trên đường chúng rút lui. Phía ta bắt được một tên lính Cộng Sản. Tên nầy núp trong một cái hang nhỏ ở núi Nai, phía sau nhà máy.

“Khi tôi đang đứng ở sân Bộ Tư Lệnh Khu 44 Chiến Thuật, đóng chung với Chi Khu Kiên Lương, nói chuyện với Thiếu tá Thanh, trưởng phòng 3 thì một trung sĩ dẫn tên Việt Cộng đi vào sân. Trông y chưa tới 20 tuổi, ở trần, quần xà lỏn, tay bị còng ra phía sau. Viên trung sĩ nói:

-“Thiếu tá! Thằng nầy tui hỏi nó ở đơn vị nào mà nó không khai.”

Thiếu tá Thanh bước tới phía tên cán binh Cộng Sản, nói: “Không khai mậy? Mầy muốn chết hả?”  Vừa nói, ông ta đá nó một đá vào đít. Tên Việt Cộng hốt hoảng nói: “Lậy ông! Lậy ông! Con bị bắt đi nghĩa vụ.”

Viên trung sĩ dẫn tên tù binh đi tiếp vào văn phòng Biệt Khu. Tôi nói đùa với Thiếu tá Thanh:

-“Đm. Đã là “nghĩa vụ” mà còn “bị bắt”.

Thiếu tá Thanh cười với tôi: “Dziệt Cộng toàn nói ngược không!”

Một lúc sau, Thiếu tá Thanh gọi tài xế ông ta tới, nói: “Mày vô hỏi thằng tù binh, mấy ngày nay, nó có gì ăn không.”

Tài xế đi vào trong, một lúc đi ra, nói:

-“Nó khai ba ngày nay không được ăn gì cả.”

Thiếu tá Thanh nói: “Mày ra chợ mua cho nó ổ bánh mì thịt.” Nói xong, Thiếu tá Thanh vừa rút ví, vừa nói với tài xế: “Tiền này.”

Tài xế nói: “Em có rồi thiếu tá!”

Tôi nói tiếp với người bạn:

“Con người của xã hội chúng ta là như vậy đấy. Vừa đá tên tù binh một đá, lại sai tài xế đi mua cho nó ổ bánh mì. Sự giáo dục chúng ta được dạy dỗ, ở gia đình, học đường cũng như xã hội không dạy cho chúng ta thù hận mà dạy “Nhân bản” là dạy “thương người” (“Thương người như thể thương thân. Thấy người hoạn nạn thì thương. ”). Tức giận tên tù binh ngoan cố – ngoan cố là bản chất của Việt Cộng – thì đá nói một phát, nhưng nghĩ tới hai ba ngày nay “kẹt” đánh nhau, biết chắc tên tù binh đang đói, nên sai tài xế đi mua cho nó ổ bánh mì thịt. Thiếu tá Thanh nghĩ cái gì? Ông ta muốn giữ lời giáo huấn của cha mẹ, của thầy cô hay của xã hội miền Nam, hay muốn “để phúc đức cho con” như văn hóa truyền thống của người Việt Nam khi làm một việc nhân đạo chung chung. Tên tài xế của Thiếu tá Thanh, học lực có lẽ ngang cỡ tiểu học, học không nhiều về “Nhân bản”, “Dân tộc” hay “Khai phóng”, nhưng cũng có lòng thương người như “ông Thầy” của anh ta vậy, lặng lẽ bỏ tiền túi đi mua bánh mì cho tên tù.

Đó là cái chúng ta khác với Cộng Sản. Trong cuốn phim “Thương Nhớ Ở Ai” do trong sản xuất, có một nhân vật rất đáng thương: Tốn. Ông nội Tốn là địa chủ, bị treo cổ. Cha của Tốn là con của địa chủ, bị bắn chết, sau khi bị đấu tố. Mười sáu (16) tuổi, biết không thể nào thoát khỏi sự “kỳ thị, phân biêt đối xử”, không thể xin “hạ thành phần” (giai cấp), Tốn xin đi bộ đội, “chống Mỹ cứu nước”. Nếu “may ra”, Tốn “hy sinh” thì mẹ Tốn trở thành “gia đình liệt sĩ”, mẹ sẽ không còn bị kỳ thị, bị phân biệt đối xử, vì được “hạ thành phần”. Chủ nghĩa Xã hội là Chủ nghĩa Cách mạng “triệt để”, muốn có triệt để thì phải có hận thù, và không thể có thông cảm, để tha thứ. Trong ý nghĩa đó làm sao xã hội có chữ tình, dù là“tình họ hàng, tình chòm xóm, tình làng, tình quê hương, đất nước”. Nếu có thì cũng phải che giấu để khỏi bị phê bình, kiểm điểm.

