“Hòa hợp hòa giải”?

“Còn nguyên những vết thù…”

(“Vết thù trên lưng ngựa hoang” – Ngọc Chánh)

“Vết thù trên lưng ngựa hoang” là một tập truyện của Duyên Anh, viết về một thanh niên và giới du đảng ở Saigon vào khoảng giữa thập niên 1960.

Nhân vật chính là Hoàng, còn có tên là “Hoàng guitar” vì anh ta chơi đàn guitar khá hay. Sau một thời gian sống trong giới giang hồ, anh ta muốn quay lại con đường chính. Nhưng vì “bạn bè” yêu cầu, anh ta tham gia một “phi vụ” cuối cùng, nghĩ rằng đây là một lần chót, trước khi “hoàn lương”. Nhưng anh ta gặp xui vì trong “phi vụ” đó, Hoàng lãnh một loạt đạn vào lưng và chết ở “trận chiến” cuối cùng đó.

Cuộc đời thật đáng mai mỉa. Con người, dù có muốn sống ngay thẳng, chân thật, nhân bản, thương yêu… cũng không thể sống được! Đời không có con đường cho chúng ta “quay về”!

Hôm tôi về Saigon, chuyện trò với vài ba bạn cũ. – Thật ra, bạn cũ ở trong nước nay cũng không còn bao nhiêu, đếm chưa đủ năm đầu ngón tay – chuyện trò lan man chuyện nầy chuyện kia, cũng không tránh khỏi chuyện văn gừng, văn nghệ.

Tôi nói với các bạn rằng, trong tiến trình “đi tới” của dân tộc – nhất là trong tình hình chính trị hiện nay, dù có tiến tới việc “hòa hợp hòa giải” hay không, người nghệ sĩ, bao giờ cũng là người dẫn đầu, đi tiên phong.

Chúng ta có thể dẫn chứng trong lịch sử cải lương chẳng hạn. Bạc Liêu là cái nôi của cải lương Nam Bộ, có thể kể từ bài “Dạ cổ hoài lang” của ông Sáu Lầu, ngay từ khởi thủy, động lực chính để cải lương hình thành là do lòng yêu nước, từ tinh thần chống Pháp giành độc lập mà ra. Điều nầy không phải tôi “cương” ẩu. Độc giả có thể tìm thấy quan điểm ấy được trình bày trong hồi ký của giáo sư Trần Văn Khê. Gần hơn, chúng ta có thể thấy ý tưởng ấy trong “Phong Trào Trăm Hoa Đua Nở”. Chính các văn nghệ sĩ trong phong trào nầy là những người “đòi hỏi” – hay có thể gọi là đấu tranh – cho “tự do trong văn nghệ”, đòi “cởi trói cho văn nghệ” …

Bây giờ ở Saigon, hay nói rộng ra, cả miền Nam, “dậy” lên phong trào hát nhạc bolero, – hình thức phong phú nhất của “nhạc vàng” – một thứ âm nhạc mà chính quyền Cộng Sản Việt Nam từng phê bình, cấm đoán gắt gao mà nay đành buông lơi, cũng là một hình thức đi tiên phong của giới nghệ sĩ hiện nay trong việc cởi trói.

Rồi phong trào đó sẽ đi đến đâu?

Có một điều chắc chắn, nó đi tới mà không đi lui được. Kim đồng hồ không chạy ngược bao giờ. Dù như thế nào – người nghệ sĩ dù có ý thức hay vô thức, họ đi theo ngọn nước của phong trào, mặc dù Cộng Sản Việt Nam, ở một thời điểm nào đó, ở một mức độ nào đó, có thể họ sẽ có “biện pháp” đấy. Và Cộng Sản sẽ… thất bại. Tôi không chủ quan mà nói như thế. Con đường đi tới của nhân loại đã đánh sụp thế giới Cộng Sản. Trong viễn tượng đó, Cộng Sản Việt Nam còn ngoan cố, còn trì kéo được bao lâu nữa?

            Văn nghệ sẽ thức tỉnh nhiều người!

Người bạn tôi cười: “Ông” nói đúng! Văn nghệ thức tỉnh nhiều người, như tao chẳng hạn.”

-“Chuyện gì?” Tôi hỏi.

-“Vết thù trên lưng ngựa hoang.” Tao cũng là một con ngựa hoang, tao cũng đã thức tỉnh.” Anh ta hát nho nhỏ, đủ cho tôi nghe mà thôi: “Ngựa hoang muốn về tắm sông nhẫn nhục, Dòng sông mơ màng mát trong thơm ngọt.”

-“Hay đấy!” Tôi nói. “Không phải anh hát hay đâu. Điều chính yếu là “mình thấy lại chính mình” – Điều đó không dễ đâu – để rồi phải nhẫn nhục trở về.”

-“Hai chữ “nhẫn nhục” là hay lắm. Sự “nhẫn nhục” ấy, không chỉ riêng cho “Hoàng guitar” khi nó muốn trở về với gia đình, với xã hội. Nhẫn nhục mà trở về với gia đình! Một đứa con đi hoang mà nay trở về với gia đình, với mẹ, đâu có dễ đâu! Có thể là vì lòng thương mẹ lớn quá mà nó trở về với mẹ. Còn chúng ta thì sao?

-“Đây chỉ là một câu chuyện tiểu thuyết, về một đứa con hoang đàng, mắc mớ chi tới chúng ta?” Tôi nói.

-“Tôi không nghĩ vậy! Duyên Anh khi viết truyện nầy, có ý tưởng nào sâu xa hơn không thì tôi không biết, nhưng với riêng tôi, tôi sẽ thương con tôi, nếu có đứa nào là “con ngựa hoang”; tôi thương thân tôi, vì trong một chừng mực và ý nghĩa nào đó, tôi cũng là “con ngựa hoang”, không phải là “con ngựa hoang” của gia đình tôi, của mẹ tôi, mà chính là “con ngựa hoang” của dân tộc nầy, đất nước nầy.”

