Lọt sàng xuống nia

Năm 1968, ngày 1-11, lúc 8 giờ sáng, tại Sài Gòn. Tổng thống Thiệu đọc một bài diễn văn đặc biệt trước lưỡng viện Quốc hội.  Sau vài câu mào đầu, ông đi thẳng vào vấn đề chính : “Chính phủ Việt Nam Cọng Hòa rất tiếc là không thể tham dự những cuộc hòa đàm sơ bộ hiện nay tại Paris”.

Đây là một bài diễn văn phản ứng với áp lực của Johon buộc VNCH phải ngồi vào bàn đàm phán trong tư thế thua trận. Trong khi đó Tổng thống Thiệu đã tiên đoán trước với  Bunker là CSVN đại bại trong trận Mậu Thân và họ sẽ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán vào cuối năm 1968.

Thực là vô lý nếu VNCH phải đến Paris năn nỉ Hà Nội ngưng chiến trong khi quân CSVN đã hoàn toàn bị tiêu diệt qua hai đợt tổng công kích Mậu Thân.  Do đó Tổng thống Thiệu có thái độ gần như công kích Washington bởi vì ông nghi đây chỉ là màn ảo của Johon nhằm kiếm phiếu cho đảng Dân Chủ trong cuộc bầu cử tổng thống sắp tới.

Ngoài ra đằng sau bài diễn văn này ông Thiệu đã có bọc lót bằng lá bài Nixon, nghĩa là nếu lọt “sàng” Humphrey thì xuống “nia” Nixon;  dù với Humphrey hay với Nixon thì ông cũng không phản lại tình đồng minh của Mỹ.  Dĩ nhiên một khi chấp nhận chơi canh bạc đó thì ông Thiệu đã tính tới phần chắc ăn phải trên 75%.  Và ông đã thành công.  Tuy nhiên đáng tiếc là cái nia Nixon cũng có quá nhiều lỗ rách nát khiến cho số phận dân tộc Việt Nam đành phải rơi xuống đất, tức là rơi vào tay Cọng sản.

Tất cả những lỗ hở của cái nia Nixon là do thừa hưởng những tai hại do Johon để lại.  Tai hai quan trọng nhất là khi Nixon bắt đầu nắm chính quyền thì cũng là lúc cả con tàu chính trị Hoa Kỳ đã ngoặt sang con đường , đó là con đường thương thuyết để rút quân về.

Những cố gắng của Nixon sau 1968 cho thấy ông ta đã đúng hướng khi giao trách nhiệm chống Cộng lại cho dân tộc Việt Nam.  Tuy nhiên cuối cùng ông cũng đành phải bó tay vì dân chúng Mỹ không còn một mảy may tin tưởng hay hy vọng gì đối với chính quyền VNCH và nhân dân Miền Nam Việt Nam.

Kể từ khi McNamara và Westmoreland rời chức vụ và Johon rút lui khỏi chính trường thì dân chúng Hoa Kỳ biết rằng đã tới lúc phải buông tay với VNCH.  Vấn đề còn lại là tiến hành giải pháp đàm phán tại Paris.  Còn chính phủ VNCH và công cuộc chống Cộng của nhân dân Miền Nam chỉ là một gánh nặng cần phải giải quyết càng sớm càng tốt.

Tới phiên Nixon buộc Thiệu phải ngồi vào bàn hòa đàm

Năm 1968, ngày 31-10, buổi tối tại Washington.  Sau hai bài diễn văn của Tổng thống Johon và Tổng thống Thiệu, cố vấn của ứng cử viên Nixon là luật sư John Mitchell gọi điện thoại cho bà Chenault với những lời xa gần nhờ bà Chenault khuyên Tổng thống Thiệu nên gởi người tham dự hòa đàm Paris.

Hồi ký của bà Chenault cho biết bà ngỡ ngàng vì sự thay đổi đột ngột này.  Tuy nhiên bà Chenault chỉ hứa là sẽ chuyển đến Tổng thống Thiệu đề nghị này chứ không thể khuyên ông Thiệu.

*Chú giải :   Sở dĩ Mitchell trở mặt sớm như vậy vì còn 4 ngày nữa mới bầu cử.  Nhưng sau bài diễn văn của Tổng thống Thiệu thì có thể phe dân chủ phát hiện ra chuyện Nixon móc nối với Thiệu qua bà Chenault, và họ đợi nếu thất cử thì họ tung chuyện này ra để không công nhận kết quả cuộc bầu cử.