-“Ông” thích phim nầy nhất?”

-“Tôi muốn nói trở lại cái hay đã. Cái mà mình thấy hay là vì nó không tuyên truyền. Nó thuộc về con người, dân tộc… Cái mà người Cộng Sản thấy hay là vì nó tuyên truyền, là ca ngọi, hoan hô là có tính đảng. Trong ý nghĩa đó, tôi thích nhiều phim sản xuất ở trong nước, không phải chỉ có một. Chẳng hạn mấy cuốn phim tôi nói ở trên, nhưng phim nầy đặt ra cho tôi nhiều vấn đề. Sự hận thù giai cấp dài tới ba đời như tôi nói là một. Nó thuộc lãnh vực chính trị, chủ nghĩa Cộng Sản. Một chuyện nữa thuôc về văn học nghệ thuật.”

-“Nói rõ hơn được không?”

-“Trong phim nầy, có một nhân vật quan trọng, tên Đột. Y thuộc thành phần bần nông, thành phần cốt cán, căn bản của Cộng Sản. Nhờ thành phần, y được Cộng Sản chọn làm chủ tịch xã của làng Nguyệt Quế, tục gọi là làng Đông. Dĩ nhiên, y thi hành chánh sách của đảng một cách tích cực, như bắn chết tên Tòng, con trai địa chủ Hào, không xét cho tên Tốn, con của Tòng (cháu địa chủ Hào) học cao hơn vì thành phần, vì lý lich… Y không cho Nương (Thanh Hương) một cô hát ả đào phải rời Hà Nội, trở về quê, – cùng làng – sau khi Hà Nội được “giải phóng” năm 1954. Y chủ trương phá đình, nơi thờ “thành hoàng”. Nhìn chung, y là tên “vô lương tâm”, độc ác, cực đoan, là một tên cán bộ Cộng Sản chính cống. Dần dà, trong sinh hoạt làng xã, y tìm được một điều mà trước kia, y chưa từng được biết tới. Đó là tình yêu, nhất là yêu nghệ thuật, một điều mà trước kia y chưa từng có bao giờ. Tại sao?

Có phải vì đời sống bần nông, nghèo, đói khổ nên y không thể có tình yêu. Nay làm chủ tịch xã, có ăn có mặc nên đời sống tình cảm phát triển ra? Hay cả hai đều sai. Dù no dù đói, yêu nghệ thuật, nói nôm na là thích một câu hát, câu hò, một bài ca, một lời ca là bản chất của con người? Do đó, y yêu cô gái hát ả đào tên Nương. Y yêu cô gái. Đúng hơn, y yêu tiếng hát của cô ấy.

Tiếng hát ấy tượng trưng cho nghệ thuật, như tiếng hát của Trương Chi trong câu chuyện cổ Trương Chi/ Mỵ Nương. Chính tình yêu ấy làm cho Đột thay đổi. Y bị cách chức chủ tịch. Cách chức hay y tự ý thôi chức, không còn là vấn đề khi y trở thành người yêu Nương, biết yêu Nghệ Thuật. Đó là tình yêu chân thật nhất, sôi nổi nhất, liều lĩnh nhứt. Y tổ chức một đêm để Nương hát chèo giữa đình để cho cả làng Đông nghe, để mọi người thức tỉnh, biết tình yêu là gì, nghệ thuật là gì, để mọi người thấy rằng Cộng Sản đem đến lòng hận thù giai cấp cho dân làng Đông. Trong khi đo Nghệ Thuật đem tình yêu đến cho dân làng Đông. Trong ý nghĩa đó, y thách cả làng Đông ai biết yêu như y, chân thật với tình yêu như y, liều lĩnh với tình yêu như y. Tình yêu là cái còn lại, sau khi dân làng Đông đã hy sinh tất cả cho cách mạng, “Tất cả cho miền Nam ruột thịt” như Đảng kêu gọi tuyên truyền. Tất cả thanh niên đều đi Nam, “đi B” và rất ít người trở về, v.v…

Người bạn tôi hỏi:

-“Nghệ thuật đi tiên phong trong việc “hòa hợp hòa giả dân tộc”. Có phải không?  

