“Cách Mạng triệt để”

Về bài thơ “Cây Mai” của Tôn Thọ Tường.

Năm 1977, khi bị chuyển về trại “tù cải tạo” Z30-A Xuân Lộc, tôi ở chung một đội với anh Tôn Thọ Khan. Người anh cao, không to lắm, hơi gầy. Tù Việt Cộng hai năm rồi, không gầy sao dược.

Biết tên anh xong, tôi nói với vài người bạn tù thân: “Viết tên như thế nầy là sai. Tôn Thọ… là thuộc dòng dõi ông Tôn Thọ Tường, dòng văn học, chữ nghĩa đầy mình, tại ao lại có cái tên không giống ai. Đúng ra, tên anh ta phải viết là Khang, đọc trại “kỵ húy” là Khương, giống tên cụ Nguyễn An Khương hay Huỳnh Khương Ninh. Khang có nghĩa là an vui, mạnh khỏe… Con như Khan là khan hiếm, tiếng nôm là “khan tiếng”, nói không được.

Trong Nam viết chính tả chữ Quốc Ngữ, lẫn lộn g với không g hoặc t với c, hoặc cũng lắm khi ông hộ tịch xã hơi quá chén, nhậu rán chút chơi thì trời tối mất, thắp lên cây đèn dầu ánh sáng lập lòe, trông không rõ nên bỏ rơi mất chữ g. Vì vậy mà từ ý của cha mẹ là mạnh khỏe vui tươi mà trở thành “đồng khô, hồ cạn” trong suốt ba tháng hè.

Nghe tôi nói giởn cũng vui vui, nên tuy là người ít nói, ông bạn “Khan” (hiếm) của tôi cũng ghé lại nghe tôi nói về ông Tôn Thọ Tường mà anh ta gọi bằng ông cố. Mặc dù cách nhau nhiều thế hệ, tôi cũng biết tới ông Tôn Thọ Tường năm tôi mười lăm tuổi.

Có gì đâu! Không phải “biết” ông Tôn Thọ Tường mà tôi “học” ông. Chương trình Việt Văn lớp Đệ Tứ, có thể là từ “Chương trình Hoàng Xuân Hãn” mà học trò phải học về “cuộc bút chiến” giữa ông Tôn Thọ Tường và ông Phan Văn Trị. (1)

Ông Tôn Thọ Tường ngưởi Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định cũ, theo đạo Thiên Chúa. Thân phụ ông làm quan đời Tự Đức ở Huế, nên ông Tường khi còn trẻ có học hành ở kinh đô, có tài thi phú. Vậy mà ông thi cử nhân không đổ, cha lại mất sớm, nhờ tập ấm nên được bổ một chức quan võ nhỏ. Không hợp với chức nầy, ông xin cáo quan. Có lần vì nghèo, ông làm bài thi thế cho một sĩ tử, kiếm chút “tiền còm”. Ai ngờ việc bại lộ, ông bị bắt giải về kinh, được vua Tự Đức mến tài mà tha tội cho.

Về quê, vốn là người hay thơ, ông thành lập “Bạch Mai thi xã” để xướng họa cùng bạn bè chơi. Vì nơi ông lui tới họp hành với bạn bè là “chùa Cây Mai” (sau nầy là “đồn Cây Mai”, nằm ở một cái gò cao trên đường Lục Tỉnh, Chợ Lớn – (xin “xem hồi sau sẽ rõ” – tg). Cây Mai ở chùa nầy là cây “Bạch Mai”, nên ông Tôn Thọ Tường mới dùng tên ấy mà đặt cho thi xã của ông). Sau khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, họ gọi ông ra làm tri phủ Tân Bình, nên dân chúng gọi ông là “ông phủ Ba Tường”. Năm 1863, ông làm “thư ký” trong Sứ bộ Phan Thanh Giản qua Pháp xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Trở về nước, ông tiếp tục làm quan với bọn xâm lăng. Có lần ông đi theo một phái đoàn Pháp sang Tầu và lên miền thượng du bắc Việt. Ông bị số rét mà chết trên đường đi khi mới 52 tuổi.

