Những cái chết

của thế kỷ

                                                            SỐNG

Sống tủi làm chi đứng chật trời?
Sống nhìn thế giới hổ chăng ai?
Sống làm nô lệ cho người khiến?
Sống chịu ngu si để chúng cười?
Sống tưởng công danh, không tưởng nước.
Sống lo phú quý chẳng lo đời,
Sống mà như thế đừng nên sống!
Sống tủi làm chi đứng chật trời?

CHẾT

Chết mà vì nước, chết vì dân,
Chết đấng nam nhi trả nợ trần.
Chết buổi Đông Chu, hồn thất quốc,
Chết như Tây Hán lúc tam phân.
Chết như Hưng Đạo, hồn thành thánh,
Chết tựa Trưng Vương, phách hóa thần.
Chết cụ Tây Hồ danh chẳng chết,
Chết mà vì nước, chết vì dân.

(Phan Bội Châu)

Sau một “mùa chinh chiến” chết chóc kéo dài 30 năm của dân tộc, nhà nào cũng có bàn thờ đặt có một hay hai bình hương thờ người chết. Có lẽ ngày nay, những người còn sống sót và con cháu của họ nghĩ tới cái sống, ham sống hơn là muốn chết, muốn “hy sinh”. Nghĩ cho cùng, câu thơ của Hữu Loan “Chiếc bình hoa ngày cưới, thành bình hương tàn lạnh vây quanh” là nỗi buồn và cũng là sự ám ảnh của nhiều người.

Hơn thế nữa, sau một thời kỳ dài đói khổ, chết chóc và bị lừa phỉnh từ mọi phía, người dân Việt Nam ở phía Bắc cũng như phía Nam tỉnh mộng và đau đớn cho phận mình. Những hy sinh mà họ từng dâng hiến, máu xương và tính mạng của người thân “bỏ mình vì Tổ Quốc, vì Đảng” chỉ là những màn kịch, vô ích và thiệt thòi cho người dân vô tội. Kẻ gọi là “chiến thắng” thì muốn gỡ gạc những gì đã mất để sống, để “đền bù” và để hưởng thụ. Trong khi người miền Nam thì lo chạy trốn, đi tìm đất hứa, mạnh miệng đòi lại cái họ không có mà tưởng là đã mất, – một thời hoàng kim ảo – thì cũng chỉ để thoả mãn tự ái của kẻ thua trận.

Vậy rồi, trong sự quay cuồng vì cơn lốc lịch sử mà người ta đã bỏ quên những cái chết oai hùng thật sự, hy sinh thật sự và hoàn toàn trọn vẹn của người Việt Nam trong thế kỷ Hai Mươi.

Trong ý nghĩ đó, tôi hỏi người bạn còn “kẹt” lại Saigon sau 1975: “Ở trong nước, nay còn ai nghĩ tới hay tưởng niệm những cái chết vang danh một thời không?”

-“Ai?” Người bạn hỏi.

-“Hòa Thượng Quảng Đức, Ông Nhất Linh, Tướng Nguyễn Khoa Nam?”

-“Hưỡn! Bây giờ, người nghèo thì lo ăn, người giàu thì lo giữ của, lo làm sao cho giàu thêm, ai còn thì giờ mà nghĩ tới những người đó?”

-“Họ không ngưỡng mộ các anh hùng lịch sử hay sao?”

-“Tui hỏi ông! Cái miếu thờ Hòa Thượng Quảng Đức ở ngoài ngã tư, có mấy ai đến viếng không? Người ta vô chùa lạy ông Phật, ông Phật linh thiêng hơn, có ích cho họ hơn, có lợi hơn. Vào chùa, người nghèo thì xin xỏ, người giàu thì cúng Phật, để ông Phật giữ tài sản cho họ. Giàu mà giàu bất chính, thường sợ mất của nên muốn biến ông Phật thành người giữ tài sản, tốn thêm cho ông Phật một ít tiền cũng được, để an toàn hơn, nhưng ngụy trang bằng “cúng dường Tam Bảo”, thực chất là giúp ông thầy chùa “thờ Phật ăn oản”.

-“Tức cười hè!” Tôi nói.

-“Bây giờ mà ông hỏi một trăm “Phật tử” tro cốt Hòa Thượng Quảng Đức thờ ở đâu thì một trăm lẻ một “Phật tử” trả lời không biết, huống chi ông Nhất Linh hay Tướng Nam; không chừng có khi họ sợ Công An bắt tội “liên hệ”. Việt Cộng mà! Ghê lắm! “Ông” về nước, “ông” làm chi thì làm, ăn nhậu, chơi gái. Tụi nó lén chụp hình, để đó. “Ông” léng phéng làm chính trị, tụi nó chưng ra đầy đủ hình ảnh để làm “xăng-ta”. Một là “ông” đội quần về Mỹ, hai là, ký giấy “nhận công tác”, làm tay sai cho tụi nó. Chạy đằng trời! Việt Cộng mà!”

-“Nhưng tui là người từng dạy lịch sử cho học trò, từng giảng cho học trò về những cái chết oai hùng trong lịch sử. Lịch sử lớp Đệ Tứ hồi trước, dạy về cuộc khởi nghĩa Yên Báy của Quốc Dân Đảng, không ca ngợi cái chết của Nguyễn Thái Học, Ký Con, Xứ Nhu, Cô Giang hay sao? Có những cái chết lịch sử không thể quên, dân tộc không được quên.”

Sau buổi nói chuyện với bạn, tôi tìm hiểu về những cái chết mà có lẽ ai cũng thấy rằng, ít nhiều đã bị người đời quên lãng:

1)-Hỏa thiêu, Đạo Pháp hay Dân Tộc

Hòa Thượng Thích Quảng Đức là một nhà tu hành, và sự hy sinh của ông là hy sinh cho tôn giáo – (Đạo Phật). Đó là điểm căn bản.

Nhưng đạo Phật của ông, đối với Dân Tộc, Văn Hóa và Lịch Sử Việt Nam, có nhiều mối quan hệ chặt chẽ và sinh tử.

Theo nhận xét thông thường, đạo Phật đến với dân tộc Việt Nam từ rất lâu đời. Điều nầy, ai cũng rõ, không cần phải chứng minh gì. Đạo Phật “chan hòa” trong dân chúng. Nó không là của giai cấp thống trị, không ở trong tầng lớp trên giàu có hay trí thức, mà cũng không riêng gì cho người nghèo khổ. Không cần phải nói câu “Phật là của người nghèo” mà phải nói “Phật là của những người đau khổ”, mà đã là người, thử hỏi ai không đau khổ. Vì vậy, bất cứ ở giai tầng nào của xã hội Việt Nam cũng có Phật, tin Phật, theo Phật. Phật giáo vừa là “mật tông”, “tịnh độ tông” mà cũng là “thiền tông”. (1). Nếu có sự phân chia giàu, nghèo, sang, hèn… trong Phật giáo thì đó là do bản tính của con người, của “Phật tử” chớ không ở trong tôn chỉ của đạo Phật. Nhờ đó, Phật giáo ở khắp cả, ở kinh đô, thành thị, thôn quê, trong dân chúng, trong đời sống hằng ngày, trong hành động và suy nghĩ của mọi người dân. Nó gần gũi với dân chúng đến độ “gần chùa gọi Phật bằng anh”, giới tu hành nhiều khi trở thành đề tài cho dân chúng, cho trai gái trêu cợt “Ba cô đội gạo lên chùa”

Sự “chan hòa” của đạo Phật trong dân chúng sâu rộng đến nỗi nó ăn sâu vào tim óc của mỗi người, khiến người ta khi nảy ra một suy nghĩ, một ý tưởng, một một lời nói, một hành động thì tất cả bắt nguồn từ đạo Phật mà người ta không nghĩ rằng đó là Phật (tính). Trong mỗi câu chuyện thần thoại, chuyện cổ tích, câu tục ngữ, bài ca dao đượm tính Phật nhưng người ta cũng không biết, như Hàn Mặc tử chẳng hạn. (2).

Tính cách nầy, không riêng gì của đạo Phật. Người Âu Mỹ, họ thấm nhuần “bác ái công giáo” nhưng họ cũng không biết rằng lòng bác ái đó là từ Chúa mà ra – từ trong nguyên thủy chớ không phải từ “giáo hội La Mã” -. Đối với dân chúng Trung Đông và Bắc Phi hay các nước Hồi giáo ở Nam Á và Đông Nam Á, tính chất phổ cập của tôn giáo cũng có tính cách như thế.

Vì vậy, khi một đất nước bị xâm lăng, dân tộc bị cai trị thì chính tôn giáo của dân tộc đó (quốc giáo hay tôn giáo của đa số) bị đàn áp, bị cai trị. Trong “Thập Tự Chinh” điều nầy rất rõ. Từ khi các nước Tây phương trở thành các “đế quốc xâm lược” tình trạng nầy cũng đã xảy ra, khi họ đem quân xâm lăng các nước nhược tiểu, lạc hậu, chỉ khác nhau ở mức độ mà thôi.

Trong viễn tượng đó, ông Đào Văn Bình, một trí thức nổi tiếng của miền Nam VN từ trước 1975, viết:

            Sau gần một thế kỷ dưới ách thực dân, rồi qua bảy năm dưới chế độ “quốc gia” của Bảo Đại và chín năm dưới chế độ gia đình trị – Phật Giáo như một thân cây khô héo bị vùi dập – tưởng đã chết – nay gặp tiết xuân bỗng đâm chồi nảy lộc và hồi sinh – chuyện không thể tưởng tượng nổi.

Cuộc tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức cho chúng ta thấy Đại Hùng, Đại Lực, Đại Trí, Đại Từ và Đại Bi của Phật Giáo là có thật. Nó không phải là phép mầu của thần linh mà là sự tu chứng bản thân.

            -Đại hùng là không sợ chết, ung dung hy sinh mạng sống của mình.

            -Đại lực là vượt qua sự đau đớn của thế xác mà chỉ bậc đại định mới có thể làm được.

            -Đại trí là nhận thấy nếu mình không chịu hy sinh thì đại cuộc không thành. Lúc đó tăng ni chỉ còn cách trốn qua Cao Miên để sống và Phật Giáo chắc chắn sẽ diệt vong.

