Trong đời sống của dân tộc, người nghệ sĩ thường là kẻ đi tiên phong. Thật đấy, họ thường đi trước trong các công việc xã hội như từ thiện: cứu giúp người nghèo khổ, bệnh tật, người gặp thiên tai như hỏa hoạn, bảo lụt, nạn nhân chiến tranh…

Tại sao?

Tại vì người nghệ sĩ thường có tình cảm mãnh liệt hơn những người khác, có khi hơn cả những người “gọi là” tu hành và tấm lòng chân thật của họ: (Yêu ai cứ bảo là yêu… Phùng Quán – Lời Mẹ Dặn). Một cảnh bi thương nào đó, nói chung, làm cho họ xúc cảm, thương xót, có khi đau đớn… nên họ nghĩ họ phải làm gì đó cho nạn nhân, và dĩ nhiên cũng để xoa dịu mối thương cảm của chính trong lòng người nghệ sĩ, – họ làm điều tốt vì chính lòng của họ – nhưng lại có ích cho nạn nhân.

Ngay cả trong đời sống chính trị của một đất nước, dân tộc, người nghệ sĩ cũng là người trước tiên chịu nỗi đau của đất nước, của dân tộc và họ phải dấn thân!

Dù có suy nghĩ như vậy, từ lâu, từ khi lớn lên, học văn chương, yêu văn chương và làm nghề… dạy văn chương cho học sinh, tôi vẫn cứ ngỡ ngàng và thích thú khi đọc đoạn văn sau đây của ông Vương Hồng Sển, trong cuốn hồi ký của ông, kể lại câu chuyện 50 năm mê hát cải lương – tưởng là chuyện chơi đùa giải trí – nhưng thật ra là vì lòng yêu nước:

“Căn cứ theo sách vở thâu thập, và của những người hơn tôi nói lại, và nếu tôi không lầm thì buổi sơ khởi của cải lương, và do sự ngẫu nhiên, sự tình cờ, là do lòng ái quốc mà nên.

Lòng ái quốc của một số người bị mất nước, cố tìm lối trồi đầu lên để cho tinh thần quốc gia còn tồn tại.

            “Người miền nam có cái hay là, khi dùng bạo lực chỉ hại thân vào tù thì họ không dùng bạo lực. Họ cố nén lòng thương nước, chôn dấu trong một bề ngoài lêu lổng chơi bời… Thuở ấy ta phải biết bọn lính kính chó săn cũng không vừa, vẫn rình mò chờ dịp lập công cho Tây… Những người có đầu óc thì kẻ bị lưu đày bắt bớ, còn sót lại là người dư dả, có của thừa, lại giữ kế ăn chơi cờ bạc, để đánh lạc đường quân thám tử. Cũng may thay đờn ca cờ bạc, thét cũng chán, do đó họ tìm được một mục đích cho cuộc đời…”

(Hồi ký Vương Hồng Sển,

“50 năm mê hát”, phần 1)

Thông thường thì tôi cứ nghĩ cải lương là một sự “cải lương” của hát bội.

Nghĩa hai chữ cải lương trong “Hán Việt Từ Điển” của Đào Duy Anh là “Đổi thành tốt hơn (réformer, perfectionner)”. Có thể là cách hát – tôi nói là cách hát – chớ không phải là tuồng tích, lỗi thời, nên người ta đổi cách hát cho mới hơn, hay hơn…

Như tôi có nói trong bài viết “Hát bội, hồn ma cũ”, tính cách luân lý trong hát bội là rất cao. Tuồng hát bội bao giờ cũng ca ngợi, bảo tồn và luôn cả giáo dục về trung, hiếu, tiết nghĩa… Ngay trong cách hóa trang của nó: sắc mặt, râu tóc, mắt mũi đều có tiêu chuẩn về đạo đức cả đấy, nghĩa là người ngay, kẻ nịnh, trung thần, gian thần… thảy đều có những tiêu chuẩn hóa trang khác nhau; mới nhìn vào, khán giả biết ngay người ấy tốt hay xấu, dù trình độ người xem không cao!