Trong trường hợp đó thì cả Nixon lẫn Chenault sẽ bị ra tòa hình sự vì tội cố ý làm sai lệch kết quả bầu cử.  Vì lo sợ như vậy mà Mitchell vội vã nhờ bà Chenault thuyết phục Tổng thống Thiệu chấp thuận đến Paris để cho phe dân chủ giảm bớt căng thẳng mà không “làm tới” chuyện này, hoặc là có thể bỏ qua chuyện này nếu họ biết được.

Sau khi cuộc bầu cử đã có kết quả Nixon thắng phiếu chưa đầy 100% thì Nixon càng lo sợ phe Dân Chủ đòi mở cuộc điều tra để khiếu nại thì hậu quả vô cùng tai hại cho nên Mitchell gặp bà Chenault để xin bà giữ kín cho chuyện này và cũng nhờ bà khuyên Tổng thống Thiệu chấp thuận tham dự hòa đàm bởi vì dầu là Tổng thống Johon hay Tổng thống Nixon thì ông nào cũng phải tiếp tục xúc tiến hòa đàm, mà nếu không có VNCH thì không thể gọi là hòa đàm được.

*[ Thực ra phe Dân chủ đã tính tới chuyện đưa vụ Chenault ra ánh sáng nhưng theo như hồi ký của Bộ trưởng Quốc phòng Clifford thì Tổng thống Johon quyết định bỏ qua bởi vì chính ông đã vi phạm hiến pháp Hoa Kỳ khi ra lệnh cho CIA và FBI đặt máy nghe lén điện thoại và xem lén công điện mật của Tòa đại sứ VNCH tại Mỹ ].

Năm 1968, ngày thứ Bảy 9-11, Thượng nghị sĩ Dirksen, lãnh tụ khối Cọng Hòa tại Thượng viện, một thân một mình đến thăm Đại sứ Bùi Diễm tại Tòa đại sứ trong khi tất cả các nhân viên trong Tòa đại sứ nghĩ cuối tuần : “Tôi tới đây nhân danh hai vị Tổng thống, Tổng thống Johon và Tổng thống mới đắc cử Nixon… Chính phủ Việt Nam phải gửi ngay một phái đoàn đi Ba Lê, nếu không thì quá trễ” (Bùi Diễm, Gọng Kìm Lịch Sử, trang 406 ).

Vừa mới tiễn Dirksen ra về thì Đại sứ Bùi Diễm phải mở cửa tiếp ông Joseph Alsop, một bình luận gia nổi tiếng của Hoa Kỳ và cũng là người bạn thân quen của Sứ quán Việt Nam, cũng là bạn với ông Bùi Diễm từ những năm 1950.  “Tổng thống Thiệu của anh ở Sài Gòn đang chơi một trò chơi nguy hiểm…Tối hôm qua tôi có gặp “Ông Già” (Johon) và ông ta hết sức tức giận”.  Sau đó là khuyên Bùi Diễm hãy về Sài Gòn để thuyết phục Tổng thống Thiệu.

Chiều hôm đó Bộ ngoại giao Hoa Kỳ gọi điện thoại cho Đại sứ Bùi Diễm hỏi xem đã gặp Dirksen chưa, và có cần gắn thêm một đường dây điện thoại nóng để nói chuyện trực tiếp với Sài Gòn hay không.  Ông Bùi Diễm hiểu rằng đây là Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đề nghị ông phải về Sài Gòn để nói chuyện trực tiếp với lãnh đạo VNCH..

Năm 1968, ngày 11-11,  tại Sài Gòn, Đại sứ Bùi Diễm gặp Tổng thống Thiệu và Phó tổng thống Ngyễn Cao Kỳ.  Ngày 12-11, Đại sứ Bùi Diễm thuyết trình tại phiên họp Hội đồng An ninh Quốc gia.  Ngày 14-11, thuyết trình tại Ủ Ngoại giao của Quốc hội.

Năm 1968, ngày 17-11, Đại sứ Bùi Diễm đến gặp Đại sứ Bunker, sau đó là 10 ngày làm việc giữa hai đại sứ để lên kế hoạch tham dự hòa đàm Paris.  Ngày 27-11 Việt Nam và Hoa Kỳ ra thông cáo chung, Hoa Kỳ cam kết không coi MTGPMN là một thực thể riêng biệt, đồng thời chính phủ VNCH cử một phái đoàn tham dự đàm phán do Đại sứ Phạm Đăng Lâm làm trưởng đoàn, Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ là cố vấn của đoàn Việt Nam Cọng Hòa..

