Trung Quốc nói : “Việt Nam nên tranh thủ thời cơ để giải quyết trước vấn đề rút quân Mỹ và quan tâm giải quyết vần đề tù binh Mỹ, việc đánh đổ ngụy quyền Sài Gòn là về lâu dài” ( Lời của Chu Ân Lai nói với Lê Đức Thọ và Phạm văn Đồng ).

Năm 1971, ngày 13-9, Kissinger trở lại Paris nhưng cũng chỉ gặp Xuân Thủy.  Cuộc họp xảy ra trong 2 tiếng và gần như là một cuộc cãi lộn ( Sau khi Hà Nội biết được Bắc Kinh đã bắt tay với Mỹ ). Biên bản buổi họp được ghi lại :

Kissinger : “Tôi biết Bộ trưởng đã phát biểu theo chỉ thị mà Bộ trưởng đã nhận nên tôi trả lời, đây là trả lời cho người đã ra chỉ thị đó”.

Xuân Thủy : “Tôi xin ngắt lời ông.  Tôi hỏi ông nói đây là theo chỉ thị của Nhà Trắng hay là ý kiến riêng ông?”

Kissinger :  “Thay mặt Nhà Trắng”

Xuân Thủy :  “Thay mặt Nhà Trắng thì tôi sẵn sàng nghe, còn nếu là cá nhân ông thì chỉ nghe một phần thôi.  Vì tôi cũng nghe những điều mà ông nói theo chỉ thị của Nhà Trắng và những điều tôi nói cũng chỉ để cho Nhà Trắng nghe”

Kissinger :  “Ông sẵn sàng nghe chứ?”

Xuân Thủy :  “Được, nếu là của Nhà Trắng”

Hai bên chia tay mà không hẹn ngày gặp lại.  Kissinger muốn gặp Lê Đức Thọ để thăm dò tình hình nội bộ Hà Nội trong khi ông ta đang thương lượng với Bắc Kinh.  Sự lánh mặt của Lê Đức Thọ khiến cho Kissinger nghĩ rằng Hà Nội đã thủ thế sau khi biết được Mỹ sẽ bắt tay với Trung Cọng để ép CSVN chấm dứt chiến tranh.

*Chú giải :  Trao Miền Nam cho họ

 Năm 1983, sau 8 năm nghiên cứu hồ sơ chiến tranh Việt Nam tại Ngũ Giác Đài, Tướng Cao Văn Viên hoàn thành tập “The Final Collapse”, trong đó ông nhận xét :

“Đến lần nói chuyện vào tháng 9 (1971) thì Hoa Kỳ mới hiểu được ý định thực sự của Cọng sản : Họ muốn Hoa Kỳ trao Miền Nam cho họ trước khi Hoa Kỳ rút quân” ( Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Kỳ Phong, trang 33 ).

Khi của Tướng Viên được tung ra thì ít ai hiểu được ý nghĩa của đoạn này, chỉ có những ai chuyên nghiên cứu về diễn tiến của hòa đàm Paris mới biết rằng đây là bước ngoặt rất quan trọng trong chiến lược đàm phán của Kissinger.

Từ trước tới nay Kissinger cũng như các chuyên viên đàm phán của Mỹ cứ đinh ninh rằng Hà Nội chỉ muốn Mỹ rút hết quân ra khỏi Việt Nam để họ có thể chiếm được Miền Nam dễ dàng.  Vì vậy chuyện còn lại là Mỹ phải thương lượng về con số bồi thường chiến tranh để được đem tù binh trở về.

Nhưng từ trước tới sau, qua 9 cuộc họp mật mà Hà Nội không hề đá động tới chuyện tù binh và bồi thường chiến tranh.  Mãi đến cuộc họp mật thứ 10 Lê Đức Thọ mới tung ra lá bài bồi thường chiến tranh và khăng khăng phải thay thế Thiệu.  Nhưng cung cách của Lê Đức Thọ lần đó và thái độ của Xuân Thủy lần này cho thấy Hà Nội coi vấn đề Thiệu mới là vấn đề sống chết, còn vấn đề bồi thường chiến tranh không quan trọng.

Biết được như vậy thì Kissinger và Nixon “sướng” quá, bởi vì họ có thể dễ dàng đặt ra một chiến lược mới để đối phó với những toan tính lâu nay của Hà Nội.  Cuộc họp thứ 12 này chỉ là để kiểm chứng lại xem suy đoán của họ có đúng hay không.  Nếu đúng như vậy thì họ sẽ sẽ sẵn sàng hạ bệ Thiệu để đem được tù binh trở về.

Và sau khi họ đã đem được tù binh trở về thì chính phủ kế nhiệm Thiệu sẽ là một chính phủ ngoài vỏ là “Trung lập” nhưng bên trong là người do CIA sắp đặt ( Kể cả người của CIA đang nằm trong MTGPMN ), trong khi đó vẫn duy trì quân đội Sài Gòn như là quân đội của chính phủ mới.  Và quân đội này sẽ chống lại quân Bắc Việt ( Nếu Bắc Việt có khả năng tấn công ) với sự yểm trợ tối đa của không quân và hải pháo Mỹ.

Lúc đó Mỹ sẽ không sợ phản ứng của Bắc Kinh hay Mạc Tư Khoa.  Cũng không lo ngại phản ứng của dân chúng Mỹ bởi vì đã rút hết quân và đem hết tù binh trở về.

Năm 1971, ngày 12-10, Nixon loan tin ông ta sẽ đi Liên Xô vào tháng 5 năm 1972.  Ngày 20-10 lại loan tin Kissinger sẽ đến Trung Quốc lần thứ hai.

