Tướng Alexander Haig, Phụ tá của Kissinger, đã có nhận xét về Nguyễn Văn Thiệu trong cuộc trả lời phỏng vấn cho báo Time ngày 20-10-72 :

“Ông rất có ý thức và quan tâm đến sự sống còn của mình, thế nhưng lại mềm dẽo và rất dễ thuyết phục.  Đường lối hành động của ông ta là đi trước mọi vấn đề liên quan đến cuộc điều đình.  Ông ta là một nhà điều khiển chính trị giỏi, và là một người yêu nước.  Thiệu không nhất thiết là người được yêu mến tại Sài Gòn, nhưng giới công chức lại rất kính nể ông ta”.( The Palace Files, bản dịch của Cung Thúc Tiến, trang 208 )

Nixon toan tính rút quân trong tư thế chiến thắng

Năm 1969, ngày 7-3, tân Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Melvin Laird cùng với Tham mưu trưởng liên quân Wheeler đến Sài Gòn để tham khảo với Đại sứ Bunker, Tướng Tư lệnh quân đội Hoa Kỳ Abrams và Giám đốc chi nhánh CIA tại Sài Gòn Colby để thu thập dữ kiện trước khi hoạch định chính sách trong tương lai của chính phủ Nixon.

Sau đó Laird đến hội ý với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.  Tổng thống Thiệu hoàn toàn đồng ý với kế hoạch “rút quân trong tư thế chiến thắng” của Nixon.

* Chú giải :  Trong năm 1968, khi Tổng thống Johnson tuyên bố không ra tranh cử nhiệm kỳ 2 thì cả nước Mỹ đinh ninh rằng có thể Mỹ sẽ phải rút khỏi Việt Nam trong tư thế giống như nước Pháp năm 1954.  Đây là do dư luận Mỹ sợ bóng sợ vía chứ thực sự quân đội CSVN không có thực lực như quân đội Việt Minh năm 1954.  Và thái độ dân chúng Nam Việt Nam qua biến cố Mậu Thân cho thấy dân tộc Việt Nam đứng về phe chống Cộng chứ không phải như năm 1954 dân chúng Việt Nam đứng về phe chống thực dân (Việt Minh).

Những gì xảy ra tại Huế chứng thực điều này.  Trong 25 ngày quân CSVN làm chủ tình hình tại Huế, dân chúng Miền Nam bất hợp tác với CSVN và bồng bế nhau chạy về phía VNCH.  Còn những người mắc kẹt trong vùng do CSVN chiếm đóng thì ngày đêm mong chờ quân đội VNCH đến giải cứu.  Sau đó dân chúng Huế cũng như các thành phố khác tại Nam Việt Nam đã hợp tác với quân đội VNCH, chỉ cho quân đội những vị trí đóng quân của CSVN, và mang thức ăn nước uống tiếp tế cho quân đội VNCH.

Ngoài ra không những dân chúng thành thị mà ngay cả thôn quê cũng không có nơi nào đứng dậy hoan nghênh quân CSVN.  Trái lại họ chịu dựng quân đội CSVN như chịu đựng thiên tai.  Và rồi họ hoàn hồn trở lại khi thấy quân đội của chính phủ đã đánh bật CSVN lên núi.

Đáng tiếc là tai mắt của CIA không thấy ra điều này.  Nói cho đúng ra là họ làm lơ bởi vì lục lại các báo cáo của CIA từ trước tới nay thì hoàn toàn ngược lại, nghĩa là họ đã lỡ báo cáo rằng hầu hết dân chúng Việt Nam ngưỡng mộ Cọng sản (thiên Cọng) và luôn luôn chực chờ nổi dậy một khi quân CSVN xuất hiện.  Đây là luận điệu của các chính trị gia Pháp mớm cho các nhà hoạch định chính sách Mỹ.  Nhưng thực ra chiến tranh chống thực dân hoàn toàn khác với chiến tranh chống cộng :

Trong chiến tranh chống thực dân thì người Việt luôn luôn đứng về phía chống thực dân.  Còn trong chiến tranh chống cộng thì người Việt đứng về phía bảo bệ đất đai tài sản của chính mình, bảo vệ tự do của chính mình.  Họ thừa biết nếu Cọng sản chiếm được Việt Nam thì họ sẽ mất hết tất cả, kể cả mất luôn quyền làm con người. Cái gương của nhân dân Trung Hoa và cái gương của nhân dân Bắc Việt đã cho người ta biết rõ điều đó.