Trong thời gian làm quan cho Pháp, ông được Pháp giao nhiệm vụ đi chiêu hàng những người chống Pháp như Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Tôn, Phan Liêm (con của Phan Thanh Giản) nhưng không thành công. Ông còn bị Phan Văn Trị (tục gọi là cử Trị) làm thơ chê bai ông là người phản quốc. Dó đó, ông thường làm thơ bày tỏ tâm trạng của ông như bài “Từ Thứ qui Tào”, “Cây Mai”… để biện bạch cho ông vì thời cuộc mà phải theo Tây mà thôi. Cuộc bút chiến giữa Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị có bài “Tôn phu nhân qui Thục” là điển hình.

Sau đây là bài thơ “Cây Mai”:

Cám cảnh cây mai cách dưới đèo!

                        Mười phần trong sạch, phận cheo leo.

                        Sương in tuyết đóng cành thưa thớt.

                        Xuân đến, thu về lá quạnh hiu!

                        Lặng lẽ chuông quen cơn bóng xế!

                        Tò le kèn lạ mặt trời chiều.

                        Những tay rượu thánh, thơ thần cũ

                        Trông cảnh bao nhiêu, tiếc bấy nhiêu!

            Trước hết, tôi nói về bài thơ, sau sẽ nói về Chùa Cây Mai.

Khi Rigault Genuoilly đem quân đánh vào Gia Định, Nguyễn Tri Phương được lệnh vào Nam chống Pháp. Ông cho dựng “đại đồn Kỳ Hòa”. Genuoilly cho quân chiếm một số chùa quanh Saigon – Tây gọi là “Phòng tuyến chùa chiền” (lignes des pagodes), để chống lại quân của triều đình Huế như chùa Khải Tường (Pagode de Barbe), chùa Kiểng Phước – hay Kiến Phước(?) – (Pagode de Clocheto – nóc chùa có những cái chuông nhỏ), chùa Cây Mai (Pagode des prumiers), đền Hiển Trung (Pagode de la Fédélite Éclatante hay Pagode des Mares – cũng có  tên là  “thành Ô-Ma” (khu vực Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia và Ủy Hội Quốc Tế thời Đệ Nhị Cộng Hòa).

Các chùa nầy nay không còn. Chùa Cây Mai sau nầy là “Đồn Cây Mai”, một thời là “Trường Cây Mai” là “trường tình báo” của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Có lúc đại tá – khi còn là thiếu tá, làm chỉ huy trưởng ở “Trường Cây Mai” nầy. Sau 1975 là “Doanh trại Quân Đôi Nhân Dân”.

Khi quân Pháp đóng ở đây, bọn chúng thường dùng kèn clarion thổi để báo giờ cho binh lính. Khi Tôn Thọ Tường làm bài thơ “Cây Mai” thì Pháp đã đóng quân ở chùa nầy rồi – Câu thơ “Tò le kèn lạ mặt trời chiều” là ý tả khung cảnh ấy.

Tôn Thọ Tường dung hình ảnh cây mai trong bài thơ để bày tỏ sự cô đơn của ông, giữa giới sĩ phu Nam Bộ mà ai ai cũng đứng lên chống Tây mà ông lại theo Tây. Ông như cây mai “cách dưới đèo, Mười phần trong sạch” mà phải chịu “phận cheo leo”. Kể cũng có chút đáng thương !!!

Về “Chùa Cây Mai” có cây bạch mai.

Trước Tết Mậu Thân năm 1968, nhân dịp làm báo Tết, Saigon hồi đó bàn về hoa mai. Hoa mai thường màu vàng nên có ai đó viết một bài hỏi rằng bài thơ “Cây Mai” của ông Tôn Thọ Tường là nói về “hoàng mai” hay “bạch mai”. Vậy rồi có người tới “đồn Cây Mai” trên đường Hậu Giang xin được tận mắt coi cây mai ở đây để xác nhận rằng đó là cây Bạch Mai. Hồi xưa, khi Tây chưa chiếm chùa đóng đồn, chùa có 4 cây bach mai, đã chết mất ba, còn một.