            -“Hòa hợp hòa giải” là vấn đề của người Việt Nam chúng ta. “Nghệ thuật đi tiên phong” là vấn đề của toàn thể nhân loại, xưa cũng như nay. Trước hết, mình nói về Tầu, Tư Mã Thiên hay Đỗ Phủ chẳng hạn. Tư Mã Thiên chịu chặt chân chớ không chịu “bẻ cong ngòi bút” khi viết sử, hay Đỗ Phủ đành chịu chết đói trong chiếc đò con. Tôi cảm động đến muốn rơi nước mắt khi lần đầu tiên đọc “Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe” của Phùng Quán:

“Em ơi đừng khóc nữa,

                        Chuyện ngàn năm ngàn năm.

                        Hễ đi với nhân dân

                        Thì thơ không thể khác

                        Dân máu lệ khôn cùng

                        Thơ chết áo đắp mặt.

-“Nhân Văn/ Giai Phẩm ở ngoài Bắc hồi trước cũng vậy thôi. Chính Phùng Quán cương quyết tuyên bố “Giấy bút tôi ai cướp giật đi, Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá” rồi có làm gì được Cọng Sản đâu!

-“Tui không nghĩ như bạn!

-“Phong trào nầy bị Cộng Sản đàn áp, tiêu diệt. Người đi tù, người “đi thực tế” – có nghĩa là “đi đày” đấy, như Nguyễn Tuân đi lên vùng Tây Bắc. Có người viết “hèn” như Nguyễn Tuân viết “Sông Đà”, “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi”. Có người nghỉ viết, có người bị đày tới cuối đời như Nguyễn Hữu Đang, có người viết dưới bút hiệu khác, v.v… Nhưng “tinh thần Nhân Văn Giai Phẩm” thì vẫn còn đấy. Còn nhiều người tiếp nối, từ sau khi bị đánh phá cho tới bây giờ.

-“Hồi ấy, ở Miền Nam chúng ta vẫn nghiên cứu, bình luận, trích giảng, áp dụng vào văn nghệ miền Nam mà!”

-“Miền Nam thì nói không hết. Người ta cổ xúy Nhân Văn Giai Phẩm vì người ta chống Cộng, vì người ta yêu văn học nghệ thuật, một thứ văn học nghệ thuật chân chính, đấu tranh cho con người, cho dân tộc. Phổ biến mạnh mẽ và rộng rãi nhứt là ca nhạc, chẳng hạn như “Những Đồi Hoa Sim”, “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà”.

-“Theo tôi, văn nghệ miền Nam vô tư hơn, thoáng rộng hơn. Những bài Phạm Duy sáng tác trong thời gian ông ta “đi kháng chiến” vẫn được phổ biến, người ta vẫn ca hát tự do, hồn nhiên ở vùng trước kia gọi là Quốc Gia, sau nầy ở Miền Nam là Việt Nam Cọng Hòa. Ngay cả những bài của nhạc sĩ Việt Cộng nhưng tác phẩm của họ không mang tính tuyên truyền cũng được hát hò vui vẻ như “Ông Lái Đò”, “Súng Ơi”,  “Đêm hôm qua, anh trở về, về bên sông…” là sông Thạch Hãn làng Bích Khê của HoàngThi Thơ của “thời kỳ kháng chiến chống Pháp”. Phạm Duy thì thiếu gì những bài khi ông ta đi kháng chiến. Về vùng Quốc Gia, ông ta cho in ấn tùm lum, hát hò tùm lum, có ai làm khó dễ gì đâu. Thậm chí, hồi ấy có người làm lớn trong chính quyền mà cũng “ngó” về bên kia nữa!”

-“Cộng Sản thì đừng hòng!” Người bạn tôi nói.

-“Hình như bài “Ly Rượu Mùng” ban đầu cấm, rồi không cấm?” Tôi hỏi.