Chính vì những phán đoán sai lầm của CIA mà đã khiến cho chính phủ Mỹ quyết định đưa quân vào Miền Nam Việt Nam chứ không bao giờ nghĩ tới chuyện giao việc chống Cộng cho dân tộc Việt Nam, là dân tộc đầu tiên trên thế giới đã đứng lên thành lập một chính phủ chống Cộng sản từ năm 1948.  Năm đó Mỹ chỉ mới bắt đầu nghĩ tới chuyện quay ra đối địch với Stalin.

Từ tháng 8 năm 1966 đã có một chính trị gia sáng giá xuất hiện trong chính giới Mỹ, đó là ông Kissinger, ông ta đã viết một bài báo cho rằng: “cuộc chiến ở Việt Nam không thể chiến thắng bằng quân sự, và chuyện thương thuyết để tìm hòa bình cho Nam Việt Nam là điều chắc chắn sẽ xảy ra”.

Thuở đó chưa ai cho rằng Kissinger đúng.  Nhưng những biến cố sau đó khiến cho người ta tin rằng Kissinger là một nhà tiên tri thời cuộc.  Cho đến sau  trận Mậu Thân thì hầu hết dư luận Mỹ đồng tình phải rút quân ra khỏi Việt Nam, vấn đề còn lại là làm sao rút quân trong tư thế “coi được”.

Học thuyết Nixon

Tuy nhiên có một số lãnh tụ Mỹ trong đảng Cọng Hòa không muốn chấp nhận điều này. Tinh thần tự ái dân tộc của họ quá mạnh cho nên họ không thể nào kham nổi chuyện phải tháo lui là một chuyện chưa từng xảy ra trong lịch sử Mỹ kể từ ngày lập quốc.  Vì vậy trong đảng Cọng Hòa có vô số nhân vật cố tìm phương pháp khác để giải quyết chiến tranh Việt Nam.  Một trong những người đó là ông Nixon.

Trong những ngày trước bầu cử Nixon đã có chủ trương cũng rút quân nhưng mà là rút quân trong tư thế chiến thắng.  Nếu không là thực sự chiến thắng thì ít ra cũng trình diễn làm sao để có vẻ như là chiến thắng.

Cũng trong thời gian trước bầu cử, Nixon đã hoàn chỉnh “kế hoạch toàn cầu” của riêng ông mà sau này người ta gọi là “học thuyết Nixon”.

Trong đó, không những giải quyết chiến tranh Việt Nam mà giải quyết luôn những xung đột trong cuộc chiến tranh lạnh giữa Thế giới Tự do và Thế giới Cọng sản.  Ông chủ trương thương thuyết với Thế giới Cọng sản để trước hết là làm nguội cuộc chiến tranh lạnh, giảm chạy đua vũ trang.  Và sau đó có thể tiến tới chung sống hòa bình.

Nhằm làm suy yếu nội bộ khối Cọng sản; Mỹ và Anh, Pháp sẽ nâng Trung Quốc trở thành một quốc gia độc lập với Liên Xô.  Đưa Trung Cọng vào Liên Hiệp Quốc với chiếc ghế Hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, ngang hàng với Liên Xô và Mỹ, Anh, Pháp.  Lúc đó Mỹ sẽ yêu cầu Trung Cọng ngưng viện trợ cho Hà Nội. 

Và một khi Trung Cọng ngưng viện trợ thì Hà Nội không thể “lấn sân” trên chiến trường Miền Nam.  Lúc đó quân đội VNCH đủ mạnh để Mỹ  tuyên bố Miền Nam đã được ổn định và rút quân về trong tư thế chiến thắng.

Thế nhưng trong khi chờ đợi tiến hành “Kế hoạch toàn cầu” thì Nixon phải đối diện với chiến tranh Việt Nam, cụ thể là đối diện với hòa đàm Paris.  Ông không thể tuyên bố ngưng hòa đàm cho dù trong lòng ông đã có kế hoạch không hòa đàm.  Vì vậy ông đã cử Laird và Wheeler sang Việt Nam.

