Giữa năm 2016, tôi về VN hơn một tháng, đi loanh quanh vài nơi: gò Công, Mỹ Tho, Phan Thiết, Phan Rang… rồi trở lại Mỹ.

Sau chuyền đi, nói chuyện chơi với vài người bạn, họ hỏi tôi thấy gì, nghĩ gì?… Sau đây là vài điều mắt thấy tai nghe, và kể lại, cùng quí bạn.

1)- Dĩ nhiên, như ai cũng thấy, ở “nước ta” bây giờ – nước ta là Việt Nam đấy, chớ không phải Mỹ. Ai có quốc tịch Mỹ thì nước Mỹ cũng là “nước ta” vây! – người giàu thì quá giàu, người nghèo thì quá nghèo. Nói theo sách vở thì “Sự cách biệt giàu nghèo quá lớn”.

Tôi không đi hết để thấy từng cảnh nghèo. Thấy từng cảnh nghèo thì dễ, gặp họ đâu có gì “ngăn trở”. Dĩ nhiên, gặp người giàu thì khó lắm. Trước hết là họ không muốn gặp mình, dù có là “Việt kiều” hay thuộc hạng người nào đó ở Việt Nam. Họ đi xe hơi, dĩ nhiên, và nơi ở thì “kín cổng cao tường”. Người ta, cũng như tôi vậy –  chỉ đứng ngoài lõ mắt nhìn vào mà thôi, nhưng cũng không thấy gì!”

Hạng người tôi thấy nhiều nhứt là “bán vé số dạo”.  Đủ thành phần: đàn ông, đàn bà, trẻ con, có đứa rất nhỏ, không đoán được tuổi vì những đứa trẻ nầy phần đông thiếu ăn, ốm o, gầy còm… và cả những người tàn tật, chống gậy, lê lết trên đường…

Ở đâu cũng gặp người bán vé số: trong quán ăn, cà phê cóc, bên lề đường. Người nầy tới nói “nhờ mua giúp”, chưa kịp đi thì người khác đã tới, liền liền. Ngó tới cũng thấy họ, ngó lui cũng thấy, rất dễ thấy, rất dễ biết: Ngoài hình ảnh ốm o, rách rưới dơ dáy là xấp vé số cầm trên tay. Phần đông mang “dép Nhựt”, đế mỏng lét, gần như có thể đem “cạo râu được” như câu cô em vợ tôi nói đùa tôi trước 1975, khi thấy tôi mang đôi giép đã mòn. Bây giờ người ta còn mang dép “đơ cu-lơ”nữa, không phải giày “soulier deux couleurs” như thời trang đàn ông thời 1950, mà chính là đôi dép có quai hai màu khác nhau: Một chiếc quai màu xanh, một chiếc quai màu đỏ chẳng hạn.

Về hình dạng và cách ăn mặc, trông họ giống như kẻ ăn mày.

Suy cho đúng, nếu kể về “thành phần” như cách phân loại xã hội của Việt Cộng, thì hạng bán vé số dạo chỉ đứng trên thành phần ăn mày mà thôi. Ăn mày ở Việt Nam bây giờ chẳng thiếu chi, nhưng xem ra ít hơn thành phần bán vé số dạo.

Người Việt Nam dù nghèo như thế nào, vẫn còn tự ái. Bán vé số cũng còn là “lấy công làm lời”, chớ không phải ngữa tay xin không. Không muốn đi ăn xin tức là còn biết mắc cở. Nghĩ như thế, nên tôi thấy hai câu thơ “khen khéo” người ăn mày của vua Lê Thánh Tông cũng có phần tàn nhẫn đấy:

Chẳng phải ăn đong, chẳng phải vay

                        Ơn trời dày mới được ăn mày…

                                                            (Người ăn mày. Lê Thánh Tôn)

Dĩ nhiên, người bán vé số dạo đông là vì thất nghiệp, không tìm ra công ăn việc làm, không có vốn để buôn bán…

Nhưng có một điều chắc chắn, nói theo cách của các nhà kinh tế là “luật cung cầu”. Có người mua nhiều nên người đi bán mới đông. Có nghĩa rằng ở “nước ta” bây giờ, người ta “đánh vé số” đông. Cũng có thể nói như trước 1975, người ta “chơi vé số”.

“Chơi vé số” và “đánh vé số” khác nhau như thế nào?

“Chơi” có nghĩa là một thú vui, giống như ngày tết hồi xưa, người ta chơi bài tới, bài chòi, tứ sắc, xóc dĩa… Nôm na gọi là “chơi bài”.

Bây giờ không phải là “chơi bài” mà “đánh”. Đánh là một phương cách kiếm tiền, kiếm “cơm gạo”, không phải là một thứ vui chơi.

Xã hội bế tắc, buôn bán khó khăn, “gạo châu củi quế”. Cách nào kiếm tiền cũng khó, thôi thì chi bằng tìm sự may rủi, nếu không vào chùa, vào nhà thờ cầu Phật, cầu Chúa “ban phước lành”.