-“Tôi không hiểu ý anh nói.” Tôi trả lời.

-“Tôi hỏi anh! Từ khi bọn Pháp xâm lăng nước ta tới giờ, “Một trăm năm đô hộ giặc Tây”, như Trịnh Công Sơn nói, có biết bao nhiêu người “theo Tây”, chống lại dân tộc. Đó không phải là “con ngựa hoang của dân tộc” hay sao?

-“Có lý đấy! Nếu mình hiểu rộng ra về ý nghĩa mấy chữ “ngựa hoang”. Đọc sử, đọc tới câu nói của vua Hàm Nghi khi bị đội Ngọc bắt đem giao cho Pháp, ai mà không xúc động trước câu nói của một ông vua mới 16 tuổi: “Mi giết ta đi còn hơn mi đem ta mà nộp cho Tây”. Cuộc đời ông sau đó: Không nhận mình là vua, không học tiếng Tây vì là ngôn ngữ của kẻ xâm lược, lòng vọng quốc không nguôi… Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân ảnh hưởng đến người Huế, người Việt nhiều lắm. “Theo Tây” là nhục nhã, là phản bội Tổ Quốc, phản bội Dân Tộc… Tính ra, chỉ riêng ở Huế, bao nhiêu người “Áo đỏ mũ pha chàm”, bao nhiêu người “Xe ngựa rợp trời mây…” (1) như trong bài thơ “Vào Thành” của cụ Phan Bội Châu. Không phải đó là những “con ngựa hoang” cả hay sao? Hay ho gì những “con ngựa hoang phụ chính”, “những con ngựa hoang thượng thư”, “những con ngựa hoang đại thần”. Đẹp mặt gì đâu!

-“Mình có bi quan quá không?” Tôi nhắc chừng.

-“Không đâu! Nếu người ta không phê phán những người theo Tây thì người ta không thể ca ngợi hành động từ quan của ông Ngô Đinh Diệm. Cụ Phan Bội Châu gọi ông Ngô Đình Diệm là “chí sĩ” đấy, không phải “phe cụ Ngô” bày đặt ra để tuyên truyền đâu!  Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế được người Huế gọi là những “nhà cách mạng”. Phải có những “con ngựa hoang” mới có những người mà người ta gọi là “nhà cách mạng”. Đó là nét đặc sắc của Huế, mà cũng là của người Viêt Nam, từ Nam chí Bắc.”

-“Thật là phức tạp.” Tôi ta thán.

-“Phức tạp là lịch sử của người Việt Nam, không bao giờ là không phức tạp. “Ông” thử tính lại coi, “Nam Bắc phân tranh là bao nhiêu năm? Kết thúc cuộc phân tranh thì vừa là nội chiến, vừa là ngoại xâm…”

-“Nội chiến tức là cuộc chiến tranh giữa họ Trịnh ở “Dằng Ngoài”, nhà Tây Sơn ở Bình Định và chúa Nguyễn ở phương Nam. Chống ngoại xâm là vua Quang Trung phá quân Thanh?” Tôi giải thích.

-“Đúng đấy” – bạn tôi nói – “Nhưng ai là chính nghĩa? Ai có chính nghĩa, ai “phi nghĩa”? Chúa Trịnh? Tây Sơn hay Nguyễn Ánh?

-“Anh hỏi làm tôi nhớ câu trả lời của Ngô Thời Nhiệm khi bị Đặng Trần Thường đánh đòn ở Văn Miếu.” Tôi nói.

-“Câu gì?” Người bạn hỏi.

-“Đặng Trần Thường hỏi Ngô Thời Nhiệm (2), đại ý là: “Nhà người là người hay chữ, không biết đâu là chánh, đâu là tà để mà theo, để nay phải ra cái cảnh nhục nhã như thế nầy?”

Ngô Thời Nhiệm trả lời: “Mấy năm nay giặc giã triền miên, thế sự đảo điên, nhân tâm ly tán, làm sao biết đâu là chánh, đâu là tà để mà ta theo!” Đọc xong, tôi hỏi lại bạn tôi: “Ông nhớ hai câu đối của hai ông nầy chớ?”

-“Câu của Đặng Trần Thường có vẻ hách, nhưng rồi ông ta cũng chết nhục mà thôi.” Xong, bạn tôi đọc:

“Ai công hầu, ai khanh tướng, giữa trần ai, ai dễ biết ai?”

            “Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế!”

“Nói như thế thì ai có lý tưởng gì đâu, ai có chánh nghĩa gì đâu? Các cựu thần nhà Lê không ra làm quan với Nguyễn Triều vì không cho Nguyễn Triều là “chính thống”. Nguyễn Triều gán cho nhà Tây Sơn cái tiếng “Ngụy”. Nhà Tây Sơn thì lật đổ chúa Nguyễn ví cho rằng đám chúa Nguyễn là bất tài, tham nhũng, đày đọa dân chúng.” Tôi nói.

-“Người xưa họ đã nhận định về họ rồi mà! “Đâu là chánh, đâu là tà” Chánh Tà lộn bậy.”

-“Hồi tôi mới vô “tù Cải Tạo”, đêm đêm nằm buồn chờ giấc ngủ, mấy thằng bạn tù cứ biểu tôi đọc bài “Tự thán” của Phạm Thái cho chúng nó nghe. Sao mà nghe giống tâm sự của mình. Đứa nào cũng vừa trên ba mươi tuổi, “Ba mươi tuổi lẻ đà bao chốc!” Tôi tâm sự với bạn.

-“Ông” đọc nguyên cả bài đi!” Bạn tôi đề nghị.

 

Năm bảy năm nay cứ loạn ly,

                        Cảm thương thân thế lỡ qua thì.

                        Ba mươi tuổi lẻ đà bao chốc,

                        Năm sáu đời vua thật chóng ghê!

                        Một tập thơ sầu ngâm cũng chán,

                        Vài be rượu nhạt uống ra gì.

