“Hòa hợp, hòa giải… dân tộc”.

Thành ngữ “hòa hợp…” nầy trước 1975, Việt Cộng nói ra rả trên đài… của họ, nghe mãi cũng chán. Hồi ấy người miền Nam cũng chẳng ai buồn nghe. Sau 1975, sau khi vô tù rồi, vài ba anh chàng “cải tạo viên” nhắc lại “hòa hợp, hòa giải…” để may ra có nó, “cách mạng” tha cho về sớm với vợ con. Lại cũng có người dứt khoát, biết rõ thân phận “kiến trong miệng chén có bò đi đâu” (Kiều), gắng “an tâm học tập cải tạo” cho xong, hát thầm câu ca “Còn gì nữa đâu…”

Vậy mà kỳ về VN, tôi lại hỏi người bạn về “hòa hợp, hòa giải…” Người bạn bèn hỏi tôi:

-“Bộ ở hải ngoại (anh ta dùng “tiếng Saigon cũ”, thay vì dùng “danh từ Việt Cộng là “nước ngoài”) người ta có đặt vấn đề nầy sao?”

Tôi cuời trả lời:

-“Người ngoài nớ đa dạng lắm. Cũng có anh đấu tranh để … hòa hợp. Biết đâu, mai mốt vì sức ép của Mỹ, Việt Cộng sẽ gọi về chia cho cái ghế… ba chân.”

-“Mấy thằng ngủ mê!” Người bạn tôi chê họ. “Ở ngoài đó, Việt Cộng nói gì tao không biết, nhưng ở trong nước, trước kia cho tới bây giờ chúng nói vẫn gọi “bọn ngụy”, “ngụy quân, ngụy quyền”, “bọn bơ thừa sữa cặn”, “tay sai đế quốc Mỹ”, “bán nước”v, v… chớ có gì khác đâu!”

Tôi hỏi: “Khi nào cũng vậy?”

-“Khi họp hành, “mít-tin” thôi. Nhưng nói ít đi. Còn như trong sinh hoạt hằng ngày ngoài đường phố, chúng nó tránh. Quyền lợi mà! Dù gì Việt Kiều về nước cũng có đem về ít nhiều đô la. Gặp Việt Kiều “canh me” (1), không quan hệ gì chế độ cũ cả, thì chúng nói sao cũng được. Còn như mấy ông chế đô cũ về, HO… chúng nó tránh những tiếng nặng nề, sợ mất lòng mấy ổng, mất quyền lợi chúng nó sao! Ngoại trừ…” Tôi cướp lời người bạn:

-“Khi chúng nó bắt!”

-“Đúng!” Người bạn cười. “Khi chúng nó bắt mấy ông vô đồn Công An, chúng sẽ xài đầy đủ và đúng “chữ nghĩa tuyên truyền.”

-“Vậy thì “hòa hợp” cái con mẹ gì được?” Tôi than!

-“Mày nói nghe dễ”. Bây giờ, nếu bọn chúng to mồm hô hào “hòa hợp hòa giải…” cũng không tin được. Nói chi, hiện tại, báo đài chúng nó có nói năng gì tới việc đó đâu!” Người bạn nói.

Tôi hỏi: “Vậy theo ông nghĩ, khi nào cúng sẽ kêu gọi hòa giải?”

-“Khi nào thì mình cũng phải đề phòng!”

Tôi cười:

-“Ông thay đổi nhiều thật. Hồi xưa có bao giờ ông nói tới chuyện chính trị đâu! Ngay cả thời “Tranh đấu Phật Giáo”, cả thành phố Huế đi biểu tình chống Ngô Triều, tui tới nhà ông, thấy ông đang ngồi “mài mấy ông tướng” (2)

-“Ở với tụi nó khác ông à. Dưới cái chế độ nầy, lúc nào cũng phải lo gạo, lo rau. Có thì giờ đâu mà lo chuyện chính trị. Cũng may, từ hồi cởi trói, tụi nó có muốn xiết cái bao tử của dân (3) cũng không còn xiết được nữa rồi. Nhờ đó mà tao mới ngo ngoe trong chăn đươc, để biết chăn có rận. Bây giờ tao hơn mầy nhiều lắm. “Kinh nguyệt (4) đầy mình”.

-“Vậy mà ông không nghĩ gì tới “hòa hợp, hòa giải”.

-“Sao lại không!” Nhưng khi mình không thấy được cái căn bản, cái nền tảng của nó thì bàn tới nó làm gì?”

“Ông nói tui không hiểu. Căn bản, nền tảng là cái gì?”

-“Không riêng gì người Huế, như thằng Trịnh Công Sơn nó có hát hỏng. Cái đó là truyền thống dân tộc, khắp ba miền đều như thế cả. Ông có biết cái đó là cái gì không?” Người bạn hỏi.

Tôi trả lời liền, gọn lỏn: “Không!”

Người bạn nhìn tôi cười: “Cái đó là “tấm lòng”, là “có lòng”. Nói rộng ra nữa là “lương tâm”, là “Ông Trời”, “Không Trời ai ở với ai!” Tục ngữ nói vậy mà!

-“Ông nói xa vời quá” Tôi trách bạn.

-“Không xa đâu! Nó ở ngay trong lòng mình. “Có lòng” mới thông cảm được nhau, mới hiểu được nhau, mới gần với nhau được mới có “hòa hợp, hòa giải…” Người bạn nói.

-“Ông có thể đưa ra một ví dụ được không! Nói có cụ thể hóa một vấn đề trừu tượng.

Người bạn bỗng hỏi tôi: “Ông đọc cuốn “A Perfect Spy” chưa?”

-“Rồi! Tôi mới đọc trước khi về đây!”

