Năm 1972, ngày 6-2, Mỹ đề nghị Bắc Kinh dàn xếp một cuộc tiếp xúc với Lê Đức Thọ trong dịp Nixon sang thăm Bắc Kinh nhưng Thủ tướng Chu Ân Lai từ chối ( Hồi ký của Kissinger ).

*[ Theo Bunker thì Tổng thống Thiệu tỏ ra đa nghi khi ông hỏi Bunker rằng Kissinger và Nixon có gặp Lê Đức Thọ tại Bắc Kinh hay không?  Bunker trả lời rằng ông không có tin tức gì về việc ấy, và ông nghĩ rằng người ta không muốn sự có mặt của Lê Đức Thọ vào lúc đó. Có lẽ Bunker buồn cười cho tính đa nghi của Thiệu, nhưng ông sẽ phục lăn Thiệu nếu ông biết được sự thật Kissinger quả có đề nghị được gặp Thọ tại Bắc Kinh ].

Năm 1972, ngày 21-2, Tổng thống Nixon viếng thăm Trung Cọng, đánh dấu một bước ngoặt mới trong quan hệ giữa hai nước sau 20 năm thù địch.  Việc nối lại quan hệ với Mỹ sẽ giúp Trung Cọng hội nhập với thế giới và có vai trò xứng đáng trong Liên Hiệp Quốc.  Hai nước sẽ thảo luận về vấn đề Đài Loan và vấn đề trao đổi kinh tế giữa hai nước.

Khi nói chuyện với Mao Trạch Đông về chiến tranh Việt Nam Tổng thống Nixon cho biết ông sẽ thực hiện rút hết quân về trong vòng 3 tháng với điều kiện tù binh chiến tranh được thả về.  Ông sẵn sàng viện trợ tái thiết cho Cam Bốt, Lào, Bắc Việt và cả Nam Việt Nam nhưng ông sẽ không lật đổ Thiệu.  Ông cũng nói rằng ông biết Liên Xô đang xúi Bắc Việt tiếp tục giải quyết chiến tranh bằng chiến trường.  Hễ chiến tranh VN càng kéo dài thì Liên Xô càng thủ lợi. ( Hồi ký của Nixon ).

*Chú giải : Hậu quả cái bắt tay của Nixon và Mao Trạch Đông

Trong khi Kissinger đang còn ở Bắc Kinh thì ông nhận được tin báo của Walters, đại diện của Kissinger tại Paris, rằng Lê Đức Thọ muốn gặp Kissinger sau khi ông ta đi Bắc Kinh về.  Kissinger sướng mê người bởi vì tin cho biết là buổi hội này có ăn trưa, một điều chưa từng có,  nghĩa là Hà Nội đã chịu nghe lời của Bắc Kinh.

Nhưng thực ra Kissinger đã bị lừa, trong khi Kissinger yên trí với những điều hấp dẫn sắp được thưởng thức thì Hà Nội âm thầm điều động 14 sư đoàn và 48 trung đoàn quân Bắc Việt vào Nam.  Đội quân này gồm cả chiến xa T.54 và trang bị toàn là vũ khí hiện đại.

Thêm vào đó, Ngoại trưởng CSVN y Trinh lên tiếng kêu gọi nối lại đàm phán để cho Mỹ mất cảnh giác.  Kissinger và Nixon không ngờ Liên Xô và Hà Nội đang chuẩn bị xua toàn quân Miền Bắc tràn vào Nam, giống như quân Bắc Hàn tràn xuống Nam Hàn năm 1950.

Mỹ bắt tay với Trung Cọng thì Liên Xô ra tay

Sau chuyến đi bí mật của Kissinger từ ngày 9 đến ngày 11-7-1971, ngày 13-7-1971 Chu Ân Lai bay sang Hà Nội để thông báo cho Hà Nội hãy “kết thúc chiến tranh” với Mỹ để Mỹ sẽ giải quyết “vấn đề Đài Loan” cho Bắc Kinh ( Bạch thư của nước CHXHCN Việt Nam, phát hành tháng 10 năm 1979, trang 57 ).  Tới lúc này Lê Duẩn mới thực sự trắng mắt.  Ông ta cùng với Lê Đức Thọ vội vàng bay đi Mạc Tư Khoa cầu cứu.