            -Đại từ, đại bi là không hề oán hận mà còn chúc lành cho kẻ đang bách hại mình và tôn giáo của mình. Chỉ có bậc đại giác nói trắng ra chỉ có Phật Giáo mới có thể làm được chuyện đó.

Nửa thế kỷ đã qua đi. Theo luật vô thường, những biến cố chính trị lớn lao của Miền Nam rồi cũng dần dần đi vào quên lãng theo ngôn ngữ của thi sĩ Vũ Hoàng Chương trong bài thơ Lửa Từ Bi:

“Ngọc đá cũng thành tro,

Lụa tre dần mục nát”.

            Thế nhưng cuộc tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức vẫn còn nằm mãi trong ký ức của dân tộc. Nó ghi dấu một giai đoạn bi thương của Phật Giáo Việt Nam nhưng cũng thật hào hùng. Qua đó chúng ta rút ra được hai bài học cho thế hệ mai sau.

            Thứ nhất: Phật Giáo là máu thịt, là linh hồn của dân tộc. Qua mấy ngàn năm, lịch sử chứng tỏ Phật Giáo không có tham vọng gì ngoài việc tu chứng bản thân, nguyện cầu cho ‘quốc thái dân an”, mọi người sống trong tinh thần thương yêu đùm bọc lẫn nhau “chín bỏ làm mười” và gìn giữ di sản của cha ông để lại. Cái linh hồn đó, cái mạch sống đó đã thấm sâu vào gốc cây đa đầu làng, giếng nước đầu đình, bờ kinh thửa ruộng, làng quê, phảng phất trong làn khói lam chiều mờ tỏa, quyện vào câu hò Miền Trung, tiếng hát quan họ Bắc Ninh, tiếng Vọng Cổ u buồn của Miền Nam, thể hiện qua cách ăn cách ở lễ Tết của người dân, ghi đậm vào văn học sử và vào lịch sử oai hùng của dân tộc qua các triều đại Đinh-Lê- Lý-Trần. Nói khác đi, Phật Giáo là bản sắc Việt Nam. Nếu bản sắc ấy mất đi thì 4000 ngàn năm văn hiến và 4000 năm lịch sử cũng lần hồi biến dạng rồi bị chôn vùi theo.

            Thứ hai: Tôn chỉ của Phật Giáo là Từ Bi, Hỉ Xả. Vậy trong tương lai, nếu phải đấu tranh cho sự tồn vong của Phật Giáo thì phải đấu tranh trong tinh thần bất bạo động như các vị tiền bối năm 1963 đã làm. Điều đó có nghĩa là chúng ta chấp nhận hi sinh nhưng không được xử dụng bạo lực, kỳ thị, kích động hận thù, đốt phá, giết chóc, lật đổ, đánh bom hay bom tự sát và không được làm tổn hại tới sinh mệnh, tài sản của đối tượng mà chúng ta đang tranh đấu.

            Trong tinh thần đó, giống như lời nguyện cầu của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, dù “vần điệu của thi nhân chỉ là rơm rác” nhưng chúng ta cùng:

Tụng cho nhân loại hòa bình.

Trước sau bền vững tình huynh đệ này.

(Đào Văn Bình: Cảm nghĩ về “Ngọn Lửa Thích Quảng Đức”, nhân lễ “Tưởng Niêm 50 năm Bồ Tát Thích Quảng Đức tự thiêu 23 tháng 6 năm 2013 tại Santa Anna, Orange County, California – trích lại từ Thư Viện Hoa Sen)

“Lửa thiêng soi toàn thế giới…” trong bài hát “Việt Nam! Việt Nam!” của Phạm Duy cũng không ngoài “ngọn lửa” của Hòa Thượng Quảng Đức tự thiêu ngày 11 tháng 6 năm 1963.

2)-“Thiếu một lời”, trước khi tự tử

Đối với thế hệ chúng tôi, lớn lên trong thập niên 1950, ông Nguyễn Tường Tam hay ông Nhất Linh là hai con người khác nhau, và đều là Thần tượng” cả. Nhất Linh là “Thần Tượng Văn Học”, Nguyễn Tường Tam là “Thần Tượng Cách Mạng”.

Mãi đến tháng 8 năm 1958, Bộ Quốc Gia Giáo Dục VNCH mới đưa vào chương trình Việt Văn lớp Đệ Nhị các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn và các nhà văn trong nhóm nầy nhưng ngay từ lớp Nhì, lớp Nhất thời kỳ “Quốc Trưởng hồi loan” (1949) bọn học trò chúng tôi đã học những bài “trích giảng” trong các tác phẩm của họ, nhất là các tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam và Hoàng Đạo.

Dĩ nhiên, chúng tôi “khâm phục” mấy ông nầy, nhất là ông Nhất Linh, người đầu nhóm, không chỉ về tài viết văn của ông mà còn về tài tổ chức, hoạt động, từ một tờ “Phong Hóa” sắp tiêu ma trở thành tờ Ngày Nay và nhóm Tự Lực Văn Đoàn.

Còn như bọn trẻ chúng tôi thời đó, ngưỡng mộ Nguyễn Tường Tam là “nhà cách mạng” khi nào, từ đâu và từ ai?

Từ ông Nhất Linh chúng tôi “chuyển qua ngưỡng mộ ông Nguyễn Tường Tam”. Nói cho đúng hơn là từ “Nhặt Lá Bàng”, bài tựa của cuốn tiểu thuyết Đôi Bạn, cũng từ đó mới biết Dũng, trong Đoạn Tuyệt đã rời nhà đi làm cách mạng theo chí hướng của người thanh niên thời bấy giờ…

Nếu cuộc đời lưu lạc và đau khổ của cô Kiều là tâm sự Nguyễn Du thì Dũng là người mang tâm sự, chí hướng và hình ảnh Nguyễn Tường Tam. Đọc hai tác phẩm nầy, Đôi Bạn Đoạn Tuyệt người ta thấy xuất hiện lãng vãng đâu đó hình ảnh và khí phách của Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học “không thành công thì thành nhân” và “nghe” cả tiếng súng của Cô Giang tự tử ở cây đề phía ngoài làng Thổ Tang ngày 18 tháng 6 năm 1930, sau ngày thực dân Pháp xử tử Nguyễn Thái Học một ngày ở Yên Bái.

Áo blouson da, ngậm ống vố, hình ảnh của ông Nguyễn Tường Tam ở Hội Nghị Đà Lạt năm 1946 là hình ảnh người bạn thân của tôi, Lê Trọng Ấn, rất ngưỡng mộ. Có lẽ vì vậy mà anh ấy, và một số khác nữa, cũng là bạn bè tôi, tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng, và họ ở tù cải tạo của Việt Cộng cũng khá lâu. Trước đó, chúng tôi cũng từng ngưỡng mộ Phidel Castro và Ché Guévara. Tuy nhiên, vì tính cách độc tài của Cộng Sản mà hai ông nầy là “đệ tử” nên hai thần tượng nầy “bể” rất nhanh như gốm sứ bị vở.

Trong thế kỷ thứ 20, người Việt chúng ta có ba kẻ thù. – Kẻ thù nói theo cách thông thường là đem lại khổ đau cho dân tộc – Thực Dân Pháp, Cộng Sản độc tài và “độc tài gia đình trị Ngô Đình” thì Nguyễn Tường Tam chống lại cả ba. Trước 1945, ông là lãnh tụ cách mạng “chống Tây”, tiếp nối con đường “Khởi nghĩa Yên Báy.” Ông cũng là người “chống Cộng” rất sớm, ngay từ khi Cộng Sản chưa giành được chính quyền mà đã ló mòi Cọng Sản. Ông cũng là người chống chế độ – tôi nói chế độ – Ngô Đình Diệm, sau khi anh em ông Diệm độc chiếm vai trò “đấu thầu chống Cộng” ở Miền Nam VN, trước cả vụ đàn áp Phật Giáo, khởi thủy bằng cuộc đàn áp ở đài phát thanh Huế đêm 8 tháng 5 năm 1963. Trong cả ba lãnh vực đấu tranh đó, ông là người đi tiên phong.

            Trong bối cảnh lịch sử thời bấy giờ, cái chết của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam làm chấn động, không chỉ ở trong nước mà còn ở nhiều nước văn minh trên thế giới. Tối ngày 7 tháng 7 năm 1963, đài BBC loan tin rất sớm về việc Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự tử. Sáng hôm sau, giới trí thức Huế rất xôn xao. Khi tôi đến trường dạy học, các giáo sư đang bàn luận về cái chết của ông Nhất Linh. Cụ Lâm Toại, một người nổi tiếng trong ngành giáo dục ở miền Trung, đang làm giám học trường tôi đang dạy, một tín đồ đạo Thiên Chúa, nói với tôi, – một người cộng tác gần gũi với ông trong công việc hằng ngày: “Ông Diệm tự thắt cổ mình!”

-“Ông Nhất Linh “chơi” ác?” Ý tôi muốn nói ông Nhất Linh chết, kéo ông Diệm theo để “chết chùm”.

-“Không!” Cụ Lâm Toại nói – “Ông Nhất Linh không phải là người ác. Ông là nhà cách mạng, ông không có thủ đoạn của những kẻ làm chính trị. Ông chỉ muốn nói lên lẽ phải. Chính cái lẽ phải đó sẽ giết ông Diệm.”

Trong tác phẩm “Làm thế nào để giết một tổng thống”, Cao Vị Hoàng và Lương Khải Minh viết:

“….  Bây giờ xin trở lại cái chết của nhà văn Nhất Linh ngày 7-7-1963. Được tin này, Tổng Thống Diệm sửng sốt và xúc động mạnh như tin Hòa Thượng Quảng Đức tự thiêu. Ông nói với Bộ Trưởng Thuần: “việc có gì đâu mà phải làm như vậy… ra Tòa rồi thì cũng tha bổng cho ông ấy…”

            Trong các chính khách tại miền Nam thì Nhất Linh Nguyễn Tường Tam được Tổng Thống Diệm kính trọng hơn cả. Chưa bao giờ ông Nhu có một lời chỉ trích nặng nhẹ nào một khi BS Trần Kim Tuyến có dịp đề cập đến ông Nguyễn Tường Tam.

            Theo BS Tuyến thì đối với các chính khách, ông Nhu tỏ vẻ khinh thường và hay nặng lời chê bai, riêng Nhất Linh ông Nhu không khen không chê thì phải là trong thâm tâm ông đã dành cho Nhất Linh một sự kính nể nào đó.

