“Kissinger là một tay thiếu minh bạch, thậm chí là một tay lừa đảo” ( Stephen Young, Victory Lost, bản tiếng Việt của Nguyễn Vạn Hùng trang 416 ).

Trung Cộng và lệnh bao vây cấm vận của Liên Hiệp Quốc

Khi bắt đầu nhận chức Tổng thống, Nixon phải đối diện với một quyết định đã rồi của Tổng thống tiền nhiệm Johnson, đó là rút quân ra khỏi chiến trường Việt Nam trong tư thế thất bại.

Thời đó bất cứ một chính trị gia Mỹ nào cũng hiểu rằng nếu Mỹ thất bại tại VN thì có nghĩa là chấp nhận để cho các quân cờ Domino tự do ngã,  và toàn vùng Đông Nam Á sẽ rơi vào tay Mao Trạch Đông…!!

Rồi một khi Mao Trạch Đông đã khống chế được Đông Nam Á thì đương nhiên lệnh bao vây cấm vận của Liên Hiệp Quốc từ năm 1951 không còn hiệu quả,  lúc đó dầu muốn dầu không Trung Cọng cũng sẽ trở thành một cường quốc.

Mặt khác, sự mâu thuẩn giữa Liên Xô và Trung Cọng đã trở thành trầm trọng, hai bên đã đưa quân áp sát vào vùng sông Uxuri để chuẩn bị choảng nhau (1968).  Phía Trung Cọng có vẻ lép vế hơn về kinh tế tài chánh cũng như về khoa học kỹ thuật quân sự, nhưng nếu lúc này Mỹ chịu hà hơi tiếp sức cho Trung Cọng bằng cách giải tỏa lệnh cấm vận và chấp thuận cho Trung Cọng gia nhập Liên Hiệp Quốc thì đương nhiên Trung Cọng trở thành một cường quốc đối trọng với Liên Xô.

Vì vậy Mỹ và các nước Phương Tây thấy rằng đã đến lúc phải giải tỏa lệnh cấm vận cho Mao Trạch Đông như là một ân huệ.  Nhưng riêng Nixon lại muốn lợi dụng ân huệ này để buộc Trung Cọng thôi hỗ trợ CSVN.

Lúc đó CSVN sẽ không đủ tài chánh và phương tiện chiến tranh để theo đuổi mộng ước đánh chiếm Miền Nam;  nhờ đó Nixon có thể rút quân khỏi Nam Việt Nam trong thế mạnh. Vậy thì Mỹ chẳng những không mất Miền Nam mà còn giữ vững được luôn cả vùng Đông Nam Á.

Cơ hội đã tự đến với Nixon khi Mao Trạch Đông chỉ thị cho Đại sứ Trung Cọng tại Pháp là Hoàng Chấn tìm cách bắt liên lạc với đặc sứ của Nixon là Kisinger tại cuộc Hòa đàm Paris vào năm 1969, qua trung gian của các nhà ngoại giao Ba Lan.

Tháng 6 năm 1970 hai bên thỏa thuận Hoàng Chấn và Kissinger sẽ tiến hành những cuộc mật đàm mỗi khi Kissinger đến Paris để gặp Lê Đức Thọ (sic).  Ngày 10-12-1970 Mao Trạch Đông nhắn lời mời Nixon thăm Trung Cọng ( Hồi ký của Kissinger ).

Biểu tình chống chiến tranh

Năm 1971, ngày 7- 4, *( 1 ngày sau khi đoàn bóng bàn Trung Cọng đưa lời mời đoàn bóng bàn Mỹ đến thăm Bắc Kinh ).  Nhằm trấn an dư luận Mỹ cũng như để xoa dịu sự phản đối của Hà Nội sau vụ tấn công Hạ Lào, Chính phủ Mỹ loan báo sẽ rút một khối lượng lớn quân đội Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam.

Ngày 13-4, Kissiger yêu cầu Đại sứ Bunker gởi cho ông một kế hoạch mới để ông có thể thương thuyết mật với Hà Nội.

Ngày 22-4, *(1 ngày sau khi Thủ tướng Trung Cọng Chu Ân Lai nhờ đoàn bóng bàn Mỹ chuyển thư mời Nixon sang thăm Bắc Kinh ),  sáu nghị sĩ Mỹ lên TV phản bác bài diễn văn của Tổng thống Nixon về lý do tại sao Mỹ phải can dự vào cuộc chiến Việt Nam.:

  • Nghĩ sĩ McGovern :  Kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” không thể làm Hà Nội phóng thích tù binh của chúng ta.
  • Nghị sĩ Harold Hughes :  Không một chút tự hào nào để kéo dài cuộc chiến, cho dù chỉ trong vòng thêm 1 tuần lễ.

Ngày 24-4, hằng trăm ngàn người biểu tình chống chiến tranh tại Washington.

Những ngày đầu tháng 5, dân chúng tiếp tục biểu tình làm các con đường tại thủ đô Washington không còn chỗ đậu cho xe bus.  Hồi ký của Nixon cho biết những nhân vật cố vấn của ông đã thực sự mất niềm tin.

Năm 1971, ngày 24-4,*( 3 ngày sau khi Chu Ân Lai gửi thư mời Nixon sang thăm Bắc Kinh ). Kissiger hẹn gặp đại diện CSVN tại Paris để thông báo về một bản đề nghị mới.  Xuân Thủy hẹn gặp nhau ngày 31-5-1971.

