Giải trình,

            Ban dầu, tôi dự tính sau bài “Tiếng Huế”, tôi sẽ viết tiếp bài “Huế, lãng mạn, đa tình” mà hàng đầu là vua Thành Thái, nhưng tuần rồi, tôi có đọc một bài, tác giả nào đó, nói tới bài hát có câu “Ta có Huế tự hào”, phê phán rằng “Huế tự hào” là “tự hào” cái chi, không lẽ tự hào về cái chết của hơn năm ngàn người hồi Tết Mậu Thân năm 1968?

            Quả thật, “Mậu Thân 1968” với Huế là nỗi đau, đau đớn lắm, cho từng gia đình có người chết hồi năm ấy, cũng như toàn thể người Huế năm ấy, ai ai cũng là “nạn nhân chiến cuộc”, hay nói rõ hơn, không úp mở là “nạn nhân Cộng Sản” ngay cả với những gia đình có thân nhân thân Cộng, theo Cộng hay Cộng Sản chính hiệu.

            Hồi tết đó, khi tôi đem vợ con chạy về trường Kiểu Mẫu, theo lệnh tập trung của tướng Lãm, là Tư Lệnh Quân Khu I, để được quân đội bảo vệ và cứu trợ, thì gia đình Trịnh Công Sơn, gia đình em gái Hoàng Phủ Ngọc Tường (giáo viên trường tiểu học Bến Ngự), ngày mồng 9 Tết, từ Bến Ngự cũng chạy về đấy, cùng với dân chúng Bến Ngự, gia đình nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, từ Vĩ Dạ cũng chạy lên tá túc ở đó.

            Trong khoảng chừng một tháng khi Cộng Sản chiếm Gia Hội, và sau đó mấy tháng nữa, “nạn nhân chiến cuộc” toàn thể thành phố Huế và phụ cận đều tập trung về các điểm tập trung như trường Kiểu Mẫu, trường Đồng Khánh, trường Quốc Học… để tạm cư và nhận cứu trợ từ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

            Trong bài trước, tôi có nhắc tới câu ca dao “Người xa người tội lắm người ơi!” là tôi muốn hỏi hồi tết Mậu Thân 1968, “người xa người” là ai mà “tội lắm người ơi!”

            Hơn năm ngàn người bị giết, tính chung ra là có bao nhiêu “cái xa” giữa người bị giết và người sống sót: Vợ chồng, cha con, anh em, bà con, bạn bè… Năm ngàn người chết để lại, ít ra cũng vài ba chục ngàn cho người còn sống, để cảm nhận cái đau đớn về sự xa cách, chết chóc… tạo nên cảnh “người xa người tội lắm người ơi!”

            Hồi đó, sau tết, tình hình tạm yên, học trò đi học lại. Vào lớp, tôi thấy sĩ số học trò thấp xuống ít nhiều – hoàn cảnh “hậu Mậu Thân” khiến chúng phải bỏ học. Tôi lại thấy ở mỗi lớp, ít ra cũng là gần phân nửa học trò nam cũng như nữ để tang cho người thân: cha mẹ, anh chị em, cậu mợ… Nói tình thật, tôi mất bình tĩnh, chán nghề cầm phấn mà tôi đã đi dạy gần 10 năm. Sau giờ học hôm ấy, tôi quyết định nhập ngũ, mặc dù chưa có lệnh gọi. Việc tự ý đi lính nầy, tôi chẳng hỏi ý kiến vợ. Vợ tôi cam chịu, để sau đó, gồng gánh bao nhiêu gian khổ vì tiền lương lính không đủ nuôi sống các con. Ít khi tôi hối hận về việc “đi lính” ấy, tuy trong lòng vẫn thương vợ “gánh gạo theo chồng…” (1)

&

Nói về Huế, đúng ra, phải nói dài hơn, tức là nói về “lịch sử Huế”, mà lịch sử Huế là lịch sử đấu tranh, chiến tranh của Huế, với nhiều xương máu của binh lính của phe nầy phe kia, với rất nhiều sinh mạng của “đồng bào vô tội”, bị chết oan vì tên bay đạn lạc…

So với hơn năm ngàn người chết hồi tết Mậu Thân, những cái chết trong các trận chiến hồi trước đó, như “Thất thủ kinh đô”, hay đánh Tây hồi Tây trở lại xâm lăng nước ta sau khi Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai chấm dứt của những năm 1946, 47, người chết ít hơn nhiều, tuy vẫn có những ngôi mộ tập thể, là tại vì sao?

