Không có chỗ cho

người lương thiện

Ôi đất nước sau mười năm đổi mới

Có lớn thêm hơn một chút tình người!

(Trần Trung Đạo)

Cha mẹ nuôi dạy con, bao giờ cũng mong cho con mình trở thành người tốt. Thầy cô dạy học, cũng muốn cho học trò mình trở thành người tốt.

Tốt là tiêu chuẩn làm người. Người tốt là người thiện, là người không làm điều xấu, ác… Tiêu chuẩn nầy là tiêu chuẩn chung, không phân biệt ai cả. Vua quan, giàu nghèo, sang hèn đều phải sống theo tiểu chuẩn đó. Người càng ở vị trí cao: vua, quan, thầy cô, cha mẹ… càng phải tốt để làm gương cho kẻ dưới, người trẻ…

Nhìn vào lịch sử chính trị, xã hội, người ta thấy rõ điều đó.

Người làm vua thì phải làm ông vua tốt, đức hạnh, thương dân, phải lo cho dân, “lấy đức trị dân”… hết long lo nội trị, ngoại giao thì nước được yên, người dân được nhờ. Ông vua như thế, lịch sử gọi là “Minh Quân”. Ngược với “minh quân” là “hôn quân” là ông vua ác, ham hưởng thụ, không biết lo cho dân, nước phải loạn…

Xem trong lịch sử, người ta thường thấy “đầu rồng, đuôi chuột”. Có nghĩa ở một thời đại nào đó, những ông vua đầu đời, nhà Lý, nhà Lê chẳng hạn, phần nhièu là “minh quân”, các ông vua cuối đời là “hôn quân”. Sau đó thì “dứt nghiệp”. Nhà Lý như Lý Thái Tổ, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông là các minh quân, xây dựng được một thời kỳ “thịnh trị”. Nhà Hậu Lê cũng vậy. Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Thánh tông là các bậc minh quân.

Đó là những cái sử gọi là “đầu rồng”.

Đuôi chuột là các ông vua Lý Huệ Tông, Lý Chiêu Hoàng (công chúa lên làm vua), Lê Uy Mục, sử gọi là “vua heo”, Lê Tương Dực, sử gọi là “quỷ vương”…

Trong lịch sử, các “đầu rồng”, “đuôi chuột” như thế nhiều lắm. Tôi chỉ đưa ra vài ví dụ, để độc giả so sánh “ngày xưa” với     “bây giờ”.

Xưa, vua, quan là giai cấp thống trị. Bây giờ cũng vậy: Người cầm quyền thuộc giai cấp thống trị.  Đời bây không gọi là vua quan mà gọi là “tổng bí thư” (đảng Cộng Sản), “chủ tịch nước”, “chủ tịch quốc hội”, “thủ tướng”… Vua thì có quần thần, tức là việc trị nước không phải môt mình ông vua lo. Cũng như không phải một mình “tổng bí thư” lãnh đạo mà còn “bộ chính trị”, “ủy viên trung ương đảng”…

Bản chất hai chế độ giống nhau. Bây giờ thỉ “đôc tài toàn trị”, xưa là “phong kiến” (của xã hội Tàu); nước ta thì “quân chủ chuyên chế”.

Ở một nước độc tài, xưa cũng như nay, kẻ thống trị tốt thì dân chúng được nhờ, gặp bọn xấu cai trị thì dân đành cúi đầu mà chịu, phải chịu cho chúng nó cướp.

Thật vậy, có quyền lực thì dùng quyền lực mà cướp. Quyền lực là vũ khí, là người, như công an, bộ đội…Vũ khí là cường lực, bạo lực. Công an, bộ đội là nhân lực. Xưa dùng người mà cai trị, gọi là “nhân trị” – nhân là người – không phải nhân đạo – Nhân là người, chữ Nho có hai vạch, như hình cái nón úp. Nhân là nhân đạo thì chữ nhân nằm đứng, bên cạnh ó chữ nhị – nhị là hai, kẻ cho và người nhận – Bây giờ Công Sản gọi là “bạo lực cách mạng”. Nói hay ho như thế nhưng cũng chỉ lả là vũ khi, với công an, bộ đội…

Chế độ Cộng Sản, ngoài “bạo lực cách mạng”, họ còn có nhiều phương cách cai trị “độc đáo” hơn. “Hộ khẩu” chẳng hạn. Có hộ khẩu mới mua được gạo, khoai, sắn. cá thịt, rau muối, mắm. Không có hộ khẩu là không mua được gì hết, là chết đói.