Cũng có anh nhà báo cực đoan, cho rằng Hoàng Mai mới là mai, còn như Bạch Mai không phải là mai, vì Bạch Mai thuộc họ cây mù u, không như Hoàng Mai.

Câu chuyện “hoàng mai”, “bạch mai” trên Saigon hồi ấy làm tôi chú ý, mặc dù tôi ở Huế, không quan hệ tới các ông “vua thơ” của đất Sai-Thành. Đọc hết mấy bài báo nói trên, tôi thấy tôi nghiệp cho ông Tôn Thọ Tường. Dù theo Tây, bị ông Cử Trị mắng mỏ chê bai, nhưng suy cho cùng, có lẽ ông cũng có chút long với triều Nguyễn và đất nước. Ông tự ví ông với “Tôn phu nhân” hay Từ Thứ” là ông ở vào cái thế chẳng đặng đừng vậy chớ không “phản vua”. Xin nhớ cho, thời đại ấy, “trung quan” là “ái quốc” vậy.

Tấm long của ông Tường ông đem gởi gắm vào cây bạch mai trên “chùa Cây Mai” ở Chợ Lớn. Ông đâu có ngờ cây bạch mai ấy là một loại cây mù u. Ai đời như ông đem tâm sự mình mà gởi cho cây mù u. Ai từng ở Huế, chắc từng thấy cây mù u trồng hai bên đường Tam Tòa, phía trước trường tiểu học Trần Quóc Toản, phía trong cửa Thượng Tứ. Tôi từng đọc thơ ông Đỗ Tấn nói về cây mù u:

“Đêm Huế mưa buồn như em không nói,

                        Những cây mù u gục đầu…

                        Lạnh về cắn xé đêm thâu.

 

Trong ca dao, cây mù u “nghe” buồn hơn:

 

ớm vàng đậu trái mù u,

                        Lấy chồng càng sớm, lời ru càng buồn.”

Thời đại của tôi là thời chiến tranh tàn khốc, cô nào lấy chồng sớm thì góa chồng sớm chớ có ích gì!

Cách đây hơn mười năm, tôi cũng từng nghe Thanh Tuyền hát và cũng thấy hay và buồn: “Bướm vàng, đã đậu trái mù u rồi, lấy chồng sớm làm gì, để lời ru them buồn…”

            Bởi những cái “lăng nhăng” như vậy, sau khi nhập ngũ, sau tết Mậu Thân không lâu, có lần ở Saigon, tôi tới “trường Cây Mai” thăm một người bạn ở đó. Thăm là một chuyện, tò mò vì một di tích vừa có tính cách lịch sử vừa có tính cách văn học đã thúc đẩy tôi.

Rồi mọi chuyện qua đi… tôi rời Saigon, lặn lội về tới Cửa Tiểu, Cửa Đại, tới Cái Sắn, Chùa Hang, lênh đênh tới quần đảo Hải Tặc trong vịnh Rạch Giá rồi đi ở tù… Vậy rồi, trước khi vượt biên, có lần tôi đi Bình Chánh, ngang qua đường Hậu Giang, thấy “đồn Cây Mai” bây giờ có tấm bảng đỏ, chữ vàng: “Doanh trại Quân Đội Nhân Dân”. Tôi thấy buồn, nói chung chung, cũng vì “một cuộc hí trường” (Tạo hóa gây chi cuọc hí trường) như vậy dù tôi đi qua “Dinh Độc Lập” nhưng chưa từng nhận một chút ân huệ nào của tổng thống Thiệu, hay đi qua “đồn Cây Mai” một nơi mà một người không có tính tò mò như tôi, chắc không có một cảm xúc nào, như khi tôi đi qua đó, hôm tôi đi Bình Chánh vậy.