Người dân bị giết hồi trước là do “tên bay đạn lạc”, nhưng người bị chết không phải vì súng đạn thô sơ như hồi “thất thủ kinh đô” mà vì các phe đánh nhau, giữa binh lính của triều đình Huế với quân lính Tây, vẫn thường có nhiều thường dân vô tội.

Đối với cuộc chiến năm Mậu Thân, về phía quân đội VNCH và quân đội Mỹ, họ vẫn coi người nào không cầm súng bắn lại họ đều là “dân lành vô tội”, cần thì họ cứu giúp. Về phía quân Cộng Sản Việt Nam thì ngược lại, người dân Huế, không có ai là “dân lành vô tội” cả. Tất cả những người dân Huế bị giết hay thoát chết hồi tết năm ấy, đều là những người có tội cả. Dễ thấy lắm:

-Thứ nhất, họ là dân thành phố.

Từ khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống Tây, Việt Minh cố tạo mâu thuẫn giữa người thành phố và người nhà quê, nhất là trong giới vô sản, bần nông, cố nông. Việt Minh tuyên truyền người thành phố là phản động, theo Tây, muốn Tây cai trị để được sống ở thành phố có đời sống tiện nghi, sung sướng, làm tay sai cho Tây. Huống chi, Huế là “xứ vua quan”. Vua quan đều là “phong kiến phản động” (danh từ Việt Cộng – dt VC), tích cực “chống phá cách mạng” (dt VC) vì “quyền lợi giai cấp” (dt VC)… Ngay như gia đình Hoàng Phủ Ngọc Tường, sau ngày “toàn dân kháng chiến” 19 tháng 12 năm 1946, phải bỏ làng Bích Khê, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị chạy lên thành phố vì sợ Việt Minh bắt giết. Ông Hoàng Hữu Cảnh (thường gọi là ông ấm Cảnh – gọi là ấm vì ông ta “con quan” – thân phụ tác giả “Tôi bỏ đảng” (Hoàng Hữu Quýnh) và thi sĩ “Cồng Vũ” (Hoàng Hữu Chỉ) – bà con chú bác với Tường), cũng chạy lên thành phố, làm nhà ở xóm tôi mà ở để “trốn Việt Minh”.

-Thứ hai, người dân Huế là “ngụy”, “tay sai đế quốc Mỹ”, “lính ngụy”, “đánh giặc thuê cho Mỹ”… (dt VC)

-Thứ ba, nếu không phải là “lính ngụy”, là “gia đình ngụy”, “cảm tình với ngụy và đế quốc Mỹ”, thì cũng là những người “ủng hộ chính quyền ngụy”, “ủng hộ lính ngụy”, và cũng có thể “làm tình báo”, “báo cáo hoạt động của “cách mạng cho ngụy”… Đó chính là cách nhìn của Việt Cộng đối với người dân Huế, nói chung. (dt VC).

-Thứ tư, nếu không có gì, nghi ngờ gì đi nữa thì Cộng Sản thực hiện chủ trương “Giết lầm hơn bỏ sót”, tức là làm “cách mạng vô sản là cách mạng triệt để”.

-Thứ năm, người dân là “phương tiện”. “Cách mạng” không xử dụng thì phải hủy diệt đi, vì khi “cách mạng đã rút ra khỏi Huế” thì “ngụy và đế quốc Mỹ” sẽ xử dụng người dân ấy như là một phương tiện chống phá cách mạng.”

-Thứ sáu, mâu thuẫn tôn giáo là mâu thuẫn thứ hai sau lý do chính trị. Phần đông (hay hầu hết?), Việt Cộng không có tôn giáo, và rất ghét, thù oán những người theo đạo Thiên Chúa, cho là “theo Tây”, “theo giáo hội La Mã”, “theo Mỹ”… nên Việt Cộng chỉ muốn giết hết những người theo đạo, không “tha chết” bao giờ. Trong cuốn sách “The battle for Huế” của Keith Nolan, ông ta ghi nhận một nguồn tin nói rằng hầu hết những người (412 bộ xương) bị đập đầu chết (đập đầu chớ không bắn) ở khe Đá Mài (gần lăng Minh Mạng) là người dân Phú Cam, thuộc làng Phước Quả. Người Phú Cam phần đông theo đạo Thiên Chúa.

