“Chưởi cha hơn pha tiếng”
(tục ngữ)

Tạ lỗi:
Một vài người rất kỵ khi ai đó “nhại” tiếng người dân quê mình. Họ mặc cảm là “quê”.

Quả thật tôi không có ý đó. Viết như sau chỉ là để mà hiểu, như một việc “giải trí” mà thôi.

Cuộc đời lưu lạc của một người lính VNCH, từ Bắc (vĩ tuyến 17) tới Cà Mau, Hà Tiên làm cho một người ưa tò mò, tìm hiểu như tôi biết nhiều điều mà không ai để ý. Nay bàn lại cho vui, chẳng qua cũng vì “lòng quê theo ngọn mây Tần” mà ra cả. Chỉ có vậy thôi!

Xin bạn đọc thứ lỗi!

Tác giả

Khi soạn cuốn “Tự điển Khai Trí ”, các vị soạn sách ấy căn cứ vào tiếng nói của người Hà Nội – được gọi là “đất ngàn năm văn vật” – (hồi đó, trước 1945, chớ không phải bây giờ đâu!) để thực hiện công việc nghiêm túc của mình.

Thực ra, đối chiếu với tiếng người Hà Nội phát âm thời đó, với những chữ viết trong tự điển, không hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, đó cũng là một cách làm, không thể nào chính xác hơn được.

Hồi còn đi học, thầy giáo Việt Văn của tôi năm Đệ Tứ – lớp 9 bây giờ – ông cho rằng tiếng nói của người Hà Tịnh là đúng chính tả nhất, – nhưng tiếng Hà Tịnh thì “nặng” lắm, nghe nặng nề. Nếu một người Hà Tịnh làm “xướng ngôn viên” cho một đài phát thanh nào đó, dù ở phía Bắc, Trung hay Nam, thính giả có thể không hiểu xướng ngôn viên nói gì, có khi tưởng lầm là “tiếng nước ngoài” (Nói theo kiểu “danh từ Việt Cộng”).

Ngay như “tiếng Nghệ” của ông Hồ Chí Minh, khi ông đọc cái gọi là “tuyên ngôn độc lập” ngày 2 tháng 9 năm 1945 ở Hà Nội, ông Võ Nguyên Giáp, trong cuốn “Những Năm Tháng Không Thể Nào Quên” cũng chê là “giọng nhà quê”của người Nghệ, có nghĩa là khó nghe? Trong khi đó, ông Giáp nói “giọng Quảng Bình” đâu có nhẹ nhàng gì hơn!

Người Việt tỵ nạn Cọng Sản, khi rời khỏi đất nước mình, được mệnh danh là “Chúng ta đi mang theo ” thì trong hành trình “đi về phương Nam” của người Việt, trong cuộc di dân vĩ đại, lâu dài và gian khổ nhất trong lịch sử, tổ tiên chúng ta mang theo tiếng nói của mình.

Tới một địa phương mới, vì phong thổ, tiếng nói của người lưu dân, khi phát âm, có đi đôi chút, nhưng người ta vẫn nói, vẫn nghe và vẫn hiểu nhau được, mặc dù, đôi khi có khó khăn.

Trường hợp tôi chẳng hạn: “Dân Quảng Trị”, vào Huế thì nói tiếng Huế, vào Saigon nói tiếng Nam, về Gò Công, về , tới Kiên Lương, Hà Tiên, nói chuyện với đồng nghiệp, cũng bình thường, nhưng khi nói chuyện với bọn học trò, chúng cười khúc khích với nhau về một ông thầy nói tiếng “trọ trẹ”, nói chuyện với dân chúng, có lẽ họ chỉ hiểu 50%. Nói chuyện với người Miên, họ không hiểu gì, bởi chính họ cũng không rành tiếng Việt. Đành tập nói tiếng Nam vậy để sự “quan hệ” được dễ dàng. (1)

Nhìn chung, người Việt ngay ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, tiếng nói của người thôn quê, “nặng” hơn tiếng nói của người thành thị, thường nói ngọng (2). Tiếng nói của người Hà Nội nghe “nhẹ nhàng” nhất. “Dân Hà Thành”, dĩ nhiên có .

Càng về phía Nam, mỗi địa phương phát âm một đi. Tiếng người Thanh Hóa, gần với tiếng Bắc. Từ Nghệ An trở vào, tiếng nói càng “nặng”, nhưng qua khỏi “Truông Nhà Hồ” (3) thì bắt đầu “nhẹ” hơn.