                        Thôi về Tiên, Phật cho xong quách!

                        Đù ỏa trần gian sống mãi chi!

 

“Năm sáu đời vua thật thật chóng ghê!” Sao mà nó giống cái thời đại của mình đến như vậy. Chưa đầy bốn mươi tuổi mà đã trải qua bao nhiêu chế độ: Thực dân Pháp, Hồ Chí Minh, Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu… Chế độ nào không làm tay sai cho ngoại bang thì cũng bị ngoại bang giật giây điều khiển. Dân tộc mình chỉ có một việc cầm súng ra trận giết nhau chơi…” Tôi than!

-“Cũng là quan quyền, tổng bí thư, chủ tịch, tổng thống, thủ tướng cả đấy chứ. “Cũng hò cũng hét cũng y uông” (3). Bọn mình cũng mang “loon” mang lá, ba mươi tháng Tư bỏ mà chạy! Trò đời thiệt!”

Tôi nói: “Chúng ta cầm súng chống giặc mà yếm thế thì thắng giăc làm sao được! Thật não lòng. “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng, Thì đường trần mưa bay gió cuốn…” Không lý Nguyễn Văn Đông khuyên chúng ta “Giã từ vũ khí”, “bỏ súng mà về?”

-“Ông ta là “người lính văn nghệ” mà bạn. Ông ta còn khá đấy. Dù sao, khi còn trẻ, ông cũng từng cầm súng ngoài mặt trận chớ không tìm một cái bàn “buy-rô” ở văn phòng.”

&

Một lúc, người bạn hỏi tôi:

-“Cuộc nội chiến hồi cuối “Nam Bắc Phân Tranh” với cuộc tương tàn của thế hệ bọn mình giống nhau hay khác nhau gì không?

-“Để tui hỏi “ông” một câu đã. Trước khi tìm hiểu sâu hơn. Tại sao cuộc chiến tranh hồi… Trịnh Nguyễn, “ông” gọi là “nội chiến”, còn bây giờ “ông” gọi nó là “tương tàn”. “Ông” có suy nghĩ gì không?”

-“Hồi đó là ba phe trong nước đánh nhau: Phe Trịnh ở đất bắc, phe Tây Sơn ở Qui Nhơn và phe Nguyễn Ánh. Chỉ có phe Nguyễn Ánh là “cầu viện” ngoại bang. “Cầu viện” chớ không phải làm “tay sai”, “bù nhìn”. Thời đại bọn mình khác chớ! Phe nào cũng có ngoại bang ở đằng sau. Phe Hồ Chí Minh thì có “Nga” – Tầu, phe Bảo Đại thì có Tây. Với bọn mình đây nầy. Sau lưng mình là ai? Cụ Diệm chết vì cụ “quên” sau lưng cụ là “cái bóng” của ai? Cụ Diệm “quên” cái bóng của mấy ông tổng thống Mỹ, cái bóng hồng y Spellman, hồng y Agagianian rồi sao! Cụ Diệm sống sót làm sao được!”

-“Vậy thì bọn mình không có lý tưởng gì cả sao?” Tôi hỏi.

-“Ở thời đại bọn mình, mỗi khi bàn tới “điều tâm niệm thứ nhứt” là “Sống phải có một lý tưởng”, trong “Mười Điều Tâm Niệm” của Hoàng Đạo, nhiều khi thật ngại ngùng. Dạy cho học trò cũng ngại ngùng. Mình có lý tưởng gì khi cái bóng sau lưng mình là “thằng Tây”, “thằng Mỹ”. Cụ Diệm không chịu cho Mỹ đổ bộ vào miền Nam rõ ràng cụ có một cái lý rất chính đáng. Nhưng khi thằng Cộng Sản chiếm miền Nam xong rồi, lộ ra cái bản chất độc tài, tàn ác, thì đồng thời, chính tụi nó cũng “làm sáng ra cái lý tưởng của chúng ta”.

Chúng ta chống Cộng Sản Bắc Việt Xâm Lược – bạn nhớ cho tôi sáu chữ đó: “Cộng Sản Bắc Việt Xâm Lược” thì lý tưởng chúng ta là “Bảo vệ độc lập cho miền Nam, bảo vệ Tự do cho đồng bào miền Nam.”

-“Vậy mà mấy chục năm đồng bào miền Nam không hiểu rõ cái tính chất đích thực, cao cả của Quân Đội miền Nam, quân đội Việt Nam Cộng Hòa.” Tôi nói.

-“Có gì khó hiểu đâu. Hồi đó, Cộng Sản mặc bên ngoài cái áo “Dân Tộc Chủ Nghĩa”. Nếu đồng bào nghe chúng nó tuyên ruyền, đi theo chúng nó, thì có nghĩa rằng đồng bào cho chúng chúng ta là “phản dân tộc”. Cái áo đó bây giờ rơi mất rồi, lộ rõ bên trong là “Chủ nghĩa Cộng Sản”, là Mao, là Lê Nin. Có cái gì là dân tộc Việt Nam đâu, thì đồng bào mới thấy quân đội miền Nam là ai?!” Bạn tôi giải thích.

            -“Tự do Độc lập” cho đồng bào miền Nam. Chúng ta chiến đấu cho “Tự do Độc lập”, cho đồng bào miền Nam.”

Tôi nhắc đi nhắc lại hai lần câu đó, để khẳng định mình có lý tưởng khi cầm súng chống lại Cộng Sản Bắc Việt Xâm Lăng miền Nam.

Một lúc, tôi lại hỏi người bạn: “Còn “tương tàn”?

