Nhân đề cập về các món bàn ghế được làm từ gốc cổ thụ bản địa, tôi liên nghĩ đến thú chơi đồ cổ của dân ta.  Ngày nay không thiếu nhừng nhà hằng sản tạo ra những phòng khách, gian thờ với những tràng kỷ, bàn, tủ thờ, khung điện toàn bằng danh mộc, chạm trổ cầu kỳ với những tích xưa dân gian hay cổ tích.

Tôi nhớ đến gia đình khi còn sung túc ở Saigon, bố tôi cũng là một trong những người sính chuộng lối trưng bày nơi thờ tự như thế.  Những năm 30-40 của thế kỷ 20, ông đã nhận nuôi kéo thợ khéo tay từ quê vào để khắc đẽo, chạm trổ những món đồ gỗ trong nhà.

Lúc bấy giờ thợ trạm Bắc Ninh nổi tiếng khéo tay, tỉ mỉ, bố tôi nuôi hằng tháng trời chỉ có ăn rồi lo chăm chút khu thờ phụng như ý bố tôi muốn. Những khung khảm với hoa văn và cảnh con vượn bồng con lên non hái trái.  Chiếc gương to đùng với cái khung chạm trổ con phụng hoàng xòe cánh hùng vĩ.

Chiếc đồng hồ ODO thánh thót ngân vang nhịp chuông báo giờ, hay tiếng kêu cạch cạch nhè nhẹ của quả lắc khi chưa đến giờ, làm tâm hồn trẻ thơ của chị em tôi bay bổng lâng lâng.  Hồi đó tôi luôn nghĩ rằng chắc hẳn của nả này sẽ không bao giờ mất đi và để mặc cho dòng thời gian trôi qua không vướng mắc.

Thế rồi, đùng cái năm 45 bố tôi đột ngột xa gia đình.  Mẹ con một nách 5 người ở lại với nhau trong ngôi nhà đầy kỷ niệm.  Tôi còn bé quá, nào đã biết gì, đâu thấu rõ nỗi đau thương mà mẹ tôi phải chịu đựng.

Niềm đau dấm dúi mãi đeo theo những sợi tóc ngày càng bạc của mẹ tôi.  Đến khi cơn bệnh lao ập đến, tôi chợt thấy nỗi bấp bênh hiện dần.  Rồi ngày một, ngày hai, mẹ tôi gọi bán dần từng cái, từng cái.  Bà còn neo vớt lại chiếc ODO, hẳn để đêm đêm hòa nhịp đập vỡ tan của tim theo tiếng ngân nga, lảnh lót cũng nên !

Cuối cùng thì cũng không giữ được.  Thoắt cái vật chợt đến lại chợt đi.  Mong manh như sợi tơ nhện phất phơ trong gió.  Bây giờ thoạt nhìn những cái bàn to bản, những cái ghế trắc, cà te của quán ăn Bến Lội Khánh Vĩnh, tôi cảm thấy nỗi đau lớn rộng dần.  Mẹ tôi không còn nữa.  Bố tôi hơn 40 năm sau mới quay về.

Những của nả đã trôi đi, lững lờ không một dấu tăm.  Tôi chợt ngộ ra nỗi vô thường chất ngất.  Tôi nhớ mẹ, nhớ cảnh các chị em và không dưng lệ đâu ngấn bên đuôi mắt.  Niêm cũng chợt nhận ra, tìm nắm lấy bàn tay tôi xoa xoa mà hỏi khẽ : hình như anh đang khóc ?  Tôi chẳng trả lời mà chỉ gật nhẹ đầu.

Tôi ví như một mảnh sành vừa được lia đến tõm xuống ao để những vòng nước rùng rùng loang rộng.  Lòng tôi như có ai sát muối.  Tôi vội vàng trốn chạy khỏi quán ăn.  Niêm riu ríu kéo xe ra, tôn trọng sự xúc động của tôi và im lìm mở máy.

Đường leo càng lúc càng cao.  Đến khi gặp cái biển ghi địa phận giao thoa giữa Khánh Hòa và Lâm Đồng thì trời đã trưa hẳn, nhưng không nóng.  Một tấm biển con con khác cho biết độ cao đã đến tận cùng.  Tôi xoay nhìn một vòng, tầm mắt đã ngang cùng nhửng dỉnh núi bao quanh.