            Từ BS Tuyến đến cha Jaegher, ông Võ Văn Hải đều có lòng cảm phục và kính trọng nhân cách của Nhất Linh. Riêng BS Tuyến cũng có nhiều dịp đàm đạo với nhà văn Nhất Linh trong những bữa cơm có tính cách gia đình thân mật. Bữa cơm đầu tiên tổ chức tại trụ sở Trung Tâm Bút Việt, chính BS Trần Kim Tuyến nói: “dạo Cụ ra nghỉ mát ở Sầm Sơn thì tôi đang đi học lúc ấy ái mộ Cụ lắm và có viết thư xin Cụ dạy cho cách viết văn”. Nhất Linh tỏ vẻ cảm động.

            Điều quan hệ là trong suốt 9 năm chế độ Ngô Đình Diệm, Nhất Linh không hề dan díu gì đến tiền bạc với Chính quyền. BS Tuyến gặp gỡ nhà văn Nhất Linh cũng chỉ là tâm tình giao tế. Nhất Linh không hề cầu cạnh gì cả. Khi Nhất Linh ra lại tờ Ngày Nay (1955) là do tiền túi của ông, chính quyền không hề tài trợ. BS Tuyến cũng xác nhận. Nhất Linh thật là con người ái quốc, có tư cách, có phong độ rất mực đường hoàng. Điều đặc biệt là Nhất Linh không có sự giao tế liên lạc nào đối với các nhân vật Mỹ tại Saigon cho đến ngày ông chết.

Vụ tự thiêu của Hòa Thượng Quảng Đức còn có những lời chỉ trích nặng nhẹ. Nhưng khi nghe Nhất Linh tự tử ông bà Nhu lại yên lặng… Ông Nhu chỉ nói vắn tắt: “coi xem có âm mưu nào ám sát ông ấy không”. Tổng Thống Diệm cũng lo ngại như thế nên nội ngày 8, Tổng Thống ra lệnh cho giới chức an ninh phải điều tra phúc trình ngay xem có thật nhà văn Nhất Linh tự tử, Tổng Thống Diệm tỏ ra xúc động hơn cả tin Hòa Thượng Quảng Đức tự thiêu. Ông lầm lì cả ngày, bẳn gắt và hút thuốc lá hết điếu này đến điếu khác.

Tổng Thống Diệm rất có cảm tình với gia đình Nguyễn Tường nhất là Hoàng Đạo. Vào dạo năm 1959, một lần đàm đạo với Tổng Thống Diệm và nhắc đến nhà văn Hoàng Đạo, Tổng Thống Diệm bỗng ngắt lời BS Tuyến và hỏi thăm:

            -Bây giờ vợ con ông ấy sống như thế nào?

            BS Tuyến cho hay hiện bà Hoàng Đạo mở cửa hàng bán chả cá. Ông Tổng Thống dặn: “Anh xem bà ta có túng thiếu thì tìm cách giúp đỡ, khi nào có dịp cho tôi có lời hỏi thăm”.

            Rồi Tổng Thống Diệm không tiếc lời ca ngợi: “Nguyễn Tường Long khá lắm. Ông ta đối với tôi tốt

Đại cương giữa Tổng Thống Diệm và nhà văn Nhất Linh đều có sự tương kính. Điểm đặc biệt khác, lúc còn sinh thời nhà văn Nhất Linh cũng không có một lời nào công kích nặng nề đối với cá nhân Tổng Thống Diệm và ông Nhu. Bộ Giáo Dục thời đó lại có sáng kiến đưa nhóm Tự Lực Văn Đoàn vào chương trình học hàng năm, có những đề thi Quốc Văn Tú tài I. Đề thứ nhất thí sinh phải bình luận về sự nghiệp của Nhất Linh hoặc Hoàng Đạo… Đề thứ hai thí sinh lại phải bình luận về lời nói của Tổng Thống Ngô Đình Diệm (trích trong các bài diễn văn). Trước vụ đảo chánh hụt 11-11-1960 chính quyền Ngô Đình Diệm không có một sự theo dõi nào đối với nhà văn Nhất Linh. Việc ông trở thành Cố Vấn của Hội Bút Việt, chính quyền dạo ấy cũng không can dự vào.

Đúng vào ngày Song Thất kỷ niệm 9 năm chấp chánh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhà văn Nhất Linh uống thuốc độc tự tử với lời di chúc: “Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội các phần tử đối lập Quốc Gia là một tội nặng, sẽ làm cho nước mất về tay Cộng Sản”.

Nhất Linh có tham dự trực tiếp vào cuộc đảo chánh hụt 11-11-1960 trong đó có một số quân nhân trẻ là cán bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng. Nói là trực tiếp cũng không đúng. Nhất Linh chỉ đứng tên trong tờ truyền đơn lên án chế độ Ngô Đình Diệm và ông có tham dự vài phiên họp cùng với cụ Phan Khắc Sửu và một số nhân sĩ khác.

Cuộc đảo chánh bất thành thì ngày 13-11-1960, Nhất Linh vào tỵ nạn tại tòa Đại Sứ Trung Hoa Quốc Gia. Đại Sứ THQG lúc ấy là ông Viên Tử Kiên, một người bạn thân của Nhất Linh. Sáng 14 một trung đội Cảnh Sát Dã Chiến có đến bao vây Tòa Đại Sứ nhưng sau được lệnh rút đi ngay. Việc tỵ nạn bất thần của Nhất Linh đã làm cho Đại Sứ Viên Tử Kiên lâm vào thế kẹt. Một mặt Trung Hoa Quốc Gia đang ủng hộ triệt để Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Mặt khác, Nhất Linh không những là bạn của Đại Sứ Viên Tử Kiên mà còn là bạn của Phó Tổng Thống Trần Thành cùng một số viên chức cao cấp của chính phủ Đài Loan. Quả thực chưa có một chánh khách nào tại miền Nam chống chính quyền mà lại được các nhân vật nòng cốt của chính quyền ưu ái và tận tình che chở như trường hợp Nhất Linh.

            Đại Sứ Viên Tử Kiên, có điện thoại báo tin cho Dinh Độc Lập biết và ông cũng báo tin cho cha Jaegher, Linh mục Dòng Tên rất có uy tín với Tổng Thống Tưởng Giới Thạch và Ngô Đình Diệm lại là người mến mộ Nhất Linh coi ông như bạn tâm giao.

            Sáng 14-11, Cha Jaegher điện thoại cho ông Võ Văn Hải nói về tình trạng tỵ nạn của Nhất Linh và yêu cầu ông Võ Văn Hải tìm cách nào dàn xếp êm đẹp. Đồng thời BS Tuyến gặp riêng ông Nhu trình bày về trường hợp Nhất Linh. Sau đó BS Tuyến lại qua phòng Tổng Thống Diệm thỉnh cầu Tổng Thống thu xếp vụ ông Nguyễn Tường Tam… Buổi chiều 14-11, chính cha Jaegher thân hành vào Dinh xin gặp Tổng Thống Diệm để can thiệp cho Nhất Linh. Tổng Thống lúc đầu còn do dự sau ông quyết định để cho ông Tam thong dong. Nhưng giải quyết như thế nào để cho hai bên cùng vui vẻ? Nếu cứ để Nguyễn Tường Tam rời khỏi Tòa Đại Sứ Trung Hoa về nhà thì cũng kẹt cho cái thế của chính quyền. Cuối cùng Dinh Độc Lập thỏa thuận để Viên Tham Vụ Tòa Đại Sứ lái xe đưa Nhất Linh về Tổng Nha Cảnh Sát và ở đấy lấy lời khai Nhất Linh cho nó phải phép. Trước sau ông tạm ở Nha Cảnh Sát lâu hơn 1 giờ. Mấy ngày sau Cảnh Sát lại mời ông ra một lần nữa để kết thúc hồ sơ. Từ đó cho đến ngày tạ thế, Nhất Linh được thong dong. Tuy nhiên có một điều như thế này: Nhất Linh được tự do nhưng phần những ai ra vào nhà ông lúc về đều bị Cảnh Sát chìm theo dõi.

            Nhất Linh tự tử làm cho cả Tổng Thống Diệm lẫn ông Nhu đều ngỡ ngàng, Tổng Thống Diệm có chỉ thị đi tìm mấy người con Nhất Linh vào Dinh để gặp ông. Nhưng không hiểu vì lẽ gì không có cuộc tiếp xúc này.

            Có thể nói trọn ngày 8-7, Tổng Thống Diệm dành cả thì giờ theo dõi vụ Nhất Linh tử. Theo các sĩ quan tùy viên như Đại Úy Lê Công Hoàn thì ông Tổng Thống xem xét hồ sơ rất kỹ và ông chỉ thị phải chứng minh cho mọi người thấy đây là một vụ tự tử, chính quyền không có âm mưu nào. Tổng Thống Diệm và ông Nhu băn khoăn nhất là sơ mang tiếng chính quyền có can dự vào cái chết của Nhất Linh.

            Nhất Linh tự tử đã gây xúc động sâu xa trong giới trí thức văn nghệ báo giới và sinh viên vì ảnh hưởng tinh thần đối với các giới này thật lớn lao. Chế độ Ngô Đình Diệm nhận lãnh một thất bại bất ngờ.”

&

Đọc xong trích đoạn nói trên, chúng ta lấy làm tiếc một điều: Trong khi Cộng Sản Bắc Việt đoàn kết một khối chặt chẽ – ít nhất là ở những điểm người bên ngoài thấy được – chung một quyết tâm chiếm miền Nam cho bằng được, với nhiều mục đích khác nhau: thống nhất về chính trị, khai thác vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long, “giải tội” với lịch sử là đã đặt bút ký vào hiệp định Genève chia cắt đất nước và làm bàn đạp cho Trung Cộng tiến xuống phía Nam… thì người miền Nam, mặc dù nể trọng nhau về tư cách, đạo đức, và cả về tài năng và học vấn thì lại không thể ngồi với nhau, cộng tác với nhau, hợp lực với nhau để chống Cộng Sản, xây dựng và phát triển đất nước, làm cho đất nước mau giàu mạnh, đem lại hạnh phúc cho toàn dân.

