“Nhưng các ông không thề cưỡng bức chúng tôi phải thực hiện những điều trái ngược với quyền lợi của dân tộc chúng tôi.  Cuộc đàm phán này không phải là một vấn đề sống còn với Hoa Kỳ nhưng là vấn đề chết sống của Miền Nam chúng tôi.  ( Lời của Thiệu nói với Đại sứ Mỹ Bunker, Victory Lost, Bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 250 )

Thiệu thông đồng với ứng cử viên Nixon

Năm 1968, ngày 23-10, Cơ quan an ninh quốc gia Hoa kỳ ( A, National Security Agency ) phát hiện một bức điện mật của đại sứ VNCH tại Hoa Kỳ là Bùi Diễm gởi về cho Thiệu : “Nhiều người trong đảng Cọng Hòa khuyên chúng ta giữ vững lập trường.  Họ đang quan tâm về phía chúng ta đang bắt đầu nhượng bộ”.

Và ngày 27-10, một bức mật điện nữa từ Bùi Diễm : “Nên kéo dài tình trạng như hiện nay, càng lâu thì càng có lợi cho chúng ta” ( Nghĩa là càng có lợi cho ứng cử viên tổng thống của đảng Cọng Hòa là Nixon ).

Từ tháng 4 năm 1968 Tổng thống Johon ra lệnh đặt máy nghe lén điện thoại và theo dõi mật điện giữa Tòa đại sứ VNCH với Sài Gòn.  Tháng 7-1968 Cơ quan mật vụ đã phát hiện quan hệ giữa Đại sứ Bùi Diễm và ứng cử viên Cọng Hòa Nixon qua trung gian là bà Chenault.

Nhận được báo cáo của A về các bức điện của Bùi Diễm, Tổng thống Johon biết rằng có thể Thiệu sẽ phá ứng cử viên Tổng thống của đảng Dân Chủ là Humphrey bằng cách không ký vào bản thông cáo chung cho đến ngày bầu cử.

Nếu VNCH không tham dự hòa đàm thì hòa hội bất thành và như vậy lời hứa hẹn nhanh chóng giải quyết chiến tranh Việt Nam sẽ trở thành xa vời.  Cử tri Hoa kỳ sẽ quay sang với Nixon vì ông này tuyên bố nếu đắc cử thì sẽ có cách giải quyết chiến tranh êm đẹp.

Cũng trong ngày 23-10, Bunker và Berger họp với Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao VNCH. của Bunker ghi lại :

“ Phó Tổng thống Kỳ thêm vào, chính phủ của ông không muốn đón nhận những nguy hiểm qua các cuộc thương thuyết và mong muốn Hoa Kỳ giải thích cho dân chúng Miền Nam hiểu rằng chính phủ Việt Nam không bắt buộc phải thương thuyết với Mặt trận Giải phóng.( Bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 243 ).

Ngày 28-10, buổi sáng, Bunker lại gặp riêng Thiệu nhằm chuẩn bị lần cuối bản dự thảo tuyên bố chung.  Lần này Bunker kèm theo lời đe dọa : “Nếu Miền Nam Việt Nam lại đặt ra những điều kiện mới và không tham dự  vào cuộc đàm phán thì Bunker e rằng Thiệu sẽ không thể nào lường trước được hậu quả do Thiệu gây ra”.

Ngày 30-10, lúc 1 giờ sáng, Bunker đến dinh Độc Lập nhưng không có Thiệu ở đó, chỉ có Ngoại trưởng VNCH là Trần Chánh Thành, ông này cho biết Thiệu còn phải chờ lưỡng viện Quốc hội nhóm họp và cho phép Tổng thống được quyền đàm phán với Hà Nội.

Ngày 31-10, lúc 1 giờ sáng, Bunker trở lại dinh Độc Lập để chuyển một công điện của Tổng thống Johon gởi cho Tổng thống Thiệu.  Trong đó Johon cho rằng nếu Thiệu là một trở ngại cho cuộc đàm phán thì Quốc hội Hoa kỳ sẽ ngưng viện trợ cho VNCH.  Ngoài ra Johson cũng xa gần de dọa Thiệu về việc âm mưu với Nixon làm thiên lệch kết quả cuộc bầu cử.

Trong sự xúc động và ở trạng thái xa cách, Thiệu nói với Bunker : “Các ông là một cường quốc, các ông có thể nói với các nước nhược tiểu những điều các ông muốn.  Chúng tôi hiểu rằng Hoa Kỳ đã hy sinh nhiều cho đất nước chúng tôi.  Dân chúng Miền Nam chúng tôi đều biết rằng nền độc lập của chúng tôi có được là nhờ sự giúp đỡ của Hoa Kỳ.

Nhưng các ông không thề cưỡng bức chúng tôi phải thực hiện những điều trái ngược với quyền lợi của dân tộc chúng tôi.  Cuộc đàm phán này không phải là một vấn đề sống còn với Hoa Kỳ nhưng là vấn đề chết sống của Miền Nam chúng tôi.  Tôi sẽ đọc một thông điệp trước quần chúng, và nhân danh cá nhân, chính phủ, và đồng bào tôi, tỏ lòng tri ân sâu xa về những gì mà Tổng thống Johon đã giúp đỡ chúng tôi” ( Stephen Young, Victory Lost, Bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 250 )

Ngoài ra Thiệu cũng đưa ra nhận xét chua chát rằng việc ngưng ném bom vô điều kiện có vẻ như là một biểu hiện sẽ tháo chạy của đồng minh.  Phó Tổng thống Kỳ cũng lên tiếng đồng ý với Tổng thống Thiệu. Cuối cùng cả hai ông đều không còn muốn nghe Bunker.