-“Moi” cũng đọc rồi. Nó có nhiều điều hay lắm. Tôi chỉ nói những cái điển hình thôi.”

-“OK” Tôi trả lời.

-“Cái nầy nè! Đọc nó, người ta thấy gì? Trước hết là “tình người”. Cái tình của bọn nhà báo quốc tế đối với Phạm Xuân Ẩn. Đại khái là giúp đỡ; giúp đỡ gia đình ông Ẩn, việc học hành của con ông Ẩn, giúp đỡ bản thân ông Ẩn, v.v…  Cái tình cảm đó, “ông” nhớ, chỉ có ở bọn tư sản mà thôi. Bọn Cộng Sản không có. Bọn chúng là “cách mạng triệt để”, làm gì mà có chuyện giúp đỡ cho địch, cho kẻ thù. Cũng hô hào nhân đạo đấy, nhưng chỉ là nhân đạo cho người của phe ta, phe ta. Người “ngoại đạo” thì đừng hòng! Đúng không?”

-“Chăm phần chăm, đồng ý với bạn.” Tôi đùa mà thật lòng.

-“Vậy thì Phạm Xuân Ẩn cứu Trần Kim Tuyến là vì gì?” Người bạn lại hỏi.

-“Cái nầy khó nói đa! Phạm Xuân Ẩn là tên “Việt Cộng nằm vùng”. Không lý ông ta có cái “bản chất tiểu tư sản”?

-“Cái “lắc léo” trong cuộc đời Phạm Xuân Ẩn là ở chỗ đó.

-“Nó giống như phê bình văn học: Thân thế và sự nghiệp tác giả. Bọn mình thử xét qua cái thân thế Phạm Xuân Ẩn. Các đời vua thường tập trung những người có tài về kinh đô để phục vụ cho chế độ, cho hoàng gia: Thợ rèn thì lo rèn gươm giáo, khí giới; thợ may thì may áo quần; thợ giày thì đóng giày dép, thợ vàng thì lo làm đồ trang sức. Tổ tiên Phạm Xuân Ẩn thuộc làng Kế Môn, huyện Phong Điền…”

-“Tỉnh Thừa Thiên? “Làng thợ vàng?” Tôi hỏi.

-“Đúng!”

-“Nhưng ông Ẩn sinh ở Biên Hòa?” Tôi lại hỏi.

-“Có người tiếp tục làm nghề vàng. Nhờ sống ở kinh đô, có cơ hội đi học, có người thi đổ ra làm quan.” Người bạn giải thích.

-“Cha ông Ẩn có làm quan?” Tôi hỏi.

-“Quan mà quan to đấy. Cũng từ đó mà có lòng yêu vua. Yêu vua là yêu nuớc. Từ đó mà theo kháng chiến!”

-“Theo Việt Minh?” Tôi lại hỏi.

-“Ông Ẩn, do lòng yêu nước mà theo nhiều cái: “Thanh niên Tiền Phong”, “Nam Bộ Kháng Chiến”, theo “Việt Minh”, theo “Việt Cộng”!

-“Theo Công Sản! Tao biết mà!” Tôi oán.

-“Cụ mày” đọc Vũ Thư Hiên Chưa? Những người thuộc thế hệ như bố ông Hiên, biết mẹ gì Cộng Sản, chủ nghĩa Mác mà theo. Nhìn chung, như người hồi ấy thường gọi là “làm cách mạng” thôi, tức là chống Tây, giành độc lập. Dòng dõi như thế, học hành như thế, hoàn ảnh đất nước như thế, có theo Cộng Sản cũng chỉ là vì lòng yêu nước, rồi bị lợi dụng. Về vùng Quốc Gia sớm, lại du học Mỹ, ông ta biết đất nước Mỹ là cái gì chớ, mặc dù Cộng Sản chi tiền cho ông ta du học. Ông ta bị ràng buộc quá nhiều với tinh thần dân tộc, văn minh Âu Mỹ, “Thế giới Tự Do”. Cộng Sản chỉ là cái thòng lọng tròng vào cổ ông ta. Ông ta có hoạt đông cho Cộng Sản đi nữa thì cũng bởi hai yếu tố tiềm ẩn, một là lòng yêu nước đặt sai chỗ, hai là lòng thủy chung vì ông được Cộng Sản trợ cấp cho du học Mỹ.” Người bạn tôi giải thích.

-“Phức tạp nhỉ?”

-“Theo “moi” nghĩ, cái phức tạp ấy mới là cái hay trong đời ông ta. Những sách báo, phim ảnh của Việt Cộng nói hay viết về ông ta đều sai bét. Sai là vì tuyên truyền. “A Perfect Spy” trung thực hơn. Chỉ tiếc một điều, John le Carré (5) cũng như những tác giả ông ta trích lục không phải là người Việt Nam, thiếu những nhận thức về văn hóa, giai cấp, lịch sử nên nhìn Phạm Xuân Ẩn chưa toàn diện, hoàn hảo.”

Tôi hỏi: “Tác giả Việt Nam thì hay hơn?”

-“Dĩ nhiên. Phải hiểu về dòng dõi ông ta, từ một làng thợ vàng ở ngoài Bắc, mấy đời phục vụ hoàng triều và vua quan ở Huế, mấy đời làm quan với bọn Tây xâm lược rồi hoàn cảnh đất nước sau khi Thế giới Chiến tranh thứ Hai chấm dứt.

-“Cái nầy chắc để cho Trần Gia Phụng. Nhưng Phụng có “vô tư” và “trung thực” không? Tui tin ông nầy hơn Trần Viết Ngạc, với Vũ Ngự Chiêu.” Tôi góp ý.

-“Toi” có nghĩ Phạm Xuân Ẩn là người chống Cộng không?”