-“Họ nói là bài đó của “Ngụy”. Sau đó lại nói bài nầy Phạm Đình Chương viết khi ông ta theo kháng chiến nên cho hát.”

-“Giết không được, tha làm phúc.” Tôi nói. “Làm gì trong chế độ Cộng Sản mà có đủ bốn hạng sĩ nông công thương. Nào là “mừng anh nông phu, mừng thương gia lợi tức, mừng công nhân ấm no, chúc người binh sĩ lên đàng, thắm tươi đời lính”. Những danh từ nầy, không thuộc xã hội tư bản mà chính là của xã hội, dân tộc Việt Nam. Miền Bắc Xã Hội chủ Nghĩa người ta không gọi thế. Trong Cải Cách Ruộng Đất, người ta gọi “Ông bà” Nông Dân, “đồng chí” Công nhân, “đồng chí” Bộ Đội. Còn như “Thương gia Đoàn Chuẩn” thì bị “đánh” từ hồi não hồi nào rồi. Làm gì mà còn “Thương gia lợi tức”. Rõ ràng là bài hát “phản động”. Bây giờ, người ta hát tùm lum, chỗ nào cũng hát, cấm không được thì giải thích “lẹo lưỡi” vậy thôi!

-“Chuyện thằng Đột là một vấn đề lớn đấy. “Ông” coi lại đi. Nghệ thuật đã đưa nó trở về với con người thực Việt Nam. Nó “lột xác Cộng Sản”. Điều nầy cũng giống như vở kịch “Tiếng Hát” của Hoàng Cầm trong Nhân Văn Giai Phẩm vậy. Nhớ lại xem. (1)

-“Vâng! Tôi nhớ vở kịch ấy. Chủ ý của Hoàng Cầm muốn dùng “nghệ thuật” để chống độc tài Cộng Sản. Tiếng hát Trương Chi là nghệ thuật, Mỵ Nương là Nhân Dân, Tể tướng chế độ độc tài. Dù Tể tướng muốn ngăn cách giữa nghệ thuật với dân chúng, thì dân chúng và nghệ thuật vẫn đến với nhau, không cấm được. Giáo sư Hoàng Văn Chì trong cuốn “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” phân tích như thế. Bây giờ thì sao?”

-“Ngày xưa Tể tướng không làm được thì nay chế độ Hà Nội cũng không làm được”

-“Sao không được!” Tôi nói. “Mới chiếm miền Nam chưa bao lâu, họ bắt đốt hết sách báo, tiểu thuyết, dĩa nhạc, băng nhạc… đồi trụy. Triệt tiêu hết!”

-“Nhưng có triệt tiêu được đâu! Hồi xưa còn lén lút. Bây giờ thì công khai. Nơi công cộng, quán cà-phê, quán nhạc, đám cưới, đám hỏi, phòng trà, thậm chí các show ca nhạc, người ta vẫn hát nhạc vàng.”

-“Cấm không được vì cởi trói?” Tôi hỏi.

-“Cởi không cởi thì người ta vẫn hát nhạc vàng, bolero.” Bạn tôi nói. “Ca hát là nhu cầu về tình cảm của con người mà. “Ông” nghĩ coi. Từ xửa từ xưa, ông cha chúng ta đã có âm nhạc, yêu âm nhạc. Bắc thì có hát chèo, Nam thì có cải lương, trung thì có hò mái nhì, mái đẩy, ca Huế… Dân ca cả đấy. Đâu có phải là thứ âm nhạc của giai cấp thống trị. Đất nước thì lại hữu tình. Tâm tình người dân, nhất là người dân quê thì lại đa tình, lãng mạn. “Ông” thử nghe người ta hát “Bèo giạt mây trôi” hay “Người ơi người ở đùng về…” hay câu hò mái nhì mà coi “Chiều đã về trời đất mông lung, Phải duyên thì xích lại cho đỡ não nùng tiếng sương…” hay một câu ca dao Nam Bộ “Má ơi đừng gả con xa, Con về Miệt Thứ biết nhà má đâu?!” Một dân tộc tình cảm dạt dào như thế mà đem tình cảm của họ bỏ vào cái hộp sắt, khóa chặt lại, niêm phong bằng cái chốt thép búa liềm, thì làm sao người dân không phản ứng được.