Ngày 1-11, lúc 5 giờ sáng, Bunker và Phó đại sứ Berger tái họp với Tổng thống Thiệu, Phó Tổng thống Kỳ và  Phụ tá của Tổng thống Thiệu Nguyễn Phú Đức.  Lại tiếp tục tranh cãi vòng vo.  Cuộc họp chấm dứt lúc 7 giờ 45 sáng.

Tới lúc đó Đại sứ Bunker mới biết chắc rằng Tổng thống Thiệu từ chối tham dự đám phán.

Ngưng ném bom Bắc Việt hoàn toàn và vô điều kiện

Năm 1968, ngày 31-10, lúc 7 giờ chiều, tại Washington. Tổng thống Johon đọc thông báo ngưng ném bom Bắc Việt hoàn toàn, phiên họp đàm phán sẽ diễn ra sau đó 1 tuần, và chính phủ VNCH sẽ không tham dự.

Năm 1968, ngày 1-11, lúc 8 giờ sáng, tại Sài Gòn. Tổng thống Thiệu đọc một bài diễn văn đặc biệt trước lưỡng viện Quốc hội.  Sau vài câu mào đầu, ông đi thẳng vào vấn đề chính : “Chính phủ Việt Nam Cọng Hòa rất tiếc là không thể tham dự những cuộc hòa đàm sơ bộ hiện nay tại Paris”.

Và ông kết thúc với câu : “dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình nhưng không bao giờ muốn nô lệ”

*Chú giải : 

Đây là một bài diễn văn công kích tình đồng minh của Mỹ.  Câu kết thúc của bài diễn văn hàm ý người Mỹ đã xem nước Việt Nam như một thuộc địa của Mỹ và xem người dân Việt Nam như là nô lệ.  Lời cáo buộc của Tổng thống Thiệu trở thành quá đáng đối với ông Đại sứ Bunker và chính phủ Mỹ nhưng lại thích đáng đối với dân chúng Việt Nam, 18 tràng vỗ tay của Quốc hội đã chứng tỏ điều đó.

Đây là những chi tiết do chính Bunker ghi chép lại trên giấy trắng mực đen chứ không phải là phỏng đoán hay suy diễn.  Thái độ nhiệt liệt tán thành của lưỡng viên Quốc hội đủ nói lên dân tộc Việt Nam muốn gì.

Đáng tiếc là Mỹ đánh giá bài diễn văn của Tổng thống Thiệu và thái độ của Quốc hội Việt Nam là “Bài Mỹ”.   Đối với chính sách ngoại giao của người Mỹ thì họ chỉ biết đánh giá đối tượng bằng hai tiếng “Thân Mỹ” hay “Bài Mỹ”.  Họ quan niệm rằng những người “bài Mỹ” là những kẻ chẳng kiếm chác được gì với Mỹ, còn những người “thân Mỹ” là những kẻ muốn làm tay sai cho Mỹ, muốn kiếm chác một thứ quyền lợi gì đó nơi chính phủ Mỹ.

“CIA và gia đình họ Ngô” đã cho thấy người Mỹ nhìn Tổng thống Ngô đình Diệm chẳng gì Bunker nhìn Thiệu.  Nghĩa là ông Diệm và ông Thiệu là những nhân vật được Mỹ giao phó cho trọng trách điều hành đất nước Việt Nam theo đường hướng của Mỹ.  Để rồi đến khi ông Diệm, ông Thiệu tỏ thái độ phản kháng thì liệt họ vào hạng “bài Mỹ”, tức là phản chủ.

Không phải riêng ông Diệm hay ông Thiệu hiểu lầm ý nghĩa của hai chữ “đồng minh” của người Mỹ, mà toàn dân Việt Nam cũng hiểu lầm như thế.  Ai ai cũng cho rằng quan hệ giữa người Mỹ với người Việt là quan hệ của hai người bạn bình đẳng, chẳng qua giữa hai người có một người giàu hơn, muốn ra tay giúp đỡ người bạn nghèo.

Trong khi đó thì người Mỹ lại cho rằng quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ là quan hệ giữa người bỏ tiền ra và người được thuê làm một công việc nào đó.  Người chủ Mỹ chi tiền thì dĩ nhiên người Mỹ có quyền đặt điều kiện trước khi móc túi ra.  Nếu đối tượng nhắm làm được thì nhận tiền ( viện trợ ), còn không thì có quyền từ chối chứ người Mỹ không ép.

Chính vì có sự hiểu lầm như vậy mà sinh ra thù oán, trách hận nhau.  Phía Việt Nam thì trách Mỹ không có tình nghĩa ( trong quan hệ bạn bè ),  còn phía Mỹ thì trách Việt Nam phản bội ( trong quan hệ chủ thợ, tức là quan hệ giữa quốc gia viện trợ và quốc nhận viện trợ ).

Bài diễn văn của Tổng thống Thiệu cho thấy ông phản ứng mạnh và bản lĩnh hơn Tổng thống .  Tổng thống Diệm phản kháng nhưng không dám phản ứng.  Đến khi không còn lối thoát mới phản ứng bằng cách dọa bắt tay với CSVN, một phản ứng nguy hiểm mà Mỹ không thể nào chấp nhận.

BÙI ANH TRINH

[post_connector_show_children slug=”b%c3%b9i-anh-trinh-lu%e1%ba%adn-v%e1%bb%81-nguy%e1%bb%85n-v%c4%83n-thi%e1%bb%87u” parent=”16370″ link=”true” excerpt=”false”]