-“Theo “moi”, Phạm Xuân Ẩn cứu Trần Kim Tuyến là vì tình người. Cho vợ con di tản hồi ba mươi tháng Tư là “sợ Cộng Sản”, còn như hai lần vượt biên không thành” “sợ Cộng Sản” thật sự đấy! Tôi trả lời.

-“Phức tạp không! Nhìn ông ta một cách đơn giản đâu có được. “Tướng tình báo”, “anh hùng Quân Đội Nhân Dân” là đồ bỏ. Không phải chúng ta bỏ. Chúng ta bỏ thì đâu có nghĩa lý gì! Chính ông ta bỏ mới là vấn đề chứ. “Khi ông ta đưa vợ con đi vượt biên chính là lúc ông ta vứt bỏ cái “lon” thiếu tướng cũng như cái bằng “Anh hùng Quân đội Nhân dân xuống sông rồi!” Phải không?

                        “Rứt cái mề đay ném xuống sông

                         Thôi thôi tôi cũng “mét xì” ông!”                

                                                                                              

Nghe tôi đọc hai câu thơ của Trần Tế Xương, người bạn tôi cười: “Ông Ẩn “mét xì” Cộng Sản rồi đó! Nói cho cùng, trước sau, ông ta không bao giờ là Việt Cộng cả.”

-“Nói vậy thì mình có thể “hòa hợp hòa giải” với ông ta được?” Tôi nói.

-“Nói vậy là sai nữa! “Hòa hợp hòa giải” ở đây là “hòa hợp, hòa giải” dân tộc. Dân tộc Việt Nam. Còn giữa người Quốc Gia với người Cộng Sản, giữa Người miền Bắc xâm lăng miền Nam và người miền Nam bị xâm lăng và thua trận, bị người Bắc vô nam cai trị; giữa người Cộng Sản với Dân Tộc và Tổ Quốc, là nhiều vấn đề khác nhau, nói sao hết. Mình phải đặt thành từng vấn đề một, không nói chung chung được. Tôi lấy ví dụ cho ông xem nầy. Thứ nhứt:

-“Giữa người miền Bắc viễn chinh xâm lăng và cai trị miền Nam thua trận, cái mà Việt Cộng gọi là thống nhứt, – không thống nhứt gì cả, một bên thắng thì cai trị, một bên thua là bị cai trị. Rõ ràng là như thế, thống nhứt con mẹ gì, liệu hai bên có “hòa hợp hòa giải” được không? Thứ hai:

-“Giữa ba triệu đảng viên Cộng Sản là thuộc giai cấp thống trị có “hòa hợp hòa giải” với chín mươi triệu dân thuộc giai cấp bị trị, có “hòa hợp hòa giải” được không? Thứ ba:

-“Ba triệu đảng viên Cộng Sản theo chủ nghĩa Quốc Tế Cộng Sản có “hòa hợp hòa giải” với chín mươi triệu dân theo chủ nghĩa Quốc Gia, Dân Tộc được không?” Thứ tư:

-“Giữa Cộng Sản vô thần có “hòa hợp hòa giải” với các tôn giáo của người Việt Nam được không?” Thứ năm:

-“Giữa đảng Cộng Sản với các đảng phái Quốc Gia có “hòa hợp hòa giải” được không?

Sơ sơ là 5 vấn đề, giải quyết không được thì một bên là Cộng Sản, một bên là Dân tộc, bên nào sẽ cháy? Nói nghe coi!”

Một lúc, người bạn tôi nói tiếp: “Bây giờ ta bàn tới một người miền Nam “Chống Cộng Chân Chính”. “Moi” nói là “Chân Chính”, “Ông biết người đó là ai không?”

-“Cụ Trần Văn Hương!” Tôi trả lời tức thì.

-“Không! Ông Cụ ấy là “ông già gân”. “Dân Nam Bộ nóng tính, dễ gãy! Ta nói tới một người làm tướng mà uyển chuyển hơn, khéo léo hơn, biết lúc cứng, lúc mềm, làm tướng mà có lòng thương lính như anh em, có lòng thương dân như trời biển. Ai? Nói ngay.” Người bạn nói như ra lệnh.

-“Nguyễn Khoa Nam”! “Cậu Tôn”! Chắc chắn là “Cậu Tôn”. Tôi cười, nghĩ rằng mình nói đúng.

Anh bạn hỏi tôi, cười cười:

-“Tại sao ông gọi Tướng Nam là “Cậu Tôn”?

-“Riêng chi mình tui! Ở Huế, từ xa xưa, người ta gọi đám “hoàng phái” làvậy cả. “Cậu Tôn” là nói chung, cả trong văn học, là “Vương tôn Công tử” đấy. “Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ, Chàng há từng học lũ vương tôn.” Câu nầy trong “Chinh Phụ ngâm”. Để tui giải thích “ông” nghe. Ngày xưa, ta cũng như Tàu, những người thuộc tầng lớp vua quan họ có cái trách nhiệm bảo vệ chế độ của họ, không hẳn họ thuộc giai cấp thống trị mà bởi lòng yêu nước. “Trung quân ái quốc” mà! Ông không thấy Trần Quốc Toản sao! Không cho bàn “quốc sự” vì là còn “con nít”, ông ta giận đến nỗi bóp nát trái cam cầm trong tay mà không hay, rồi về nhà tự mình lập một đạo quân “con nít” chống Quân Nguyên, dựng cờ “Phá cường địch, báo hoàng ân” – “Báo hoàng ân” là “Báo đáp ơn vua” đấy. Đến đời ông Nguyễn Khoa Nam, nhắm bộ ông không có cái tâm lý đó hay sao? “Tâm lý Trần Quốc Toản”. Bộ ông ta không biết “Ơn vua lộc nước” theo cái quan điểm thời đại mới hay sao? Ông ta theo gương Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân…đấy!”