-“Trong Nam trước 1975, có ai cấm cản gì đâu! Trong một cuộc chiến đấu cam go như vậy, một mất một còn mà người ta vẫn hát “Chiều mưa biên giới anh đi về đâu?” thì thật là lạ lùng. Bao nhiều người ra đi vì “thất phu hữu trách” thì Nguyễn Văn Đông lại nhắc khéo “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng, thì đường trần mưa bay gió cuốn còn nhiều…” thì cũng khó phủ nhận tính cách tự do của văn nghệ miền Nam.”

-“Miền Bắc thì không được phải không?”

-“Khi tôi còn ở trại cải tạo Xuân Lộc Z30-A, một hôm, tôi đi theo một người bạn lên “bắt máy” – bắt amplifier – ở hội trường cho đám cưới anh Công An cưới chị Công An. Họ chăng một bức màn lớn có mấy chữ giấy to: “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ”. Tôi vừa thấy buồn cười, vừa thấy tội nghiệp cho họ. Đây chẳng qua là một câu biểu ngữ sáo rỗng. “Chí công vô tư” là câu tuyên truyền nhan nhản trong xã hội Cộng Sản, ngay từ cửa miệng Hồ Chí Minh, mà có ai “chí công” đâu! Lấy nhau là vì yêu nhau, động lực chính là tình cảm, vậy mà còn “trói buộc”, “đè nén” nó làm gì. Rõ ràng là không thực bụng, giả dối.

Các bài hát ở miền Bắc trong thời kỳ họ xâm lăng miền Nam cũng vậy. Tình cảm trong bài hát khi nào cũng có lèo lái, hướng dẫn, đúng với chủ trương, chính sách của đảng.   “Đi Mô Cũng Nhớ Về Hà Tịnh” mà lại nhớ “giặc điên cuồng trút hàng vạn bom rơi… Cuộc đời hôm nay lên trang sách mới…” Một bài ca tình cảm như thế lại thêm vào những câu tuyên truyền để có “tính đảng” thì còn hay nỗi gì nữa. Bài “Dáng Đứng Bến Tre” cũng vậy. Những tàu lá dừa đong đưa trông giống như tóc người con gái Xứ Dừa. Hình ảnh thật đẹp, âm điệu thật hay vậy mà rồi tôi bỗng nghe “Năm xưa đi trong đạn lửa, đi như nước lũ tràn về! Ôi! Những con người làm nên Đồng Khởi…” bỗng thấy mất hay. Đồng Khởi là gì bạn biết không? Cộng Sản lợi dụng sự tàn ác của tên Tây lai Le Roi, hồi y làm tỉnh trưởng ở đây, y tàn sát dân chúng Bến Tre, giết người không gớm tay, chiều nào cũng bắn Việt Minh ở cây cầu phía ngoài thị xã, bắn xong đạp xuống sông, gây nên biết bao điều oán hận trong dân chúng xứ nầy. Rồi Việt Cộng dùng Đồng Khởi để xúi dân chúng giết người Việt để trả thù. Thời Le Roi là thằng Tây lai giết người Việt. Đồng Khởi là người Việt giết người Việt. Nỗi oan nghiệt của dân Bến Tre nói sao cho hết! Tôi từng “lội” ở đó, từ Gò Công – Bình Thạnh Đông qua Thừa Đức, Bình Đại. Con gái Bến Tre đẹp thế mà tại sao nghe lời Việt Cộng xúi mà ác dữ vậy!?

-“Vậy theo “ông” nghĩ. Vai trò “văn học, nghệ thuật” là vai trò gì? Bạn tôi hỏi.

-“Đi tiên phong!” Tôi nói. “Trong nhiều trường hợp, văn học nghệ thuật” phải đi tiên phong hay tiến song song với sự “đi tới” của xã hội, dân tộc. Nói chi xa, trong vài trăm năm trở lại đây thôi, ca dao, hò vè, tuồng hát bội, cải lương, báo chí, văn chương… không phải đóng vai trò tiên phong trong việc chống Pháp giành độc lập hay sao? “Nhân văn, Giai phẩm” không đóng vai trò trong việc chống lại bọn “cặp rằn văn nghệ Tố Hữu” hay sao? Trong tình hình hiện nay, văn nghệ rồi cũng phải giữ vai trò đó mà thôi. Không có họ, khó nói chuyện thông cảm người trong nước, người ngoài nước, người Miền Bắc, người Miền Nam…”

-“Ông” nói văn nghệ, cụ thể là cái gì?” Bạn tôi hỏi.