Tại Mạc Tư Khoa Brezhnep cũng bật ngữa trước tin Nixon mưu tính bắt tay với Bắc Kinh để chống lại Liên Xô ( Phân hóa đội ngũ phe Cọng sản ). Brezhnep quyết định viện trợ một số lượng vũ khí khổng lồ cho Hà Nội để HN có thể xua quân tràn ngập Miền Nam như Bắc Hàn đã từng xua quân chiếm Nam Hàn năm 1950.  Brezhnep cần chứng minh cho Mỹ thấy rằng nếu Mỹ điều đình với một mình Trung Cọng thì không xong, mà phải điều đình với cả Liên Xô mới đúng.  Vì vậy Liên Xô tập trung dồn quân viện cho Hà Nội.

Với lượng vũ khí dồi dào chưa từng có, Lê Duẩn cho đóng cửa tất cả các trường đại học và trường cao đẳng tại Miền Bắc, ra lệnh động viên những thiếu niên từ 16 tuổi để chuẩn bị gởi vào Nam.  Theo sử gia quân đội CSVN thì đợt tuyển quân lần này là 500 ngàn quân.  Sau đó thì 200 ngàn quân Bắc Việt lên đường vào Nam.

“Encyclopedia of The Viem War”, của Spencer C.Tucker phát hành năm 2.000, cho biết khởi đầu Lê Duẩn tung vào Miền Nam 14 sư đoàn và 26 trung đoàn biệt lập, tất cả khoảng 120 ngàn quân. Cuộc chuẩn bị vĩ đại của Lê Duẫn khởi sự từ mùa thu 1971, được ngụy trang dưới thình thức chuẩn bị đối phó với trận tấn công đổ bộ của “Mỹ ngụy” sau trận Hạ Lào.

của CSVN : “Về ta, cuối năm 1971, các đơn vị chủ lực của ta lần lượt trở lại chiến trường miền Nam, củng cố được địa bàn đứng chân dọc miền Tây các tỉnh Trung Bộ, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ đến đồng bằng Long (Trần Hà. Tạp chí Thông tin Lịch sử Quân sự, số 4, tháng 4, 1991, Trang 4).

Đoạn trên đây chứng tỏ sau cuộc tấn công của quân đội VNCH và quân đội HK sang Cam Bốt vào tháng 4 năm 1970 thì lực lượng vũ trang chính quy của CSVN tại Miền Nam hoàn toàn tan rã.  Cối năm 1971 Hà Nội mới bắt đầu đưa quân vào Nam để điền thế các đơn vị vũ trang của Mặt trận Giải phóng Miền Nam bị tiêu diệt sau trận Mậu Thân.

Hồi ký của Tướng Lê Đức Anh cho thấy sau trận Mậu Thân 1968 ông và Tướng Phạm Hùng, Tướng Hoàng Văn Thái ra Bắc bằng máy bay của Hoàng gia Cam Bốt để “báo cáo tình hình”, thực chất là chạy tránh bị truy quét sau khi tất cả các đơn vị quân đội bị tan rã.  Bởi vì sau đó ông lưu lại Hà Nội để “trị bịnh” trong 1 năm.  Cho đến tháng 7 năm 1969 ông mới trở lại Miền Nam để bắt đầu tổ chức gầy dựng lại các đơn vị chiến đấu tại Miền Tây Nam Bộ.

Đến năm 1971 ( Hồi ký của Lê Đức Anh không nói rõ tháng, nhưng có lẽ là cuối năm theo như của Trần Hà ) Hà Nội mới điều vào Miền Tây 2 trung đoàn chính quy đầu tiên ( Trung đoàn 10 và Trung đoàn 20 ), sau đó là đưa quân Miền Bắc vào bổ sung dựng lại các trung đoàn 1,2,3 đã bị tan rã trong năm 1968.

Trong đợt bổ sung này có Phạm Văn Trà được giao cho chức vụ Tham mưu trưởng Trung đoàn 1.  *( Sau này là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ).  Cùng lúc này, tháng 10-1971,  Hà Nội cũng đưa 3 sư đoàn từ Bắc vào Mặt trận B.2 ( Miền Đông Nam Bộ ) thành lập lại Sư đoàn 5, Sư đoàn 7, Sư đoàn 9; là những sư đoàn “dỏm” được đặt tên trong trận Mậu Thân.

Trong khi đó tại Tây Nội cũng đưa quân vào bổ sung cho các trung đoàn chính quy bị tan nát sau trận Dakto tháng 11 năm 1967 ( Các trung đoàn biệt lập 28,66,45 và 40, trước đây các trung đoàn này thuộc Sư đoàn 235 B và F.10 nhưng 2 sư đoàn này đã bị giải thể sau trận Dakto ).

