“Lập luận của chúng tôi đơn giản là, cả quân đội Việt Nam Cọng Hòa  và nửa triệu quân Mỹ không thắng nổi chúng tôi, nay quân Mỹ rút đi, chỉ còn quân đội VNCH thì chúng tôi chắc thắng…” ( Bùi Tín, Mây Mù Thế Kỷ, trang 121 ).

Sau năm 1975 các cải tạo viên trong các trại tập trung dễ dàng tin rằng chiến lược của CSVN là ép cho Mỹ phải rút quân, rồi sau khi Mỹ đã rút quân thì họ sẽ ăn tươi nuốt sống quận đội VNCH dễ dàng…!!  Nhưng đây chỉ là chuyện tuyên truyền cho dân ngu, chứ hồi ký của Kissinger và tài liệu của Hà Nội do Lưu Văn Lợi công bố cho thấy sự thực khác hẳn :

Kissinger bí mật đi Bắc Kinh

Năm 1971, ngày 8-7, Kissinger viếng thăm thủ đô nước Pakistan.  Tại đây với sự sắp xếp của Tổng thống Pakistan, ông giả cớ đau bụng trong một bữa tiệc, sau đó ông lẻn đi Bắc Kinh. Tại Bắc Kinh, từ ngày 9 đến ngày 11-7, Kissinger hội đàm với Thủ tướng Chu Ân Lai.

Năm 1971, ngày 12-7, Kissinger từ Pakistan trở lại Paris gặp Lê Đức Thọ để cho biết quan điểm của Tổng thống Nixon về đề nghị 9 điểm mà Hà Nội đưa ra trong lần trước.  Kissinger nói rằng Nixon không chấp nhận chuyện “bồi thường” nhưng sẵn sàng trình xin Quốc hội Mỹ chấp thuận một ngân khoản “đóng góp tái thiết” toàn Đông Dương.

Lê Đức Thọ không có phản ứng gì về việc này, có nghĩa là “vậy cũng được” nhưng sau đó thì Lê Đức Thọ không hề đả động tới cái giá của ngân khoản tái thiết là bao nhiêu, ông ta chỉ nằng nặc đòi phải hạ bệ Nguyễn Văn Thiệu.

Khi Kissiger hỏi rằng làm cách nào để hạ Thiệu thì Thọ đáp : “Các ông thiếu gì cách” ( Nguyên văn còn ghi trong biên bản được lưu trữ trong hồ sơ Bộ Ngoại giao CSVN ).  Tuy nhiên theo như hồi ký của Kissinger thì: “Thọ đòi tôi phải hạ Thiệu bằng mọi cách, kể cả đảo chánh hay ám sát”.

Hai bên chia tay trong phấn khởi và hy vọng, hẹn gặp lại nhau vào ngày 26-7.  Hồi ký của Kissinger ghi lại là “Đáng khích lệ chưa từng có”. Ông ta khá lạc quan sau 3 ngày thương thảo với Chu Ân Lai tại Bắc Kinh.

*Chú giải :  Từ trước đến nay Kissinger chỉ sợ nhất 2 điều : Một là Hà Nội đòi giá cao cho việc đổi nhóm chữ “bồi thường chiến tranh” thành “đóng góp tái thiết sau chiến tranh”, nghĩa là Mỹ  phải mua “danh dự” bằng Đô la.

Hai là phải chuộc tù binh trở về cũng bằng Đô la.  Chỉ cần Hà Nội đòi ghi rõ con số Đô la mà Mỹ phải “chung chi” vào trong văn bản hiệp định thì dư luận quốc tế thừa sức hiểu rằng con số đó là tiền bồi thường chiến tranh ( tiền tỉ ) hay là tiền viện trợ thiện nguyện ( tiền triệu ). Mà theo thông lệ quốc tế thì nước nào bị thua trong chiến tranh sẽ phải chi tiền bồi thường chiến tranh cho đối phương.

Nhưng nay căn cứ theo thái độ của Lê Đức Thọ và Xuân Thủy thì rõ ràng Hà Nội không hề để ý tới nỗi lo sợ bị mang tiếng là thất trận của Mỹ.

Ngược lại, Lê Đức Thọ chỉ quan tâm tới hai vấn đề rất nhẹ ký đối với Mỹ, đó là rút hết quân càng sớm càng tốt và phải thay chế độ Nguyễn Văn Thiệu.

Chuyện rút hết quân thì ngay chính Washington cũng đang mong được rút sớm để mau rảnh nợ đối với giới phản chiến Mỹ.  Mà nay Hà Nội lại gắn liền chuyện rút quân song song với việc trao trả tù binh thì quá hay, Nixon sẳn sàng rút hết quân  trong 10 ngày ( 184 ngàn người ) nếu Hà Nội chịu trao trả tù binh trong 10 ngày.

Riêng chuyện Hà Nội nằng nặc đòi thay Thiệu khiến cho Kissiger chú ý và tung ra nhiều câu hỏi hóc búa dưới dạng ngây thơ để moi cho được thâm ý của Hà Nội trong việc này, linh tính cho Kissinger biết rằng Hà Nội coi trọng chuyện lật đổ Thiệu hơn là chuyện bồi thường chiến tranh.

Và sau đó thì các chuyên gia phân tích của Kissinger đã không khó khăn gì để thấy ra ý đồ của Hà Nội :  Họ muốn Mỹ làm cái việc mà “Hà Nội phải làm” sau khi quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam, đó là giao chính quyền Miền Nam Việt Nam cho chính quyền “Ba Thành Phần” mà trong đó 2 thành phần là của họ ( Thành phần Mặt trận GPMN và thành phần thứ ba là thành phần Trung lập ).