Sau khi gặp Bunker, Abrams, Colby và Nguyễn Văn Thiệu;  Laird và Wheeler trở lại Mỹ với lời tường trình hoàn toàn trái ngược với những tường trình từ trước tới nay của Bộ Ngoại giao Mỹ cũng như của CIA.  Nghĩa là về quân sự VNCH làm chủ tình hình từ thôn quê tới thành thị, về chính trị thì nhân dân Việt Nam một lòng chống Cộng và ủng hộ quân đội VNCH.  Số lượng thanh niên Miền Nam hưởng ứng lệnh tổng động viên đã đăng ký nhập ngũ gấp đôi con số ước tính lạc quan nhất của các viên chức Hoa Kỳ tại Sài Gòn ( Tài liệu của Bunker ).

Vì thế, trong khi con đường tiến hành kế hoạch toàn cầu còn xa vời, Nixon thực hiện một phần của học thuyết, đó là “Mỹ sẽ yểm trợ bất cứ quốc gia nào chống lại chủ nghĩa và chế độ Cọng sản, nhưng dân tộc của quốc gia đó tự điều hành công cuộc chống cộng của mình chứ Mỹ không can thiệp”.

Nixon sẽ cho quân đội Mỹ tại Nam Việt Nam ngưng dần các cuộc hành quân và rút về dưỡng quân tại các hậu cứ an toàn trong thành phố để giảm thiểu số lượng thương vong mà báo chí ưa dựa vào đó để làm lớn chuyện.  Rồi một khi có dấu hiệu khả quan thì sẽ rút quân về nước với số lượng tùy theo tình hình. Cuối cùng sẽ để lại Miền Nam một lực lượng đủ để phản ứng nếu Bắc Việt xua quân tràn qua sông Bến Hải (180 ngàn quân).

Còn lại là vấn đề tù binh Mỹ

Tuy nhiên tới đây lại nổi lên một vấn đề quan trọng.  Đó là làm sao rút được tù binh đang bị giam tại Hà Nội trở về?  Quanh đi quẩn lại chỉ còn hòa đàm Paris là cửa ngõ duy nhất.  Do đó Nixon và Kissinger toan tính dùng hòa đàm Paris như là nơi ngã giá cho việc lấy lại tù binh. Và chỉ có vấn đề tù binh mà thôi, còn những chuyện khác thì Liên Xô và Bắc Kinh sẽ gải quyết bên ngoài bàn hội nghị ( LX và TC  ngưng tiếp tế súng đạn và tiền bạc cho Hà Nội ).

Ngược lại với toan tính của Nixon, Hà Nội lại quan niệm rằng chuyện Mỹ phải rút quân chỉ còn là vấn đề thời gian, nhưng rút quân trong tư thế thua trận hay rút quân trong danh dự ( hai bên cùng bãi binh ) là do thương thuyết tại Paris.  Hà Nội kết luận rằng đối với Mỹ thì hòa đàm Paris chỉ là nơi ngã giá cho Mỹ được rút quân trong danh dự thay vì rút quân do thất bại.

Trong khi đó tin tức tình báo của Liên Xô và TC cho biết Washington đang ở trong thế bị động trên chiến trường cũng như trên bàn hội nghị.  Nghĩa là Washington ( và cả Liên Xô lẫn Bắc Kinh ) vẫn chưa biết là lực lượng quân sự của CSVN tại Miền Nam đã hoàn toàn tan nát.

Nhưng riêng phía Nguyễn Văn Thiệu thì quên béng chuyện tù binh Mỹ đang nằm trong tay CSVN…Đối với Sài Gòn thì mục đích của hòa đàm là ngưng bắn, bên này trao trả tù binh thì bên kia trao trả tù binh ( kể cả tù binh Mỹ ).  Còn chuyện tương lai chính trị của Miền Nam Việt Nam mới là vấn đề thương lượng trong bàn hòa đàm.

(1). Do đó ông Nguyễn Văn Thiệu chủ trương dùng việc Hoa Kỳ rút quân như là một điều kiện để buộc Hà Nội phải rút quân về Bắc.  Nghĩa là một khi Washington rút quân khỏi Miền Nam thì Hà Nội cũng rút quân của họ về Bắc.

(2). Còn chính phủ VNCH sẽ chấp nhận MTGPMN tham gia lãnh đạo Miền Nam Việt Nam như là điều kiện để đánh đổi việc CSVN chấp nhận bãi binh.

BÙI ANH TRINH

[post_connector_show_children slug=”b%c3%b9i-anh-trinh-lu%e1%ba%adn-v%e1%bb%81-nguy%e1%bb%85n-v%c4%83n-thi%e1%bb%87u” parent=”16370″ link=”true” excerpt=”false”]