Điều gì làm cho họ không thể gặp nhau, bàn bạc, bắt tay cộng tác mà lại bức bách nhau đến độ phải tự tử…

Trong cá tính của tổng thống Diệm, thâm tâm ông có ít nhiều “mục hạ vô nhân”, có nhiều ít tự kiêu về dòng họ, về anh em của ông và nhất là có khuynh hướng độc quyền cai trị. Chỉ có như thế, ông mới có cái nhìn sai lạc về ông Nguyễn Tường Tam. Có thể nào ông Diệm không thấy đây là một người làm cách mạng, dù không vào sinh ra tử như Nguyễn Thái Học thì Nguyễn Tường Tam cũng trải qua nhiều hoàn cảnh thập phần nguy hiểm và có một điều chắc chắn, ông Tam không sợ bị tù. Vậy mà khi nghe tin Nguyễn Tường Tam tự tử, tổng thống Diệm lại nói: “Ra Tòa rồi cũng tha cho ông ấy…”

Nói như vậy, có nghĩa rằng ông Diệm cho là ông Tam sợ bị tù. Sao ông Diệm lại thiển cận đến như vậy?

Khi nghe tôi nhắc lại câu nói của ông Diệm, lại cũng cụ Lâm Toại nói bóng với tôi: “Có những con chim sẻ…” Ý cụ Lâm Toại muốn nói đến câu Tào Tháo mắng tri huyện Trần Cung trong Tam Quốc, khi Trần Cung bắt được Tào Tháo: “Ngươi như chim sẻ, biết đâu được chí chim hồng.”

(cụ Lâm Toại từng gọi “cậu cố trầu” là “thứ xái bò”)

Không hẳn do cá tính anh em ông Diệm “mục hạ vô nhân” mà có lẽ còn do ảnh hưởng từ xã hội Huế, chốn cung đình, vua quan, lễ nghĩa… từ gia đình một ông  “quan đầu triều”, từng được vua Thành Thái ưu ái, ân sủng, từ anh em học hành khoa bảng, từ “quan quyền”, chức chưởng trong giáo hội của hai ông anh, từ chức vụ tổng thống do dân bầu với tỷ lệ cao tối đa, từng được dân chúng đổ ra đầy đường hô vang “Ngô Tổng Thống muôn năm”, v.v… và không ít người vô ra dinh tổng thống nịnh hót, bái lạy, nên ông Ngô Đình Diệm cứ ngộ nhận rằng ai ai cũng nể trọng, hoan hô ông, thành ra ông chủ quan trong cách hành xử hàng ngày khi ông còn ngồi trên ghế tổng thống hay ngay khi ông đã trốn chạy ra nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn… Ông Diệm không thể “cộng tác” với ai được cả mà ai ai cũng phải “vâng lệnh vua”, như thân sinh ông cũng như ông, luôn luôn “bái lạy thiên tử” khi cả hai làm quan cho triều đình Huế. Thế nên bây giờ, tâm lý đang “ngồi trên ngai vàng” không cho ông thấy ông ngang hàng với “cộng sự viên”, dù ông có là vua hay là tổng thống, cái “vị thế” của ông bao giờ cũng phải trên thiên hạ. Nói rộng ra, đó cũng là tâm lý của tất cả anh em ông, dù ông Khôi, ông Thục, ông Nhu hay cả cậu Cẩn cũng vậy. May ra, chỉ có ông Luyện là khác đi mà thôi!

Hơn thế nữa, đó không chỉ là tâm lý anh em ông Diệm, mà cũng là tâm lý những người “bu” chung quanh anh em ông, dù “cận thần” hay “lương đống của triều đình”, dù là những ông tướng có tài hay bất tài, dù “trung thành” hay “không trung thành”, làm gì cũng “quyền lợi” cá nhân là trên hết. Khổ một nỗi là ông Diệm tin họ, hy vọng nơi họ nể trọng ông, trung thành với ông. Ông đi tìm những cái ông tưởng có mà nó không có thật, trong một đám “quần thần mà phần đông là tàn dư của phong kiến và thực dân, luôn luôn tìm chỗ dựa ở “phía ngoài nước” để bảo vệ quyền lợi của họ hơn là “về với dân tộc”, “đi với dân tộc”.

Vì vậy, anh em ông Diệm “dùng” họ mà khinh thị họ, coi thường họ mà không dùng ai khác, không tin ai khác, không cộng tác, hợp tác với ai được cả. Trong viễn tượng đó, anh em ông Diệm dù có nể trọng ông Nguyễn Tường Tam, dù biết ông Tam có tư cách và có tài, cũng không bao giờ mời ông Tam “cộng tác”, cũng như ông Tam không bao giờ “đến” với anh em ông Diệm được.

Có lẽ ông Nguyễn Tường Tam biết rất rõ nhiều điều về anh em ông Diệm như tôi trình bày ở trên. Ông Nguyễn Tường Tam có nghĩ rằng ông không thể “cộng tác” với anh em ông Diệm để chống Cộng Sản Bắc Việt xâm lược bởi vì điều ông Tam sợ là “đất nước (sớm) mất về tay Cộng Sản” như ông đã viết trong “di chúc”.

Anh em ông Diệm chưa bao giờ mời ông cộng tác hay có mời rồi mà ông Tam từ chối? Chúng ta có thể tin rằng cả hai phía đều là những người chống Cộng thật sự, vì đất nước thật sự mà không đến được với nhau là một sự thiệt thòi cho đất nước! Cả hai không đến với nhau được vì bên nào cũng có khuynh hướng độc tài? Điều đó chưa rõ được vì ông Nguyễn Tường Tam chưa bao giờ cầm quyền. Ông Tam mới chỉ nói “nếu ông làm tổng thống thì ông ở trong dinh Độc Lập một mình” như trong bài viết của ông Nguyễn Tường Thiết. Có phải ý ông muốn nói để gia đình dính líu vào công việc làm tổng thống như ông Diệm dễ mang tiếng là “gia đình trị”. Có thể nào ông Tam không hiểu ông Diệm? Ông Diệm tự biết mình yếu kém nên khi cầm quyền ông phải dựa vào các anh em ông. Ông không thể dựa vào người ngoài vì ông Diệm tính rất đa nghi! Ông ta sợ “người ngoài” giành, đoạt mất quyền của ông ta?

Ông Tam nói rằng “nếu làm tổng thống…” là ông tự hiểu hay không tự hiểu mình? Làm sao ông Tam làm tổng thống được? Thế lực của ông Tam là đâu? Ông ta có thế lực gì?

Nên nhớ sau khi ông Diệm làm tổng thống, ngoài những nhà chính trị và quân sự Mỹ (tướng lãnh như O’Daniel) đến “thăm” Nam Việt Nam, còn có Hồng Y Spellman (của Mỹ) và Hồng Y Agagianian (của La Mã) đến thăm Nam Việt Nam nữa. Hồng Y Spellman là nơi “nương tựa” của ông Diệm khi ông Diệm sống ở Mỹ, và là người “giới thiệu” ông Diệm với chính giới Mỹ nữa. Rõ ràng, ông Diệm “được” đưa về Việt Nam cầm quyền là do hai cái thế lực rất mạnh thời bấy giờ – mà hiện giờ cũng mạnh – là hai “đế quốc”: “Đế Quốc Mỹ” và “Đế Quốc La Mã thời hiện đai”.

Ông Nguyễn Tường Tam có gì?

Sau cuộc đảo chánh ngày 11 tháng 11/ 1960, ông Tam chạy vào trốn ở tòa Đại Sứ Tàu (Đài Loan hay còn gọi văn vẻ là “Trung Hoa Quốc Gia) ở Saigon. Năm 1946, khi trốn chạy Hồ Chí Minh (hay Cộng Sản cũng thế thôi) vì sợ bị giết (như Cộng Sản Việt Nam đã giết Khái Hưng) thì ông Tam cùng với em là Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long) chạy sang Tầu. Hai lần núp bóng Tầu, có nghĩa là ông Tam chỉ có môt chỗ dựa là “Tàu phù”. Tưởng Giới Thạch còn vắt giò lên cổ chạy ra Đài Loan, yên thân được là nhờ Mỹ chặn Mao ở bờ biển lục địa Tàu, không cho tiến ra biển, thì Tàu Tưởng đâu còn đủ sức giương cái dù lên che cho ông Tam làm tổng thống.

Có lẽ ông Tam biết cái “thế nước” (Việt Nam) là như vậy, và thế của ông cũng là như vậy, nên sau khi “khai cung” ở Tổng Nha Cảnh Sát của ông Diệm xong, ông Tam hay “ta buồn ta đi lang thang”. Có người kể ông Tam khoái ngồi sau xe Lambretta của bạn bè chở đi “chơi” đâu đó. Thời kỳ nầy, ông Tam rất ít nói. Ông buồn cho thế sự hay ông ta sợ “vạ miệng”, hay cả hai.

Một lần, ông đến thăm ông Bùi Khánh Đản, “bạn văn” của ông và cũng là người hay đăng thơ trên “Văn Hóa Ngày Nay” của Nhất Linh, hai người gặp nhau mà không nói gì cả, ngoài tiếng chào thông thường.

Khi ông Tam ra về rồi, ông Bùi Khánh Đản, có lẽ vì “thương bạn” mà làm ra bài thơ “Thiếu Một Lời” như vầy:

Thiếu Một Lời

Chiều nào hiu quạnh đến thăm tôi

                        Anh đã quên không nói một lời

                        Tám hướng dần buông vào tịch mịch

                        Hai lòng vẫn ngã chốn xa xôi

                       Mắt theo dĩ vãng mơ hồ hiện

                       Tai lắng thời gian thánh thót rơi

                       Tất cả chìm sâu, sâu xuống mãi

                       Vì anh chỉ thiếu một lời thôi!

3)-Nước mắt của một ông Tướng.

Ở Huế có một “danh từ” thường mà các nơi khác không có là hai tiếng “Cậu Tôn”. Cậu Tôn, có người hiểu là các cậu “Tôn Thất”, tức là người thuộc dòng dõi vua nhà Nguyễn, mà cũng có nghĩa là “Vương Tôn Công Tử” hay gọi một cách kính cẩn là “bậc vương tôn công tử”.

Chinh Phụ Ngâm có câu:

Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ

                       Chàng há từng học lũ vương tôn

Hai câu nầy là của chinh phụ, cứ tưởng có chồng rồi thì được một đời sum họp, yên lành, sung sướng. Ai ngờ bây giờ phải buồn rầu vì “cách trở nước non.”