Người dân có mà “ngo ngoe”, xiết “hộ khẩu” một cái là xong. Có ăn mới có thể phản kháng, đấu tranh. Bị “xiết hộ khẩu”, là đói meo, làm sao mà đấu tranh, phản kháng.

Trước 1975, mỗi gia đình chỉ có “Tờ Khai Gia Đình”, là tờ ghi tên những người ở trong nhà. Khi nào có Cảnh Sát khám nhà mới đưa tờ khai gia đình ra cho cảnh sát kiểm soát những người trong nhà. Ngoài ra, tờ khai gia đình chẳng có giá trị gì hơn. Vì vậy, có lắm gia đình “để lạc” tờ khai gia đình đâu không biết. Đến khi Cảnh Sát hỏi tới mới tìm “tá lả” lên mà không nhớ nó nằm chỗ nào.

Sau 1975, “chính quyền cách mạng” thay Tờ Khai Gia Đình bằng “hộ khẩu”. Hai cái nầy khác nhau nhiều lắm. Mất “hộ khẩu” là coi như “dạ dày thất nghiệp”

Hộ khẩu là phương tiện kiểm soát – nói cho đúng là “kềm kẹp” dân chúng hữu hiệu nhất. Ai ai cũng phải lo “thủ” hộ khẩu cho kỹ. Thành ra đời bây giờ, sinh viên học sinh đâu có thể buồn buồn “đi biểu tình chơi” như trước 1975. Không mua được gạo, bụng đói thì làm sao đi biểu tình.

Khi bỏ hộ khẩu là Việt Cộng chịu một phần thất bại trong viêẹc kềm kẹp dân chúng.

Thứ đến là luật pháp.

“Luật pháp là phương tiện do giai cấp thống trị đặt ra để bảo vệ quyền lợi của giai cấp đó.”

Định nghĩa nầy, đối với các nước dân chủ như Anh, Pháp, Mỹ, Canada… thì sai. Nhưng với Cộng Sản, Cộng Sản Tàu hay Cộng Sản cũng như thế thôi, là đúng một trăm phần trăm.

Ở Mỹ chẳng hạn. Tổng thống, nghị sĩ, dân biểu… muốn bảo vệ cái ghế của mình, cho được lâu dài (tái đắc cử) thì phải lo bảo vệ quyền lợi cho những người đã bỏ phiếu cho mình. Vì vậy, quyền lợi bàn tới ở đây, là quyền lợi chung, cả nước hay địa phương, nơi người dân cử ấy đuợc bầu ra.

Ở các nước độc tài thì khác. Muốn quyền lợi bền vững, cầm quyền lâu dài hay “muôn năm” thì phải bảo vệ quyền lợi của “nhóm quyền lực” ấy. Đảng Cọng Sản Việt Nam phải “cầm quyền” (mỹ từ của Việt Cộng là lãnh đạo, quản lý) lâu dài, muôn năm. Trong ý nghĩa đó, giai cấp thống trị phải “soạn” ra luật pháp để bảo vệ quyền lực của mình. Sự “độc tài luật pháp” được núp dưới “hiến pháp dân chủ”. Hiến pháp thì nói vậy, nhưng chính quyền Cộng Sản cai trị bằng sắc luật thì hiến pháp có cũng như không!

Nhìn chung, “bạo lực cách mạng”, nói rõ ra là vũ khí, công an, bộ đội, đảng viên, luật pháp, hộ khẩu… là phhương tiện cai trị của Cộng Sản hiện nay ở trong nước.

Mọi người dân đều phải “tuân hành luật pháp”, tức là phải “bảo vệ quyền lợi đảng”, không được có ý tưởng, hành động chống lại đảng, chống lại chế độ (do đảng Cọng Sản lập ra và bắt buộc dân chúng tuân theo)…

Hơn thế nữa, chủ nghĩa Cộng Sản là “chủ nghĩa cách mạng triệt để” nên ngoài việc kiểm soát hành động, thể chất, bọn chúng còn kiểm soát cả tinh thần, tư tưởng, ý hướng của người dân. Trong viễn tượng đó, tất cả các phương tiện truyền thông như TV, báo chí, sách vở… đều là “của đảng”. Tư nhân không có quyền “sở hữu” các phương tiện truyền thông nầy.