-“Là tàn sát lẫn nhau, là giết nhau mà không vì những mâu thuẫn “nội tại” như hồi “hậu Nam Bắc phân tranh”. Hồi đó giết nhau là vì mâu thuẫn giữa ba phe trong cùng một nước. Còn bây giờ cùng một dân tộc mà giết nhau là vì mâu thuẫn quốc tế, quyền lợi quốc tế. Bọn “quốc tế” khuyến khích, bọn chúng xúi bẫy, bọn chúng dụ dỗ, bọn chúng mua chuộc thủ đoạn, bọn chúng tuyên truyền… Dân mình cũng có lắm người nghe và cứ giết nhau. Chiến tranh ngày trước và bây giờ giống nhau làm sao được?! Mình giết đồng bào mình mà quên rằng “Giết người đi thì ta ở với ai?!”

Trong xã hội miền Nam nầy, mấy chục năm qua, mà nói “lý tưởng” thì khó khăn quá! Ai có lý tưởng? Lý giải đâu có dễ!” Bạn tôi nói.

-“Bọn trẻ có lý tưởng đấy! Thanh thiếu niên thời Cộng Hòa là có lý tưởng đấy. Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa là có lý tưởng đấy!” Tôi giải thích.

-“Ông” có làm ở Cục Tâm Lý Chiến của ông Cao Tiêu không đấy!” Bạn tôi hỏi, cười.

-“Cục Tâm Lý Chiến có bao nhiêu “quan to, súng dài”. Vậy mà suốt một “Mùa Hè Đỏ Lửa” có bao nhiêu người “hy sinh ngoài chiến trường” ngoài một mình trung sĩ Trần Văn Nghĩa. Sĩ quan ra trường, chạy chọt về cục Tâm Lý Chiến để có một chữ “thọ”, để làm thơ, cua gái, ngồi vách đốc củ tỏi ở La Pagode, có biết “súng đạn” là cái gì đâu! Bạn hãy thử so sánh đi. Cái gọi là Quân Đội Quốc Gia so với Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa khác nhau xa đấy chứ. Rõ ràng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa là một quân đội có lý tưởng. “Bình Long anh dũng”, “Kontum kiêu hùng”, “Trị Thiên vùng dậy” không phải là câu ông Thiệu nói phịa để ca ngợi phe ta! Có bao nhiêu người hy sinh một cách anh dũng trên các chiến trường ấy.” Bạn tôi giải thích.

-“Có người nói với tôi đó là cái công lớn nhứt của cụ Diệm đấy. Biến một đội quân gốc gác là những người đi lính cho Tây “khố Xanh”, “khố Đỏ” thành một đạo quân trẻ có lý tưởng bảo vệ Tự do là một công việc đâu có dễ, phải không?” Tôi nói.

-“Ông ta có thời cơ! Đặt bút ký vào hiệp định Genève chia đất nước làm đôi, Cộng Sản Việt Nam lộ rõ cái bản chất phi nghĩa của chúng. Thành ra, chính nghĩa thuộc về miền Nam. Người miền Nam, quân đội miền Nam đứng về phía đất nước, dân tộc.” Bạn tôi giải thích.

-“Nhưng trong cái miền Nam anh nói, có biết bao nhiêu những “con ngựa hoang”! Tôi nói, cay cú,

-“Lịch sử mà bạn. Lịch sử mà “bạn”.  – Anh ấy lặp lại – “Bạn” có nhớ câu trong “Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống” (4) không? Một người bạn của ông Nhu hỏi ông ta: “Anh làm cách mạng cái gì khi cán bộ của anh là những tên đội Khố Xanh, Khố Đỏ, tri phủ, tri huyện từng theo Tây, theo Nhựt?” “Ông” có biết ông Nhu trả lời sao không? “Lịch sử chỉ cho chúng ta chừng đó!” Rồi ông Nhu mở “trại học tập” cho mấy ông cao cấp ấy ở Suối Lồ Ồ. Kết quả là người ta dùng xe M-113 đi đón anh em Nhu – Diệm để giết cho kín.

-“Vâng! Lịch sử là vậy! Chỉ có chừng đó. Nhưng người ta không được phê phán họ hay sao?”

-“Cá nhân mà “bạn”! Nhân vô thập toàn. Không lý chỉ có mình yêu nước mà người khác không yêu nước. Đó là quan điểm của bọn Huế “ngụy ái quốc”, một bọn Huế khá đông, trong đó có cả Trịnh Công Sơn đấy! Mình nhớ “anh chàng Lê Thêm, học đệ Tứ với mình ở “Khải Định nhỏ”. Hỏng trung học, anh ta vô Cảnh Sát. Gặp thời đám “Mật thám Tây” cũ, trước không dám vô ra nhà “cậu”, sợ Tây! Khi cụ Diệm làm tổng thống, đám nầy bu lại nhà cụ đông như kiến. Ông Thêm nhờ ông anh là đệ tử ruột của “cậu” nên anh ta được làm “thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa Huế”. Mỗi ngày đi làm, anh ta có xe Jeep đưa đón. Xe đi ngang cổng sau trường Quốc Học, thấy bọn mình lớ ngớ chờ giờ mở cổng, anh ta nhăn mặt vì bọn học trò làm cản trở xe anh ta. Anh ta còn mắng: “Tới giờ nầy mà vẫn chưa có tinh thần cách mạng!” Bọn mình nhiều đứa không hiểu anh ta mắng cái gì.”

-“Moa” gặp anh ta ở trại cải tạo Z30-A. Anh về sớm, trước mình hơn 5 năm.”

-“Bị tội gì mà về sớm vậy?” Bạn tôi hỏi.

-“Can tội “Thượng sĩ Cảnh Sát An ninh cơ sở”!

-“An ninh cơ sở” là cái gì?

-“Bây giờ Việt Cộng gọi là “Bảo vệ” đấy! Bảo vệ cơ quan mà!”

-“Bảo vệ cơ quan” sao gọi là “An ninh cơ sở?”

-“Bệnh “nổ” mà “bạn”. Pháo Gò Vấp hay Điện Quang gì đó mà!