Vậy mà kỳ về Việt Nam vừa rồi, có việc tôi phải đi Bình Chánh. “Lò hương cũ” còn lại chút nào đó trong lòng tôi, khiến tôi nói với tài xế taxi đi theo đường Hậu Giang. Tôi không nói với ai cùng đi trên xe cả, rằng tôi muốn “tìm lại đồn Cây Mai”, hay “chùa Cây Mai” hay chỉ là “Cây Mai” mà thôi! gọi như thế nào cũng được cả, nhưng không tìm thấy ở đâu cả. Gần tới ngã ba Phú Lâm, biết đã đi huốt chỗ muốn tìm, nên tôi biểu tài xế quay lui một lần nữa, tìm một lần nữa nhưng vẫn kiếm không ra. Nhà cửa, phố phường che đi tất cả. Không tìm được cái cũ, long tôi bang khuâng. Tôi nghĩ tới câu thơ của Tôn Thọ Tường, “Những ta rượu thánh thơ thần cũ…” khi ông không còn gặp bạn cũ trong Bạch Mai thi xã vì nơi hẹn nhau xưa, chùa Cây Mai đã thành đồng Cây Mai, và chỉ có “Tò le kèn lạ mặt trời chiều.”

Thời gian trôi qua và không gian hay đổi. Cuộc đời là như thế. Trong nhiều khi nó còn là sự tiến bộ của xã hội. Cho nên, dù sao, tôi cũng phải chấp nhận sự thay đổi của Saigon về giao thông, nhà cửa, phố xá, chọ búa… Nếu xã hội không thay đổi, không tiến hóa mới là điều đáng buồn. Năm 1984, 85… vì dính líu vào một vụ vượt biên, tôi trốn ở một căn phòng nhỏ ở một ngôi lầu gần “Cổng Xe Lửa Số Sáu”. Mỗi sáng, khi trời còn tối, đèn đường còn mù mờ, trời còn thanh vắng, nằm trong căn phòng nhỏ, tôi nghe rất rõ tiếng chân ngưa cóc cách của một chiếc xe ngựa chở hang rau quả từ Hóc Môn về chợ Cầu Muối ở Saigon. Lòng tôi buồn.

Đã lâu lắm tôi không còn nghe tiếng xe thổ mộ. Saigon, sau khi nền Cộng Hòa được thành lập, phương tiện di chuyển của dân Saigon là xe bus, xe taxi, xe hơi nhà, xe gắn máy, xích lô, xích lô máy, xe ba gác, ba-gác máy, phần nhiều là “cơ giới”. hình ảnh chiếc xe thổ mộ đã đi vào dĩ vãng của Saigon với hình ảnh những ông Tay thực dân. Khi ông Diệm đuổi Tây về nước, vô tình ông đã đuổi những chiếc xe ngựa đi vào quá khứ.

Vậymà nay, những chiếc xe thổ mộ lại trở về như những hồm ma cũ. Bên cạnh nó, không phải là ông Tây thực dân đọi nón cối như người ta từng thấy mà thay vào đó là “chú bộ đội cụ Hồ” cũng “nón cối”, kèm theo “đôi giép râu”, kéo Saigon trở lui với dĩ vãng của năm mươi năm trước.

Điều đó cũng không làm tôi buồn lắm đâu! Vậy nhìn cảnh Saigon ngày nay, đã đổi tên mới, cái tên dài dòng, khó nghe, khó nói là “thành phố Bác” sẽ còn lại gì? Một người bà con nói với tôi khi tôi tù cải tạo về: “Tui đi tập kết mà không vô đảng được! Chú có biết tại sao không? – anh ta gọi tôi bằng chú vì ông ta bằng tuổi anh cả tôi. Tôi chỉ nói với họ có một câu. – Tôi đi kháng chiến chống Pháp là vì tôi muốn giữ cái gì là của làng lại cho làng tôi. Cái tôi muốn giữ là đình làng, chùa làng… Nay bảo tôi phải phá đình, phá chùa thì tôi làm sao được. Phá đi những cái biểu tượng của làng thì làng việc tôi đi kháng chiến còn ý nghĩa gì nữa.” Chủ nghĩa cộng Sản là chủ nghĩa cách mạng triệt để. Triệt để là phá hết, là không chửa một cái gì hết để xây dựng một xã hội mới: Xã hội Cộng Sản.