“Thật ra, ông thuộc dòng “Vương tôn”. Họ Nguyễn Khoa là một trong những “họ lớn” ở Huế, giống như Thân Trọng, Hoàng Trọng, Hà Thúc… Bên ngoại ông cũng “dữ dằn”. Ai không biết “bác học Bửu Hội”, ai không biết dòng dõi “Tuy Lý Vương”, “Tùng Thiện Vương”, con trai vua Minh Mạng. Tuy Lý Vương là danh sĩ đất thần kinh, là người đứng đầu “Mạc Vân thi xã”. Dòng ngoại là vua; dòng nội là quan. “Anh hoa thoát tiết ra ngoài”. Cái “anh hoa” là từ dòng nội, dòng ngoại của Tướng Nam đấy.

“Hồi nhỏ thì học giỏi. Hai mươi tuổi làm công chức ở Kho Bạc Huế, đỉnh đạc như một người lớn. Tới bữa thì “ăn cơm Tây” ở nhà hàng Morin nổi tiếng nhất nhì ở Huế, có bồi bếp đứng hầu. Đến khi có lệnh động viên thì trình diện nhập ngũ, không trốn tránh trách nhiệm với tổ quốc. Ra trường thì đi “Nhảy Dù”, đơn vị tác chiến. Trong đơn vị thì ăn ngủ, giường chiếu, giày dép… như mọi người lính. Xung trận cũng cùng với lính, không sợ hãi, tìm cách trốn tránh hòn tên mũi đạn. Thật đáng ngạc nhiên vô cùng.”

-“Làm tướng thì chết với thành khi thành mất”. Người bạn tôi góp ý.

Tôi cãi: “Ấy là nói chung chung. Người lính can trường đều như thế cả. Trường hợp tướng Nam, đâu có giản dị như thế. Ông ấy có hai cái khác! “Ông” biết không?”

-“Ông nói đi!” Người bạn đề nghị.

-“Một là”, tôi nói. “Trong 5 ông tướng tự tử hồi ấy, ông là người có quyền hạn lớn nhất: Tư lệnh Quân Khu. Khu vực dân chúng đông đúc và khá giả nhứt: Vùng 4 Chiến Thuật – Vùng “Đồng bằng sông Cửu Long”, hơn tướng Phú ở cao nguyên dân ít, đất rộng. Ông là người có cái “Tâm”. Cái nầy là lớn nhất, quan trọng nhất! Ai cũng biết!”

-“Rồi! Tôi hiểu! “Ông” tiếp đi!” Bạn tôi đề nghị.

-“Giả tỉ như hồi đó tướng Nam tiếp tục đánh nữa, chiến tranh kéo dài thêm một thời gian nữa. Chiến tranh sẽ tàn phá. Thêm lính tử trận. Dân chúng lại chết nữa vì tên bay đạn lạc. Mức độ sẽ đến đâu, đoán được không? Điều quan trọng nhứt: “Đánh nữa” thì được cái gì khi tình thế đã như thế, đã là ngày 30 tháng Tư. Tướng Nam chắc phải suy tính dữ lắm và biết trước tình thế sẽ như thế nào, hơn là “hăng máu” làm liều. Chỉ huy một trung đội, một đại đội, một tiểu đoàn… quyết định thì dễ; còn đây là một quân đoàn, một quân khu. Phải hiểu biết chứ! Tướng Nam quá hiểu điều ấy.”

-“Vậy thì ông ta tự vẫn là để cứu dân, cứu lính, cứu nước.” Người bạn hỏi.

-“Ông ta không hèn nhát đâu, nhưng ông là người có cái “Tâm”, có suy nghĩ, có tính toán.”

Tôi nói tiếp: “Hồi đó, tui đang ở Vùng 4. Ngày 29 tháng Tư, có lệnh phổ biến qua hệ thống truyền tin quân đội, Quân Khu 4 đủ sức “chơi” tay đôi với Việt Cộng. Tướng Nam ra lệnh “tử thủ”, không được bỏ đơn vị, không được bỏ chạy, di tản; có lệnh cắm trại trăm phần trăm. Buổi chiều ba mươi tháng Tư, khi ông Minh đầu hàng, tui không nghe lệnh gì từ Bộ Tư Lệnh Quân Khu 4 hết. Sáng ngày 1 tháng 5, nghe tin tướng Nam tự tử. Tui chưng hửng. Đã nói “đủ sức chơi” tại sao lại tự tử, ai gây áp lực với tướng Nam để ông phải tự kết liễu đời ông?”

-“Mỹ có gậy áp lực không?” Bạn tôi hỏi.

-“Tui không loại trừ việc ấy. Ở miền Nam nầy, mấy chục năm dưới “bàn tay lông lá”, có chỗ nào mà thằng Mỹ không dí lỗ mũi vô. Nó có tiền. Nó chi tiền. Nó tự cho nó là “chủ nhân ông” ở cái xứ sở nó cần tiêu thụ võ khí nầy. Nhưng thử hỏi, một người ở “cửa tử” như bọn mình thôi, đừng nói chi một ông tướng từng vào sinh ra tử, có gì sợ nữa để tuân lệnh thằng nầy, tuân lệnh thằng kia. Ban đầu tui cũng nghĩ như “ông”: Vì áp lực của Mỹ mà Tướng Nam buông súng. Sau đó, tui nghĩ lại, nghĩ về “con người” ông ta, nghĩ về cái chết ông ta, nghĩ về cái “kỷ niệm” của tui đối với ông ta, tui kết luận, Tướng Nam là người không phải như thế. Một người từng tìm hiểu, nghiên cứu kinh Thủ Lăng Nghiêm nhà Phật, một người “ăn chay trường”, một người không chịu lấy vợ – không phải vì PD, một người thương lính, thương dân như thế thì việc ông tự bắn vào đầu chắc chắn không phải vì sợ Mỹ mà chính vì cái “Tâm” của ông! Chắc chắn là như vậy!” Tôi nói một hơi, gần như bị uất, nay mới có dịp nói ra được.