“Cách mạng triệt để” nói chung là vừa “đàn áp” vừa “kềm kẹp”.

Vậy trong chế độ đó, còn chỗ nào cho người lương thiện trong khi Cộng Sản vẫn cổ vũ cho người lương thiện.

&

Tài liệu văn học – thực chất là tuyên truyền – của Cộng Sản bàn rất nhiều về tính cách lương thiện của Thúy Kiều, nhân vật chính trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Họ nói cái gì?

Cô Kiều là một người “tốt”.  Chúng ta có thể lấy trích đoạn sư Giác Duyên nhận xét về Kiều để xác quyết rằng Kiều là người tốt, người thiện, mặc dù trong đời cô, cô cũng có làm vài điều xấu…

Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều,

Mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm

Lấy tình thâm trả tình thâm

Bán mình đã động hiếu tâm đến trời

Hại một người, cứu muôn người

Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng

Thửa công đức ấy ai bằng

Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi

Khi nên trời cũng chiều người

Nhẹ nhàng nợ trước, đền bồi duyên sau

Vậy mà Kiều không thể sống được trong chế độ phong kiến ngày xưa. Chế độ ấy đã trói buộc, thúc ép, xô đẩy Kiều đi tới chỗ cô phải nhảy xuống sông Tiền Đường tự vẫn.

Người bạn còn ở lại Saigon sau 1975, hỏi tôi:

-“Ông” có biết bây giờ Cộng Sản phê phán, tán tụng truyện Kiều một cách sâu rộng như vậy là vì lý do gì không?”

-“Đả phá phong kiến.” Tôi trả lời.

-“Nói như thế là “ông” chỉ mới thấy cái bề mặt của Cộng Sản. Chủ ý sâu xa của họ không phải là như thế!” Bạn tôi nói.

-“Giải phóng phụ nữ”, “Dáng đứng Bến Tre”. Tôi trả lời.

-“Ông” nói “Dáng đứng Bến Tre” theo nghĩa nào?” Bạn tôi hỏi.

-“Lôi kéo người con gái, đàn bà ra khỏi nhà của họ, “tham gia cách mạng”, tham gia “việc nước”, việc đảng như người con trai, đàn ông, cầm súng đi bắn giết người làng.”

-“Thấy vậy thì được. Chủ đích của Cộng Sản, đằng sau cái bình phong “nam nữ bình quyền” là đánh phá gia đình. Đừng quên điều Việt Nam Cộng Hòa từng tuyên truyền: “Tam vô”. Vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo. Ngày nay, “vô tôn giáo” thì đã rõ. Chiếm miền Nam rồi, cái áo khoác “Dân tộc chủ nghĩa” của Việt Cộng cũng đã rơi mất. Còn gia đình. Gia đình của chúng thì chúng bảo vệ tối đa, còn “gia đình ngụy”, hay nói rộng ra, gia đình của người miền Nam, chúng đánh phá tan nát. Nói chi xa, chính bọn sinh viên miền Nam theo Cộng trước 1975, tự nó đã đánh gia đình chúng nó, để chứng tỏ là người tiến bộ, “giác ngộ chủ nghĩa Mác”, lập công, cần chi tới bàn tay của tụi ngoài Bắc vô. Thấy được cái thâm ý sâu xa của Cộng Sản mới chống lại chúng được.”

-“Tôi có cái nhận xét nầy.” Tôi nói. “Như hồi chế độ cũ, người ta gọi “Bà Ngô Dình Nhu” mà ít khi gọi “Bà Trần Lệ Xuân”, hoặc gọi “Bà tổng thống Nguyễn Văn Thiệu” hay “Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phu nhân” mà không gọi là “Bà Nguyễn thị Mai Anh”. Thậm chí người ta còn không biết “Bà Thiệu tên là gì?” Điều nầy nói lên cái gì?”

-“Bởi vì mấy ông chồng to quá nên mấy bà nhỏ lại. Ấy là “nam nữ không bình quyền” chớ gì?” Bạn tôi cười nói.

-“Không phải đâu! Các nữ giáo sư ở Gia Long, Trưng Vương trước 1975 như thế nào tôi không biết. Tôi có thằng bạn là Hà Thúc Trạch. Bà cô nó làm ở văn phòng trường Đồng Khanh. Nó kể: “Cô nó làm sổ lương cho các nữ giáo sư, đánh máy mệt thấy mẹ!”