&

Tôi cứ tưởng như kể từ sáu câu “Dạ cổ hoài lang” của ông Sáu Lầu ở Bạc Liêu và sự phát triển sau đó của nó, làm cho cách hát cải lương du dương, trầm bỗng hơn, thậm chí cả rên rỉ, đau đớn hơn, v.v…. và v,v…

Nghĩ như thế là sai đấy!

Cải lương bắt đầu sớm hơn như người ta tưởng, và cũng bắt nguồn từ lòng yêu nước của người dân Nam Bộ mà ra. Xin nói rõ lại là từ những người yêu nước, chứ không không phải từ những kẻ giàu có muốn ăn chơi vui thú, giàu tiền nhiều của của những ông chủ điền kiểu công tử Bạc Liêu, Sadec…

Vậy thì, những người nghệ sĩ cải lương của đầu thế kỷ 20, thời kỳ sơ khai của cải lương, là những người đi tiên phong trong phong trào yêu nước của người dân Nam Bộ, sau khi những cuộc khởi nghĩa chống Pháp bằng vũ lực tàn lụi dần vì sức mạnh súng đạn của bọn Tây.

Ngay như bản cải lương “Dạ Cổ Hoài Lang” cũng có người bàn đến lòng yêu nước của người Nam Bộ gởi gắm trong đó, chớ không phải đơn thuần chỉ là một bài ca do ông Sáu Lầu viết thay cho vợ khi hai vợ chồng ông, vì hoàn cảnh đặc biệt thời kỳ ấy mà phải xa nhau.

Có tài liệu nói rằng: “Ông Cao Văn Lầu cùng các bạn học đồng thời đã được thầy là nhạc sư Lê Tài Khí (Nhạc Khị) hướng dẫn sáng tác theo một chủ đề là “Chinh phụ vọng chinh phu”, được rút ra từ bản Nam ai “Tô Huệ chức cẩm hồi văn.”

(Lời kể của ông Trần Tấn Hưng,

bạn đồng môn của ông Sáu Lầu)

Trong tác phẩm “Nghệ Thuật Cầm Ca”, nhà văn Toan Ánh cho biết:

Ở chùa Hòa Bình tỉnh Bạc Liêu, có một nhà sư pháp danh là Nguyệt Chiếu. Thấy nhà sư nho học uyên thâm với tư tưởng ẩn dật, người ta đoán chừng là một văn nhân chống Pháp trong thời Cần Vương, nay thất thời nên tạm lánh mình vào cửa Phật… Tuy đã đi tu nhưng vẫn mang nặng tình non nước…nên nhà sư mới đem tâm sự mình ký gửi vào bài từ, đề là “Dạ cổ hoài lang”.

            Và bài thơ này được ông Sáu Lầu phổ thành nhạc…

Đó là giới nghệ sĩ yêu nước của miền Nam!

Miền Bắc thì sao?

Ai ai cũng biết từ cuộc “toàn dân kháng chiến” chống Pháp tái chiếm Việt Nam năm 1945, 46, đại đa số người Việt Nam đều tham gia, không phân biệt tầng lớp dân chúng nào. Giới nghệ sĩ Hà Nội và miền Bắc đều đi theo tiếng gọi “kháng chiến”.

Lần hồi, vì Việt Minh dần dần lộ ra bộ mặt Cộng Sản, vì “biên chế” – tức là phân biệt vô sản với tiểu tư sản, tư sản, bần nông, trung nông, địa chủ và “cải cách ruộng đất”  – thực chất là cướp tài sản của dân chúng để “đãi ngộ” cho tầng lớp vô sản đã cống hiến nhiều cho đảng Cộng Sản -, nhiều người bỏ kháng chiến về “vùng Quốc gia” – (“Đã mười năm qua, tôi đã trở về Quốc Gia, anh còn mê mãi chưa về! Mà con đường ấy, xin đừng chớ có đam mê” – Duy Khánh hát, trước 1963).

Cũng có rất nhiều người, muốn từ bỏ Việt Minh mà về, nhưng không về được, nhất là một số đông văn nghệ sĩ. Mãi đến năm 1955, họ về Hà Nội cùng với cái gọi là “bộ đội Việt Minh”.

Được ít năm, họ là những người bị chính quyền Cộng Sản Hà Nội gán cho một trọng tội:“chống đảng” (CS).