            Với Huế, tướng Nam, khi ông còn trẻ, chính hiệu là một “cậu tôn”.

Nguyễn Khoa là một họ lớn ở Huế, giống như họ Thân (Trọng), họ Hà (Thúc)… Có lần vua Tự Đức nói: “Thân, Thân, Hà, Hà thiên hạ vô gia; Hà, Hà, Thân, Thân, thiên hạ vô dân.” Có nghĩa thiên hạ mà cứ họ Thân, họ Hà hết thì làm quan hết, không còn ai là dân; ở nhà quan hết, không còn ở nhà dân.

Họ Thân, họ Hà, họ Nguyễn Khoa, họ Hoàng Trọng, Trương Như… là những họ lớn của Huế, “đông con cháu, làm quan to”. Tướng Nguyễn Khoa Nam thuộc họ Nguyễn Khoa là họ lớn. Mẹ ông là Công Tôn Nữ Mộc Cần, thuộc dòng Tuy Lý Vương, “nguyên súy Mạc Vân thi xã”, tức Miên Trinh, “Ông Hoàng Mười Một” (con trai thứ 11 của vua Minh Mạng, vua thứ hai nhà Nguyễn). Công Tôn Nữ Mộc Cần là chắt nội vua Minh Mạng- như vậy, tướng Nam là “chắt ngoại” của Ông Hoàng 11 (con gái vua là Công Chúa, cháu gái vua Công Nữ, xuống một “hệ” nữa là Công Tôn Nữ, Công Tằng Tôn Nữ, Công Huyền Tôn Nữ. Hàng dưới nữa và cuối cùng là Tôn Nữ.

            Do đó, theo “Đế Hệ”, phía nữ, bà mẹ Tướng Nam là cháu (nội) Tuy Lý Vương. Ông là chắt (ngoại). Trong nhiều tài liệu, nói Tướng Nam “thuộc dòng Tuy Lý Vương” là vậy. Trong dòng nầy, còn có Giáo Sư Bửu Hội, Thủ Tướng Bửu Lộc cũng là chắt (nội) Tuy Lý Vương.

Cậu Tôn ở Huế, là nói về Tướng Nam khi còn trẻ. Ông là cựu học sinh trường Khải Định Huế, khi trường nầy có tên Tây là Lycée Khải Định. Ông đậu bàng Tú Tài 1 vào khoảng năm 1944 hay 45.

Khi Tây tái chiếm thành phố Huế, mỗi ngày lính Tây hành quân, lùng sục Huế và các làng chung quanh, đốt nhà dân, hãm hiếp phụ nữ, một số người không theo kháng chiến được, phải ra làm việc với Tây nhằm mục đích ngăn chận sự tàn ác, phá phách của lính Tây, trong đó ông Trần Văn Lý, quê ở làng Hưng Nhơn, Quảng Trị, nguyên là “tổng đốc Lâm/Đồng/Bình/ Ninh” (Lâm Viên/ Đồng Nai/ Bình Thuận/ Ninh Thuận) thời chính phủ Trần Trọng Kim, ra “hợp tác” với Tây, làm “Chủ Tịch Hội Đồng Chấp Chánh Lâm Thời Trung Kỳ” (sau nầy là Thủ Hiến). Năm 1949, cựu hoàng Hoàng Bảo Đại trở về nước, lãnh đạo “Chính phủ Quốc Gia”. Một số cơ quan ở Huế và các tỉnh được Tây trao lại cho chính quyền Quốc Gia, v.v… Chính quyền Quốc Gia và Quân Đội Quốc Gia hình thành.

Nói lại hoàn cảnh lịch sử như thế để quí độc giả biết thêm một chút tại sao ông Nguyễn Khoa Nam “ra làm công chức” và nhập ngũ Khóa 3/ Thủ Đức.

Bấy giờ, ông Nguyễn Khoa Nam theo học một khóa “Hành Chánh Cao Cấp” (cùng khóa nầy có ông Bửu Viên, sau nầy là thứ trưởng Bộ Nội Vụ thời Đệ Nhị Cộng Hòa), được bổ nhiệm làm việc tại sở “Kho Bạc Huế”.

Phong cách của ông Nguyễn Khoa Nam bấy giờ (trước khi ông nhập ngũ năm 1953), đúng là một bậc “vương tôn công tử”. Kho Bạc Huế tọa lạc gần Nhà Hàng Morin, nhà hàng sang nhất và đắt nhất ở Huế thời bấy giờ. Buổi trưa, “cậu Tôn” Nguyễn Khoa Nam ăn trưa ở nhà hàng nầy, khi nào cũng có “bồi bàn” đứng hầu.

Dáng bộ, tác phong “cậu tôn” lúc nào cũng chửng chạc, nghiêm nghị.

Thế rồi, ông có lệnh nhập ngũ. (Ông không tình nguyện) khóa 3 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khóa Đống Đa, khai giảng tháng 4/ 1953. Tốt nghiệp cùng năm đó, ông chọn (binh chủng) Nhảy Dù, tiếp tục con đường binh nghiệp với nhiều khóa học ở trong nước, ở Pháp rồi ở Hoa Kỳ, cùng nhiều chiến công, nhiều huy chương, thăng cấp tại mặt trận, v.v….

Tại sao ông nhập ngũ?

Tại sao ông “đi nhảy dù?

Đó là vài câu hỏi người ta suy nghĩ về ông!

Khi ông nhập ngũ thì “các mệ” ở Huế cũng đã có người nhập ngũ rồi, nhập ngũ vì tinh thần, vì thất phu hữu trách, vì thù nhà, nợ nước, theo hoàn cảnh cũng từng người, cũng có kẻ coi việc “đi lính” như một nghề, một kế sinh nhai.

Cậu Tôn Nguyễn Khoa Nam không ở trong những trường hợp như thế. Cậu đang là một “công chức” trung cấp – chức trưởng phòng – có thể có “tương lai” – như ông Bửu Viên, tôi nói ở trên. Ông theo lệnh gọi là vì gì? “Lệnh vua, hành quân, trống kêu dồn” như mọi người. Thất phu còn hữu trách nữa là.

Thuộc gia đình “hoàng phái”, vua chúa. Vua chúa, hoàng tộc cũng chống Pháp, như Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân hay những người từng “theo phò” các ông vua nầy khi họ bị lưu đày. Nhưng họ không thể theo Cộng Sản. Con đường không thể theo Cộng Sản ấy, hàng quan lại, hoàng tộc nhà Nguyễn, cả người Huế nữa, và nhiều người khác nữa, từng biết, từng có kinh nghiệm từ trước 1945.

Bấy giờ, những người không theo kháng chiến, không thể theo kháng chiến, những “người Quốc Gia” đã có chính nghĩa: Vua Bao Đại đã “hồi loan”, đã làm Quốc Trưởng, lãnh đạo chính quyền Quốc Gia, vừa chống Cộng Sản độc tài, vừa đấu tranh với Pháp để giành độc lập. Con đường đấu tranh với Pháp nầy, không dùng vũ lực như Việt Cọng, là không sai, bởi vì đó là con đường nối dài “Pháp Việt đề huề” của Phan Chu Trinh ngày trước. Đó cũng là con đường chống Pháp bất bạo động – bạo động là chếtnhư cụ Phan nói – của Phan Bội Châu. Không phải cụ Phan sợ chết, nhưng cụ thấy không cần phải tốn hao xương máu. Người Pháp, dù ngoan cố, cũng phải trả lại độc lập cho Việt Nam, trong một tình hình “giải thực” hiện nay trên toàn thế giới.

Cậu Tôn Nguyễn Khoa Nam trong tình trạng đất nước như thế, “cậu” nhập ngũ! Đâu có phải cậu đi lính Tây như thầy Đội Khố Đỏ Nguyễn Ngọc Lễ (sau nầy là trung tướng) hay thầy Đội Khố Xanh Đỗ Mậu (sau nầy là thiếu tướng kiêm phó thủ tướng đặc trách văn hóa) hay Đội Thông Ngôn Nguyễn Chánh Thi (sau nầy là trung tướng tư lệnh quân đoàn I/ quân khu I).

Ngoài “lệnh vua”, ông là người noi gương Trần Quốc Toản. Hoài Vân Hầu Trần Quốc Toản là cháu nội vua Trần Thái Tông. Tháng 10/ 1282, vua Trần Nhân Tông họp “hội nghị Bình Than” cùng các tôn thích và các quan bàn việc chống quân Mông Cổ xâm lược nước ta. Sách “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” chép:

“Vua thấy Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, Hoài Nhân Vương Kiện đều còn trẻ tuổi, không cho dự bàn. Quốc Toản trong lòng hổ thẹn, phẫn khích, tay cầm quả cam, bóp nát lúc nào không biết.

            Sau đó Quốc Toản lui về, huy động hơn nghìn gia nô và người nhà thân thuộc, sắm vũ khí, đóng chiến thuyền, viết lên cờ sáu chữ: “Phá cường địch, báo hoàng ân”. (phá giặc mạnh, báo ơn vua). Sau này, khi đối trận với giặc, tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không dám chống lại.

Nếu giống như những người khác, thuộc dòng dõi vua quan, nhiều thế lực, ông Nguyễn Khoa Nam tuy vào lính nhưng cũng có thể kiếm được một “chỗ ngồi ấm thân”, “văn phòng”, khỏi xông pha trận mạc gian khổ, “đánh giặc mồm hơn xiết cò súng”, “có chữ thọ to tướng” thì ông lại xin “đi lính nhảy dù” – ông đi dù suốt một thời gian rất dài, từ thiếu úy – khi tốt nghiệp, lên tới đại tá – bao giờ cũng là một người lính chiến đấu. Có phải ông mang trong lòng cái ý chí “phá cường địch” như Trần Quốc Toản ngày xưa? Cũng trong ý nghĩa đó, vì muốn “báo hoàng ân” mà ông nhập ngũ với một thái độ bình thản, không ngại ngùng vì ông là một “hoàng tôn”??

Quả thật Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là hình ảnh của Hoài Văn Hầu của thời đại chúng ta.