-“Mệt sao?” Bạn tôi hỏi.

-“Trong sổ lương, tên phải đánh cho đầy đủ, dài lòng thòng, mất thì giờ. Ví dụ “Bà Nguyễn Văn Ch., nhũ danh Hà Thị Như Ng.” Hễ có chồng thì phải có tên chồng, rồi mới tới tên vợ. Mấy bà “hoàng phái” tên dài lắm: “Công huyền tôn nữ thị, hay Công tằng tôn nữ thị… Mây Bay. Không thể chỉ đánh máy một mình tên bà vợ được. Mấy bà nầy chỉ là giáo sư hay giáo viên mà thôi, chồng đâu có làm gì to!” Tôi nói.

-“Ông” có biết tên chồng bà Nguyễn Thị Bình không? Bạn tôi hỏi.

-“Nguyễn Đồng Hợi.” Tôi trả lời.

-“Bà Nguyễn Thị Định?” Bạn tôi hỏi.

-“Dzích Ku!” Tôi cười trả lời.

-“Dzích Ku” là du kích. Một tên du kích nào đó. “Chủ nghĩa Cọng Sản mà! Tên du kích nào mà chẳng làm chồng được. “Vô gia đình” mà, cần chi phải dài dòng: “Bà Nguyễn Du Kích, nhũ danh Nguyễn Thị Định”. Phong kiến phản động, bày đặt. Cách gọi như thế là do chủ đích của chủ nghĩa Cọng Sản cả đó.” Bạn tôi cười, nói, mai mỉa.

-“Bây giờ không còn “Bà”, không còn “Cô”. Cùng phe thì gọi là “Đồng chí”. “Đồng chí Nguyễn Thị Thập”, “Đồng chí Dương Quỳnh Hoa”. Không “đồng chí” thì gọi là “chị”. “Chị Lê Thị Thêu, đại biểu quốc hội, sở Vệ Sinh thành phố “bát”. Tôi nói, cũng giọng mai mỉa.

-“Cô Thúy Kiều thì nên gọi như thế nào. “Đồng chí Thúy Kiều” hay “chị Thúy Kiều”. Gọi “cô Thúy Kiều” là phong kiến phải không?” Bạn tôi cười.

-“Gọi là “đồng chí” hay “chị” đều không được. Anh biết không? Bây giờ các nàng Thúy Kiều không thể ở được với chế độ nầy nên “ra nước ngoài làm đĩ hết rồi”. Kẻ đi Đài Loan, người qua Đại Hàn…” Tôi nói.

-“Đó là “giải phóng phụ nữ khỏi ách kềm kẹp của Mỹ Ngụy” sau khi Cộng Sản “giải phóng miền Nam”.  Bạn tôi nói, như than.

-“Còn nhiều con đường nữa, ngoài con đường làm đĩ. “Bạn” biết không? Đó là những con đường nào? “Con đường nào? Con đường nào cho em đi…” Tôi hát đùa, theo điệu bài hát “Ngày đã đơm bông” của Nhật Ngân.

Bạn tôi cũng đùa: “Người ta nói tới “Con đường dẫn tới những ngày vui…” còn như đây, “ông” cũng cho là những ngày vui sao?”

-“Vui chớ ông! Con đường dẫn tới làm “trò chơi” cho đại gia thì không vui sao được. Kế nữa thì con đường buồn: Vào chùa tu. Vào chùa tu là cách người đàn bà con gái muốn giữ cho mình một chút phẩm giá con người. Còn như không vào chùa thì đi theo cô Kiều mà tìm sông Tiền Đường là xong ngay.Tới đó là hết “công cha nghĩa mẹ, ơn thầy”. Đó là những con đường giải thoát sau khi được “cách mạng giải phóng”.  Tôi nói.

-“Cuộc đời đáng buồn thật! “Ông” phải nhớ cho tôi một điều. Những người như mình nói, là những người dân bình thường, muốn sống một cuộc đời bình thường, không đòi sang cả, không ham công hầu khanh tướng, không tham vọng. Họ còn không có con đường sống trong chế độ nầy, huống chi những người đấu tranh cho nhân quyền, tự do… không vào tù thế nào được.”  Bạn tôi nói, giọng buồn.