Việt Cộng “thất vọng” người dân Huế nên đâm ra ghét họ.

Thất vọng cái gì?

Sau vụ “bàn thờ xuống đường”năm 1966, những tên thân Cộng – thân Cộng chớ chưa phải là Cộng Sản – như Tường, Phan, Xuân… những tên “nằm vùng” trong số những người Huế đấu tranh chống “quân Thiệu Kỳ” (danh từ phổ biến hồi đó), sợ bị bắt, sợ bị tù nên chạy lên rừng, theo Việt Cộng. Lên đó, chúng khai với Việt Cộng rằng “dân Huế hoan hô, ủng hộ cách mạng”. Nếu “cách mạng” tấn công Huế, dân Huế sẽ “nổi lên theo cách mạng”. Tưởng thật hay không tưởng thật, Việt Cộng đã có chủ trương: “tấn công và nổi dậy” là chiến lược vạch ra cho cuôc tấn công vào Huế năm Mậu Thân.

Đến khi Việt Cộng tấn công Huế, thay vì “nổi dậy” như Việt Cộng tuyên truyền thì dân chúng chạy trốn cả. Sợ bị Việt Cộng kết tội “báo cáo láo”, bọn Tường, Phan, Xuân… lập công bằng cách giết dân, chỉ điểm cho Việt Cộng giết dân – có sự tiếp tay của cha con “đạo hữu Nguyễn Đóa”.

Nhìn chung, cuồng tín và hận thù làm cho con người mất hết lương tri.

Sau “Hiệp định sơ bộ” ngày 6 tháng 3 năm 1946 do Hồ Chí Minh ký với Tây, đồng ý để Tây đem quân về đóng tại các thành phố lớn thì Tây từ Lào về đóng tại Huế (khách sạn Morin). Chiến tranh du kích nổ ra tại Huế trước ngày 19 tháng 12 năm ấy. Sau ngày ấy thì chiến tranh khốc liệt hơn. Tây chiếm toàn bộ thành phố Huế và tiến ra các vùng phụ cận, đặt lại chính quyền ở các phủ huyện quanh Huế như Phú Vang, Hương Thủy, Hương Trà… Người chết vì trận chiến tranh nầy cũng không ít. Sau đó là trận đánh năm Mậu Thân.

Nhìn chung, kể từ khi Tây xâm lăng nước ta từ giữa thế kỷ 19, Huế có ba trận đánh lớn: Thất thủ Kinh đô (1885), “kháng chiến giành độc lập” các năm 1946, 47 và trận Mậu Thân (1968).

Ba trận đánh nầy có hai tính cách khác nhau. Hai trận trước là chiến tranh giữa Huế (quân và dân Việt Nam, nói chung) và Tây xâm lăng. Trận sau, Mậu Thân là trận Việt Cộng tấn công Huế. Trong trận nầy, quân đội Mỹ chỉ đóng vai phụ, chính yếu là giữa “quân Cộng Sản Bắc Việt xâm lược” và người lính Việt Nam Cộng Hòa. Ở đây, dân thường không phải bị “vạ lây” mà chính là đối tượng, là kẻ thù, là địch thủ của quân Việt Cộng.

Vậy thì nên nói lại cho rõ, Việt Cộng hay văn nô Việt Cộng ca ngợi “Huế anh hùng” (đấu tranh), “Huế tự hào” là khi nào, khi đánh Tây bảo vệ Vua (vua là tượng trưng cho đất nước theo quan điểm ngày trước) hay “giành độc lập” như các năm 1946, 47 hay Việt Cộng “tàn sát người Huế” như tết Mậu Thân. Chẳng cần giải thích, độc giả biết cả rồi.