Việc ông Diệm không lấy vợ làm cho người bàn tán không ít, nhất là với người Huế. Cụ Võ Úy, xưa làm tri phủ Điện Bàn, bạn đồng liêu với ông Ngô Đình Khôi, thường nói đùa với các con: “Chú Diệm bây không cu.” Ông Văn Bia, một người từng hầu cận ông Ngô Đình Diệm khi ông Diệm ở Saigon, khoảng trước năm 1954, từng tò mò “coi lén” ông Diệm khi đi tiểu tiện thì nói rằng ông Diệm cũng “bình thường” như mọi người. Việc ông Diệm không lấy vợ là vì ông muốn để toàn tâm toàn ý cho việc giành độc lập, xây dựng đất nước, làm cho “dân giàu nước mạnh”. Ngoài Bắc, Cộng Sản cũng tuyên truyền như thế với “bác” Hồ của họ, nhưng tới bây giờ, bí mật bị bật mí thì Hồ Chí Minh vợ con tùm lum; thậm chí ông còn ngủ cả với “Cháu Ngoan Bác Hồ” Nông Thị Xuân nên Xuân đẻ ra Hồ Chí Trung. Tính thử coi, khoảng năm 1945, 46 khi “cụ” Hồ cầm quyền chính phủ, “cụ” khoảng 55, 56 tuổi thì Thị Xuân mới 10 tuổi, là “cháu của cụ” chớ gì!

Tướng Nam cũng là người không có vợ nhưng không nghe ai nói ông “không cu” như cụ Diệm. Ở lính, đời sống tập thể, người “không cu” mà giấu ai được. Người ta nói khi làm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 đóng ở Mỹ Tho, tướng Nam cũng có một “cô nường” nào đó ở Saigon thường xuống thăm ông. Bà nầy là dược sĩ, có người nói là giáo sư trường Dược. Sao họ không lấy nhau? Không làm đám cưới “cho vui”.

Tướng Nam nghĩ gì?

            “Chinh chiến kỷ nhân hồi” như xưa nay trong lịch sử nước ta cũng như lịch sử nhân loại. Nếu Tướng Nam biết mình “học lũ vương tôn” thì ông cũng sợ cho người ông kết hôn thành “ra người chinh phụ”. Chương trình tiếng Việt thời Pháp thuộc học rất ít về văn chương Việt Nam, nhưng có lẽ thuộc dòng dõi Tuy Lý Vương, người từng làm “nguyên súy” Mạc Vân Thi Xã nên Tướng Nam có đọc hay có học Chinh Phụ Ngâm từ khi ông còn trẻ hay chăng? Một người như thế, lòng thương người như thế, lòng cao thượng như thế, sự hy sinh của ông là lớn lắm.

Nói về chuyện tôn giáo, làm tướng như ông cũng có nhiều điều đặc biệt. Không rõ những nơi làm việc khác của ông như thế nào, nhưng ngay tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV có bàn thờ Phật.

Đêm 30 tháng Tư/ 1975, (trong câu chuyện do) trung úy Trần Ngọc Danh, tùy viên của Tướng Nam thuật lại, nếu lưu ý, người ta thấy Tướng Nam thắp hương và đánh 3 tiếng chuông trên bàn thờ Phật hai lần: Một lần đầu hôm khi ông đi thăm thương/ bệnh binh ở bệnh viện Phan Thanh Giản về, và một lần nữa khi gần sáng ngày 1 tháng 5, trước khi ông tự tử. Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Hai, nguyên bạn học cũ với Tướng Nam khi họ học chung với nhau ở trường Khải Định, nguyên Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Huế, em rể Tướng Nam (rể cụ Ưng Thiều), Tướng Nam là người “trì chú” kinh Thủ Lăng Nghiêm.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm, theo tôi hiểu một cách sơ lược – tôi không phải là một Phật tử thuần thành – tôi “theo Phật” như một truyền thống của dân tộc – là kinh chuyên về chữ “tâm”, tâm là lòng, là tình thương, nói theo nhà Phật là “Từ Bi”. Từ chữ “tâm” mà nhìn vào cuộc đời Tướng Nam, người ta phải nhận rằng, ông là một người lính, một sĩ quan, một ông Tướng có chữ “tâm” rất lớn. Vì vậy, tuy phải mang súng hằng ngày, ra lệnh hành quân hằng ngày, hô quân tiến lên, tấn công vào vị trí địch, vào mục tiêu mà không ưa sự chém giết, không muốn giết người.

Đây là một tấm lòng rất hiếm trong hàng tướng lãnh, bởi một lẽ rất dễ hiểu, họ không có “hận thù” – không như trong hàng ngũ Cộng Sản – “Nhắm vào kẻ thù mà bắn – Lê Mã Lương – “Giết! Giết nữa, bàn tay không ngừng nghỉ” như Tố Hữu và khát máu “Nhất tướng công thành vạn cốt khô!”

Kutuzov, một tướng lãnh của Nga Hoàng, cũng là người làm tướng có cái tâm như thế ên không ưa sự chém giết. Năm 1812, thất bại trước “Đại Tướng Mùa Đông”, Napoleon rút chạy khỏi lãnh thổ nước Nga. Kutuzov chỉ cho quân Nga đuổi theo “cầm chừng”. Ông thấy quân Pháp bại trận hốt hoảng rút chạy nhanh ra khỏi lãnh thổ nước ông: Thế là được rồi. Nếu truy đuổi, quân Pháp chết chóc nhiều hơn, thì quân Nga cũng hao mà thành công cũng chỉ thế. Tạo thêm cảnh chết chóc để làm gì. Đoạn sau đây, tôi trích lại trong “Chiến Tranh và Hòa Bình” của Leo Tolstoy:

             Tất cả các hành động của ông – không hề có một trường hợp ngoại lệ nào dù nhỏ nhặt đến đâu – đều nhằm vào một mục đích duy nhất gồm ba điểm:

1. Huy động hết lực lượng để đường đầu với quân Pháp.
2. Chiến thắng quân Pháp.
3. Đuổi chúng ra khỏi nước Nga, đồng thời, trong chừng mực có thể, giảm nhẹ những nỗi điêu đứng của nhân dân và quân đội.

Với tâm niệm như thế, ông Tướng Kutuzov nói với lính của ông:

            “Anh em ạ. Tôi biết các anh em khổ lắm, nhưng biết làm thế nào được? Cố kiên nhẫn một chút: chẳng còn lâu nữa đâu. Khi nào tiễn hết các ông khách ta sẽ nghỉ ngơi cho bõ. Sa Hoàng sẽ không quên công lao của anh em. Anh em khổ thật, nhưng dù sao anh em cũng đang ở trên đất nhà, chứ như bọn chúng – anh em xem nông nỗi chúng nó đến thế nào, – ông chỉ đám tù binh nói – Còn tệ hơn lũ ăn mày cùng khốn nhất. Khi chúng còn mạnh, chúng ta không thương xót gì chúng hết, còn bây giờ thì có thể thương hại chúng. Chúng cũng là người. Có phải thế không anh em? Nhưng nói cho phải, ai khiến chúng đến đất chúng ta? Đáng đời quân chó đẻ, đ. mẹ chúng nó! – ông bỗng ngẩng đầu lên sau khi nói xong.”

Tôi từng phục vụ trong Quân Đội VNCH, từng đánh nhau với Việt Cộng, từng bị “tù cải tạo”, từng đọc “Chủ Nghĩa Mác” và “học 10 bài” khi ở trong tù, tôi biết chắc người Cộng Sản không có cái “tâm” như thế!

Ngược lại, các ông tướng VNCH, dù theo tôn giáo nào, cũng có một tấm lòng thương lính, thương dân rất lớn.

            Lời người xưa còn vẳng bên tai. Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng. Tướng lãnh thua trận, không thể nói mạnh. Bây giờ là tháng tư, 30 năm sau ngồi đây mà đổ tội cho ai. Nhất tướng công thành, vạn cốt khô. Mà công thành, có thành công cho cam. Tôi không hỏi và ông cũng chẳng nói. Tôi đưa cả hai tay cho ông nắm thật chặt. Hình như có một lời ca từ 50 năm trước trong bài Tình Lính: Thương nhau, tay nắm lấy bàn tay; Ông nắm thật chặt và Ông bắt đầu giảng cho tôi về Thiền Tông và Phật Pháp. Chẳng có thu thanh, thu hình phỏng vấn gì cả.

            Hai mươi năm chinh chiến điêu linh và ba mươi năm lưu lạc tù đầy của cả đạo quân nay bỏ qua một bên để ngồi bàn về đường đi của Phật. Trước khi chia tay, tôi ngỏ lời xin đại tướng một di vật cho viện Bảo tàng. Ông nói: Tôi có còn gì đâu. Bèn hỏi rằng hôm niên trưởng ra đi đem theo cái gì. Ông cho biết có cầm cái cặp. Bên trong có cuốn sách viết về đạo Phật.  Tôi xin ông cuốn sách đó, có bút tự ghi dấu của đại tướng.

Người làm tướng Cộng Sản không có được cái tâm như thế! Tại sao? Tại tôi định kiến hay chủ quan. Không phải vậy! Tại chủ nghĩa đấy, tại văn hóa đấy. Nó khác với chủ nghĩa và văn hóa của chúng ta. Chúng ta không có chủ nghĩa Cộng Sản nên không có thù hận, thù hận giai cấp, thù hận giàu nghèo, thù hận “trí phú địa hào…” Bởi vì có thù hận nên Stalin đã giết hàng triệu người Nga. Mao cũng thế thôi. Ở nước ta, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẫn có khác chi không! Không khác được. Các ông tướng Việt Cộng ở chiến trường Miền Nam, trong việc “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” cũng không làm khác đi được. Nếu họ làm khác đi thì làm sao có vụ “tàn sát Tết Mậu Thân ở Huế”. Đó là cảnh trước mắt. còn những cảnh khuất mắt xảy ra trong các buôn tren rừng, trong các xóm nhà tranh vách lá ở những miền đất x xôi thì ai thấy. Chỉ có những người lính từng tham gia những trận đánh đó, mới tạn mắt chứng kiến thảm cảnh của người dân vô tội, mới thấy, mới hiểu rõ hơn rằng “Việt Cộng tàn ác như thế nào!”

Tại sao người Cộng Sản tàn ác như thế?