Đồng thời Hà Nội cùng tăng cường cho Tây Nguyên Sư đoàn 320 B, đây là sư đoàn 320 thứ 3;  sư đoàn 320 nguyên thủy bị tiêu diệt trong trận Hà Lào 1971, đến cuối 1972 được bổ sung bằng tân binh mới từ ngoài Bắc vào, cũng lấy tên là 320 (320 A) để thay thế Sư đoàn 320 đã bị xóa sổ, sư đoàn này hiện đang trú chân tại Hạ Lào để chuẩn bị đánh vào Quảng Trị.  Còn sư đoàn 320 B là sư đoàn 320 thứ 3 được đưa vào bổ sung cho Tây Nguyên, đến Tây Nguyên vào ngày 28-1-1972 do Nguyễn làm Sư đoàn trưởng và Phí Triệu Hàm làm Chính ủy.

Ngoài ra Hà Nội cũng tăng cường cho Tây Nguyên Trung đoàn 24 B ( thực ra là trung đoàn 24 thứ 3 ), Trung đoàn 7 Công binh, Trung đoàn pháo binh 675, 3 tiểu đoàn pháo cao xạ 37 ly, 1 tiểu đoàn xe tăng T.54, 1 đại đội tên lửa chiến thuật B.72 ( hỏa tiễn chống tăng AT.3 ), 1 đại đội pháo cao xạ tự hành 57 ly ( Hỏa tiễn tầm nhiệt SA.7, chống máy bay )., 1 tiểu đoàn ô tô vận tải, 1 tiểu đoàn thông tin.( Hồi ký của Tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp ).

Kissinger bềnh bồng trong giấc mộng chủ quan

Trong khi Hà Nội đang ráo riết chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công thì Kissinger lại đang bềnh bồng trong giấc mộng nhờ Bắc Kinh buộc Hà Nội phải trao trả tù binh.  Cuối năm 1971 Lê Đức Thọ đã hai lần từ chối gặp mặt Kissinger trước khi Nixon đi Trung Quốc khiến cho ông ta càng thêm tin chắc rằng Hà Nội buộc phải nghe lời Chu Ân Lai.  Kissinger lại mất cảnh giác hơn nữa khi nhận được lời mời họp mật  “có ăn trưa” của Lê Đức Thọ.

Tâm lý chủ quan của Kissinger khiến cho cơ quan CIA cũng bị ảnh hưởng theo.  Các quan chức đầu não của CIA dự đoán tình hình Việt Nam bằng cách “theo dõi nét mặt” ( Đoán tâm lý ) của những người đàm phán với Kissinger tại Paris.  Lối làm việc phi lý này đã khiến cho một chuyên viên phân tích tin tại trung tâm CIA là đã viết vào cuốn sách Decent Interval của ông :

“Cuối mùa Thu, nội dung và giọng điệu các báo cáo trở nên đáng quan ngại.  Tôi và một số bạn đồng nghiệp đã đi đến kết luận là có thể một cuộc tấn công lớn của Bắc Việt sẽ diễn ra.  Thế nhưng các xếp lớn CIA lại không dám đoan quyết như vậy, họ luôn luôn cẩn thận hỏi lại Kissinger trước khi đi đến kết luận cuối cùng. 

Kissinger thì đang bận tâm với cuộc đàm phán và không thể tưởng tượng nổi Bắc Việt có thể dở lại thói xấu trong quá khứ.  Do đó trong suốt mùa Thu và đầu các xếp lớn của chúng tôi đã ngăn chặn, làm giảm nhẹ hoặc sửa đổi các bản phân tích theo như suy nghĩ của họ” ( trang 21).

Đây là cung cách làm việc của trung tâm tình báo lớn nhất thế giới !… Mỗi năm CIA tiêu sài tiền tỉ của nhân dân Mỹ nhưng rốt cuộc thì CIA quan sát thế giới bằng cặp mắt kính chủ quan của cá nhân Kissinger.  Rồi từ con mắt của Kissinger, chính quyền Mỹ phải suy nghĩ và làm việc theo cái đầu của Kissinger …!!

BÙI ANH TRINH

[post_connector_show_children slug=”b%c3%b9i-anh-trinh-lu%e1%ba%adn-v%e1%bb%81-nguy%e1%bb%85n-v%c4%83n-thi%e1%bb%87u” parent=”16370″ link=”true” excerpt=”false”]