Tuy vậy, tiếng Quảng Trị còn “nặng”, nhất là khi phát âm những vần “t”, hoặc “c” ở cuối chữ, hoạc âm “uâ” thàng âm “u” (4).

Bên kia đèo Hải Vân, “tiếng Quảng Nam” thì xa với tiếng Huế, không những “nặng” mà còn sai chính tả. Người Huế thường chọc quê mấy anh “Học trò trong Quảng ra thi” bằng nhại vần “ăng” thanh “eng”: “con(g) rén kén con(g) thèng lèng”

Không chỉ Quảng Nam, mà từ Quảng Nam trở vào, khi “tiếng Phan Rang, Phan Thiết” gần với “tiếng miền Nam”, âm tiết nhẹ nhàng hơn, tuy vẫn còn “nặng” chút ít nhưng đã giảm đi nhiều. Nghe tổng thống Thiệu đọc thông điệp, phần đông dân chúng đều hiểu cả, nhất là câu “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói” thì nay người Việt Nam trong nước cũng như hải ngoại hiểu quá trên 100%. Hiểu và kinh nghiệm bản thân nữa chi!!!

Trong suốt giải đất miền Trung, chính xác là từ Nghệ An tới Phú Yên, tiếng Huế là nhẹ nhàng, dễ nghe nhất.

Tại sao?

Vùng Thuận Hóa được coi như “thủ phủ” của “9 chúa 13 vua”. Chính xác hơn, xin kể như sau:

-1636, chúa Thượng (Nguyễn Phúc Lan) đặt “thủ phủ” ở làng Kim Long, (ngay nay thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên).
-1687, chúa Nghĩa (Nguyễn Phúc Thái, dời về làng Phú Xuân, (cũng thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên).
-1712, chúa Minh (Nguyễn Phúc Chu) dời về làng Bác Vọng, (huyện , tỉnh Thừa Thiên).
-1738, chúa Vũ Vương (Nguyễn Phúc Khoát) dời về lại Phú Xuân, kéo dài tới khi vua Bảo Đại thoái vị.
-Thời Tây Sơn, Nguyễn Huệ (Bắc Bình Vương) vẫn “đóng đô” ở Phú Xuân. Nhà vua dự trù dời về “Phượng Hoàng Trung Đô” (Nghệ An). Công trình chưa xong thì nhà vua qua đời.

Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Gia Long, chọn Phú Xuân (Huế) làm kinh đô cho đến khi Bảo Đại thoái vị.

Tính về thời của các chúa, thời gian là 146 năm (1636 – 1802)
Tính về thời của các vua, thời gian là 143 năm (1802 – 1945)
Cọng chung: 289 năm.

Chinh Phụ Ngâm có câu thơ: “Nước ba trăm năm cũ” là ý nói nhà Đường bên Tầu có một thời kỳ dài nhất “Ba trăm năm”. Tuy thế, chỉ một loạn An Lộc Sơn, Đường Minh Hoàng phải bỏ kinh đô mà chạy thì đâu còn “ba trăm năm ” nữa.

Ở nước ta, 9 chúa Xứ Đằng Trong và 13 vua nhà Nguyễn, đất nước , thịnh trị, lãnh thổ càng ngày càng mở rộng về phương nam, kéo dài gần ba trăm năm, nhắm bộ không hơn người Tầu sao!

a)-Bên cạnh “non xanh, nước biếc” là yếu tố quan trọng về phong thổ, ảnh hưởng đến lề lối sinh hoạt của người dân, giọng nói, tiếng nói của người có phần nhẹ nhàng, thanh thoát hơn. Đó cũng là nhờ đời sống cao hơn, no ấm hơn…

b)-Thủ phủ, kinh đô là nơi tập trung nhân tài cả nước. Hoàng gia, gia đình các quan lại tập trung về một chỗ, lề lối, phong cách, ngôn ngữ, văn hóa ảnh hưởng lẫn nhau, làm cho đời sống cao hơn, phát triển hơn.

c)-Phong tục, tập quán, văn hóa “xứ vua quan” cao hơn hàng dân dã, phong cách sống, “lời ăn tiếng nói” phải gìn giữ chặt chẽ hơn.

“Mười thương” cho ta thấy những điều “nghiêm nhặt” trong cách sống, giao thiệp, nói năng, đối xử giữa con người với nhau: “Hai thương “ăn nói mặn mà có duyên”.

Trong viễn tượng đó, trong cách sinh hoạt, phong thái và ngôn ngữ, tiếng nói của người Huế nhẹ nhàng hơn, nhỏ nhẹ hơn, êm đềm hơn…

Từ những điều kiện như thế, tiếng Việt khi phát triển ở Huế, bỗng nhẹ đi. Muốn được như thế, vài “âm sắc” phải thay đổi.