-“Âm nhạc. Rõ hơn là nhạc vàng. Chúng ta coi thường nhạc vàng, nhưng Cộng Sản không coi thường nhạc vàng. Họ tìm đủ cách để đánh phá nhạc vàng!”

-“Để chi vậy?” Bạn tôi hỏi.

-“Nhạc vàng, trước hết nó là đòn bẩy của sự chống đối, phản kháng! Nó là tiên phong của tiên phong. Bạn biết tại sao không? Dồn ép, ẩn ức. Trong bao nhiêu năm Cộng Sản cai trị ở ngoài kia, họ đã đè nén tình cảm của người dân. Nói về yêu thì phải yêu đảng, yêu “Bác” Hồ, yêu miền Nam ruột thịt vì đồng bào miền Nam đang bị đàn áp, bị bóc lột, áo không có mặc, cơm không có ăn, đang rên xiết dưới sự kềm kẹp của Mỹ Ngụy. Phải hy sinh cho miền Nam, “Tất cả cho miền Nam ruột thịt”.  Đại khái Cộng Sản Hà Nội tuyên truyền như thế, thì làm gì có tình yêu cá nhân, tình cảm cá nhân, làm gì có yêu đương sum vầy, tình yêu tuyệt vọng, tình yêu đơn phương, làm gì có có tiếng nói của trái tim. Sau 1975, Cộng Sản Hà Nội đem cái vòng kềm kẹp đó mà tròng lên đầu người miền Nam, ai hát, ai nghe những bài nhạc vàng thì cho là đồi trụy, có thể bị bắt đi tù…

Thế rồi “đổi mới”, “cởi trói cho văn nghệ”. Thế rồi giàu có hơn, đời sống no đủ hơn, sang trọng hơn, cái bản chất chủ nghĩa cá nhân nổi dậy, cộng thêm với “cơm áo chưa đủ” – còn tự do nữa chớ! Bản chất tiểu tư sản lớn lên, nẩy mầm, với “thừa cơn rửng mỡ” nữa chi…

Tình cảm, ẩn ức tình cảm bị đè nén bao nhiêu năm bùng lên. Nó như cái lò xo, đè càng mạnh, bung càng dữ. Bây giờ thì hết giữ nỗi, phải mở cửa, không những người trong nước, ngoài Bắc trong Nam hát nhạc vàng tự do, mà ca sĩ hải ngoại cũng về hát chung nữa.

-“Cánh cửa trong ngoài chỉ mới mở hé!” người bạn nói.

-“Người ta sẽ mở rộng ra. Cộng Sản có khép lại người ta cũng xô rộng ra. Sức mạnh của dân chúng mà, dù Cộng Sản có ngoan cố!”

-“Người Việt hải ngoại có mặc cảm gì với người trong nước ra không?” Bạn tôi hỏi.

-“Có chớ sao không!  Ở đâu chẳng có những phần tử cực đoan, cuồng tín. Thay vì chào đón ca sĩ trong nước ra thì họ phản đối, chống phá. Nếu như họ từ trong nước ra mà hát “Bà  mẹ miền Nam tay không bắt giặc” thì nên đánh cho một trận nhừ xương, còn như họ hát nhạc vàng thì hoan hô chớ. Bọn trẻ trong nước du học thì nên đón chúng. Người ta “quên” mất “quốc sách Chiêu Hồi” của Cụ Diệm, chỉ thấy có “thua me gỡ bài cào” thôi! Bọn trẻ nó cười cho!”

-“Bây giờ ở trong nước mà hát “Bà mẹ miền Nam tay không bắt giặc” không chừng bị ăn trứng thối, nói gì hải ngoại.” Bạn tôi cười.

-“Nói thiệt bạn, ở ngoại quốc, nghe những bài mới ở trong nước, có khi tui cũng thấy hay, cũng chảy nước mắt!” Tôi nói.

-“Bài chi?” Bạn tôi hỏi.