Ngày 31-5, Kissinger và Xuân Thủy gặp nhau tại nhà số 11 đường Darthe.  Kissinger đưa ra đề nghị 7 điểm của phía Mỹ.  Trong đó quan trọng là điểm “các quân đội ngoại nhập phải rút khỏi Đông Dương

*( Theo hồ sơ lưu trữ của Bộ ngoại giao CSVN do Lưu Văn Lợi sưu tầm và công bố.  Câu này có nghĩa là quân Bắc Việt không phải rút khỏi Miền Nam;  bởi vì họ được coi là quân Đông Dương cho nên đương nhiên họ vẫn ở lại Đông Dương, nhưng ở lại đâu là quyền của họ ).

Xuân Thủy hứa sẽ chuyển đề nghị mới của Washington cho Hà Nội.  Hai bên hẹn gặp nhau vào ngày 26-6-1971.

Năm 1971, ngày 3-6, Đại sứ Bunker điện đàm với Kissinger, Bunker cho biết là ông đã giải thích với Tổng thống Thiệu rằng bản dự thảo Hiệp định ngưng bắn mà Mỹ đã đưa cho Hà Nội có câu “quân đội ngoại nhập phải rút khỏi Miền Nam, Lào và Cam Bốt” *( Có nghĩa là quân Bắc Việt cũng phải rút khỏi Miền Nam bởi vì họ cũng là quân ngoại nhập đối với Miền Nam Việt Nam ).

Kissinger biết là Bunker hiểu sai nhưng ông không đính chính, cố tình để cho Bunker và Thiệu hiểu sai.  Thực ra quân Bắc Việt không phải rút bởi vì Hà Nội chưa bao giờ thừa nhận là họ có quân tại Nam Việt Nam; giờ đây Kissinger đã thỏa thuận với Xuân Thủy là quân ngoại nhập phải rút khỏi Đông Dương, nghĩa là quân Bắc Việt có quyền ở lại Miền Nam.

*Chú giải :  Sau này hồi ký của Kissinger cho biết là năm 1972 khi được Kissinger đưa cho coi bản dự thảo Hiệp định Paris mà trong đó quân đội Bắc Việt không phải rút quân về Bắc thì Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phản ứng rất gay gắt, ông dứt khoát không chấp nhận điều khoản này.  Cũng theo hồi ký Kissinger thì lúc đó ông ta rất bất mãn ông Thiệu bởi vì trước đó 1 năm đại sứ Bunker đã đọc cho Thiệu điều khoản này và ông ta đã đồng ý, thế mà lần này Thiệu lại lật lọng, giả vờ phản ứng như là lần đầu tiên được biết.

Thế nhưng tài liệu của Bunker do Stephen Young phổ biến, ( bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 416 ), cho thấy có sự khác nhau về thông tin từ Paris đến Washington và từ Washington đền Sài Gòn :

Theo bản đề nghị 7 điểm của Kissinger còn lưu trữ tại Hà Nội thì “quân ngoại nhập phải rút khỏi Đông Dương”.  Nhưng tài liệu của Bunker hiện còn lưu giữ tại nhà riêng của Bunker thì “quân ngoại nhập phải rút khỏi Miền Nam, Lào và Cam Bốt”.  Một bên là một chữ Đông Dương, một bên là 3 chữ Miền Nam, Lào, và Cam Bốt;  hai bên khác nhau rõ ràng, không thể nào nói đánh máy lộn hoặc nghe lộn chữ này qua chữ kia được.

Một khi không có sự nghe lộn thì rõ ràng là Kissinger đã léo lận chữ nghĩa với Bunker; vì vậy Tổng thống Thiệu chưa hề được thông báo về điều kiện quân Bắc Việt không cần phải rút khỏi Miền Nam.  Thế mà hồi ký của Kissinger đã ghi lại là “Thiệu thiếu thân thiện, không hợp tác và mù quáng” (sic).

Cũng vì chuyện này mà giáo sư Stephen Young đã viết trong sách của ông rằng “Kissinger là một tay thiếu minh bạch, thậm chí là một tay lừa đảo” (Victory Lost, bản tiếng Việt trang 416). Giáo sư Stephen Young cho rằng Kissiger cố tình lập lờ đánh lận con đen, đưa ra một câu mà người khác có thể hiểu lầm.

Nhưng nếu giáo sư Stephen Young có hân hạnh được đọc tài liệu của Hà Nội thì mới thấy rõ là Kisisger lừa đảo chứ không phải thiếu minh bạch

Năm 1971, ngày 13-6, một nhân viên của Ngũ Giác Đài ( Sau này được biết là Tiến sĩ Daniel Ellsberg ) đã bí mật trao cho tờ báo New York Times những tài liệu mật của Ngũ Giác Đài về cuộc chiến tranh Việt Nam.  Dư luận Mỹ lại bùng lên làn sóng chống chiến tranh rất dữ dội, tất cả đều quy cho Nixon cái tội âm thầm làm những việc sai trái, phản bội công chúng Mỹ.  Sau này tập tài liệu được in thành sách với tựa đề “The Pentagon Papers”

BÙI ANH TRINH

[post_connector_show_children slug=”b%c3%b9i-anh-trinh-lu%e1%ba%adn-v%e1%bb%81-nguy%e1%bb%85n-v%c4%83n-thi%e1%bb%87u” parent=”16370″ link=”true” excerpt=”false”]