Tây bắt đầu tấn công Huế năm 1883, đầu tiên là trận đánh Thuận An, hai ông tướng Lê Sĩ và Lê Chuẩn tử trận, hai ông tướng Lâm Hoành và Trần Thúc Nhẫn nhảy xuống biển tự tử – Thành mất, tướng chết theo thành – Tiếp sau đó là “Thất thủ kinh đô”, vua Hàm Nghi bôn tẩu, xuống chiếu cần vương. Dân chúng theo hịch vua, nổi lên nhiều nơi, khắp ba vùng Bắc, Trung, Nam. Tây lần lượt chiếm hết toàn cõi nước Nam. Tiếp sau “phong trào cần vương” là “phong trào văn thân” – bình Tây sát tả – chống Pháp và giết người có đạo (đạo Thiên Chúa hồi đó bị gọi là tả (tà) đạo). Mâu thuẫn giữa người Việt Nam với người có đạo càng ngày càng sâu sắc, chống nhau càng ngày càng quyết liệt cho tới bây giờ).

Tại sao lại có “sát tả”?

Việc chống đạo (Thiên Chúa) không chỉ xảy ra ở nước ta mà ngay các nước khác như Tầu, Nhựt Bản, Triều Tiên đều có cả.

Đời nhà Thanh, Từ Hi Thái Hậu lợi dụng phong trào “Nghĩa Hòa Đoàn” để đánh phá đạo Thiên Chúa. Tình hình ở Nhật cũng tương tự. Tại sao việc đàn áp đạo Thiên Chúa xảy ra ở Tầu, ở Nhựt và ở ta, lại không xảy ra ỏ Phi Luật Tân? (2)

Người ta có thể lý giải bằng sự mâu thuẫn văn hóa. Tàu Việt và Nhựt đậm văn hóa Á Đông nhưng Phi thì không! Khi người Y Pha Nho xâm lăng quần đảo Phi thì quần đảo nầy còn ở trong tình trạng bộ lạc, chưa hình thành một quốc gia. Nước nầy chỉ trở thành quốc gia sau khi được Mỹ cho độc lập (năm 1947).

Ở nước ta, mâu thuẫn tôn giáo đã có từ thời “Nam Bắc phân tranh”. Sự mâu thuẫn đó càng ngày càng sâu sắc hơn khi các vua nhà Nguyễn sợ tôn giáo nầy có thể làm nguy hại cho ngai vàng của các vua, nhất là từ thời Minh Mạng trở về sau, khi “ảnh hưởng” của những người Pháp và các cố đạo từng giúp vua Gia Long chống nhà Tây Sơn càng ngày càng nhạt dần.

Thêm vào đó, khi người Pháp bắt đầu xâm lăng nước ta, từ 1857 khi Rigault De Genouilly tấn công Đà Nẵng rồi Nam Phần, mà qua đó, vai trò của giám mục, nhất là giám mục Pellerin thật là quan trọng. Trong tình trạng các giám mục, linh mục giúp người Pháp xâm lăng nước ta, sự mâu thuẫn giữa triều đình Huế cũng như những người Việt Nam yêu nước càng ngày càng nặng nề đến nỗi một vài nhà viết sử đã gọi những tu sĩ Thiên Chúa Giáo ấy là “những tên thực dân mặc áo thầy tu”. (3)

Mâu thuẫn ấy sâu sắc hơn sau khi vua Hàm Nghi chạy ra Hà Tĩnh, xuống “chiếu cần vương”. Phong trào nầy thất bại, lại dấy lên “phong trào Văn Thân – bình Tây sát tả”. Việc các làng đạo bị phong trào Văn Thân tấn công và các làng đạo cùng Tây phản công, giết và bỏ tù, đàn áp những người hưởng ứng “bình Tây sát tả”, làm cho việc chia rẽ “lương giáo” càng thêm nặng nề.

Mặc dù vua Thành Thái hưởng ứng “phong trào Duy Tân”, khuyến khích sĩ phu theo Tây học, làm cho người Việt thấy “gần gũi” văn hóa Tây phương, đạo Thiên Chúa và người theo đạo, nhưng sự phân rẽ và kỳ thị tôn giáo vẫn tồn tại trong nhiều người Việt, cho mãi tới bây giờ.

Đây là một vấn đề khá phức tạp của người Huế, không thể chỉ trong một vài hàng mà nói hết được. Tác giả sẽ trở lại ở một bài sau.