Bởi vì văn hóa của họ là “văn hóa vô sản”. Văn hóa vô sản ở nước ta là văn hóa của người cùng đinh, của người “ngoài xã hội” dù thành thị hay thôn quê, “ngoài sinh hoạt của làng”, ngoài phong tục tập quan của làng, ngoài văn hóa làng xã. Văn hóa của họ là văn hóa Chí Phèo, Thị Nở. Họ không theo “phép vua”, cũng không theo “lệ làng”, họ theo Cộng Sản, theo đấu tranh giai cấp và theo “Cải cách ruộng đất”. Như thế, họ mới có… quyền lợi.

Họ theo chủ nghĩa Cộng Sản!

Chủ nghĩa Mác là Chủ nghĩa Cách mạng triệt để. Thế nào gọi là “triệt để”? Trong việc chiến đấu giữa hai bên, “ta và địch” thì khi chiến thắng phải là“chiến thắng triệt để, đạt tới mức cao nhất”, có nghĩa là ta phải thắng lợi hoàn toàn, tối đa, đạt tới đỉnh cao nhất. Còn phía địch? Địch cũng phải thất bại tối đa, thất bại hoàn toàn, sức mạnh của địch bị tiêu diệt hoàn toàn, địch phải quì xuống, van lạy, cầu khẩn mới được “cách mạng tha tội chết”. (3)Vì vậy, trong sự chiến thắng của Cộng Sản, ta, phía bại trận thì còn lại được gì, còn cái mạng sống là may mắn lắm rồi.

Theo hồi ký của trung úy Trần Ngọc Danh, từy viên của Tướng Nam, ông Danh thấy ông Tướng “rơi nước mắt” hai lần:

Lần thứ nhất, chiều ngày 30 tháng Tư, sau khi có lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh, Tướng Năm đi thăm thương, bệnh binh ở Quân Y viện Phan Thanh Giản (Cần Thơ):

            “Tư Lệnh đi từ đầu phòng đến cuối phòng hỏi thăm từng bệnh nhân, rồi ông đi qua dãy kế bên và tiếp tục. Hơn một giờ nặng nề và buồn bã chầm chậm trôi qua. Gần giường một thương binh, anh cụt hai chân, vải băng trắng xóa, máu còn rịn ra lóm đỏ cuối phần chân đã mất. Tư Lệnh đứng sát bên và hỏi:

            Vết thương của em đã lành chưa?

            Thưa Thiếu tướng, vết thương mới mấy ngày còn ra máu, chưa lành.

            Với nét mặt buồn rầu, Tư Lệnh nhíu mày lại làm cặp mắt kiếng đen lay động. Ông chưa kịp nói, anh thương binh này bất chợt chụp tay ông mếu máo:

            Thiếu tường đừng bỏ tụi em nghe Thiếu Tướng!

            Qua không bỏ các em đâu. Qua ở lại với các em.

            Qua ánh đèn của bệnh viện, tôi thấy Tư Lệnh đưa tay sửa cặp mắt kính đen và hai giọt nước mắt từ từ chảy dài trên khuôn mặt đau thương của ông. Tư lệnh cố nén xúc động nhưng người đã khóc, khóc không thành tiếng và những giọt nước mắt tự nhiên tuôn trào. Tư Lệnh vịn vai người thương binh nói trong nghẹn ngào:

            Em cố gắng điều trị… có qua ở đây…”

Lần thứ hai, khi ông đứng trên sân thượng Bộ Tư Lệnh, nhìn cảnh quê hương, đất nước một lần cuối cùng:

            Tôi linh tính có điều gì sẽ xảy ra. Tư lệnh chầm chậm bước theo nấc thang lên tầng trên, tôi và anh Việt nối bước theo sau. Tư lệnh ra sân thượng đứng sát bên lan can, mắt nhìn ra lộ Hòa Bình trước cửa dinh, tôi đứng phía tay phải Tư Lệnh, anh Việt đứng bên trái.

            Vài xe qua lại trên lộ, người đi lại thưa thớt vắng vẻ như chiều 30 Tết. Bất chợt Thiếu Tướng bật khóc. Dù cố nén để tiếng khóc không bật thành tiếng, nhưng những giọt nước mắt cứ cuộn tròn chảy dài trên khuôn mặt đau buồn của Tư Lệnh trước cảnh nước mất nhà tan.

            Tôi và anh Việt cũng khóc theo, không còn kềm hãm nữa cứ để cho những dòng lệ tự do chảy…”

&

Cuối tháng Tư/ 1975, tôi đang phục vụ ở Quân Khu IV, khu 42 Chiến thuật. Ngày 29 tháng Tư, qua hệ thống truyền tin của Quân Đội, lệnh Tướng Nam là phải giữ vững vị trí, không được “tự ý di tản”, nôm na là không được bỏ chạy. Quân Khu IV             còn đủ “sức chơi” với Việt Cộng ít nhứt là 3 tháng nữa, sẵn sàng đón “chính phủ” từ Saigon về. Sông Bến Lức sẽ là phòng tuyến chặn địch. (4)

Thế mà sáng ngày 1 tháng 5 khi tôi về tới Cần Thơ thì binh sĩ và dân chúng ở đây xôn xao vì tin Tướng Nam mới tự tử sáng hôm đó. Tại sao ông Tướng tự tử. “Mình còn đủ sức chơi lại tụi nó mà!” Người ta hỏi nhau như thế.

Mãi lâu về sau, tôi dần dà tìm hiểu: À! Ông Tướng nhìn vấn đề theo lăng kính của ông, đâu có “hăng máu” như tôi nghĩ cạn! Quyền hạn càng to thì trách nhiệm càng lớn. Hành động của ông có hậu quả lớn nhỏ là do ở quyền hạn ấy: Nếu tiếp tục đánh nhau ba tháng nữa, đánh trong tuyệt vọng vì súng còn ít đạn, xe tăng, máy bay không còn xăng, không thắng được chúng, binh lính sẽ chết thêm, dân chúng thêm điêu linh. Vùng IV có ba sư đoàn chính qui, một liên đoàn Biệt Động Quân, 16 tiểu khu với các đơn vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ… và dân chúng. Hậu quả hành động của ông lớn lắm, bởi vì ông đâu chỉ là tư lệnh một sư đoàn, một khu chiến thuật. Ông chỉ huy một quân khu, 16 tỉnh, dân đông, trù phú. Một mệnh lệnh ông đưa ra, hậu quả lớn như thế nào… đối với tất cả binh lính, dân chúng trong vùng trách nhiệm của ông. Bao nhiêu sinh mạng binh lính, bao nhiêu sinh linh trong tay Tướng Nam. Ông chọn con đường nào! Con đường nào ngoài con đường ông tự sát để cứu lính của ông, cứu đồng bào của ông. Một mình ông nằm xuống, bao nhiêu người được sống!

&

Trưa ngày 30 tháng Tư, Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng. Tổng thống VNCH là “Tổng Tư Lệnh Tối Cao” Quân Đội. Tổng Thống ra lênh đầu hàng. Là một người lính nghiêm chỉnh thi hành “Quân Phong Quân Kỷ”, Tướng Nam biết ông phải làm gì.

Tác giả Lê Chu thuật lại trong hồi ký của ông:

            Tướng Nam trở lại phòng họp, nét mặt ông lộ vẻ buồn, rất buồn. Giọng nói còn xúc động, ông nói với chúng tôi: “Chúng ta là quân nhân. Quân nhân phải thi hành lệnh thượng cấp. Nay Tổng Thống ra lệnh ngưng chiến đấu, ở vị trí tại chỗ, chờ bàn giao. Thôi chào anh em và anh em trở về đơn vị.” Ông lại nói tiếp: “Tôi không chủ trương ra đi. Với cương vị của tôi, ra đi lúc nào cũng được, nhưng nghĩ đến anh em chiến sĩ ngoài mặt trận, gia đình vợ con binh sĩ và đồng bào nên tôi không ra đi.”

Vậy mà ông vẫn bình tĩnh, vẫn hòa nhã, như bản tính của ông vậy. Chiều 30 tháng Tư, hai tên Việt Cộng không mang súng, xin gặp ông. Tướng Nam đón ở phòng khách Bộ Tư Lệnh. Ông nói gì mà hai tên Việt Cộng lặng lẽ ra về. Nửa khuya hôm đó, bốn tên Việt Cộng khác lại xin gặp ông. Chúng có mang theo vũ khí. Một tên súng lên đạn sẵn, có thể bắt ông, bắn ông bất cứ lúc nào. Ông cũng tiếp chúng ại phòng khách như tiếp hai tên trước. Ông nói gì với chúng, khiến chúng cũng lặng lẽ ra về.

Trước tình thế tuyệt vọng như thế, ông vẫn “đàng hoàng”. Kẻ chiến thắng đứng trước mặt ông, không dám nói một lời dữ dằn, kiêu ngạo, không dám có thái độ hung hãn. Nói theo sách tướng, ông có cái gì mà kẻ thù đang ở trong cái thế chiến thắng mà phải kiêng dè.

Ông qua đời rồi, bác sĩ Hoàng Như Tùng lo việc an táng ông ở “Nghĩa Trang Quân Đội” ở Cần Thơ.

Tôi chưa từng “trình diện” Tướng Nam bao giờ. Chỉ nhớ một lần, đầu năm 1975, khi tôi lái xe từ Hà Tiên về Rạch Giá thì gặp xe ông đi ngược chiều ở xã Mỹ Lâm, xã nổi tiếng Việt Cộng, là “xã quê hương” của Nguyễn Tấn Dũng. Tôi cầm “vô-lăng”, tà lọt ngồi bên cạnh, băng sau còn thêm hai “ngoe” nữa. Xe ông qua rồi, tôi mới thấy một ông “mang hai sao” ngồi ghế trưởng xa. “Băng” sau chỉ có một “tà-lọt” hay hiệu thính viên truyền tin. Thấy ông tướng, tôi hơi giựt e, hỏi trung sĩ Thành bên cạnh:

-“Ông Tướng nào mà gan cùng mình, đi lang thang vậy mày?”

Thành nói: “Chắc là ông Tướng Quân Khu!”

Tôi nói đùa: “Gặp ông Tướng Quân Khu mà không chào, coi như hai bên… ngang nhau.”