-“Tui thông cảm “ông” cũng như nhiều người khác, cũng như ông Ngô Đình Nhu ở chỗ phê phán những ông quan Nam Triều, “đại thần”, “thượng thư”, “phụ chánh”, “tri phủ”, “tri huyện”, “khố xanh”, “khố đỏ”, “mật thám Tây”… như trong câu chuyện ông vừa kể. Chính Dương Thiệu Tước cũng phê phán như thế đấy.”

-“Dương Thiệu Tước mà làm chính trị?” Tôi hỏi.

-“Chính trị đâu! Trong “Đêm Tàn Bến Ngự” đó mà.”

-“Moi” không hiểu!” Tôi nói.

-“Không lý “ông” “đàn gãy tai trâu”? Bạn tôi cười. “Hát đi sẽ thấy.” Rồi anh ta hát nho nhỏ: “Ai luyến, ai tiếc khúc ca Tần Hoài!”

-“Tần Hoài” thì đâu chỉ một mình Dương Thiệu Tước. “Tâm tình của Huế”, “Tâm tình người Huế” đấy! Nhớ không?” (5)

-“Tôi nhớ hình như Tạ Ký cũng có nói ý đó! “Giã nhau dùng tiệc thật say. Tội gì ngâm khúc “Hậu Đình” mầy ơi!” Tôi nói.

Người bạn nói: “Tạ Ký nói gì lạ! Sai rồi. “Thương nữ (mới) bất tri vong quốc hận”. Còn chúng ta, ai lại không phẩn xúc như Đỗ Mục. Người ta, nhất là người Huế, từ người thợ, người thầy, đến chị bán chè bán cháo, không ai không biết “Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm”! Không ai quên Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân được? Trịnh Công Sơn học trường Tây, đọc sử Tây, ai chỉ cho anh ta thấy mối hận mất nước mà viết câu “Một trăm năm đô hộ giặc Tây!” Người Huế khi biết khôn là biết chuyện mấy ông vua mất nước.” Anh bạn nói, sôi nổi.

-“Hồi đi học, thầy giáo có nói “lịch sử là bài học”, bây giờ ngó lại, thầy nói không sai!” Tôi nói.

-“Ví dụ?”

-“Cuộc chiến tranh “hậu Nam Bắc Phân Tranh”, cuộc chiến tranh của thời đại chúng ta, chiến tranh thời “hậu thực dân Pháp” chẳng hạn, là những bài học hay lắm. Ngồi mà nhìn lại, vừa thấy đau khổ cho mình, cho đất nước mình, oán hận cũng có, than trách cũng có. Ai trong bạn mình, còn chút lương tâm, không nghĩ tới Phạm Thái mà thương thân. “Năm bảy năm nay cứ loạn ly, Cảm thương thân thế lỡ qua thì.”

Vừa đọc xong hai câu thơ, bạn tôi hỏi:

-“Đâu phải “năm bảy năm”. Đó là cách nói biểu tượng mà thôi. Cuộc nội chiến thời Tây Sơn kéo dài bao nhiêu năm, phải tính từ 1773 khi anh em Nhà Tây Sơn cướp thành Bình Định, đến Nguyễn Ánh “thống nhứt sơn hà”, lên ngôi vua năm 1802 là bao nhiêu năm? Còn như cuộc chiến tranh nầy, kể từ khi “Việt Minh cướp chính quyền” tháng 8 năm 1945, tới khi Cộng Sản chiếm Saigon, tháng Tư/ 75, cũng chẳn chòi ba mươi năm. “Toi” có thấy ai làm một cuộc tổng kết, so sánh hai cuộc chiến tranh nầy, để thấy nó giống nhau, khác nhau như thế nào?”

-“Giống thì có giống đấy. Khi “bạn” khoái đọc “Tiêu Sơn Tráng Sĩ”, khoái “Quang Ngọc”, “Nhị Nương”, mê “Sơ Kính Tân Trang” là thấy cái giống nhau giữa họ và chúng ta rồi.” Tôi trả lời.

-“Nói như thế là “bạn” đứng ở lập trường “giai cấp thống trị” mà nhìn, cách nhìn của giới “sĩ phu”, nhất là sĩ phu Bắc Hà. Tôi ở với Cộng Sản hơn mấy chục năm nay, đôi khi cũng nhìn méo mó vấn đề theo lăng kính “đấu tranh giai cấp” nên nhìn vào tầng lớp bị trị, vào nông dân, vào thôn quê. Thôn quê là nền tảng của xã hội Việt Nam, xưa cũng như bây giờ. Không có con trâu, không có cái cuốc, cái cày, dân tộc nầy bị diệt vong từ lâu!”

-“Ông” nói tôi nhớ câu người làng trả lời ông Trần Tiêu. Ông Trần Tiêu ngồi ở “quán nước đầu làng” than thở, muốn viết một cuốn tiểu thuyết mà không biết viết cái chi. Người làng bảo thì cứ “con trâu” mà viết. Dân ta phần dông làm nghề nông. Làm nông thì phải có con trâu. Viết về con trâu là viết về nông dân nước ta. (6)

-“Tôi muốn hỏi anh về việc so sánh hai cuộc chiến tranh bọn mình vừa nói. Theo tôi nghĩ, việc Tây Sơn, Nguyễn Ánh với đánh dẹp Chúa Trịnh ở Bắc Hà là nội chiến. Còn như Quang Trung đại phá quân Thanh là công việc chống ngoại xâm. Nó khác với cuộc chiến tranh hồi “hậu thực dân”. Bọn Tây thua trận rồi, ở bên nước nó thì đầu hàng Đức, ở Đông Dương thì đầu hàng Nhựt, vậy mà chưa chịu bỏ tham vọng đô hộ nước ta một lần thứ hai nữa. Bọn chó chết thật.”

-“Bọn chó chết ấy là ai?” Tôi góp ý. “De Gaulle, Leclerc, Bollaert… Nhưng đâu chỉ có Tây mà thôi!”