Như vậy thì mai mốt gì đây, trong ý tưởng sâu thẳm của người Cộng Sản: Saigon, Huế hay Hà Nội, hay trên toàn cõi đất nước nầy, sẽ không còn gì hết: Nhà thờ, chùa, dinh thự, đền thờ, miếu mạo… sẽ không còn gì hết. Cộng Sản chuyên chính sẽ cho phá hết như họ đã từng cho phá hết đình chùa miếu mạo… ở các làng mạc phía Bắc vĩ tuyến 17. Sẽ không còn đền thờ Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo. Sẽ không còn đền thờ Sơn Tinh ở núi Tản. Sẽ không còn đền thờ Đức Thánh Gióng ở làng Phù Đổng. Chúng ta chỉ có mọt lịch sử chung: “Lịch sử của giai cấp vô sản.”

Nhân loại nầy không phải hiện hữu từ khi có loài vượn người xuất hiện trên trái đất nầy. Sự hiện diện của nó chỉ có thể kể từ khi Cộng Sản ra đời, cũng như nước Việt Nam chỉ ra đời từ khi đảng Cọng Sản Việt Nam khai sinh ngày 3 tháng 2 năm 1930 như Trần Huy Liệu từng tuyên bố và Tố Hữu làm thơ:

            Thuở Anh chưa ra đời
Trái đ
ất còn nức nở
Nhân lo
ại chửa thành người
Đêm ngàn năm man r
ợ.

Từ khi Anh đứng dậy
Trái đ
ất bắt đầu cười
Và loài ngư
ời, từ đấy
Ca bài ca Tháng Mư
ời!

Người bạn tôi nói:

-“Tức cười! Nghe như thằng khùng!”

-“Cuồng tín là không khùng sao? Cộng Sản là một tôn giáo. Người tin vào Cộng Sản thì cũng cuồng tín như một tín đồ tôn giáo vậy. Cuồng tín là ngu. Có sự cuồng tín nào mà không ngu. Ngay chữ “cuồng” là có nghĩa điên khùng, rồ dại rồi.”

-“Đồng ý với anh như thế!” Tôi nói. “Những người ít học, lạc hậu như Hồ Chí Minh, sinh ra ở một làng quê Nghệ An, lớn lên vào thời kỳ đất nước còn lạc hậu cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 20, cuồng tín còn có thể hiểu được. Còn như bọn Tố Hữu, Tôn Quang Phiệt, Trường Chinh, Trần Huy Liệu… có Tây học đàng hoàng mà cũng cuồng tín như những người trong Thập Tự Chinh thì tôi không hiểu được!”

-“Quyền lợi cả “bạn” ơi! Ngày trước, khi còn trẻ thì còn trẻ thì còn có chút tâm huyết. Càng già đi, “cục bộ gia đình” càng lớn thì quyền lợi là điều căn bản. “Bạn” không nhớ khi ông Trần Huy Liệu, Huy Cận về Huế nhận ấn kiếm của ông Bảo Đại thoái vị, ông nào cũng “có lợi” cả hay sao?!”

-“Lợi” gì?” Tôi hỏi.

-“Ông Trần Huy Liệu thì “chớp” được vợ cua Phạm Giao, nguyên là hoa khôi trường Đồng Khánh, còn Cù Huy Cận thì sau đó “chớp” được cái ghế bộ trưởng bộ Canh Nông.” (1)

-“Vâng! Tôi hiểu! Chủ nghĩa Cộng Sản là quyền lợi của họ. Bỏ chủ nghĩa là bỏ quyền lợi nên chúng ta thấy có những đanh từ khá buồn cười. “Kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa” là thể hiện cái chủ trương như thế. “Cách mạng thoái trào” thì phải có “kinh tế thị trường”. Nếu như “kinh tế thị trường trăm phần trăm” thì họ mất quyền lợi sao nên phải níu vào chủ nghĩa, níu vào “định hướng Xã Hội chủ Nghĩa”, níu vào đảng.

