*( Trích sách “Gải Mã Những Bí Ẩn của Chiến Tranh Việt Nam của Bùi Anh Trinh )

Bùi Anh Trinh

Mưu đồ của Nixon tại Hạ Lào

Năm 1968 Nixon đắc cử chức Tổng thống trong tình thế Mỹ chấp nhận thua cuộc.  Tổng thống Johson tuyên bố ngưng ném bom bắc Việt vô điều kiện để xin Hà Nội đình chiến.  Tuy nhiên Nixon không chấp nhận tư thế chủ bại của Johnson, một mặt ông ta giả vờ tiếp tục con đường đàm phán, nhưng mặt khác ông ta tìm cách chuyển thành tư thế đàm phán trong thế mạnh.

Sau khi lên làm Tổng thống chưa đầy 2 tháng, Nixon ra lệnh lén dùng B.52 thả bom bên kia biên giới Miên để thanh toán hang ổ của Trung ương cục Miền Nam.  Chiến dịch thả bom lén không phải chỉ một ngày hay 2 bữa, mà  thực tế nó kéo dài đến 14 tháng.

Nhưng mới thả bom lén được 4 tháng thì Nixon phát giác Sihanouk cũng lén cho  Hà Nội và Bắc Kinh dùng cảng Sihanoukville để nhập vũ khí và quân dụng cho quân Cọng sản Miền Nam.  Đến lúc này thì Nixon đã có đủ bằng cớ để tấn công Hà Nội lẫn Cam Bốt nhằm bảo vệ Miền Nam VN bởi vì lâu nay Hà Nội cứ la làng là họ không hề can thiệp quân sự tại Miền Nam.

Đến tháng 9 năm 1969 Nixon quyết định dùng không lực tấn công Hà Nội và Cam bốt cùng một lúc trong một thời gian dài, cho tới khi nào họ chịu đầu hàng mới thôi. Tuy nhiên toan tính này không thành do có sự phản đối của Bộ trưởng Ngoại giao lẫn Bộ trưởng Quốc phòng vào giờ chót ( Hồi ký Mixon ).

Nixon đổi sang kế hoạch hỗ trợ Lon Nol lật đổ Sihanouk vào tháng 4 năm 1970 và xua 48.300 quân Việt – Mỹ tấn công sang Cam Bốt, đuổi quân CSVN còn cách thủ đô Nam Vang 75 cây số…!  Sự thành công dễ dàng đã khiến Nixon tính tới chuyện rấn thêm một bước nữa là cho đánh sang Lào.

Trong khi thu thập ý kiến đánh sang Lào, có rất nhiều chuyên gia quân sự đã đoan chắc với Nixon rằng Hà Nội sẽ mở một trận Điện Biên Phủ thứ hai nếu quân Mỹ tiến sang Lào. Điều này khích lệ Nixon nghĩ ra một cái bẫy :  Dụ cho toàn bộ quân CSVN tập trung tới Hạ Lào và dùng B.52 tiêu diệt.

Nếu thành công thì đương nhiên chiến tranh Việt Nam kết thúc vì Hà Nội không còn người và vũ khí để theo đuổi chiến tranh. Lúc đó Nixon sẽ trở thành người hùng của nước Mỹ vì đã chuyển tình thế thua cuộc của Johnson trở thành thắng cuộc. Cả thế giới sẽ nể phục Nixon cũng như nể phục sức mạnh của B.52.

Thực hiện kế hoạch

Năm 1970, ngày 7-11, Tướng Abrams và đại sứ Bunker đến gặp Tổng thống Thiệu và trình bày trong 80 phút về kế hoạch đánh sang Lào để cắt đường mòn Hồ Chí Minh.  Tổng thống Thiệu đồng ý tiến hành kế hoạch.

Năm 1971, ngày 11-1, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin Laird và Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ là Đô đốc Moorer đến Sài Gòn để bàn với Tổng thống Thiệu về kế hoạch đánh sang Lào.