-“Bọn cường quốc bạn à. Ban đầu, mình tưởng Mỹ ngon, sau đó thì Truman dở ẹt. Nước Anh cũng chẳng tốt lành chi. Cả một bọn quốc tế: Nga, Mỹ, Pháp, Anh, Tàu, “Tầu Tưởng” cũng như “Tàu Mao” hè nhau mà xé nát nước ta ra, gây nên cuộc chiến tranh 30 năm. Bao nhiêu người yêu nước, hang triệu người, già cũng như trẻ, chết đi một cách oan uổng.”

-Vậy thì cuộc chiến tranh nầy đâu phải là “nội chiến” như hồi Tây Sơn khởi nghĩa.” Tôi nói như than vản.

-“Người ta gọi đủ thứ tên hay ho, nghe rất bùi tai: “Chiến tranh ủy nhiệm”, “Chiến tranh ý thức hệ”, “Chiến tranh Quốc Cộng”, “Chiến tranh thế giới thu hẹp”… Tào lao hết!”

-“Theo “ông” thì nên gọi bằng gì cho nó đúng?” Tôi hỏi, có ý đùa.

-“Chiến tranh tay sai” chớ chiến tranh gì? Phe nào cũng là tay sai cả thôi!

Người bạn tôi lại nói:

-“Ông” phải nhìn lại vấn đề từ nguyên thủy, từ những ông cố đạo Tây phương đi giảng đạo ở các nước châu Á từ thế kỷ 18. Tôi không rõ ở Tàu, ở Nhựt thì sao, nhưng ở nước ta, ngoài việc đi giảng đạo, theo sau lưng họ là “đèn khai hóa rạng khắp hoàn cầu”, là “văn minh Tây phương”, là “khoa học kỹ thuật” là “ách đô hộ” của thực dân Pháp, Y Pha Nho với sự tiếp tay của những tên “thực dân mặc áo thầy tu” như giám mục Pellerin, giám mục LeFevre, giám mục Huc, là tham vọng “Thiên Chúa giáo hóa” nước ta của Bá Đa Lộc và những tu sĩ Thiên Chúa Giáo thời kỳ sau đó.”

-“Đây là một vấn đề hết sức phức tạp. Đạo Thiên Chúa ở nước ta, có công lớn trong các lãnh vực văn hóa, giáo dục, từ thiện, là nơi ẩn náu, che chở cho những người chống Cộng đang bị Việt Minh tìm giết hồi các năm 1945, 46. Về sau, Thiên Chúa Giáo và thành phần Quốc Gia có chung mục tiêu chống Cộng. Thành ra, người ta không thể phê phán bằng một hai trang giấy báo. Theo tôi, tôi hy vọng sau nầy, phải có cả một ủy ban hay một hội đồng chuyên môn nghiên cứu về lịch sử nước ta thời kỳ “hậu thực dân” mới có đủ khả năng làm công việc nầy.” Tôi nói.

-“Vâng! Tôi đồng ý với bạn. Bọn mình nên tránh, không bàn tới thì hay hơn.

&

Như vậy là tôi hiểu sự khác nhau giữa hai cuộc chiến tranh nầy. Cái trước là nội chiến: Người Việt đánh nhau. Bọn Tầu Tôn Sĩ Nghị mon men xâm lăng, chưa làm được gì thì đã bị đuổi, bị đánh tan tác. Còn như cuộc chiến tranh nầy, nội chiến gì nữa. Cả một bọn đế quốc, xanh cũng như đỏ, đứng phía sau làm đủ trò, để cho người Việt nầy đánh nhau ba mươi năm. Hèn chi tôi có người bạn, vượt biên, tình cờ gặp nhau ở Bidong, hỏi muốn định cư nơi đâu, anh ta nói chẳng muốn đi đâu cả. Mỹ, Pháp, Tàu, Nga… “tên” nào cũng làm hại dân ta cả. Cuối cùng, anh ta định cư tuốt ở Tân Tây Lan, quốc gia mà anh ta rằng “nhẹ tội nhứt” đối với dân tộc Việt Nam.

Hậu quả của cuộc chiến tranh trước, vì “hoài niệm Lê Triều” mà sĩ phu Bắc hà chia làm hai phe: Một phe theo phò Gia Long, phục vụ triều đình Huế, một phe còn “hoài vọng” nhà Lê. Sau việc hài cốt vua Lê Chiêu Thống được rước từ bên Tàu về, vương triều nhà Nguyễn đã vững vàng, thì cùng ra làm quan cho nhà Nguyễn cả. Coi như đó là một sự “hòa hợp hòa giải” ở phía Bắc. Còn ở phía Nam, không ít người Qui Nhơn vào Nam trốn tránh sự trả thù của Gia Long. Ở Nam Bộ có câu ca dao “Rồng chầu ngoài Huế, Ngựa tế Đồng Nai. Nước sông xanh sao lại chảy hoài, Thương người xa xứ lạc loài đến đây!” Ấy là nỗi lòng của người định cư trước, những lưu dân vào Nam tìm đất sống, hay số quan quân bị bỏ lại thời “Gia Long tẩu quốc” với người dân Bình Định sợ Gia Long trả thù mà tìm đến đây sau! Đó cũng chính là sự “hòa hợp hòa giải” dân tộc của người Việt phương Nam.

Đem ý ấy mà nói với người bạn; người bạn nói: “Bây giờ thì chịu!” Anh ấy giải thích: Căn bản của cuộc chiến tranh nầy là gì? “Ông” biết không?” Anh ta nói tiếp:

-“Thứ nhất là hận thù. Không phải hận thù Bắc Nam như ngày xưa mà “hận thù giai cấp”. “Hận thù giai cấp” là một thứ hận thù độc địa và tàn ác hơn hận thù người Nam người Bắc hàng vạn lần. “Ông” biết vụ Cát Hanh Long chớ gì? (7). Hận thù đến như vậy là tận cùng của cái ác: Xử bắn cả người đã giúp đỡ và nuôi nấng mình khi mình còn hoạn nạn, còn “xấc bất xang bang”. Nhà bà “Cát Hanh Long” đón tiếp, cho ăn, cho ở… từ Hồ Chí Minh đến Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt… Vậy mà chúng nó hè nhau đem bà Cát Hanh Long ra xử bắn. Tán tận lương tâm đến thế là cùng. Vô ơn bất nghĩa đến thế là cùng. Tàn ác đến thế là cùng. Đâu chỉ riêng bà ấy. Dân tộc nầy, “đồng bào” nầy, từ Bắc chí Nam đều bị bọn Cộng Sản đối xử như vậy cả đấy! Hận thù ngút trời như vậy thì “hòa hợp hòa giải” gì được ông ơi!”