-“Khi nào thì hết thoái trào?” Tôi hỏi.

-“Khi kinh tế tư bản sụp đổ. Nó như cái parabol, khi lên tới đỉnh điểm thì nó sẽ xuống. Khi ấy “cách mạng Xã Hội Chủ Nghĩa” lại lên.”

-“Tôi nghĩ khi nó “thoái trào” thì nó “đi” luôn!”

-“Ai chẳng nghĩ như vậy vì chúng ta đứng ngoài “cơ chế” của xã hội nầy. Còn họ, “quyền lợi làm mờ mắt”. “Bạn” không nghe người đời thường nói như thế sao!” Bạn tôi giải thích.

-“Nếu vậy thì trong chúng, “triệt hạ” là con đường tất yếu của của “cách mạng”? Tôi hỏi.

-Ngay từ khi “cách mạng” bắt đầu, họ đã chủ trương như thế. “Tiêu thổ kháng chiến” là gì? Triệt hạ hết các hành phố, thị xã, thị trấn… Xã hội Cộng Sản là xã hội không có thành phố thôn quê, là không có cái gì  “tàn tích” xã hội cũ tồn tại. Đình chùa miếu vũ không còn. Mai đây rồi thì tất cả những cái gì có liên quan đến chế độ cũ sẽ không còn?”

-“Kể cả các cái tượng thánh tổ của các binh chủng quân đội VNCH?” Tôi hỏi.

-“Chớ sao!”

-“Nhưng Trần Nguyên Hãn, Lê Lợi, Phù Đổng cũng vậy hả? Tượng Thủy quân Lục Chiến, Biệt Động Quân hay Micae thì còn hiểu được.” Tôi hỏi, gay gắt!

-“Bạn” nói “thánh tổ” là thánh tổ của ai? Tượng Phù Đổng ở Ngã Sáu là Phù Đổng của ai? Của binh chủng Thiết giáp của “ông” phải không, của xe – M113, của Tăng M-41, M-48 phải không? Dù khi tượng đó là “thánh tổ” của PT-76, của T-54 thì nó cũng không còn nếu không có lệnh của Tàu, của Nga. “Quốc tế vô sản” mà “bạn”.

-“Lịch sử đã như thế thì văn học sẽ không chi, huống chi tôn giáo. Việc tôi đi tìm chùa Cây Mai chỉ là công cốc.” Tôi nói, phẩn uất.

-“Không phải việc “bạn” đi tìm là công cốc. Chính Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị, Bạch Mai thi xã” hay cả “chùa Cây Mai” cũng đều là công cốc. “Bạn” nhớ không! Chúng ta học truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm… cũng đều là công cốc cả đấy. Suốt 12 năm, từ cấp 1 đến cấp 3, về hai môn văn học, lịch sử…bọn học trò ngoài Bắc chúng nó học cái gì? Chúng nó học lich sử đảng.“Bàn đá chông chênh dịch sử đảng.” chúng nó học “Thép đã tôi thế đấy”, học , Ba-Kim, Maxim Gorky, Valentin Kataev, Mikhail Bulgakov.”

-“Ghê quá!” Tôi than.

-“Họ chưa làm ngay vì họ sợ. Họ sợ dân chúng đấy! Vững vàng rồi “thì sẽ biết tay chúng ông”. Ở Mỹ, khi nào “bạn” nghe dời tượng là bắt “đầu một thời kỳ mới của cách mạng” đấy! Chờ xem!”

[post_connector_show_children slug=”v%e1%bb%81-n%c6%b0%e1%bb%9bc-th%e1%ba%a5y-g%c3%ac-ngh%c4%a9-g%c3%ac” parent=”29506″ link=”true” excerpt=”false”]

 

Kết nối với FB của Văn tuyển!
Chia sẻ tin tức, video, quảng cáo, rao vặt và ....
No posts found.
No posts found.