-“Thật ra, trước khi về đây, trước cả năm 1975, tôi đã nghĩ tới điều nầy: “Chế độ Cộng Sản là chế độ không có chỗ cho người lương thiện. Trước kia, tôi biết điều ấy qua sách vở. Bây giờ, xã hội Việt Nam chứng minh điều ấy, một cách rõ ràng, trước mắt, hiện thực, trên mỗi khuôn mặt, con mắt, ngay cả trên nụ cười, mỗi ngày ra đường, người ta thấy ngay trên “thành phố “bác”, thành phố của Cộng Sản, sau khi “giải phóng miền Nam” như câu nói mà người Cộng Sản tự hào, là những điều tôi thấy đó: an phận, cam chịu… để được sống, như một sinh vật, không phải sống như một Người, chữ Người viết hoa như khi người ta nói về con người được sống có phẩm giá.” Tôi nói, một hơi dài…

Người bạn bèn hỏi tôi, mà tưởng là anh ấy chuyển sang một đề tài khác: “Nãy giờ, chúng ta nói về tình cảnh người dân Việt Nam hiện nay, nói chung, nhưng một cách vô tình, chúng ta đã nói về thân phận người đàn bà, con gái hơn là về người con trai, đàn ông. Theo “ông” nghĩ, trong hoàn cảnh chung người Việt mình trong mấy chục năm qua, những người thuộc phái nữ đáng thương hơn, phải không?

-“Tôi nói về trường hợp gia đình tôi thôi. Từ đó, anh cứ suy ra. Chiến tranh bùng phát, cái mà Việt Cộng gọi là ngày “Toàn dân kháng chiến” vào tháng 12 năm 1946. Năm sau 1947, chị cả tôi qua đời vì bệnh khi đang “chạy tản cư”. Qua năm 1948, ba tôi qua đời vì bệnh trên chiến khu. Đến 1949, anh đầu của tôi bị Tây thủ tiêu. Sau nầy, nghĩ lại hoàn cảnh của mẹ, tôi thương mẹ tôi lắm: Ba năm ba cái tang liền nhau. Sức nào chịu nỗi. Vậy rồi mẹ tôi lo làm lụng nuôi những đứa con còn lại. Cứ tính từ thời gian bắt đầu chiến tranh đó, nhìn quanh xã hội, tôi thường thấy quanh tôi, người đàn bà, người mẹ, người vợ đáng thương nhiều lắm. Bao giờ tôi cũng thấy tôi thương mẹ tôi, chị tôi, em gái tôi hơn thương cha, thương anh trai, em trai…”

Rồi tôi đọc mấy câu đầu trong bài thơ Pelican của Alfred de Musset: “Chiếc hải điểu bên trời bay mãi, Trong sương chiều về cõi lau xưa, Đàn con đói khát trên bờ.” Ngay cả loài sinh vật, con chim mẹ, con cừu mẹ… cũng khổ cực hơn con đực nhiều. Có phải tạo hóa bất công hay đây chỉ là sự phân công.”

-“Tôi hiểu rồi! Tôi hiểu rồi. Nhưng dù sao, khi đọc truyện Kiều, tôi thấy người Việt Nam, dân tộc Việt Nam tốt hơn người Tàu nhiều. Anh có thấy không?”

-“Anh muốn nói về đoạn kết trong truyện Kiều. Khi còn đi dạy, khi giảng cho học sinh về đoạn cô Kiều được vớt lên khỏi sông Tiền Đường, tôi thường nhấn mạnh về lòng nhân đạo của người Việt Nam qua phần nối dài thêm truyện Kiều của Nguyễn Du. Kiều được cứu sống, được sum họp với gia đình, thực hiện được ý muốn “dần dà liệu sẽ trở về cố hương”. Người Tàu, qua Dư Hoài cũng như Thanh Tâm Tài Nhân, độc ác hơn nhiều. Kiều tự vẫn ở sông Tiền Đường. Câu chuyện một người con gái hiền lành, đức hạnh chấm dứt ở đó. Nhân đạo ở đâu, thương người ở đâu, đúng như câu nói của Lỗ Tấn “Người Tàu tàn ác như sư tử”./

hoànglonghải.

[post_connector_show_children slug=”v%e1%bb%81-n%c6%b0%e1%bb%9bc-th%e1%ba%a5y-g%c3%ac-ngh%c4%a9-g%c3%ac” parent=”29506″ link=”true” excerpt=”false”]