Ví dụ 1:

Vần “t” ở cuối chữ, đổi ra vần “c”, âm phát ra nghe nhẹ hơn.
“Cấc” trong đem cất, cất dấu… nghe nhẹ hơn khi phát âm “cất”
“Đấc” trong đất nước, đất đai… nghe nhẹ hơn khi phát âm “đất”.

Ví dụ 2
“Ăng” trong ăn cơm, ăn uống, nghe nhẹ hơn khi phát âm “ăn”
“Muống” trong mong muốn, ước muốn, nghe nhẹ hơn khi phát âm “muốn”.

Ngoài ra, còn một số âm chua phát triển toàn diện, làm cho tiếng Huế còn “nặng”. Tiếc rằng, thời thế đổi thay, sự giao thông tin tức, truyền thông càng ngày càng phát triển đã làm cho sự chuyển đổi ngôn ngữ Huế bị ngưng lại.

Từ thời Đệ Nhất Việt Nam Công Hòa, vì âm nhạc thi ca… phát triển ngày càng mạnh, khuynh hướng thưởng thức của người nghe cũng phát triển theo, ca nhạc miền Nam không còn thuần hát bằng “giọng Bắc” như trước 1954, mà nhiều ca sĩ hát theo “giọng Huế” để thỏa mãn “thị hiếu” của thính giả.

Trong khi Thanh Thúy, dù thời ở Phan Thiết, cũng cố hát trở lại với giọng Huế thì Hà Thanh, có một giọng hát rất Huế, rất gần gũi với ca Huế, hò Huế thì lại tìm hiểu tiếng Bắc để hát cho “đúng chính tả”.

Hiện tượng đó ngày nay đã qua.
Bây giờ thì bài hát viết về đề tài gì, xuất xứ miền nào thì ca sĩ cố hát cho đúng với giọng nói của người dân xứ ấy. , dân ca Nam Bộ, “Còn thương rau đắng mọc sau hè”, “Chiếc áo bà ba”, “Dáng đứng Bến Tre” thì phải hát đúng với giọng Nam Bộ. “Tình ca xứ Huế”, “Huế xưa”, “Tạm Biệt Huế” thì phải hát cho đúng với tiếng Huế.

Trong viễn tượng đó, một số ca sĩ trong nước cũng như hải ngoại, dù không phải “gốc Huế”, khi hát những bài về Huế, cũng cố hát cho đúng giọng Huế. Có người hát được, đúng bảy, tám mươi phần trăm, như ; nhưng cũng nhiều người chưa đạt tới 50% làm cho lời hát khó nghe.

Với một người lớn lên và sinh sống lâu năm như tôi, mà nghe ca sĩ hát:

“Em đưa anh lên những ngôi đền cổ
Chén vàng, chén bạc chìm dưới đáy sông sâu
Mặt trời vàng và mắt em nâu…
là tôi không vừa ý.

Như Quỳnh hát “Chéng vàng, chéng bạc” và “mắc” em nâu”
làm cho tôi xúc động hơn khi nghe Bảo Yến hát “chén vàng, chén bạc”

Hát như Như Quỳnh, nghe “nhẹ” hơn và Huế hơn, bởi vì dù sao, tôi vẫn là người yêu Huế…

Đối với một vài thính giả, có thể khó tính, khi nghe một vài bài hát về Huế, chỉ vài bài thôi, tôi đoán chừng như vậy, nhạc sĩ dùng một vài tiếng Huế mà ca sĩ lại hát theo giọng Bắc thì nghe không “hợp” toàn vẹn.

Chẳng hạn như bài “Huế xưa”
Có ca sĩ hát theo tiếng Bắc, giữ đúng âm “t” hay “c”, có “g” hay không “g”. Tuy nhiên, bài nầy tác giả có dùng vài tiếng địa phương: bây “chừ” thay vì “bây giờ” nên khi hát môt tiếng Huế bên cạnh một tiếng Bắc thì không hợp, giống như mặc áo tứ thân “quan họ Bắc Ninh” không chít khăn mỏ quạ” mà lại “đội khăn vàng hoàng hậu” như trong câu:

Huế ơi! Không biết bây chừ
tiếng ca nào vương bên mạn thuyền có ai chờ ai qua Tràng Tiền?
Không biết bây chừ nữ sinh mang nón bài thơ
để trai xứ Huế mộng mơ.