Trong cuốn sách “Trăm Hoa Đua Nở trên Đất Bắc”, Hoàng Văn Chì viết:

“Trí thức ở miền Bắc Việt Nam đã nổi dậy chống lại chế độ cộng sản từ mùa Xuân năm 1956 mà mãi đến cuối Thu năm ấy, ở Miền Nam mới biết!

Tại sao ở Miền Nam người ta biết chậm vậy?

Vì chế độ Cộng Sản là chế độ “bưng bít”!

Bắc Việt, trước 1975, là nơi được giới báo chí quốc tế xem là nơi “kín nhất thế giới!” Người ta, nói chung, khó biết được điều gì xảy ra trong xứ sở đó, nhất là trong nội bộ Cộng Sản.

Những năm đầu, khi Hiệp Định Genève được thi hành, người dân Nam Bắc còn được trao dổi thư từ nhưng chính quyền cả hai phía đều kiểm soát rất chặt chẽ. Trong thư gởi, ngoài một vài tin tức gia đình – tuy là “việc nhà” nhưng cũng phải viết theo bài bản “Nhờ ơn Bác và Đảng nên mọi người rất được ấm no, hạnh phúc” – một người bạn di cư của tôi, anh Bùi Xuân Tụ, nhận được thư từ ngoài Bắc gởi vào viết như thế – Cái được gọi là ơn “Bác và Đảng” ấy, thời kỳ ấy 1955, chúng tôi ở trong Nam tin là có thật đấy!

Giới nghệ sĩ ở Miền Nam và Saigon, trước 1954, có khuynh hướng ủng hộ “Nam bộ Kháng Chiến”, dù họ đang sinh hoạt ở ngay Saigon hay trong bưng biền, hay có khi “vào thành”, có khi “ra bưng”. Đó là trường hợp của Vũ Anh Khanh, tác giả “Nửa Bồ Xương Khô”, là Lý Văn Sâm, tác giả “Sau Dãy Trường Sơn”, “Kòn Trô”, và một số tác giả của “Tủ Sách Bạn Trẻ” của nhà xuất bản Tân Việt Saigon.

Những nhà văn nổi tiếng (cả Bắc lẫn Nam) có tác phẩm xuất bản ở Saigon bấy giờ là Thẩm Thệ Hà, Dương Tử Giang (vượt ngục bị bắn chết thời Ngô Đình Diệm), Tô Nguyệt Đình (tức Nguyễn Bảo Hóa), Khổng Dương, Văn An, Việt Quang, Đoàn Giỏi, Hồ Hữu Tường, Trần Văn Ân, Tam Ích, Bùi Đức Tịnh, Sơn Khanh, Nguyễn Khắc Oanh… (Xem Văn Chương Nam Bộ Kháng Chiến / Nguyễn Văn Sâm). Những người nầy, một số “tập kết ra Bắc” theo Hiệp Định Genève năm 1954. Một số ở lại Saigon, hoạt động “chậm lại” trước sự “năng nổ chống Cộng”  những “nhà văn di cư năm 1954”.

Dĩ nhiên, những “nhà văn Nam Bộ thời kháng chiến” nầy, không “mặn mà” gì lắm, với những nhà văn trong nhóm “Nhân Văn Giai phẩm”. Những “nhà văn chống Cộng thời di cư” chắc hẳn cũng như thế thôi. Họ mới vô Nam, còn lo ổn định cuộc sống, công ăn việc làm, lo toan gia đình. Mãi hai năm sau, khi các sách của giáo sư Hoàng Văn Chì được phổ biến, họ mới “tiếp tay” với những “tác phẩm” của nhóm “chống Đảng” ở Hà Nội.

Cũng giáo sư Hoàng Văn Chì nhận xét:

“Trí thức ở miền Bắc trước kia đã chân thành hợp tác với cộng sản để kháng chiến mà ngày nay phải dứng dậy chống lại chính quyền cộng sản, một phần vì nhiệm vụ thiêng liêng của họ bắt họ phải luôn luôn tranh đấu cho tự do dân chủ mà chế độ cộng sản cũng chỉ hẹn hò nhưng thực sự không mang lại. Một phần khác cũng vì chính bản thân họ bị bóc lột và bị áp bức tới mức độ mà không ai chịu nổi. Nhìn xung quanh mình, người trí thức chỉ thấy chém giết và khủng bố, dã man hơn cả những thời kỳ mà sử sách đã ghi chép, nhìn vào bản thân, họ thấy họ trở thành một thứ tôi đòi, vừa bị bóc lột vừa bị chà đạp. Từ giai cấp tiểu tư sản họ tụt xuống trở thành vô sản. Từ địa vị lãnh đạo tư tưởng và học thuật họ đã trở thành một thứ người mà ông Mao ngang nhiên gọi là “không ích lợi bằng cục phân”.