-“Còn một điều nữa! “Ông” có biết không? Rất quan trọng!” Người bạn hỏi.

-“Điều gì?”

-“Chống Cọng!”

-“Ai chẳng chống Cộng!” Tôi nói.

-“”Cậu mà cũng vậy! Cộng đâu còn mà chống! Ở Việt Nam nầy đâu còn Cộng mà chống?” Anh bạn trả lời.

-Vậy thì bọn ở Bắc Bộ phủ là bọn gì?” Tôi hỏi.

-“Phải tìm một cái tên mới mà gọi chúng! “Chính danh” mà “bạn”! Chúng nó là gì? Cai trị người dân như thế thì gọi chúng là cái gì? “Bạo chúa” phải không? Ngày xưa, ở mỗi nước, bạo chúa chỉ có một. Neron, kẻ đốt thành Rome là một tên bạo chúa! Tôi hỏi “bạn”. Ngày nay, bao nhiêu tên đốt nhà dân, cướp đất của dân? “Bạn” tính đi! Ở “trung ương” bao nhiêu tên cướp nhà cướp đất của dân? Tổng bí thư! Bộ Chính Trị! Ủy viên trung ương đảng! Có tên nào mà bàn tay nó sạch? Có bao nhiêu tên đi rửa tay như Phi-La-Tô sau khi xử tội chúa Giê-Su? Còn ở địa phương? Bí thư? Chủ tịch? Tên nào là không bạo chúa ở lãnh địa của nó? Bạo chúa đời bây giờ là “bạo chúa tập thể”, không phải chỉ có một tên bạo chúa như Néron của thời kỳ La Mã, không phải chỉ có một mình “cậu” là “lãnh chúa miền Trung”. Bây giờ là một bọn “bạo chúa”, một “đảng bạo chúa”, từ trung ương đến địa phương. Người dân làm sao sống nỗi, “bạn” ơi!

Nói xong, người bạn bỏ đi, như có ý chê trách hay hờn giận tôi!

Tôi ngồi lại một mình, thở dài!

hoànglonghải

 

(1)-Vào thành

Vào thành ra cửa Ðông
Xe ng
ựa chạy tứ tung
Vào thành ra c
ửa Tây
Sa g
ấm rực như mây

Vào thành ra cửa Nam
Áo mũ đ
ỏ pha chàm
Vào thành ra c
ửa Bắc
Mưa gió đen hơn m
ực

Dạo khắp trong với ngoài
Ðàn đ
ịch vang tai trời
Ðau lòng có m
ột người!
Hỏi ai? Ai biết ai?

Phan Bội Châu

 

(2)-Theo truyền thuyết, Đặng Trần Thường và Ngô Thời Nhiệm là bạn từ thuở nhỏ. Đặng bỏ xứ rốn vào Nam theo phò Nguyễn Ánh; Ngô Thời Nhiệm theo Tây Sơn. Cả hai đều làm quan to, có xích mích với nhau từ trước.

Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua (Gia Long), thống nhứt sơn hà, bèn trị tội các sĩ phu Bác Hà theo Tây Sơn. Đặng Trần Thuờng lãnh nhiệm vụ “trừng phạt” ấy.

Để trả thù mối “hận” cũ, Đặng Trần Thường cho lính đánh roi Ngô Thời Nhiệm ở Văn Miếu Hà Nội – roi có thẩm thuốc độc để giết Ngô Thời Nhiệm. Trích dẫn ở trên là những lời đối đáp của hai người trước khi Ngô Thời Nhiệm bị đánh roi.

 

(3)-Hát tuồng – Trần Tế Xương

Nào có ra chi lũ hát tuồng

            Cũng hò, cũng hét, cũng y uông

            Dẫu rằng dối được đàn con tr

            Cái mặt bôi vôi nghĩ cũng buồn

 

(ghi chú của người chép lại: Bất cứ thời đại nào, bọn thống trị cũng chỉ là lũ hát tuồng)

(4)“Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống” tác phẩn viết về Đệ Nhứt Cộng Hòa và tổng thống Ngô Đình Diệm của Lương Khải Minh và Cao Vị Hoàng. (LKM là bút danh của BS Trần Kim Tuyến/ CVH là bút danh của GS Cao Thế Dung).

(5)-Huế có thú chơi đò trên sông Hương, xuất hiện từ thời nhà Nguyễn. Đêm đêm có những con thuyền neo giữa lòng sông. Trên thuyền có những ca nữ và nhạc công, ca hát những bài ca theo điệu Nam Bình, Nam Ai, Bình Bán… Đây là thú “tiêu khiển văn nghệ” của “giai cấp thống trị” Huế, cũng như “hát cô đầu” ở Hà Nội. Nó không giống với “Quan họ Bắc Ninh” hay “Đờn ca tài tử” ở Nam Bộ, có tính chất dân dã hơn.

(6)”Trần Tiêu là em nhà văn Khái Hưng (Trần Khánh Giư) trong Tự Lực Văn Đoàn.  Ông làm giáo viên, được ông anh khuyến khích viết văn. Một hôm, ngồi ở quán nước với dân làng, ông ta nói với người dân anh ông biểu ông viết truyện mà khôngbiết viết truyện chi. Có người biểu ông cứ “Con Trâu” ở trước mắt mà viết. Do đó, tiểu thuyết đầu tay của Trần Tiêu là “Con Trâu”, viết về dân quê nước ta.