* Chú giải :   Quyết định gửi phái đoàn tới Paris sau bài diễn văn nảy lửa của Tổng thống Thiệu khiến cho dư luận Việt Nam tin rằng đã có một sự “xuống nước” từ phía Hoa Kỳ đối với VNCH.  Và sự hiện diện của Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ tại Paris cũng là một cách chứng minh VNCH đến bàn đàm phán trong tư thế thượng phong, bởi vì ông Kỳ là người nổi danh thuộc phe “diều hâu” trong hàng tướng lãnh VNCH.

Ngoài ra dù gì đi nữa thì dân chúng Việt Nam cũng vẫn thông cảm cho quyết định của Tổng thống Thiệu, ông không còn một cách nào hơn :

“Một thiếu nữ đứng bán hàng tại một tiệm ở Sài Gòn nói với phóng viên :  Cuối cùng thì ông Thiệu cũng thất bại bởi vì người Mỹ có quá nhiều quyền lực.  Nhưng thái độ của ông Thiệu làm chúng tôi kính trọng” ( Stephen Young, Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 288”).

Năm 1968, ngày 7-12, Lưỡng viện Quốc hội VNCH bỏ phiếu ủy nhiệm cho phái đoàn thương thuyết đi Paris.  Nhưng khi vừa đến Paris thì gặp ngay rắc rối vì theo đề nghị của phía Bắc Việt người ta sắp xếp cho hai bên thương thuyết ngồi vào một cái bàn hình vuông mà trong đó phái đoàn Hà Nội ngồi đối diện với Hoa Kỳ trong khi VNCH ngồi đối diện với MTGPMN.  Coi như là một cuộc họp của đại diện 4 quốc gia tham chiến.  Phái đoàn VNCH không chịu bước vào bàn hội nghị.

Dư luận Hoa Kỳ kinh ngạc trước thái độ của phái đoàn VNCH, ngồi đâu mà chẳng được, bàn tròn hay bàn vuông hay hình gì mà chẳng được, miễn là có hai bên thương thuyết mà thôi.  Nhưng đối với tâm lý của quần chúng Việt Nam thì rõ ràng đây là cuộc họp của 4 quốc gia tham chiến trong khi MTGPMN không phải là một quốc gia.

Trong khi sự thực chỉ có quốc gia VNCH bị tấn công;  như vậy nhân vật chính của cuộc hòa đàm phải là quốc gia chủ nhà VNCH.  Và nhân vật  chính thứ hai là Hà Nội, tức là quốc gia tấn công VNCH. Còn Hoa Kỳ chỉ là nhân vật phụ trợ cho VNCH, và MTGPMN là nhân vật phụ trợ cho Hà Nội.  Một khi mọi chuyện rạch ròi như vậy mới có thể bắt đầu đàm phán theo chiều hướng nào (ai đàm phán với ai về chuyện gì).  Do đó chiếc bàn ngồi không làm thành vấn đề nhưng chiều hướng đàm phán  mới là vấn đề.

Năm 1969, ngày 7-1, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Dean Rusk gọi điện thoại cho Đại sứ Bunker, phàn nàn về việc chiếc bàn của hội nghị Paris.  Ông cho biết là Tổng thống Johon rất tức giận về việc vô bổ này.  Sau đó Bunker tìm đến Tổng thống Thiệu với bức công điện của Tổng thống Johon và cho biết Washington sẽ ngưng hỗ trợ cho Sài Gòn nếu ông Thiệu không thay đổi thái độ mà phía Hoa Kỳ cho là “quá đáng”.  Ngoài ra Bunker cũng cho biết đây cũng là ý kiến của tân Tổng thống Nixon và tân Ngoại trưởng Hoa Kỳ William Rogers.

Tổng thống Thiệu không quan tâm và tìm cách tránh mặt Bunker;  sáng thứ Hai ông nói rằng bệnh, sáng thứ Ba ông đi kinh lý các tỉnh, ngày thứ Tư ông không có mặt tại Sài Gòn. Mãi đến thứ Sáu ông mới tiếp Bunker.  Sau 5 giờ thảo luận, đến 8 giờ chiều ông mới chấp thuận bàn nào cũng được. Nhưng không ngờ tối hôm đó Paris cho biết là Hà Nội đã chấp thuận bàn tròn thay vì bàn vuông (sic).

BÙI ANH TRINH

[post_connector_show_children slug=”b%c3%b9i-anh-trinh-lu%e1%ba%adn-v%e1%bb%81-nguy%e1%bb%85n-v%c4%83n-thi%e1%bb%87u” parent=”16370″ link=”true” excerpt=”false”]