            “Chúng ta không thắc mắc về cảnh sống trong kháng chiến. Nhưng trở về Hà Nội, giữa những phố xá đầy nhung lụa, tủ kính và ánh đèn xanh đỏ, có lẽ chưa bao giờ người nghệ sĩ cảm thấy cay đắng như lúc này. Cần phải nói thẳng rằng ở một toà soạn báo văn nghệ, trong số 8 biên tập viên có vợ, thì 6 người đã thất nghiệp hay bán thất nghiệp. Những trang giấy trắng đáng lẽ chỉ dùng để chép thơ cũng đã bao lần biến thành đơn xin việc. Những lá đơn ấy gởi đi rồi im lặng không nghe một tiếng trả lời.

            “Hiện nay trong giới văn nghệ sĩ ở miền Bắc có hai giai cấp, sống hai đời sống quá chênh lệch. Cụ Phan Khôi gọi giai cấp trên là giai cấp lãnh đạo và giai cấp dưới là giai cấp quần chúng văn nghệ. Cụ Phan Khôi gọi như vậy vì cụ muốn nói cho có văn vẻ. Sự thực thì nhiều người gọi một cách nôm na là “cai văn nghệ” và “cu ly văn nghệ”. Gọi bằng hai danh từ đó mới thực sự nêu lên được tình trạng “người bóc lột người”. Người bóc lột hiện nay không phải là một nhân vật cầm ba-toong, ngậm xì-gà mà là Đảng, một vật vô hình, bóc lột hàng triệu nô lệ làm việc bằng chân tay hay bằng trí óc, để nuôi một lũ cán bộ “thắt cà vạt đỏ và ăn tiệc nhồm nhoàm”.

            “Đây quả thật là một cuộc đấu tranh giai cấp, giữa một giai cấp thống trị ngồi mát ăn bát vàng và một giai cấp bị trị, bị bóc lột đến tận xương tủy.

            “Trong khi bọn văn nghệ sĩ dám can đảm sống với lý tưởng của mình để không có củ khoai mà ăn thì Nguyễn Tuân sang Helsinki dự Hội nghị Hoà bình Thế giới, ở một khách sạn lớn vào bực nhất mà còn chê là cơm ở khách sạn đó không hợp khẩu vị. Nguyễn Tuân viết: “Mỗi ngày ăn ba bữa, khẩu phần thừa thãi bổ béo; nghi thức lúc ăn thực là sang trọng; đồ sứ, pha lê, khăn bàn trắng muốt, quanh bàn ăn chốc chốc lại cử nhạc, những chị đưa món ăn trông đẹp như rượu rót trong các truyện thần thoại… Nhưng tôi ăn uống sao không thấy ngon…”.

            Tâm trạng của đại đa số trí thức ở miền Bắc, nhất là những tir thức đã dày công theo đuổi kháng chiến, là thấy mình bị lợi dụng tài năng, bị bạc đãi, khinh miệt và cuối cùng là ruồng bỏ, và khủng bố. Tâm trạng đó giống hệt tâm trạng một người đàn bà đẹp, bị rơi vào phận lẽ mọn, và bị chồng và vợ cả vùi dập. Nếu ngày xưa Hồ Xuân Hương đã cám cảnh vợ lẽ mà thốt ra câu:

                        Chém cha cái kiếp lấy chồng chung

                        Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng

            Thì ngày nay cụ Phan Khôi cũng phải ngán cảnh “kháng chiến ngõ ngoài” mà ngâm mấy vần thơ sau đây:

                        Tuổi già thêm bệnh hoạn

                        Kháng chiến thấy thừa ta

                        Mối sầu như tóc bạc

                        Hễ cắt lại dài ra.