Các sĩ quan phục vụ quân đội gần ông, biết rõ ông Tướng nhiều hơn. Tôi xin trích một đoạn sau đây của Lê Chu:

            Shakespeare, qua các nhân vật của một vở kịch, có viết rằng, mỗi người xuất hiện trên sân khấu một lần, diễn xuất một cách vụng về rồi biến mất. Điều này có thể đúng với tôi, với nhiều người khác nhưng không đúng với Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam. Ông không diễn xuất vụng về, trái lại, ông diễn xuất rất đạt, rất thành công. Ông không biến mất – Ông vẫn trường tồn. Ông được nhiều người ca tụng là anh hùng. Theo tôi, ông có những cái gì khác hơn anh hùng. Anh hùng dựa vào dân tộc, dựa vào lịch sử mà trường tồn, được xem như người chiến thắng, được bỏ qua những lổi lầm. Còn ở ông còn toát ra những gì thanh cao, khí tiết. Ông là kết tụ của tinh thần bất khuất Trần Bình Trọng, Nguyễn Biểu – ninh thọ tử bất ninh thọ nhục – thà chết chứ không chịu nhục. Ông là tiếp nối của truyền thống hào hùng tiết tháo của Võ Tánh, Hoàng Diệu – tướng chết theo thành. Cái chết của ông thật lặng lẽ, âm thầm và cô đơn nhưng lại chuyển vào mạch sống của dân tộc. Ông đã để lại cho lịch sử khúc ca chính khí.

Hôm tôi về VN, nói chuyện với người bạn còn ở Saigon, người bạn nói, bà Chị của Tướng Nam đã bốc mộ cho ông và đem về thờ ở chùa Quảng Hương Già Lam ở đường Lê Quang Định (cũ) gia Định. TRong nước, cũng có người đến thăm nhưng không nhiều, còn ở hải ngoại về mà ghé thăm thì rất ít.

Tôi nói: “Hoàn cảnh nầy, dù ba bốn mươi năm rồi, Cộng Sản còn xoen xoét cái mồm: “Thống nhất đất nước”, “chiến thắng vẻ vang”, “đảng vinh quang” thì việc thăm mộ những người chế độ cũ không dễ đâu. Công An còn theo dõi dữ lắm. Nhưng tinh thần thì còn đó, chưa chết đâu. Hôm đám ma Đại Tá Nguyễn Văn Đông, khi xe tang đi ngang, bỗng một số cựu quân nhân đua tay chào theo kiểu nhà binh, khiến người xem xúc động dữ! Tui cũng vậy.

Đó là những tình cảm chân thật, thương yêu kính trọng chân thật. Những người “chế độ cũ”, có ai vào chùa Quảng Hương để viếng tro cốt của Tướng Nam, đứng nghiêm và đưa tay chào ôngTướng, mắt nhìn vào hình ông, đó cũng là tình cảm chân thật.

Những người đến Lái Thiêu ngày 1- tháng 11 mỗi năm để tưởng niệm anh em Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cũng có không ít người có long thương kính chân thật. Bên cạnh đó, không biết có ai vì những tham vọng riêng tư, mượn cái những cái chết đó để mưu đồ cho mình, cho đạo của mình, giành lại những cái vô nghĩa mà tưởng nó có nghĩa thật. Đời bao giờ cũng có những kẻ lòng dạ không ngay làm xấu đi những cái hay của cuộc đời.

&

-“Mấy ngôi chùa mà Việt Cộng cho là phản động” – người bạn tôi nói – “Công An thiếu chi. Chúng còn giả dạng thầy chùa nữa. Ông có muốn đi thăm Tướng Nam thì phải dè dặt đấy.”

Tôi nói:

-“Sống với Việt Cộng thì phải chọn một trong hai con đường: “Phải biết “hèn” như Nguyễn Tuân để sống còn. Hai là phải chê Khổng Tử như Hữu Loan từng chê“Cả đời đục ta trong làm sao được!” Khuất Nguyên lại bảo:

Sông Tương nước chảy trong veo,

            Thì ta đem giặt cái lèo mũ ta!

            Sông Tương nước đục chảy ra

            Thì ta xuống đó để mà rửa chân!

-“Ông” nói kỳ.” Người bạn trách tôi: “Ở một cái xã hội không có công lý thì người ta mới phải chọn Khổng Tử hay Khuất Nguyên để mà sống. Ở Mỹ có cần phải vậy không? “Ông” liều mạng sống đi tìm công lý, dù có chết cũng tìm cái chết trong công lý. Còn nếu như xã hội Mỹ cũng như xã hội Việt Nam thì người ta đi đâu để làm gì?

hoànglonghải

(1)-Tịnh Độ Tông là một pháp môn tu hành của Phật giáo, nhờ vào tha lực để đến bờ giác ngộ. Chúng ta có thể mượn một hình ảnh để hình tượng hóa nỗ lực tu hành của Phật tử. Muốn đến bờ giác ngộ bên kia, họ phải bơi qua đại dương mênh mông, lấy hình ảnh Thái Bình dương chẳng hạn. Người tự lực thì tự mình bơi trong biển lớn, đối diện với rất nhiều nguy cơ : sức lực và ý chí có đủ để vượt biển hay không? Có thể đuối sức bị chìm đắm. Có thể bị bão tố nhấn chìm. Có thể bị rơi vào miệng cá mập. Còn người nhờ tha lực thì mong cầu lên được chiếc thuyền lớn do Phật A Di Đà làm thuyền trưởng. Tây phương Cực lạc chính là chiếc thuyền đó. Lên được thuyền chưa phải là giác ngộ, chưa phải là đến được bờ bên kia, nhưng tương lai là đảm bảo, không sợ đuối sức, không sợ bị dông bão nhấn chìm, không sợ bị rơi vào miệng cá mập, lâu hay mau cuối cùng rồi cũng đến mà thôi, không còn sợ bị trầm luân nữa. Nhưng không phải chỉ dựa vào tha lực, tu Tịnh Độ cũng phải tự mình nỗ lực rất lớn mới mong đạt được kết quả.

Mật Tông là một pháp tu bí mật của Phật giáo, dạy về cách “bắt ấn”, “trì chú” v.v… Pháp tu nầy có tính chất liễu nghĩa (trọn đủ), căn cứ vào nơi tâm pháp bí truyền. Đây là một trong nhiều pháp môn của Phật, mà đặc điểm là dể tu, dể chứng, rất thích hợp với đại đa số quần chúng. Với pháp môn này, bất luận hạng người nào, trong thời gian nào, hoàn cảnh nào, củng có thể tu hành được cả. Nếu so sánh với con đường đi, thì tôn này là môt đại lộ bằng phẵng ,rộng rãi, mát mẽ, hành giả dễ đi mà mau đến, không sợ gặp nguy hiểm chướng ngại giữa đường

Thiền Tông, như các vị Thiền sư nhấn mạnh, là trở về với tự nhiên, không hẳn là sự phản đối truyền thống như những học giả sau này thường xác định. Thiền tông phản bác, vứt bỏ những nghi thức rườm rà, những bài luận khó hiểu, bất tận nhưng không phủ nhận nội dung, tinh hoa của chúng. Thiền tông chính là sự tổng hợp độc đáo của hai giáo lý, hai học thuyết nền tảng của Đại thừa Ấn Độ, đó là Trung quánDuy thức. Người ta có thể hiểu phần nào những hành động, lời nói, phương pháp hoằng hoá “mâu thuẫn”, “nghịch lý” của các vị Thiền sư nếu nắm được giáo lý của Trung quán và Duy thức. Trong các tập công án của Thiền tông,

người ta có thể nhận ra hai loại:

1-Những công án xoay quanh thuyết Thật tướng của Trung quán tông, tức là tất cả đều là Không. Công án danh tiếng nhất với thuyết tính Không là Con chó của Triệu Châu: Tăng hỏi Triệu Châu: “Con chó có Phật tính không?” Triệu Châu trả lời: “Không!”.

2-Những công án với khái niệm “Vạn pháp duy tâm” của Duy thức tông. Một công án danh tiếng theo thuyết Duy thức: Hai ông tăng cãi nhau về phướn (một loại cờ). Một ông nói: “Phướn động”, ông kia nói: “Gió động”, và cứ thế tranh cãi. Lục tổ Huệ Năng liền nói: “Chẳng phải gió, chẳng phải phướn, tâm các ông động”. Nghe câu này, hai vị giật mình run sợ.

Thiền tông tại Việt Nam

Phật giáo truyền vào Việt Nam từ rất sớm, trước cả Trung Quốc với trung tâm Phật giáo quan trọng tại Luy Lâu. Và theo đó, Thiền tông Ấn Độ cũng được truyền bá vào Việt Nam trước tiên, với các thiền sư như Mâu Tử, Khương Tăng Hội, nổi danh tại Trung Quốc từ trước thời Bồ-đề-đạt-ma. Họ đều từng có nhiều năm tu tập tại Việt Nam trước khi truyền đạo tại Trung Quốc, chứng minh cho sự phát triển rực rỡ của Thiền tông tại Việt Nam ở thế kỷ thứ 2 và thứ 3

(Theo Wikipedia)

2)-Trong bài thơ “Ave Maria”, Hàn Mặc Tử viết:

                        Tôi ưa nhìn Bắc Đẩu rạng bình minh
Chiếu cùng hết khắp ba ngàn thế giới
Sáng nhiều quá cho thanh âm vời vợi
Thơm dường bao cho miệng lưỡi không khen

Ba ngàn thế giới là “tư tưởng Phật”, thấm nhuần trong tư tưởng người Viẹt Nam, ngay cả Hàn Mặc Tử, một tín đồ Thiên Chúa Giáo, chẳng qua vì ông ta là người Việt Nam.

3)-Trong trại tù Cộng Sản, anh em chúng tôi thường nói đùa: “Tha tội chết, bắt tội sống” (sống trong trại tù Cộng Sản đấy, không phải sống tù như ở Mỹ)

(4)-Trong một lần trả lời phỏng vấn của KG (?) trên TV, cựu đại tá thiết giáp Hà Mai Việt phát biểu rằng quân Đội VNCH còn đủ súng đạn để chiến đấu thêm 3 tháng nữa, vậy mà buông súng trưa ngày 30 tháng Tư/ 1975.

[post_connector_show_children slug=”v%e1%bb%81-n%c6%b0%e1%bb%9bc-th%e1%ba%a5y-g%c3%ac-ngh%c4%a9-g%c3%ac” parent=”29506″ link=”true” excerpt=”false”]