-“Tạm Biệt Huế!” Xuân An phổ nhạc bài nầy. Rồi anh ta hát. Hay lắm!” Khi nghe Như Quỳnh mở bằng câu hò Bởi vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ, Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu, Những lăng tẩm như hoàng hôn chống lại ngày quên lãng, Mặt trời vàng và mắt em nâu!” là tui muốn rơi nước mắt.”

-“Ông” nhớ Huế?” Bạn hỏi.

-“Không phải nhớ mà thương!” Tôi trả lời.

-“Thương đủ cả. Thương những “hồn cung nữ”, thương những cái gì, không chỉ “chén ngọc” chìm dưới đáy sông sâu, thương “ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm”, thương những người chết oan năm Mậu Thân, thương “Cầu đưa em qua phố tìm anh…” thương “Mưa Dầm Xứ Huế”. Đủ cả.

-“Theo “ông” thì Huế sẽ như thế nào?

-“Huế tàn tạ! Huế ngậm ngùi với Huế đang biến dạng, rồi biến mất trước khi dân tộc Việt Nam biến mất trên bản đồ Châu Á.”

-“Việt Nam biến mất? Mất được sao?”

-“Tồn vong mà bạn! Việt Nam sẽ biến mất không phải cháy vì dầu lửa mà vì mỏ dầu lửa.”

-“Bi quan đấy!” Bạn tôi phê phán.

-“Nói thiệt anh, có mỏ dầu lửa là một đại họa đấy. Có lợi cho cá nhân thì tùy, nhưng lợi cho dân thì không bao nhiêu. Biển là nguồn sống của dân, vậy mà bây giờ biển là đại họa!”

-“Sao lại đại họa?”

-“Vụ Formosa không là đại họa sao? Cái họa đó kéo dài 5 tỉnh cho người dân vùng biển Việt Nam. Tui là dân Quảng Trị, từng lang thang suốt bờ biển tỉnh nầy, từ Thủy Tú, Thủy Bạn, Cát Sơn, Cửa Tùng, cửa Việt, Tường Vân, Gia Đẳng, Chợ Cạn, Liên Chiểu, Đống Bào, Phương Lan, Mỹ Thủy… Vùng nầy từ truông Nhà Hồ, ranh giới Quảng Bình/ Quảng Trị kéo dài tới phá Tam Giang, người xưa từng “Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”. Không có làng nào là không nghèo. Bạn nhớ giùm Phạm Duy viết bài “Quê Nghèo” là khi ông ta tới vùng Cửa Việt, Mỹ Thủy đấy. “Làng tôi không xa kinh kỳ…” là làng nào đó, ở vùng Chợ Cạn. Hồi 1947, 48 Chợ Cạn là căn cứ Việt Minh. Khoai sắn là lương thực, “nồi cơm ngô đầy” mà cũng làm cho “đàn trẻ vui.” Lang thang vùng nầy khi còn trẻ, tôi không lạ gì cảnh “người bừa thay trâu cày” hay “ông già rách vai…” Trăm năm trước đã vậy, bây giờ dù có “cách mạng về” thì lại cực hơn, nghèo hơn. Ai nghe “Biển Chết”, khi tác giả hát câu “Bữa cơm quê nghèo rơi lệ nhìn trắng đôi tay” mà không thương cho cảnh nghèo lại gặp eo. Vùng nầy toàn cát trắng, không có ruộng, ruộng rất ít vì bị cát xâm thực. Đến mùa gió Bấc, mùa mưa bão thì phải ăn vay. Qua xuân, hạ, biển êm mới đi biển được, mới có ăn.

(Còn tiếp)

hoànglonghải

(1)-Trong phong trào “Trăm hoa đua nở trên đất bắc”, năm 1956, Hoàng Cầm hoạt động tích cực trong nhóm Nhân văn Giai phẩm và được anh em gọi đùa là “Con ngựa chiến”. Ông có viết nhiều bài trong Nhân Văn để bút chiến với phe Đảng nhưng về thơ có hai bài đặc sắc nhất mà chúng tôi trích sau đây để giới thiệu nghệ thuật làm thơ của ông…  và một bài đăng trong báo Văn là một đoạn kịch thơ nhan đề là “Tiếng Hát” trong đó ông “dùng lời Trương Chi để kêu gọi nhân dân hãy nổi dậy đấu tranh chống Đảng.”

Trích báo Văn số 24 ra ngày 18-10-1957.