Trước 1975, chỉ có vé số “Kiến Thiết Quốc Gia” mà thôi. Cứ chiều thứ sáu, trên đài phát thanh Saigon, trước giờ mở số ở rạp Thống Nhứt, người ta lại nghe Trần Văn Trạch hát “Kiến Thiết Quốc Gia, giúp đồng bào ta mua lấy cái nhà, giàu sang mấy hồi”. Sau 1975, ở hải ngoại, đôi khi cũng có người bắt chước Trần Văn Trạch, nhưng nghe sao mà lạt lẽo quá, chỉ ông Trạch hát mới mặn mòi mà thôi. Đôi khi, nếu như cơ quan doàn thể nào hay khi có “Hội Chợ” mới có tổ chức bán vé số, chỉ một hai lần mà thôi, gọi là “Xổ số Tombola”. Thông thường giải độc đắc không lớn lắm.

Sau 1975, Việt cộng tổ chức xổ số tùm lum, tỉnh nào cũng có. Họ khuyến khích sự may rủi nhưng vì vô thần nên không tin ở số phận, chỉ tin ông Mác, ông Mao. Thiệt là mâu thuẫn. Mâu Thuẫn nhưng có tiền cũng cứ làm. Việt Cộng mà!!!

Đất nước giàu mạnh thì tự nhiên người ăn mày cũng ít đi, bị triệt tiêu dần dần, người bán vé số dạo cũng không còn.

Trước năm 1945, khi còn Tây đô hộ, trên đường đi về nhà ngoại tôi, tôi phải đi qua một ngôi nhà gọi là Trại Tế Bần. Tế bần, theo Tự Điển Hán Việt của Đào Duy Anh giải thích là “Cứu vớt kẻ nghèo khổ” (secourir les indigents). Thực tế, thành phố Quảng Trị, nơi tôi “chôn nhau cắt rún” hồi ấy không có ăn mày. Hễ “cu-lít” (Police) gặp ăn mày ngoài đường thì bắt đưa vào Trại Tế Bần, cũng như bên Mỹ bây giờ có chỗ ăn chỗ ở cho người Homeless vậy.

Không lý Tây cai trị, bóc lột dân ta mà còn hơn “Chính phủ Cách Mạng” bây giờ ở Việt Nam hay sao? Vậy thì “cách mạng” để làm cái gì? Ông Hồ Chí Minh ở trong lăng Ba Đình có sống dậy cũng ngọng luôn, không giải thích được! “Bác” còn chịu thua, huống chi mấy tay cắc ké ở “Phủ Chủ tịch” Hà Nội bây giờ.

2)-Thứ hai là “Chắc cú”

Ở bên Mỹ nầy chẳng ai hứa với tôi cái gì là chắc chắn “chăm phần chăm” (100%) cả, cũng giống như miền Nam trước 1975 vậy.

Hùng Cường hát “Chăm phần chăm em ơi, chiều nay một chăm phần chăm”, có nghĩa rằng hôm nay “cắm trại trăm phần tram” lính phải ngủ trong doanh trại, không được về ngủ nhà với vợ con hay với bồ, nhưng tết Mậu Thân, khi Việ Cọng bất thần tấn công thì lính trong đồn còn chưa tới 50%.

Không có 100% vì người ta thường tính tới sai số, chính xác như máy điện tử, cũng chỉ tới 99,999999… % nhiều con số chin lẻ phía sau.

Vậy mà khi về VN, nhờ ai chuyện gì, làm việc gì, có trà nước, có thù lao hay không cũng đều được hứa “chắc cú”.

“Chắc cú” tức là chắc chắn 100% đấy. Đó là cái “thói quen” của xã hội mới có từ ngày “giải phóng” (ngoặc kép) mà thôi.

Hứa “chắc cú” là để cho người ta tin mình. “Yên tâm đi, chắc cú mà”. Đây là hiện tượng “khủng hoảng niềm tin” của xã hội Việt Nam bây giờ. Một xã hội người ta thiếu tin nhau. Thiếu tin nhau là vì xã hội có nhiều dối trá, lừa đảo, phỉnh gạt…

Hiẹn tượng tiêu cực nầy trong xã hội bây giờ chỉ xuất hiện từ thời “giải phóng” mà thôi. Nôm na là vì cái lưỡi được “giải phóng” nên nói láo nhiều, nói khoát nhiều, phỉnh phờ nhiều, lường gạt nhiều… Ai tin ai bây giờ.

Trong chế độ Cộng Sản, ai tin ai được?

Ngay cả Hồ Chí Minh cũng không tin ai, và ông ta cũng không tin chính mình, bởi vì ông Hồ biết rất rõ cái lưỡi của ông vọng vẹo như thế nào?

Thật đấy, Trần Dần viết trong bài thơ “Nhất định thắng”:

Xưa nay, Người vẫn thiếu tin Người,

                        Người vẫn kinh hoàng trước tương lai.

Trong chế độ “suy tôn lãnh tụ”, chữ Người (viết hoa) chỉ để dành cho “bác” mà thôi.

Vậy nên, Trần Dần vô tù ngồi, không rõ mấy năm nhưng không duới hai con số.

Moi tới “tim đen” của “Bác”, Trần Dần không ở tù sao được!

[post_connector_show_children slug=”v%e1%bb%81-n%c6%b0%e1%bb%9bc-th%e1%ba%a5y-g%c3%ac-ngh%c4%a9-g%c3%ac” parent=”29506″ link=”true” excerpt=”false”]