-“Ông” đặt ra một loạt vấn đề như vậy, làm sao tui theo kịp. Bây giờ “ông” nói về “kỷ niệm” của ông với Tuớng Nam đi!” Bạn tôi đề nghị.

-“Có ba chuyện: Một chuyện “Tướng Nam vị tình riêng”, một chuyện “tức” và một chuyện vui.

“Khi tui còn dạy học ở Huế, một hôm có hai anh em ông Bửu Giao, Bửu Viên vào dạy. Hai ông nầy là con cụ Ưng Quả, – anh em khác mẹ với ca sỹ Quỳnh Giao đấy – con nhà quan, một ông du học bên Tây về, mà hình như cả hai đều bị “điện chạm”, khi “xăng-đít”, khi “đơ xăng vanh”. Ông em, ông Bửu Viên, không hiểu sao lại “cáp” tui dữ lắm, thường ghé tui chơi. Nhà ông ta có một cái tủ sách lớn. Thấy tui ưa đọc sách, ông ta đem cho tui mượn một mớ: “Mao Tsé-Tung” của Edgar Snow, “Yalta ou le partage du monde” của Arthur Conte, bộ sách về Hitler và những nhân vật tài ba chung quanh ông ta như Goebbels, tổ sư ngành tuyên truyền, Goering, tổ sư ngành mật vụ, Himmler ông “tử thần” Holocaust; đại khái là như thế. Những sách nầy với Bửu Viên là “đồ bỏ”. Óc ông ta là “thiên kinh vạn quyển”. Nghe ông ta nói chuyện với tui, vợ tui nói “Thầy Viên bị tẩu hỏa nhập ma”, đọc sách nhiều quá mà điên.

Sau Tết Mậu Thân, tui nhập ngũ. Vừa nhập khóa ở “Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung” xong, được cho xuống câu lạc bộ kiếm chi ăn đỡ đói thì gặp Bửu Viên. Tui ngỡ ngàng: “Ông nầy mà đi lính cái chi? Bác sĩ ở Tổng Y Viện Duy Tân Đà Nẵng bộ điên hay sao mà cho ông Viên nhập ngũ; lớ ngớ ông để lựu đạn nổ bậy chết cả đám. Gặp tui ông mừng lắm. Nhìn ông tui thấy thảm: Xưa nay người ông ốm nhom, lại nhỏ con, mặc đồ “treilli” mới lảnh, chưa sửa, rộng thùng thình, thắt một vòng rưởi mới hết cái nịt vải. Đại khái có thể tưởng tượng như Tùng Lâm mặc đồ lính vậy. Rồi quân trường “đì” tui tóe khói, tui quên ông ta. Gần ba năm sau, tui về Huế, tới thăm trường cũ, bạn bè họp mặt đông vui. Hỏi tới Bửu Viên, anh em nói ông ta giải ngũ rồi, ra lính lại điên thêm, không còn dạy học lại được nữa. Có anh bạn kể: “Ra trường, ông ta về Sư Đoàn 7, ông Nam giữ lại ở bộ Tư Lệnh. Mấy lần sau khi họp tham mưu, ông Viên chê Tướng Nam không biết đọc bản đồ. Rồi ông ta giải thích các “phương pháp vẽ bản đồ” như “phương pháp Kauffman”, “phương pháp Mercator”… khiến ai cũng cười mà lắc đầu. Thế rồi bộ Tư Lệnh phải cho ông ra “Hội Đồng Y Khoa”, cho giải ngũ. Ông Viên là “anh em bên ngoại của Tướng Nam”, cũng thuộc dòng Tuy Lý Vương. Bà con gần xa như thế nào, tui không rõ.

Chuyên thứ hai, năm 1974, tui đang ở Hà Tiên. Tui có cây súng Titan nhỏ bằng bàn tay. Mỗi lần về Rạch Giá, đi chơi với bạn bè, tui mặc đồ “xi-vin”, lận cây súng vào thắt lưng, không ai thấy hết, tiện lắm. Vô bàn nhậu, tui móc súng đặt lên bàn: Khoe mà, cho mọi người “lé mắt” chơi. Thiếu tá Trần Văn Trinh năn nỉ tôi, cho mượn: “Tui đang theo dõi bọn buôn bạch phiến, có cây súng nầy, tiện lắm.” Tui cho Trinh mượn. Trinh cũng đem khoe chơi, gặp Philip Đạt từ Phú Quốc về, tước mất. Đòi lại, Philip Đạt nói “Hôm về Cần Thơ đem biếu Tướng Nam rồi.” Người thiệt thòi nhứt là tui, “chủ sự” cây súng. Mất toi bốn chục ngàn mua của ông đại úy Vương bên Trung Đoàn 16.” Tui nghi Philip Đạt nói xạo.

Chuyện thứ ba là một hôm, tui lái xe từ Hà Tiên về Rạch Giá, trên Liên Tỉnh lộ 80. Gần tới xã Mỹ Lâm, tui dặn ba “tà lọt”, một tên ngồi bên cạnh, hai tên ngồi băng sau: “Mấy “ông” canh chừng nghe.”

(Chỗ nầy kế ấp Tà-Keo, điểm “tập kết” của tụi nó trước khi “vượt lộ” ở cây số 15. Hiện thời Tướng Nam ra lệnh chấm dứt chỗ nầy, phải cắt đứt “đường giây 1C” của Việt Cộng. Bị kẹt lại, chúng dễ bung ra khủng bố để khai thông.

