Thiệu đi đêm với Nixon

Năm 1968, ngày 12-7. Qua một trung gian là bà Anna Chenault, ứng cử viên tổng thống Nixon hẹn gặp ông Bùi Diễm, đại sứ VNCH tại Mỹ.  Trong 1 giờ tiếp xúc ông Nixon hỏi thăm tình hình VN, chúc sức khỏe Tổng thống Thiệu và hẹn ông Diễm tiếp tục liên lạc qua bà Chenault và cố vấn của Nixon là luật sư John Mitchell.

*( Các tài liệu được giải mật sau này cho thấy sau cuộc gặp mặt này, tổng thống Johnson đã ra lệnh cho Cơ quan điều tra Liên bang FBI và Cơ quan tình báo Trung ương CIA gắn máy nghe lén và đọc lén các cuộc điện thoại cũng như công điện liên lạc giữa Đại sứ Diễm và Tổng thống Thiệu ).

Năm 1968, ngày 23-10, Đại sứ Bùi Diễm gửi công điện cho Sài Gòn : “Nhiều bạn trong đảng Cọng Hòa tiếp xúc với tôi và khuyến khích Việt Nam nên có thái độ vững chắc.  Họ lo ngại vì có nhiều bản tin của các báo nói rằng Tổng thống đã có thái độ mềm dẽo hơn trước” ( Tức là có vẻ thuận ngồi vào bàn đàm phán Paris.  Hồi ký Bùi Diễm, trang 400 ).

Ngày 27-10, Đại sứ Diễm lại báo cáo về Sài Gòn : “Tôi vẫn có liên lạc đều đặn với giới thân cận ông Nixon”.( Hồi ký Bùi Diễm, trang 401 )

Năm 1968, ngày 30-10, bí thư của Tổng thống Thiệu là Hoàng Đức Nhã gọi điện thoại yêu cầu Đại sứ Bùi Diễm thống báo cho Bộ ngoại giao Mỹ biết Sài Gòn đang xét lại việc thuận ký tuyên bố chung với Mỹ về hòa đàm Paris bởi vì Trưởng phái đoàn Mỹ tại Paris là Hariman tuyên bố không bảo đảm là Bắc Việt sẽ trực tiếp đàm phán với VNCH.

Năm 1968, ngày 31-10.  Còn 4 ngày nữa là bầu cử tổng thống Mỹ,  Johnson không thể chờ đợi chính phủ Sài Gòn được nữa, lúc 7 giờ chiều ông đọc thông báo ngưng ném bom Bắc Việt hoàn toàn, phiên họp đàm phán tại Paris sẽ diễn ra sau đó một tuần nhưng sẽ không có sự tham dự của chính phủ VNCH.

Tin này như một trái bom nổ tại Washington.  Báo chí thấy ngay đây là Johnson muốn kiếm phiếu cho Humphery trong ngày bầu cử 5-11-1968 chứ không phải là hòa đàm thực sự.  Hòa đàm chấm dứt chiến tranh Việt Nam mà không có sự tham dự của chính quyền Sài Gòn thì không còn ra thể thống gì nữa.  Chính phủ Mỹ lấy tư cách gì để đàm phán với Hà Nội ?  Chỉ còn tư cách của kẻ bại trận tại Việt Nam.

Báo chí Mỹ và thế giới sửng sờ, thậm chí bán tín bán nghi, nhưng người ta chờ đợi không lâu, chỉ 1 tiếng đồng hồ sau tin tức từ Sài Gòn là một trái bom thứ hai tại Washington :

Năm 1968, ngày 1-11, lúc 8 giờ sáng, tại Sài Gòn ( Tức là 8 giờ tối ngày 31-11 tại Washington ). Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đọc một bài diễn văn đặc biệt trước lưỡng viện Quốc hội.  Sau vài câu mào đầu, ông đi thẳng vào vấn đề chính : “Chính phủ Việt Nam Cọng Hòa rất tiếc là không thể tham dự những cuộc hòa đàm sơ bộ hiện nay tại Paris”.

Sau đó ông phân tích tình hình chiến sự hiện tại và giải thích vì sao VNCH không thể ngồi vào bàn đàm phán mặc dầu làm như vậy thì có thể dân tộc Việt Nam sẽ không còn sự hỗ trợ của đồng minh nữa.  Ông nói “Nếu cần thì dân tộc Việt Nam sẽ chống Cộng một mình”.