Cũng có ca sĩ hát (Như Quỳnh chẳng hạn, khi hát phần sau) “Không biết bây chừ, tiếng cao nào vương bên mạn(g) thuyền(g), có ai chờ ai qua Tràng Tiền(g).

Những chữ có (g) ở trên, nghe “hợp âm” với bây “chừ”, “bên ni”, “bên nớ”.

Tôi sẽ trở lại với cách phát âm “tiếng Huế” nầy khi bàn tới bài thơ hay nhứt trong những bào thơ viết về Huế: “Tạm biệt Huế” của Thu Bồn.


(Còn tiếp – Ký tới. Bài số 3:
“Huế Lãng mạn” – “Kim Luông có gái mỹ miều…”

(1)-Người Việt chúng ta còn hơn người Tầu ở chỗ đó. Mỗi vùng họ nói tiếng một thứ tiếng : Tiếng Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, tiếng Hẹ (một thành phần du mục của người Tầu như người Gypsy bên Châu Âu. Người Tầu thường tỏ ý khinh thị người Hẹ, mặc dù ở nước ta, họ cũng là di dân “tha phương cầu thực” như nhau.

(2)-Dân Saigon có câu “chọc quê” người Bắc vào Nam sau 1975. “Tôi “nái” Hon-Đa, từ đường “Nê Nai”, qua đường “Nê Nợi”, “nạng” qua “nạng nại”, “neo nề” “lằm” “nuôn”.

(3)-Truông Nhà Hồ (làng Hồ Xá), tiếng nói nhẹ hơn. Ca dao có câu:

-Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ!
Thương anh em cũng muốn vô,
Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang!

-Phá Tam Giang ngày rày đã cạn
Truông Nhà Hồ, Nội Tán dẹp yên.

Phá Tam Giang là nơi ba con sông: Sông Hương, sông Bồ và sông Ô Lâu đổ nước vào, trước khi ra biển.
Quan Nội Tán Nguyễn Khoa Đăng, người dẹp yên giặc cướp ở truông Nhà Hồ vào đời chúa Minh (Nguyễn Phúc Chu).

(4)- “Đất sét”, với “đất séc”. “Sét” đánh với “Séc” đánh.
“ăn” cơm thay vì “ăng” cơm. Cái “chén” thay vì cái “chéng”. Phát âm theo giọng Quảng Trị đúng với chính tả. Nhưng khi phát âm “Lê Duẫn” thành “Lê Dũn” hay “luật pháp” thành “lụt pháp” thì sai.

(5)-Huế xưa – nhạc và lời Châu Kỳ (không phải của Anh Bằng hay Lê Minh Bằng). Bài được soạn sau biến cố Mậu Thân ở Huế (1968)

Tôi có người em sông Hương núi Ngự,
của lũy tre Thôn Vỹ hiền từ, của kinh thành cổ xưa thật xưa.

Buổi trưa em che nón lá, cá Sông Hương liếc nhìn ngẩn ngơ, lũ chim quyên ngất ngây từ xa.

Tôi sống độc thân trong căn phố nghèo, bởi trót thương nên nhớ thật nhiều, bởi em là hạnh phúc tình yêu.
Ở bên ni qua bên nớ cách con sông chuyến đò chẳng xa.
Nhỏ sang thăm có tôi đợi chờ.

Huế ơi! Không biết bây chừ
tiếng ca nào vương bên mạn thuyền có ai chờ ai qua Tràng Tiền?
Không biết bây chừ nữ sinh mang nón bài thơ
để trai xứ Huế mộng mơ.

Huế ơi! Ta nhớ muôn đời
Bóng trăng hồ sen trong Hoàng Thành.
Tiếng chuông từng đêm Thiên Mụ buồn.
Ta nhớ muôn đời người con gái Huế quá xinh!
Tóc mây ngang lưng trữ tình.

Non nước Thần Kinh đất lạnh.
Cả trái tim sông núi của mình.
Cả linh hồn của dân hùng anh.
Bởi đâu gây nên nông nỗi cánh chim bay giữa trời lẻ loi.
Nhỏ tôi yêu khóc bao giờ nguôi?

Tôi đã lạc em trong cơn biến động.
Để tháng năm hai đứa lạnh lùng.
Để đêm ngày kẻ nhớ người mong.
Khổ đau cao như mây .
Phố năm xưa đã buồn buồn thêm.
Nhỏ yêu ơi! Biết đâu mà tìm?

[post_connector_show_children slug=”hu%e1%ba%bf” parent=”26283″ link=”true” excerpt=”false”]