“Vừa lúc ấy thì có một chiếc Jeep A-2 đi ngược chiều. Tui vừa tránh xe vừa nhìn sang xe bên đó, thấy một ông mang hai sao ngồi ghế trưởng xa. Ghế sau chỉ có một “tà lọt”. Tôi hỏi trung sĩ Thành ngồi bên cạnh:

-“Ông tướng nào mà đi lang thang vậy mầy? Gan cùng mình!”

-“Chắc là ông Tướng Vùng!” Thành nói.

Tui giật mình. Tướng Vùng là ông Tướng Nam. Tui nói đùa với lính:

-“Tao đại úy, gặp ông Tướng Vùng mà không chào, coi như “ngang nhau”. Ngon lành thiệt! Tao có hai “tà lọt” mà ổng chỉ có một thằng ngồi phía sau!”

-“Ông đi thanh tra đó đại úy. Ông ghé vô từng xã, từng đồn nghĩa quân. Tụi nó chới với vì ổng dữ lắm. Nhiều xã vắng hoe! Có những thằng nghĩa quân ban ngày bỏ đồn về nhà!” Thành giải thích.

Người bạn tôi hỏi: “Ổng ta là “phật tử thuần thành?”

-“Thuần thành gì? Thuần thành là “chăm đi chùa”, mở miệng ra là “thiên kinh vạn quyển”, “Phật dạy” thế nầy, “Phật dạy thế kia”. Ông bà tổ tiên theo Phật thì ông theo Phật, như “truyền thống” nhiều gia đình người Huế vậy thôi. “Đa số thầm lặng” mà! Nhưng ông là người có “nghiên cứu” về đạo Phật. Trong một bài viết của giáo sư Nguyễn Văn Hai, phó viện trưởng viện Đại Học Huế trước 1975, ông nầy là em rể Tướng Nam, thì Tướng Nam là người, nói theo “danh từ nhà Phật” là “thọ trì thần chú” Thủ Lăng Nghiêm, thần thông thấy, biết trước… mọi điều bất hạnh sẽ xảy ra cho đất nước. Đó là cái lý do khiến ông tự vẫn.”

-“Kinh Thủ Lăng Nghiêm là kinh gì?

-“Tui đâu có biết!” Tôi nói. “Đại khái là nói về “Tâm”, về “Thiền”, là “Nghiệp”… Đại khái như thế, tui không rành.”

-“Có thể đó.” Bạn tôi nói. “Về “Tâm” nên làm tướng mà không ưa sự chém giết! Về “Nghiệp” thì thấy tổ tiên gây cái “Nhân” gì mà để nay con cháu nhận cái “Quả” gì. Sao mà nó giống như Hồ Hữu Tường nói về cái nhân tổ tiên diệt Chàm nên nay con cháu điêu linh. Mình có thể nói Tướng Nam cũng thấy cái nghiệp của dân tộc như Hồ Hữu Tường?

-“Ông” nghĩ gì về việc Tướng Nam không lấy vợ?” Người bạn tôi hỏi.

Tôi nói: “Cụ Diệm không lấy vợ, như người ta đồn là vì “cụ Ngô không cu”. Đó là nói cho vui. Từ khi còn trẻ, ông có “khuynh hướng” đi tu. Khi dính líu vô chuyện chống Tây, ông nghĩ tới đất nước mà không lấy vợ. “Cụ Diệm khác với Cụ Hồ”. “Cụ Hồ” vì nước mà không lấy vợ là “Cụ Hồ dỗm”. Ông chơi gái lung tung, vợ con lung tung. Tui hỏi ông. Khoảng các năm khi “Cụ Hồ” lấy Nông Thị Xuân thì cô Xuân lúc đó ngoài hai mươi tuổi – đúng không – Vậy năm 1945, 46 khi “Cụ Hồ” làm “Cha già Dân tộc” thì Nông Thị Xuân là “cháu ngoan bác Hồ”! Đúng không?” Bạn tôi cười, nói “ừ”, là đồng ý – “Vậy khi Nông Thị Xuân sinh con là vì “bác cháu chúng nó ngủ với nhau mà có con!” Đúng không? Tuồng tích nầy hấp dẫn mà không đóng phim sex là uổng lắm. Ông già râu ria dài tới cằm, đè con nhỏ mới hai mươi tuổi mà làm trò con heo, không quay phim chụp hình thì mất đi một màn cụp lạc!”

-“Tại sao có vợ trẻ như vậy mà ông Hồ không cạo râu đi hè?” Bạn tôi hỏi.

-“Cạo râu sao được. Đó là hình ảnh “Cha già Dân tộc” mà “ông”. “Cha già Dân tộc sáu mươi tuổi” mà “chơi cháu ngoan bác Hồ” hai mươi tuổi. Vừa xạo ke, vừa giả dối, như Trần Tế Xương nói: “Cao lâu thường ăn quịt, Thổ đĩ lại chơi lường”. Nghĩ đời cũng lắm trò… vui! Phải không?”

-“Trở lại nói chuyện Tướng Nam không lấy vợ nghe chơi!” Bạn tôi đề nghị.

-“Tui không nghe ai nói “Tướng Nam không cu” như “Cụ Diệm”. Đời sống tập thể quân đội, ông ta không thể giấu chuyện “không cu” được. Vậy ông ta không lấy vợ không phải là chuyện “không cu”, chuyện PD. Ông ta cao hơn “Cụ Diệm, cụ Hồ” mấy cái đầu” đó!” Tôi nói.

-“Cao thưọng như thế nào?” Bạn tôi lại hỏi.