Ngày 18-1, Một buổi họp tại Tòa Bạch Ốc để quyết định về các chi tiết hành quân, gồm có Tổng thống Nixon, Bộ trưởng Ngoại giao Rogers, Bộ trưởng Quốc phòng Laird, Tham mưu trưởng Liên quân Moorer, Giám đốc CIA Richard Helm, Cố vấn Kissinger và phụ tá của ông ta là Chuẩn tướng Haig.

Năm 1971, ngày 4-2, Tổng thống Nixon ra lệnh tiến hành giai đoạn 2 của cuộc hành quân Lam Sơn 719, tức là quân VNCH vượt biên sang Lào.  Đồng thời tại Sài Gòn Tổng thống Thiệu cũng tuyên bố cho quân VNCH vượt biên sang Lào để truy quét quân CSVN trên đất Lào.

Năm 1971, ngày thứ 9 của trận chiến, ngày 16-2.  Súng phòng không của CSVN đồng loạt khai hỏa vào các phi cơ trực thăng võ trang của Mỹ hoạt động dọc theo sông Tchepone. Trong vòng 4 ngày đã có 32 trực thăng bị bắn rơi và 240 chiếc khác bị trúng đạnCác phi công Mỹ từ chối bay vào vùng phía Bắc sông Tchepone.  Điều này khiến cho toàn bộ quân VNCH trên đất Lào không còn tiếp tế, kể cả gạo và nước uống.

Năm 1971, 19-2 , Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tổng tư lệnh quân đội VNCH, bay ra Quảng Trị.  Tại Bộ chỉ huy hành quân ở Đông Hà. Tướng Hoàng Xuân Lãm thuyết trình về tình trạng không có trực thăng tiếp vận, các phi công Mỹ từ chối bay vào vùng Bắc sông Tchepone.

Sau khi đã rõ tình hình, Tướng Thiệu chỉ thị Tướng Lãm nên triển khai về hướng Tây Nam, dùng đường đất 914 đi tắt đến binh trạm 611 của CSVN ở phía Nam Tchepone ( Nguyễn Duy Hinh, Lam Son 719, trang 79).

Năm 1971, ngày 24-2,  phóng viên báo chí Mỹ chực tin tại căn cứ Khe Sanh đã chụp được bức hình một người lính VNCH đang bám càng chiếc trực thăng để thoát khỏi chiến trường.  Cơ quan quảng bá thông tin của CIA ( USID) cho xé to thành tin quân VNCH hèn nhát. *( Nhằm kích cho quân VNCH phải tử chiến ).

Phản ứng rất nhanh của Tướng Thiệu

Năm 1971, ngày 28-2 Tướng Lãm đưa 2 lữ đoàn TQLC ( 4.000 người ) đang nằm trừ bị tại Căn cứ khe Sanh đến thay thế 2 trung đoàn Bộ binh ( 5.000 người ) của Sư đoàn 1 BB đang hoạt động ở phía Nam sông Tchepone.  Bốc 1 trung đoàn Bộ binh ở phía Đông Nam sông Tchepone đổ xuống chiếm giữ các cao điểm phía chính Nam thị trấn Tchepone để hỗ trợ cho trung đoàn Bộ binh khác được đổ xuống phía Bắc Tchepone rồi từ đó tiến vào Thị trấn Tchepone.

Ngày 8-3, Tiểu đoàn 2/2 và Tiểu đoàn 3/2 cùng với BCH Trung đoàn 2 BB thuộc Sư đoàn 1 BB/VNCH ( 1.200 người ) tiến vào Thị trấn Tchepone đã bỏ hoang, tìm thấy 8 súng cối 82 ly, 2 tấn gạo và vô số xác chết mà không có thì giờ để đếm.  Sau khi tiếp đón phái đoàn của Tướng Phạm Văn Phú và các phóng viên quân đội vào buổi trưa, Trung đoàn gấp rút hành quân qua khỏi thị trấn, tiến về hướng Đông Nam.

Ngày 11-3, Quân VNCH tại vị trí xa nhất ( Căn cứ Sophia ) bắt đầu rút về.  Các nơi khác tiếp tục rút về trong những ngày kế tiếp.

Ngày 22-3, Một phi vụ B.52 đã thả bom vào khu vực hai bên đang còn đánh nhau.  Kết quả phía TQLC có 85 chết, 238 bị thương và 100 súng bị hủy hoại.  Phía CSVN có 600 chết, 5 bị bắt và 200 súng bị tịch thu.