(7)-Bà Cát Hanh Long tức bà Nguyễn Thị Năm, ở Thái Nguyên. Bà là người bị giết đầu tiên, tháng 9 năm 1953, trong cái gọi là “Cải Cách Ruộng Đất” của Cộng Sản Việt Nam. Trong “Đèn Cù”, Trần Đỉnh kể lại, chính Hồ Chí Minh, lấy khăn che râu để ngụy trang đi xem cuộc “đấu tố” bà, người Hồ từng chịu ơn.

 

Phụ lục: Lời bài hát “Ngựa hoang”

Ngựa hoang nào dẫm nát tơi bời

Đồng cỏ hoang nào, xanh ngát lưng trời

Giữa cánh đồng, dưới cơn dông

Vì trên lưng cong oằn

Những vết roi vẫn in hằn

Một hôm ngựa bỗng thấy thanh bình

Thảm cỏ tình yêu dưới chân mình

Ân tình mở cửa ra với mình

Ngựa hoang bỗng thấy mơ

Để quên những vết thù
Ng
ựa hoang muốn về tắm sông nhẫn nhục

Dòng sông mơ màng mát trong thơm ngọt

Ngựa hoang quên thù oán căm

Từ nơi tối tăm, về miền tươi sang!

Ngựa hoang về tới bến sông rồi

Cởi mở lòng ra với cõi đời

Nhưng rồi ngựa hoang chết gục

Vì trên lưng nó ơi!

Còn nguyên những vết thù!

“Cơn mê chiều” của Nguyễn Minh Khôi

(bài hát nói về Huế năm Mậu Thân)

Chiều nay không có em, mưa non cao về dưới ngàn
Đàn con nay l
ớn khôn mang gươm đao vào xóm làng
Chi
ều nay không có em, xác phơi trên mái lầu
Một mình nghe bu
ốt đau, xuôi Nam Giao tìm bóng mình
Đư
ờng nội thành đền xưa ai tàn phá ?
C
ầu Tràng Tiền bạc màu loang giòng máu
Hương Giang ơi thuy
ền neo bến không người qua đò
M
ột lần thôi nhưng còn mãi …
Và chi
ều nay không có em, đường phố cũ chân mềm

Tôi là người khai hoang đi nhặt xác mình, xác người
Cho ruộng đồng xanh màu, cho đám m
ới lên cao
Và ngư
ời ơi xin chớ quên, người ơi xin chớ quên

Đường vào thành, hàng cây trơ trụi lá
Đ
ồi Ngự Bình thịt xương khô sườn đá
Kim Long ơi, b
ờ lau ngóng, chuông chùa tắt rồi
Một lần thôi nhưng còn mãi
Và chi
ều nay không có em, đường phố chẳng lên đèn

Tôi là người trong đêm, mang ngọn đuốc về nội thành
Xin làm ngư
ời soi đường đi xóa hết đau thương
Và ngư
ời ơi xin chớ quên, người ơi xin chớ quên

 

“Nợ Xương Máu” (Phạm Duy)

Giờ đây xương máu đã phơi đầy đồng
Giờ đây máu h
ồng đã nhuốm non sông.
Ai nghe không sa trư
ờng lên tiếng hú
Ti
ếng lầm than, những tiếng người đời quên
Đi lang thang, ti
ếng cười vang rú
Xác không đ
ầu nào kia
ời lên tiếng máu xé tan canh trường:
Nợ nần máu xương, ai đã tr
ả xong?
Lá r
ụng tơi bời
Đoàn quân ti
ến qua làng
T
ừng thanh kiếm đứt ngang
Từng lớp áo rách mư
ớp
Từng cánh tay r
ụng rời
Qua làn mây tr
ắng
Đoàn quân ti
ến về trời
Ầm rung tiếng sa trường
Như nhắn nhủ người trai mài ki
ếm dưới trăng.
Ai nghe không ti
ếng cười vang the thé
Ti
ếng người la, những tiếng rồn rập ca
Ai lang thang, tiếng cười lên ch
ới với
Xác không đ
ầu mà vui.
Ngư
ời đi chiến đấu, xác rơi ngoài đồng.
Nợ nần máu xương, ai n
ấy trả xong!

 

Bạc Tần Hoài

(Đỗ Mục – Vãn Đường)

 

Yên lung, hàn thủy nguyệt lung sa

Dạ bạc Tần Hoài, cận tửu gia

Thương nữ bất tri Vong Quốc Hận

Cách giang do xướng “Hậu Đình Hoa”.

 

Uống đi mầy! Chén ly bôi

Rồi mai mầy nhớ chiều nay xa nhau!

Có gì đâu nghĩa gì đâu

Khi xưa Kinh, Tiệm như tao với mày

Giã nhau dùng tiệc thật say,

Tội gì ngâm khúc “Hậu Đình” mày ơi!

(Trích Tạ Ký)

 

Ai luyến, ai tiếc khúc ca Tần Hoài!

(Trích “Đêm Tàn Bến Ngự” – Dương Thiệu Tước)

 

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch

Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma

Cảm hoài/ Đặng Dung)

 

Tự thuật

(Phạm Thái)

            Dăm bảy năm nay những loạn ly,

            Cảm thương thân thế lỡ qua thì.

            Ba mươi tuổi lẻ là bao chốc,

            Năm sáu đời vua thật chóng ghê!

            Một tập thơ sầu ngâm đã chán,

            Vài be rượu nhạt uống ra gì.

            Chết về tiên phật cho xong quách,

            Đù ỏa trần gian sống mãi chi!           

                                                              

[post_connector_show_children slug=”v%e1%bb%81-n%c6%b0%e1%bb%9bc-th%e1%ba%a5y-g%c3%ac-ngh%c4%a9-g%c3%ac” parent=”29506″ link=”true” excerpt=”false”]