-“Trở lại hai câu thơ lúc nãy đi. “Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ”. Ông ta sợ. Nếu ông ta lấy vợ thì cô nào đó, không “chẳng tưởng ra người chinh phụ” thì cũng phải đêm đêm ôm gối nằm không! “Quân đội là gia đình”. Ông lấy vợ làm chi nữa! Còn nghĩ tới biết đâu đời sẽ là “kỷ kiến hữu nhân hồi!” nữa chi! Ông ta hiểu “Chinh Phụ Ngâm” dữ không?”  Lấy ai? Cưới ai? Để rồi người đàn bà trở thành “góa phụ chít khăn tang”. Có lẽ trong đời ông, không ít lần ông từng thấy những người vợ lính của ông, đầu chít khăn, tay ôm con dại, khóc chồng thê thảm. Có lẽ vì vậy mà ông không lấy vợ. Do ở cái “Tâm” “ông” à!

-“Ông ta biết văn thơ cũng phải! Dòng dõi “Mạc Vân thi xã” kinh đô Huế mà!” Bạn tôi góp ý.

-“Tui có cái nhận xét nầy.” Tôi nói. “Cái nầy nó biểu hiện cá tính của người Việt Nam mình. Quân đội VNCH thì đông, mà tướng thì không đông như tướng Việt Cộng bây giờ. Đã vậy mà lại có hai ông đặc biệt. Ông Nam Dao hỏi Đại Tướng Viên: “Ngày rời đất nước, huynh trưởng có đem cái gì theo?” Ông Viên trả lời nghe buồn cười: “Tui có đem theo cuốn kinh Phật”. Còn ông Nam thì làm tướng mà nghiên cứu trì chú kinh Lăng Nghiêm. “Ông” có nghĩ vì vậy mà nước dễ mất. Đạo Phật là tôn giáo “yếm thế, thoát tục” mà.”

Bạn tôi nói: “Tui cũng không phải là người “thiên kinh vạn quyển” như người ta. Tuy nhiên, trong lịch sử, những thời kỳ Phật giáo hưng thịnh thì đất nước có hèn yếu đâu! Đời Lý chẳng hạn. Lý Thái Tổ xuất thân cửa Phật, nhà Lý cũng đánh cho quân Tống chạy dài. Đời Trần, vua ưa làm Thái Thượng Hoàng để đi tu. Vậy mà ba lần đánh quân Mông Cổ “tơi bời hoa lá” thì nước mạnh chớ yếu gì đâu!”

“Nhất tướng công thành vạn cốt khô”. Tôi đưa ra ví dụ: “Nhiều ông tướng ham đánh, ham “công thành” nên bất kể lính chết nhiều hay ít, người ta gọi là “tướng sát quân”. Tướng Thi chẳng hạn. Ham thắng ông Diệm mà chạy tuốt qua Miên. Vậy mà không chừa. Năm 1966, vì cái háo thắng của Tướng Thi mà Huế chịu bao nhiêu thảm cảnh.”

-“Khác với tướng Việt Cộng?” Người bạn hỏi.

-“Dĩ nhiên! Từ căn bản, nó đã khác.” Tôi nói. “Căn bản các ông tướng VNCH là văn hóa dân tộc, trong đó có đạo Phật. “Đạo Phật trong Dân Tộc chớ không phải Dân Tộc trong Đạo Phật” như nhiều ông thầy Chùa nói bậy, nên trong lòng ông tướng luôn luôn có chữ “Tâm”. Còn như cuồng tín thì trong lòng chỉ có chữ “Thắng”. Trong lòng mấy ông tướng Việt Cộng chỉ có chữ “Thắng”. “Thắng” là nền tảng của chủ nghĩa Mác. Vì vậy mà “tướng sát quân”. “Chiến thuật biển người” thì “Tâm” ở đâu? “Ông” thấy bên Tàu, Mao xô mấy vạn “Hồng quân Trung hoa” vào chỗ chết để bớt nuôi quân. Ác vậy đó!”

-“Riêng chi Mao là kẻ ác! Lý Quảng, Trương Khiên thì sao! Chỉ một trận ở Hữu Bắc Bình, Lý Quảng nướng bốn ngàn kỵ binh, Trương Khiên nướng một vạn kỵ binh. Chết sạch! Thắng trận mà quân không còn tên nào! Đúng là “Nhất tướng công thành vạn cốt khô!” Lịch sử nhân loại kinh hoàng thiệt!”

-“Theo ông nghĩ Napoleon cũng vậy?” Bạn tôi hỏi.

-“Tui không rành sử Tây phương, nhưng đọc “Chiến Tranh và Hòa Bình” của Tolstoy, tôi thấy ông Tướng Kutusov cũng có cái lòng thương người ấy.”

-“Đoạn nào?” Anh ấy hỏi.

-“Đoạn Napoleon đại bại vì “đại tướng mùa đông”, rút chạy khỏi Nga về Pháp. Bên Nga, mấy ông tướng trẻ cứ yêu cầu được đem quân giết hết tàn quân Pháp. Kutusov thì cứ trì hưởn: “Được rồi! Được rồi! Chúng chạy rồi; chúng chạy rồi! Để cho chúng nó chạy.” Rồi ông ôm con bồ trẻ mà hú hí. Thắng là được, không cần phải tàn sát quân địch. Làm tướng như thế là có lòng nhân đức đấy! Đâu cần “chôn sống” trước khi rút chạy như Mậu Thân ở Huế.”

-“Ông” nghĩ sao về việc ở Huế?”

-“Cách mạng triệt để” đó “ông”. “Cách mạng triệt để” cũng là cuồng tín. Đông Tây Kim Cổ, không bao giờ có sự cuồng tín nào mà không có tàn ác. Hồi giáo cũng thế. Thiên Chúa giáo cũng thế. Đạo Phật cũng thế. “Ông” không thấy Croisades sao?” (6)

&

-“Nghe nói Tướng Nam có một cô “bồ” là dược sĩ mà!” Bạn tôi nói.