Ngày 25-10, đại diện của Lê Đức Thọ tại Paris là Võ Văn Sung đến gặp đại diện của Kissinger là Tướng Walters, nói rằng Lê Đức Thọ sẵn sàng gặp Kissinger vào ngày 20-11-1971.  Nhưng đến ngày 17-11 Võ Văn Sung lại thông báo Lê Đức Thọ bị ốm không thể đi Paris. *[ Thực ra ngày hôm đó Lê Đức Thọ và Phạm Văn Đồng đi Bắc Kinh gặp Chu Ân Lai ].

Theo như “Sự thật về quan hệ Việt Nam- Trung Quốc 30 năm qua” thì trong cuộc gặp gỡ này Chu Ân Lai đã nói với Phạm Văn Đồng hãy trả tù binh Mỹ và đừng đòi hỏi Mỹ phải thay thế chế độ VNCH.:

“Việt Nam nên tranh thủ thời cơ để giải quyết trước vấn đề rút quân Mỹ và quan tâm giải quyết vần đề tù binh Mỹ, việc đánh đổ ngụy quyền Sài Gòn là về lâu dài” ( Bạch thư nước CHXHCN Việt Nam, trang 59 ).

Trung Quốc… công khai cấu kết với đế quốc Mỹ xâm lược, cứu nguy cho chúng trước cuộc tiến công chiến lược mới của nhân dân Việt Nam, lấy con bài Việt Nam để buôn bán với Mỹ ( Bạch thư của nước CHXHCN Việt Nam,  trang 66 )

Lê Duẩn cầu cứu Liên Xô

Sau khi biết đượcTrung Cọng bắt tay với Mỹ, Lê Duẩn và Bộ chính trị ĐCSVN quyết định ngã hẵn theo địch thủ của Trung Cọng là Liên Xô, quay ra đối mặt với Bắc Kinh, kể cả chấp nhận trở thành kẻ thù của Bắc Kinh.

Nhận được tín hiệu cầu cứu của Lê Duẩn, Brezhnep nhanh chóng đáp ứng vì biết rằng Mỹ đang muốn giải quyết chiến tranh VN qua con đường Bắc Kinh.  Vì vậy Brezhnep muốn chứng minh cho Mỹ thấy rằng cần phải thương lượng với Liên Xô chứ không phải riêng với Trung Cọng là đủ.

LX khẩn cấp lên kế hoạch viện trợ vũ khí và kinh tế cho Hà Nội để tổ chức một trận đánh lớn chưa từng có trong lịch sử chiến tranh Việt Nam ( Trận Mùa Hè 1972 ).

Cuối năm 1971 Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô là Nicolai Pogorny sang Hà Nội, sau khi ông trở về thì Tướng Pavel Batistsky, Thứ trưởng Quốc phòng Liên Xô, đến Hà Nội ( , Việt Nam Cọng Hòa Mười Ngày Cuối Cùng, trang 31.  Và , Decent Interval, trang 137 )

Chẳng những vậy, Liên Xô còn vận động các nước Cọng sản thân Liên Xô đổ dồn viện trợ cho Hà Nôi :

Ngày 3-12-1971 tại Hà Nội, Cọng Hòa dân Chủ Đức và CSVN ký kết hiệp định viện trợ kinh tế và quân sự cho Hà Nội trong năm 1972.  Ngày 29-12-1971 tại Cuba, CSVN và Cọng hòa Cuba ký kêt hiệp định viện trợ kinh tế cho Hà Nội trong năm 1972.  Ngày 31-12-1971 Cọng hòa Nhân dân Mông Cổ ký kết hiệp định viện trợ kinh tế cho Hà Nội trong năm 1972.

Bắt đầu từ tháng 10 năm 1971, vũ khí tối tân hạng nhất của Liên Xô ào ạt cập bến Hải Phòng với xe tăng T.54, hỏa tiễn địa địa 107 ly, hỏa tiễn địa địa 122 ly; hỏa tiễn cá nhân chống tăng AT.3 và Hỏa tiễn cá nhân chống máy bay SA.7

*[ Hỏa tiễn AT.3 là loại hỏa tiển điều khiển bằng dây, trái đạn đi xa trên 2.000 mét, người xạ thủ điều khiển cho trái đạn đi theo ý mình bằng một bảng điều khiển cầm tay.  Còn Hỏa tiễn SA.7 là loại Hỏa tiễn tầm nhiệt được phóng ra từ một súng đặt trên vai người chiến binh, sau đó nó sẽ tự dò theo hơi nóng của ống khói máy bay mà đuổi theo và nổ trong ông khói máy bay.  Các loại vũ khí này quá tối tân so với vũ khí hiện có của quân đội VNCH ].

Số lượng vũ khí do Liên Xô viện trợ lớn đến độ trong trận Mùa hè đỏ lửa năm 1972 quân CSVN có thể pháo trong 1 đêm vào Thị xã An Lộc 10.000 trái hỏa tiễn địa địa, và tại Kontum họ đã bắn tất cả khoảng 1.320 quả hỏa hiễn chống tăng AT.3.  Còn hỏa tiễn tầm nhiệt SA.7 đã bắn phi cơ Trực thăng và phi cơ L.19 của VNCH rơi như sung rụng, đến nỗi phi công trực thăng thuộc Sư đoàn 6 Không quân VNCH khai bệnh hàng loạt để từ chối bay hành quân.

BÙI ANH TRINH

Bạch thư của nước CHXHCN Việt Nam trang 59

[post_connector_show_children slug=”b%c3%b9i-anh-trinh-lu%e1%ba%adn-v%e1%bb%81-nguy%e1%bb%85n-v%c4%83n-thi%e1%bb%87u” parent=”16370″ link=”true” excerpt=”false”]