Một khi chính quyền mới lên nắm quyền thì sẽ ra lệnh cho các quân nhân VNCH giao nộp vũ khí để trở về cuộc sống dân sự.  Sau khi đã tước vũ khí của quân đội rồi thì họ lùa tất cả các sĩ quan và công nhân viên chức của chế độ VNCH vào các trại tập trung.  Sau đó bắt nhân dân Miền Nam phải giao nạp tất cả đất đai tài sản cho “cách mạng” ( tức là giao nộp cho Đảng CSVN ).  Làm được như vậy họ không phải tốn thêm tiền, thêm đổ máu,  và thêm hận thù.

Bắc Kinh buộc Hà Nội phải ngưng chiến và trả tù binh cho Mỹ

Tuy nhiên Lê Đức Thọ và Xuân Thủy không hay biết là Kissinger vừa mới gặp gỡ và bàn thảo với Chu Ân Lai trong 3 ngày vừa qua.  Nếu biết được chuyện này thì có lẽ Lê Đức Thọ không đến nỗi hớ hênh như vậy.  Một khi năn nỉ đến độ ép buộc Mỹ phải đem Miền Nam giao vào tay Hà Nội thì vô tình Lê Đức Thọ đã hé lộ cho Kissinger suy đoán ra được rằng  lâu nay Hà Nội nằng nặc đòi thay Thiệu không phải vì căm thù cá nhân Thiệu hay chế độ Thiệu “tàn ác”, mà chẳng qua chỉ là Hà Nội không đủ sức tiêu diệt quân đội VNCH và nhân dân Miền Nam.

Rõ ràng Hà Nội không thể nào có khả năng để mở ra một cuộc chiến mới với VNCH, cho dù Mỹ không còn tiếp tế tiếp viện.  Cuộc đọ sức vừa qua tại Hạ Lào giữa 8 sư đoàn quân CSVN và 2 sư đoàn quân VNCH đã cho thấy chuyện nuốt được Miền Nam là chuyện khó, bởi vì VNCH không chỉ có 17 ngàn quân như tại Hạ Lào, mà họ có ít nhất 200.000 quân với sức mạnh tương đương như 17 ngàn quân ở Hạ Lào, nhất là họ ở trong tư thế phòng thủ.

Vả lại nếu một khi Bắc Kinh ngưng viện trợ vũ khí cũng như lương thực thì Hà Nội lấy gì để mở một cuộc chiến mới ??

Năm 1971, ngày 13-7, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai bí mật sang Hà Nội.  Trong cuộc họp với Lê Duẫn và Phạm Văn Đồng, Chu cho biết là vừa qua Kissinger bí mật đến Bắc Kinh với hai đề nghị của Nixon, một là nhờ Trung Quốc giải quyết chiến tranh Đông Dương, hai là Mỹ sẽ để cho Trung Quốc được gia nhập Liên Hiệp Quốc và Mỹ sẽ rút bớt 2/3 quân số đang trú đóng trên đảo Đài Loan.  Nhưng vấn đề số một và số hai có liên quan với nhau, nghĩa là có giải quyết xong vấn đề chiến tranh tại Đông Dương thì mới tới chuyện Trung Quốc. ( Bạch thư của chính phủ Hà Nội, Sự Thật Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, trang 57 ).

Nguyên văn của Bạch thư : “ Thông báo cho phía Việt Nam biết về cuộc đi Bắc Kinh lần thứ nhất  của Kít -xinh-giơ , ngày 13 tháng 7 năm 1971 Đoàn đại biểu cấp cao của Trung Quốc ( Chu Ân Lai ) đã nói :

“Vấn đề Đông Dương là quan trọng nhất trong cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi và Kít-xing-giơ.  Kít-xing-giơ nói rằng Mỹ gắn việc giải quyết vấn đề Đông Dương với việc giải quyết vấn đề Đài Loan .  Mỹ nói nếu có rút được quân Mỹ ở Đông Dương thì mới rút quân Mỹ ở Đài Loan .  Đối với Trung Quốc thì vấn đề Mỹ rút quân tại Miền Nam Việt Nam là vấn đề số 1.  Còn vấn đề Trung Quốc vào Liên Hiệp Quốc là vấn đề số 2”.

*Chú giải :  Sau khi Hà Nội cho công bố Bạch Thư vào ngày 4 tháng 10 năm 1979 thì quốc tế có được bằng chứng để kết luận rằng Mỹ đã nhờ Bắc Kinh buộc Hà Nội phải ngưng chiến và trả tù binh cho Mỹ.  Để đổi lại, Mỹ sẽ bãi bỏ lệnh bao vây cấm vận đối với Trung Cọng và trả chiếc ghế Hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc cho Trung Cọng.

Căn cứ vào giọng văn và căn cứ vào chức vụ của người soạn ra Bạch thư, người ta dễ dàng biết được tác giả là ông Phạm Văn Đồng .  Nhưng cũng trong Bạch thư đó ông Đồng cũng đã nêu ra một câu nói của Mao Trạch Đông vào năm 1954 : Trung Quốc trước đây đã quyết tâm đánh Mỹ cho tới người Việt Nam cuối cùng ( Bạch thư của Nước Cọng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Sự Thật Quan Hệ Việt Nam- Trung Quốc trong 30 năm qua,  trang 20;  và nhắc lại trong trang 52 ).

BÙI ANH TRINH

[post_connector_show_children slug=”b%c3%b9i-anh-trinh-lu%e1%ba%adn-v%e1%bb%81-nguy%e1%bb%85n-v%c4%83n-thi%e1%bb%87u” parent=”16370″ link=”true” excerpt=”false”]