-“Khi ông ở Sư Đoàn 7, bà dược sĩ có về Mỹ Tho thăm ông mấy lần. Báo chí hồi đó có nói chuyện ấy! Vậy mà không cưới.”

-“Trên bình diện “văn hóa tư sản”, “tiểu tư sản” như bọn mình, mình dễ thông hiểu và thông cảm người khác. Người miền Nam và cả thế giới tư bản đều hiểu và thông cảm cho Phạm Xuân Ẩn, biết cái bản chất ông ta là người như thế nào, dù ông có vượt biên hay không, – vượt biên là chứng tỏ con người ông ta như thế nào – Còn như Việt Cộng thì không bao giờ hiểu và thông cảm cho người miền Nam là cùng dân tộc với chúng nó, huống chi Tây Mỹ.”

-“Buồn cười lắm “ông”. Hồi trước thì gọi các tổng thống Mỹ bằng “thằng”. “Thằng Lê-Gân”, “thằng Ních-Xơn”… Bây giờ thì gọi tổng thống nầy, tổng thống kia đàng hoàng. Tui không nghĩ tụi nó “hồi chánh”.

-“Bản chất cả “ông” à! Bản chất là mưu lược xảo trá, là lưu manh, là “sớm đầu tối đánh”, là “hoạt đầu”… nói không hết.”

-“Vậy thì “hòa hợp hòa giải” sao được?” Bạn tôi than.

-“Căn bản của “hòa hợp hòa giải” là hiểu biết và thông cảm. Ngay như trường hợp Tướng Nam, bọn miền Nam như tụi mình đã “hiểu” được ông ta chưa, nói chi tới Việt Cộng. Ông là ông tướng kỳ lạ nhứt trong các ông tướng VNCH. Nhìn bề ngoài thôi, người ta ai cũng thấy: Đánh giặc giỏi, tài ba, ăn chay trường, học kinh Phật, thương lính, thương gia đình binh sĩ, tối Ba Mươi tháng Tư còn đi thăm thương binh ở bệnh viện Phan Thanh Giản, sáng mồng một tháng Năm thì tự tử. Giờ phút cuối rồi, Dương Văn Minh ở Saigon đầu hàng rồi. Thế là xong! Vậy mà ông còn từ tốn, bình tĩnh đến như thế! Con người tuyệt vời như thế mà mấy ai biết, thì bọn Cộng Sản làm sao biết ông ta là người như thế nào!” Tôi giải bày.

-“Ông” thấy không? Người chết còn chưa “hòa giải” được nói chi người sống! Nghĩa trang Gò Vấp thì san bằng thành sân “gôn”, nghĩa trang Biên Hòa đang trong tình trạng như thế nào?! Còn bao nhiêu nghĩa trang quân đội VNCH nữa ở Huế, Cần Thơ, Pleiku, ở các tỉnh, các quận… Người chết rồi mà còn chưa hiểu họ, thông cảm được họ, thương xót họ, huống chi người sống! Năm mươi năm nữa, một trăm năm nữa, vài trăm năm nữa, mới tính tới việc “hòa giải” được. Bên Mỹ cũng vậy chớ gì?”

-“Người cao thượng hơn. Khi Tướng Lee đến Appomattox Court House ký giấy đầu hàng thì Tướng Grant tránh mặt để Tưóng Lee khỏi tẻn tò. Người Cộng Sản, Việt hay Tầu, kể cả Bùi Tín, dòng dõi quan to đời Bảo Đại đấy, cũng không có được cái tế nhị của “người có học”.

-“Liệu bọn trẻ sinh sau có khác đi không?”

-“Giáo dục xây dựng nên văn hóa con người. “Ông”nhìn vào trường học bây giờ thì “ông” thấy tương lai dân tộc như thế nào!”

-“Bọn cầm quyền trong nước chỉ ngán một điều: Rời khỏi quyền lực. Mất quyền lực là mất quyền lợi. Ba mươi năm chiến đấu, giành được chính quyền, nắm được quyền lợi. Không dễ gì chúng rời bỏ quyền lực để mà bàn chuyện nọ, chuyện kia. Coi như xong.”

hoànglonghải

(1)-Những người ở vùng xa xôi hẻo lánh, vượt biên bằng cách “canh me”.

(2)-Mài mấy ông tướng. Mấy ông tướng trong bộ bài tứ sắc. Tiếng gọi đùa về mấy người mê chơi bài tứ sắc.

(3)-“Xiết bao tử dân” là “hộ khẩu”

(4)-“Kinh nghiệm đầy mình”. Tiếng nói đùa.

(5)-John Le Carré, tác giả cuốn “A Perfect Spy.”

(6)-Croisades là “Thập tự chinh” là môt cuộc “chiến tranh tôn giáo” do các ông giáo chủ La Mã kêu gọi các vua chúa và hàng quí tộc Châu Âu, giương cao cây “Thánh Giá” đem quân chiếm đóng vùng “Đất Thánh” Bắc Phi. Đó là những cuộc viễn chinh của người châu Âu kéo dài gần hai trăm năm qua tới thế kỷ 15, tạo nên sự thù hận giết chóc, cướp của, hãm hiếp phụ nữ giữa những người theo Thiên Chúa Giáo La Mã và người Hồi Giáo. Đến giờ, mối thù ấy vẫn còn. Hiện nay, các nước Hồi Giáo đang mạnh lên và không quên mối thù truyền kiếp từ xa xưa.

[post_connector_show_children slug=”v%e1%bb%81-n%c6%b0%e1%bb%9bc-th%e1%ba%a5y-g%c3%ac-ngh%c4%a9-g%c3%ac” parent=”29506″ link=”true” excerpt=”false”]