            Từ chỗ uất ức đó tiến tới chỗ ra báo để ngang nhiên chống lại Đảng chỉ có một bước.

&

Văn nghệ sĩ thời Việt Nam Cộng Hòa ở lại Saigon sau 1975?

Chỉ một hơn một nửa năm sau ngày “quân viễn chinh Bắc Việt” chiếm đóng Miền Nam, một số đông văn nghệ sĩ Saigon cũ bị chụp cho cái mũ to “những tên biệt kích văn nghệ” và “được” đưa đi “học tập cải tạo” trong các trại tù Cộng Sản.

Cho đến bây giờ, gần nửa thế kỷ qua, việc trả thù nầy của Cộng Sản đối với giới nghệ sĩ miền Nam, vẫn được dân chúng và người trong cuộc xem như còn mới mẻ, mặc dù không ít người đã ra người thiên cổ. Người ta không dễ quên những nỗi oan khiên ấy!

Hoàn cảnh ngày nay?!

Dĩ nhiên, những người trong “nhóm Văn Nghệ sĩ chống Đảng” đều bị đánh tan tác, hoàn toàn đầu hàng, mặc dù họ từng theo kháng chiến, theo Cộng Sản hay từng là đảng viên.

Có người chết, có người bị đày cho đến chết (như Nguyễn Hữu Đang), có người bị điên cho đến chết (như Trần Đức Thảo), nhiều người thay bút hiệu để được làm bồi bút mà sống, bút hiệu cũ đành “câm miệng”, như Lê Đạt, Phùng Quán…

Giới nghệ sĩ Saigon không may mắn hơn, mặc dù số đông đã được định cư ở Mỹ và tiếp tục công việc chống Cộng bằng ngòi bút hay computer!

Có người đã chết, nhưng tinh thần của họ không bao giờ chết!

Tiếp nối!

Sự thất bại của ông Trúc H

Khi nhạc sĩ Việt Khang được “tha ra khỏi trại cải tạo” – câu thường ghi trong lệnh tha – và được đi Mỹ, do sự vận động của ông Trúc Hồ và sự can thiệp trực tiếp của Thượng Nghị Sĩ John McCain và hiều người khác, nhiều người Việt Hải Ngoại hoan hô, đón tiếp Việt Khang. Cảnh tượng thật cảm động. Ai ai cũng mừng cho một con người chân chính và can đảm vừa thoát khỏi chế độ độc tài Cộng Sản.

Đối với Việt Cộng, chúng nó cũng thấy khỏe. Họ “tiếp nối” cái gọi là “Chương trình HO”, có nghĩa là Việt Cọng muốn “một mình một chợ”, muốn cai trị đất nước như thế nào tùy ý. Còn như ai còn ở lại trong nước, có thể “làm phiền” việc cai trị của chúng, thì chúng cho vào cái gọi là trại cải tạo, hay cho ra nước ngoài, bằng cách nầy hay bằng cách khác… Sau HO, lần lượt những kẻ chống Cọng – dưới những tên gọi khác nhau – đều “được đi Mỹ”, “đi Pháp”, “đi Úc”. Ai không đi thì bị “bịt miệng” như linh mục Lý, hay chỉ “quanh quẩn trong nhà” như bác sĩ Nguyễn Đan Quế.

&

Tiếng hát của Việt Khang, nhạc do Việt Khang sáng tác, có sự tác động mạnh mẽ đối với người nghe khi nó được hát lên ở trong nước, viết ra ở trong nước. Còn như khi những bài hát ấy được hát ở Mỹ, ở Pháp. v.v… thì chúng ta – người Việt Hải Ngoại – nghe với nhau, hoan hô với nhau, “sướng” với nhau, còn ở trong nước, dân chúng có nghe được không? Có hoan hô được không? Có “sướng” được không? Và có “tác động” gì tới Việt Cộng không?

Một người từng làm ngành truyền thông như ông Điếu Cầy, từng có kinh nghiệm với công việc của ông, có một ý kiến xác đáng: “Truyền thông trong/ ngoài”, tức là người Việt Hải Ngoại và người Việt trong nước “thông tin” được với nhau.