Tiếng Hát

(Kịch thơ của Hoàng Cầm)

(Trích đoạn trong hồi thứ nhất vở kịch thơ dài Tiếng Hát Trương Chi)

…………

Lớp II

Hồng Hoa – Mỵ Nương – Tiếng Hát

Mỵ Nương:

                        Hồng Hoa ơi!

                        Em hãy tìm về đây

                        tiếng hát của người …

                        Lòng chị như lò than cháy đỏ

                        Em hãy tìm về đây

                        Dòng sông đang trôi.

Hồng Hoa:

                        Chị đừng ra đây,

                        Gió sông lồng lộng!

                        Tiếng hát ngoài kia

                        đâu phải tiếng người!

Mỵ Nương:

                        Có một người

                        hát vang lừng trên sông.

Hồng Hoa:

                        Đó là lời than

                        cây cỏ bốn phương trời…

                        Chị đừng nghe…

                        Càng nghe càng nặng bệnh!

                        Mà… Lòng chị ra sao,

                        Thừa Tướng biết rồi!

Mỵ Nương:

                        Phụ thân ta?

Hồng Hoa:

                        Tướng công vừa truyền lệnh

                        Khóa kín cửa lầu,

                        lấp cả dòng sông

                        Để không còn tiếng hát!

Mỵ Nương:

                        Có thực không?

                        Chị van em. Em đi tìm tiếng hát

                        Dấu tướng công,

                        Em lót áo đem về…

Hồng Hoa:

                        Lót áo đem về,

Chị nói dễ nghe!

Mỵ Nương:

                        Còn dòng sông

                        Chị van em đừng lấp

                        Hãy khơi dòng

                        nước uốn đến chân lầu

                        Để thuyền của chàng

                        dù xa xa tắp

                        Cũng biết đường tìm đến

                        buộc lòng nhau

… … … …

(Trích Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc

của Hoàng Văn Chì từ trang 235)

Theo tôi, việc Hoàng Cầm “kêu gọi nhân dân đứng lên chống đảng” như giáo sư Hoàng văn Chì nói ở trên là vì Đảng (tượng trưng là quan Thừa Tướng) độc tài, lấp dòng sông, khóa kín cửa lầu, chia cách nhân dân (tượng trưng là Mỵ Nương) với Nghệ thuật (tượng trưng là tiếng hát Trương Chi), đẩy dân tộc vào vòng nô lệ, tối tăm.

Trong bất cứ một chế độ độc tài nào, dù độc tài phong kiến, phát xít hay cọng sản thì ba thực thể xã hội: giai cấp thống trị, giai cấp bị trị và những người hoạt động trong lãnh vực văn hóa nghệ thuật luôn luôn đối chọi. Giai cấp thống trị là vua quan, là đảng Cọng Sản đàn áp nhân dân – là giai cấp bị trị. Người nghệ sĩ (chân chính) đứng về phía giai cấp bị trị, đứng về phía nhân dân nổi lên chống lại giai cấp thống trị vì người nghệ sĩ chân chính là người phục vụ nhân dân. Trong ý nghĩa đó thì quan Tể Tướng (có khi gọi là Thừa Tướng) tượng trưng cho giai cấp thống trị, – trong vở kịch thơ nầy thì đó là đảng (Cọng Sản). Mỵ Nương tượng trưng cho nhân dân – nhân dân yêu thích và đi theo Nghệ thuật, tượng trưng là Tiếng Hát (Trương Chi). Người nghệ sĩ chân chính trong mọi chế độ độc tài luôn luôn bị đàn áp khắc nghiệt, bị tù đày, bị nhục hình: Tư Mã Thiên bị chặt chân, Lý Bạch nhảy xuống sông ôm trăng mà chết hay ông bị giết, Đỗ Phủ chết trong cảnh đói nghèo vì những bài thơ của ông chống lại chiến tranh tàn khốc do giai cấp thống trị tranh giành quyền lực mà gây ra, thơ ông đâu phải để phục vụ cho bọn thống trị.

[post_connector_show_children slug=”v%e1%bb%81-n%c6%b0%e1%bb%9bc-th%e1%ba%a5y-g%c3%ac-ngh%c4%a9-g%c3%ac” parent=”29506″ link=”true” excerpt=”false”]