Cuối cùng ông kết thúc bài diễn văn với câu : “Dân tộc Việt Nam yêu hòa bình nhưng không muốn nô lệ, chúng ta sẽ không bao giờ nô lệ”.  Bài diễn văn dài 27 phút và bị những tràng pháo tay làm ngắt đoạn 18 lần.

Báo chí Mỹ quay ra nguyền rủa Johnson và đảng Dân Chủ không tiếc lời.  Tuyên bố đơn phương ngưng ném bom Bắc Việt là một thú nhận thua cuộc, và đến Paris đàm phán mà không có phái đoàn VNCH thì rõ rằng là Mỹ lạy Hà Nội để được bò tới Paris.  Nhưng bò tới Paris để kiếm phiếu cho Humphrey chứ không phải để thực sự thương lượng chấm dứt chiến tranh.

Dĩ nhiên là có ngu cách mấy người ta cũng hiểu ra rằng đây là một dấu hiệu để kết luận chắc chắn  là Mỹ đã thực sự đại bại sau các dấu hiệu McNamara từ chức, Westmoreland bay chức và Johnson không ra ứng cử nhiệm kỳ 2.  Vô tình mà Hà Nội nhận lãnh vinh quang của chiến thắng trong khi sự thực 110.000 quân của CSVN tại Miền Nam đã chết hết ( Thú nhận của Võ Văn Kiệt )..

Năm 1968, ngày 2-11, ba ngày trước bầu cử.  Ký giả Davis của báo Christian Science đến gặp Đại sứ Diễm và hỏi ông về một bản tin của một phóng viên khác là Beverly Deepe từ Sài Gòn cho biết : “Đại sứ Bùi Diễm trong một điện mật gủi về Sài Gòn đã khuyến cáo Tổng thống Thiệu không nên gủi phái đoàn đi dự cuộc hòa đàm ở Ba Lê”  ( trang 399 ).

Ông Bùi Diễm trả lời : “Những gì tôi trình bày với ông Thiệu, thì điều đó hoàn toàn là giữa tôi và chính phủ Việt Nam”.

Theo ông Bùi Diễm thì ký giả Davis ra về “với vẻ phân vân không biết xử trí ra sao với trái bom nổ chậm còn cầm trong tay”

Năm 1968, ngày 5-11, ứng cử viên Tổng thống Mỹ của đảng Cọng Hòa Richard Nixon đắc cử .  Ứng cử viên Humphrey của đảng Dân chủ thua Nixon không đầy 1% tổng số phiếu.

*( Tham muu trưởng vận động tranh cử của Nixon vào năm đó là William Safire đã viết trong cuốn sách “Before The Fall” của ông : “Nếu không có Thiệu thì có lẽ Nixon đã không trở thành Tổng thống” ).

  • Chú giải : Nixon và Thiệu, một món nợ chính trị

Jerrold  L.Schecter và Nguyễn Tiến Hưng đã dành riêng 35 trang sách trong tác phẩm “The Palace File” để nói rõ vì sao Nguyễn Văn Thiệu lại làm lệch kết quả bẩu cử Tổng thống Mỹ năm 1968. Tác phẩm này được quốc tế đánh giá là “một nguồn tài liệu tiêu chuẩn” về chiến tranh Việt Nam.  Được dịch ra tiếng Việt với tựa đề “Bí Mật Dinh Độc Lập”, mà trong đó có chương 2 với tựa đề “Nixon và Thiệu : Một món nợ chính trị” với 35 trang kể rõ về vụ này.

Mở đầu với câu :  “Nguyễn Văn Thiệu tin rằng Richard Nixon đã mắc ông một món nợ chính trị khi ông không chịu ủng hộ sáng kiến hòa bình của Tổng thống Lyndon Johnson ngay trước cuộc bầu cử Mỹ năm 1968. Dù không tuyên bố ông Thiệu vẫn chắc chắn rằng việc ông từ chối không tham dự hòa đàm với Bắc Việt…đã đóng một vai trò quyết định trong sự thằng lợi của Nixon đối với Hubert Humphrey.”

Ngoài ra sách của Clark Cifford, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ có cho biết trước bầu cử 1 tháng thì Humphrey thua Nixon 15 điểm, sau đó ông ta lật ngược tình thế bằng chiêu bài thương lượng hòa đàm với Hà Nội, chỉ 1 tháng sau ông ta hơn Nixon 4 điểm. Nhưng đúng vào lúc đó Thiệu tuyên bố sẽ không tham dự hòa đàm khiến cho người Mỹ cho rằng Humphrey nói xạo, và 4 ngày sau ông ta thất cử.