Sự xuất hiện của chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản làm cho người lương, người giáo có một kẻ thù chung, và hai thành phần dân tộc vừa nói trở thành “bạn”. Để tồn tại, trước kẻ thù Cộng Sản, người dân Việt Nam tự họ thấy cần phải đoàn kết để chống Cộng Sản phi dân tộc.

Đó là những nét chính trong “lịch sử oan khiên” của Huế vậy.

hoànglonghải

            (1)-“Con cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”…

(2) a./ Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn hay còn gọi là Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn, có nghĩa nôm na: “phong trào xã hội công bằng và hòa hợp”) là một phong trào bạo lực tại Trung Quốc (tháng 11 năm1899 đến 7 tháng 9 năm 1901) do Nghĩa Hòa Đoàn khởi xướng, chống lại sự ảnh hưởng của thế lực nước ngoài trong các lĩnh vực giao thương, chính trị, văn hóa, công nghệ và bài Kitô giáo, trong bối cảnh hạn hán khắc nghiệt và kinh tế suy sụp. Cuộc nổi dậy xảy ra tại Trung Quốc trong suốt những năm cuối của triều đại Mãn Thanh. Các thành viên Nghĩa Hòa Đoàn gieo rắc lòng căm thù đối với những thương nhân nước ngoài và các vị cố đạo truyền giáo và kêu gọi mọi người thanh toán những nhóm người này. Sự thù hận này có nguồn gốc từ cuộc Chiến tranh Nha phiến và sự xâm nhập kinh tế của người nước ngoài, cùng với chính sách truyền đạo mà chính quyền nhà Thanh bất lực không ngăn cản được.

Những người nổi dậy xông vào các nhà thờ ở khắp miền Bắc Trung Quốc giết hại các nhà truyền giáo mà họ gọi là “những kẻ đi gieo rắc tội ác”. Quân Nghĩa Hòa Đoàn thắt khăn đỏ ở cổ tay hay chân dùng dao hoặc giáo mác chặt đầu những người bị hành hình rồi bêu đầu lên ngọn giáo. Tại  Sơn Tây họ đã giết tới 200 người nước ngoài, chủ yếu là những nhà truyền giáo và thân nhân của họ. Chỉ trong vòng 1 ngày có tới 45 người bị giết. Tháng 6 năm 1900, quân Nghĩa Hòa chiếm đóng Bắc Kinh và giết 230 người ngoại quốc. Hàng chục nghìn tín đồ Cơ Đốc giáo Trung Quốc, gồm Công giáo và Tin lành đều bị giết phần lớn tại hai tỉnh Sơn Đông và Sơn Tây như là một phần của cuộc nổi dậy. Chính quyền của Từ Hi Thái Hậu tỏ ra bất lực khi các nhà ngoại giao và binh sĩ cũng như thường dân nước ngoài và một vài tín đồ Cơ Đốc giáo người Hoa phải rút lui tới các tòa công sứ và cầm cự 55 ngày cho đến khi liên quân 8 nước (Bát Quốc liên quân) gửi 20.000 quân tới giải cứu. Liên quân đánh bại quân chính quy nhà Thanh, chiếm đóng Bắc Kinh ngày 14 tháng 8, giải vây khu lãnh sự. Tiếp đó Liên quân cướp phá Bắc Kinh và các khu vực lân cận, hành quyết các tù binh tình nghi là thành viên Nghĩa Hòa bị bắt.

(Theo Wikipedia và

tiểu sử Khổng Tường Hy – chồng Tống Ái Linh)

b./ Kito giáo tới Nhật Bản lần đầu tiên qua nhà truyền giáo Francis Xavier năm 1549, khi quyền lực của chính quyền trung ương suy yếu. Lan truyền rất nhanh ở miền nam quốc đảo, khi đó có tới 750.000 người cải đạo thành tín đồ Cơ đốc, chiếm 10% dân số. Nhưng hiện nay, chỉ khoảng 1% trong số 127 triệu dân xứ hoa anh đào là người Công giáo.

Cuối thế kỷ 16, lo sợ bị đô hộ bởi người Tây Ban Nha cùng làn sóng cải đạo đang lan tràn ở nước láng giềng Philippines, Hideyoshi, viên tướng có công thống nhất Nhật Bản, ra lệnh cấm Kito giáo và trục xuất các nhà truyền đạo.