Trong việc lật đổ chính quyền Cộng Sản Ba Lan của Jaruzinsky, kinh nghiệm cho người ta thấy sự “quan hệ” trong/ ngoài của người dân Ba Lan rất quan trọng. Người Ba Lan ở ngoài nước, đóng vai trò không nhỏ trong việc giúp Công Đoàn Đoàn Kết của Lech Walesa lật đổ chính quyền Cộng Sản ở nước nầy.

Tôi có hỏi một người làm giám đốc một cơ quan truyền thông ở hải ngoại về ý kiến của ông Điếu Cầy. Ông ấy giải thích với tôi là việc “truyền thông trong/ ngoài” ngày nay không khó vì phương tiện dễ mua sắm và dễ dùng hơn ngày trước. Cell phone là một thí dụ!

Nhưng tôi vẫn không an tâm, bởi vì sự “liên lạc” và “tuyên truyền” là hai vấn đề khác nhau. Chúng ta có thể dùng phương tiện liên lạc để tuyên truyền, nhưng người có phương tiện liên lạc có dùng nó để nghe tuyên truyền không lại là một vấn đề khác.

Làm thế nào người ta ưa thích việc dùng phương tiện liên lạc để nghe tuyên truyền?

Một ví dụ: Có bao nhiêu người trong nước dùng cell phone để nghe đài VOA, RFI, RFA, BBC. Còn những đài của người Việt hải ngoại ở Cali, người trong nước có nghe được không? Có ưa nghe không? Hay chúng ta ở ngoài nầy nghe với nhau và nghe quảng cáo “Sâm sáu tuổi” của Đại Hàn hay “Fucoiden Okinawa” của Nhật Bổn?

Ông Trúc Hồ đã “đem” được Việt Khang qua Mỹ. Ấy là thành công, tại sao tôi lại nói ông Trúc Hồ thất bại?

Mai đây, ở xứ sở tự do nầy, ông Việt Khang có viết một ngàn bài “Việt Nam tôi đâu?” hay vạn bài “Anh là ai?” thì cũng không có một ai “đụng đến cái lông chân” của ông Việt Khang? Bọn Việt Cộng ở trong nước cũng “trơ mắt ếch” ra mà nhìn thôi! Làm gì được Việt Khang? Việt Khang “thoát” rồi!

Nhưng điều chúng ta hoan hô Việt Khang, cái gì là chính? Vì ông ta viết nhạc hay, hát hay, hay vì sự can đảm của ông ta?

Tôi không nghĩ chúng ta hoan hô Việt Khang vì ông hát hay hay nhạc của ông hay mà vì sự cam đảm của Việt Khang. Trong cái trùng trùng vây bủa của dùi cui, nắm tay, đạp chân, súng ngắn, súng dài, nhà tù và cả bắn bỏ… Việt Khang vẫn hát, vẫn viết nhạc. Có mấy ai như ông? Chúng ta hoan hô ông là phải!

Nhưng vấn đề không phải là đem Việt Khang ra đây!

Không phải là chuyện tào lao “Thằng anh” không bao giờ bỏ “Thằng em” theo kiểu “giang hồ!”

Vấn đề là người ngoài nầy, giới nghệ sĩ ngoài nầy về trong nước mà hát với Việt Khang, viết nhạc cùng Việt Khang, ở ngay Việt Nam.

Con đường đó không dễ đâu! Sẽ có đàn áp, sẽ có đánh đạp, sẽ có tù đầy…

Và trong nước không còn Việt Khang nào nữa hay sao? Những Việt Khang âm thầm, những Việt Khang sắp nổi lên, Việt Khang “tương lai”. Họ đang ở trong nước, hay sẽ về trong nước, sẽ bị đánh đập, tù tội như Việt Khang. Liệu lúc đó có đủ những “Thằng anh” không bao giờ bỏ những “Thằng em” theo kiểu Trúc Hồ, để “cứu” họ ra khỏi Việt Nam. Không chừng những người đó, theo gương bác sĩ Nguyễn Đan Quế, lại không chịu đi!

(còn tiếp)

hoànglonghải

[post_connector_show_children slug=”ngh%e1%bb%87-s%c4%a9-ng%c6%b0%e1%bb%9di-%e1%bb%9f-%c4%91%c3%a2u” parent=”25993″ link=”true” excerpt=”false”]