Thời đó Humphrey đã tuyên bố là nếu thắng cử sẽ giải quyết chiến tranh Việt Nam bằng đàm phán, và quyết định ngưng ném bom Miền Bắc sẽ là một chứng minh cụ thể nhất để có thể hốt phiếu của cử tri Mỹ.

Sau này ông Nguyễn Văn Thiệu đã tâm sự với Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng : “Humphrey thắng cử sẽ có nghĩa là chính phủ liên hiệp trong vòng 6 tháng.  Còn nếu Nixon thắng, thì ít ra cũng có hy vọng” ( Bí Mật Dinh Độc Lập, trang 37 ). 

Ngoài ra còn có một lý do khác, đó là Thiệu không ưa Humphrey.  Nguyên do là trong lần Humphrey sang dự lễ nhậm chức Tổng thống của Nguyễn Văn Thiệu năm 1967 ông ta đã có thái độ gần như trịch thượng với Tổng thống một nước nhỏ đang nhận viện trợ của Hoa Kỳ.  Cảm giác của Nguyễn Văn Thiệu vào cuối buổi gặp gỡ đã được Nguyễn Tiến Hưng ghi lại trong Bí Mật Dinh Độc Lập sau khi nghe lời kể của Nguyễn Văn Thiệu và Ted Van Dyk :

“Ông Thiệu lắng tai nghe, tàn điếu thuốc Gauloise đang hút dở của ông rớt xuống tấm thảm dầy.  Nhưng ông không nói gì thêm, và cuộc họp chấm dứt.

Ra đến bên ngoài, trên bậc thềm dinh Độc Lập,  Humphrey hỏi Bunker : “Tôi có tàn nhẫn quá với ông ta không?”.  Bunker đáp : “Không, ông ta cần được nghe như thế”.

Ngay lúc đó thì một trái đạn pháo của Việt Cộng câu ngay vào dinh rớt nổ ngay trên sân cỏ.  Humphrey và Bunker chúi đầu chạy vào chiếc limousine đang chờ sẵn, và đoàn xe phóng thẳng về tòa Đại sứ. Thiệu và Humphrey trở thành thù địch từ hôm đó” ( Bí Mật Dinh Độc Lập, trang 38 ).

Vụ nghe lén của Johnson được tiết lộ sau khi Nixon bị cáo buộc nghe lén

Thuở đó hầu như dư luận báo chí đều hiểu quyết định của Thiệu đã làm lệch cán cân bầu cử Tổng thống Mỹ, nhưng dư luận chỉ dựa theo kết quả mà đoán ngược trở lại chứ không ai có bằng chứng về việc thông đồng giữa Nixon và Thiệu.

Mãi đến năm 1974 Nixon bị vướng vào vụ nghe lén Watergate cho nên Nixon cho thẩm lậu những bằng chứng cho thấy thời Johnson đã có nghe lén rồi, và người bị nghe lén là Nixon.  Tới lúc đó cựu Bộ trưởng Quốc phòng của Johnson là Clark Clifford mới viết hồi ký nói rõ :

“Chúng tôi nghĩ rằng ông Thiệu chống lại những sự thỏa thuận ở Ba Lê vì đã được khuyến khích bởi những người trong đảng Cọng Hòa.  Chúng tôi ( Tổng thống Jhonson, Rush, Rostow và tôi ) không cho Humphrey biết, và bàn cãi với nhau xem phải đối phó như thế nào”

“Nhưng chúng tôi ở vào tình trạng thật khó xử, một mặt chứng cớ là những người trong đảng Cọng Hòa xúi giục ông Thiệu trì hoãn cuộc điều đình, nhưng mặt khác những tin tức ấy lại do FBI và CIA…., … Rút cuộc,… Tổng thống Johnson không cho tiết lộ tin này. ( Bản dịch của Bùi Diễm ).

BÙI ANH TRINH

[post_connector_show_children slug=”b%c3%b9i-anh-trinh-lu%e1%ba%adn-v%e1%bb%81-nguy%e1%bb%85n-v%c4%83n-thi%e1%bb%87u” parent=”16370″ link=”true” excerpt=”false”]