Cuộc tàn sát nghiêm trọng nhất diễn ra đầu những năm 1600, khi hơn 6.000 tín đồ Thiên chúa bị giết, chủ yếu là ở miền nam quốc đảo, nơi chịu ảnh hưởng mạnh của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha đi thuyền từ Macau tới.

Trái với định kiến về samurai xả thân vì lý tưởng, những tài liệu ghi lại cho thấy hầu hết các võ sĩ đạo và tầng lớp danh giá đã từ bỏ tín ngưỡng dưới sức ép của nhà cầm quyền. Chỉ có những người nông dân, thợ thủ công và nhà buôn chết vì niềm tin mới mẻ của mình, sau khi đã chịu nhiều cực hình tra tấn.

Để nhổ tận gốc đạo Cơ đốc, chính quyền tổ chức kiểm tra hằng năm, trong đó các nông dân được yêu cầu phải giẫm chân lên cây thánh giá hoặc hình Maria Đồng trinh và Chúa hài đồng. Tại bảo tàng trên đảo Ikitsuki, vẫn còn một trái tim bằng đồng in hình Đức mẹ và ấu Chúa đã mòn bởi hàng nghìn bàn chân trần giẫm lên.

Trong suốt 300 năm, những người Kito giáo Nhật Bản giấu diếm tín ngưỡng bằng cách thực thi những nghi lễ của đạo Phật và Thần đạo. Tại bảo tàng, có một “tấm gương thần” vẽ hình Phật tổ treo trên tường. Nhưng khi gỡ nó ra và soi lên ánh sáng, người ta sẽ thấy bóng một cây thánh giá.

“Lo bị đàn áp, chúng tôi phải dùng đạo Phật để nguỵ trang”, cụ Mitsuyoshi Okawa 72 tuổi kể lại. Mỗi khi thánh lễ được tổ chức trong bảo tàng, những người già thường hồi tưởng và kể cho con cháu họ từng bí mật học thánh ca như thế nào khi xưa. Họ từng chui vào trong chăn hoặc ra chỗ đồng không mông quạnh để luyện giấu.

Nhưng giờ đây, trong số những người trẻ chỉ có sinh viên và giáo viên hát thánh ca. “Chẳng ai theo cả”, đức cha Tomeichi Ohoka 85 tuổi than phiền. “Tôi lo buồn khi nghĩ về tương lai, và không dám chắc đạo Cơ đốc có còn tồn tại ở đây không nữa”.

  1. Huyền (theo NYT)

(3)- Trong một nước quân chủ, vua là người cao nhất nước, dân chúng có khi gọi vua là “Đức kim thượng” (người cao nhất hiện tại). Vậy mà các ông cố đạo người Tây phương đến nước ta, nói với dân chúng: Phải thờ ông vua nầy, là vua của các ông vua (king of the kings, thực chất là trung thành với “giáo hội La Mã) thì ông vua nào lại không sợ cho ngai vàng đang ngồi bị rung rinh. Đó là lý do thực tế khiến các ông vua phải cấm đạo – cấm đạo để giữ ngai vàng, chưa kể việc các ông cố đạo ủng hộ và giúp đỡ những người theo đạo và chống vua như trường hợp “Giặc tên Phụng” thời vua Tự Đức – xem Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, Chương VIII – Còn việc mâu thuẫn văn hóa đông – tây là thuộc lãnh vực khác, lý thuyết cũng như thực tế, khi người theo đạo chỉ thờ chúa mà không thờ ông bà, tổ tiên. Đây là ý kiến của cụ Mỹ Tín (Nguyễn Đức Trọng) nói chuyện trong một buổi họp của ban biên tập tạp chí Thế Hệ. Cụ Mỹ Tín nguyên giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Saigon trước 1975. Ông cũng là một nhà Thiền Học nổi tiếng ở miền Nam trước đây. Ông là một tín đồ đạo Thiên Chúa nhưng có những nhận định sâu sắc và vô tư về tôn giáo ở nước ta thời cận đại./

[post_connector_show_children slug=”hu%e1%ba%bf” parent=”26283″ link=”true” excerpt=”false”]