Tiếng gió thổi, tiếng nước reo, tiếng bạt ngàn của âm vang rùng thẳm.  Tôi nhìn lên vách đá bên tay phải, vách vẫn ngạo nghễ đứng cao.  Liếc xuống bên trái, vực sâu thăm thẳm, không nhận biết rõ cơ man những gì đang ẩn trùm trong cõi bao la đó.

Chỉ thấy những guộng mây lơ thơ như bông nõn dập dềnh bay lãng đãng.  Khí hậu se se lạnh, tầm mắt tôi thả vào bạt ngàn hốc núi, eo sâu.  Niêm vẫn chưa dám ngỏ lời gì với tôi, có lẽ cô sợ xóa tan ngổn ngang đang chất chứa trong tôi, hay ngại tôi cự nự gì chăng !

Vậy là chuyến đi phượt của hai tôi đã xong nửa chặng đường.  Từ miền duyên hải cồn cào sóng biển xanh, giờ bọn tôi đang nghểnh đầu nhìn về đỉnh cao trên đó.  Thông đã bắt đầu xuất hiện, những gốc thông không còn to và cao như thuở trước.  Tôi nghĩ đến thời gian và những bàn tay thô bạo của con người đã làm cho rừng bớt nguyên sơ và không còn vẻ trầm mặc nữa.

Tôi nghĩ đến năm 19 tuổi, xa lìa mẹ và gia đình đi làm ăn.  Dalat ngày tôi đến còn nguyên khai và ủ kín.  Nếu tối nào đặc sương mù là y như hôm sau nắng sẽ lên to. Ngày ấy khu chợ độc nhất còn nằm trên cái chỗ gọi là Khu Hòa Bình hiện giờ, với cái tháp con như tháp nhà thờ bé tẹo.

Quanh quanh con phố chính vẫn còn những cửa hiệu mang tên Pháp.  Tôi đọc được Croix du Sud, nhà hàng Mekong, hiệu tóc Saigon, những Vĩnh Chấn, Vình Hòa, Phúc Thái Lai, Minh Tâm, nhà in Langbian, giò chả Bắc Hương và bến xe nằm trên đường Hàm Nghi.

Trong tâm trí tôi ngày ấy Dalat là hòn ngọc.  Trí nhớ ngốc nghếch của tôi in mãi ý nghĩa tên Dalat mà có người diễn ra theo cái câu ghi nơi nóc chợ Hòa Bình “ Dat alias latitiem, alias temperium “.  Tôi nào có học tiếng La Tinh để hiểu ngọn ngành câu đó, nhưng may sao có người chỉ vẽ cho ngụ ý “ đây là nơi tốt về mặt cao độ với người này, hoặc tốt về mặt khí hậu với người khác “.

Tôi không nắm vững nghĩa đúng sai cho đến tận giờ, song tôi nghĩ nghe cũng chứa chan nghĩa tình và ý vị đấy chứ !  Dalat hồi đó còn “ non “ lắm, những con đường dốc mỏi, rừng thông phủ kín khắp nơi.  Có cái thú sáng ra khi nắng lên mạnh, thong dong qua những con dốc ven rừng thông, nếu chú ý ta vẫn có thể nghe nhận tiếng vỏ thông nứt tanh tách như lời mời chào buổi mai.

Lũ lượt những nữ sinh ôm cặp đến trường, thướt tha trong tà áo dài trắng, cổ quấn khăn san mỏng hồng, môi tươi, má đỏ, lướt nhẹ đi trên triền dốc, giữa lớp mờ mờ sương ảo của vùng đât hoàng triều cương thổ.

Chả hiểu sao hồi đó tôi đã tự hào đây là chốn thiên thai mà mỗi khi có dịp về thăm mẹ trên chuyến xe Minh Trung, khi trở lại đến Định Quán, chờ lên đèo Blao, tôi đều len lén nhìn thật cao và nói thầm :  Thiên Thai ở trên ấy…

(còn tiếp)

[post_connector_show_children slug=”%c4%91%e1%bb%97-th%c3%a0nh-%c4%91i-ph%c6%b0%e1%bb%a3t” parent=”10189″ link=”true” excerpt=”false”]