Có một cuộc cải vã to tiếng giữa Tướng Lê Nguyên Khang, Tư lệnh sư đoàn TQLC, và  Đại tá cố vấn Mỹ ngay sau vụ B.52 thả bom vào Tiểu đoàn 4 TQLC/VNCH.  Các sĩ quan trong trung tâm hành quân nghe được câu nói của Tướng Khang :

“50 ngàn quân của họ là người Việt Nam, 15 ngàn quân của chúng tôi cũng là người Việt Nam;  tôi là người Việt Nam, tôi không thể làm như vậy được” ( Theo lời kể của Thiếu úy Tô Đình Hiền, sĩ quan trực Trung tâm hành quân của TQLC tại Căn cứ Khe Sanh ).

Nghĩa là người Mỹ muốn đổi mạng 15.000 quân VNCH để lấy mạng 50.000 quân CSVN, một bài toán thực dụng vô cùng đơn giản… !!!

BÙI ANH TRINH

Chú thích của người viết : Năm 2003 Tướng Cao Văn Viên viết trong bản dịch quyển sách “The Final Collapse” của ông :

Trong những năm 1970 và 1971 tác giả ( Tướng Viên )  đã đệ đơn xin Tổng thống Thiệu cho về hưu it nhất là 3 lần…”, “Lý do tác giả hành động như vậy vì vào khoảng giữa 1970… Tướng Abrams cho biết…Tổng thống Thiệu có ý định cho Trung tướng Đỗ Cao Trí thay thế tác giả…Cảm thấy mình không còn được “sủng ái” nên đã xin về hưu ( trang 255 )

Giữa năm 1970 là thời điểm quân VNCH đánh tràn sang Miên, đuổi quân CSVN còn cách Nam Vang 75 cây số.  Nhưng người chỉ huy trận đó là Trung tướng Nguyễn Viết Thanh.  Trong khi đó Tướng Viên đã tỏ ra không có khả năng chỉ huy cấp sư đoàn trở lên.

*[ Cả đời tướng Viên chưa bao giờ chỉ huy cấp sư đoàn và chỉ đánh một trận lớn duy nhất tại Hồng Ngự vào tháng 3 năm 1964, lúc đó ông chỉ huy 2 tiểu đoàn Dù.  Nhưng đó chỉ là trận đánh dỏm do Nguyễn Khánh dàn cảnh để thăng cấp tại mặt trận cho Đại tá Cao Văn Viên, nhằm thưởng công cho vụ lật đổ các tướng Đôn, Xuân, Kim, Đính, Vỹ… hồi đầu tháng 2 ].

Và năm 1971 là trận Hạ Lào, ngay trong các ngày đầu Tướng Viên cũng đã tỏ ra không chỉ huy nổi các tướng Lãm, Khang, Đống.  Do đó Tướng Thiệu định đưa Tướng Trí ra chỉ huy mặt trận Hạ Lào sau khi Tướng Viên tỏ ra bất lực.  Nhưng không may là Tướng Trí đã bị tử nạn vào ngày 23-2-1971, tức là 7 ngày sau khi các pilot Mỹ từ chối bay hành quân.*(!?).

Nếu ngày đó Tướng Trí chỉ huy trận Hạ Lào thì ông sẽ cho lệnh rút quân ngay khi ông biết được quân địch tại Tchepone là 5 Sư đoàn bộ binh ( 35.000 người ), hoặc là khi biết các pilot Mỹ từ chối  bay tiếp tế hay tản thương….!!  *[ Nhưng như vậy thì không khớp với mưu đồ của Nixon ].

Thuở đó phía VNCH có tin cho rằng Tướng Abrams ám sát Tướng Trí để bảo vệ chiếc ghế cho Tướng Viên.  Nhưng điều này hoàn toàn không đúng với tinh thần thượng võ của Tướng Abrams.

[post_connector_show_children slug=”t%e1%bb%ad-chi%e1%ba%bfn-h%e1%ba%a1-l%c3%a0o” parent=”25256″ link=”true” excerpt=”false”]