Hắc cẩu đại tặc

Truyện Ngắn

Ngày xưa, ở đất Cổ Kiên, có một chàng trai tên là Thế Lân vốn dòng họ Chu, gia cảnh vào hàng phú túc – mấy đời cha ông sống nghề thương lái, có cả một đội thuyền buôn chuyên chở hàng từ nội địa đem bán qua những xứ sở bên kia bờ biển, phía mặt trời lặn. Từ khi ra đời Thế Lân đã được sống trong nhung lụa, lên mười thì mồ côi cha: ông Chu Thế Long, trong chuyến buôn xa, đã cùng đội thuyền không thấy trở về. Có người nói rằng thuyền bị sóng bão nhận chìm dưới đáy đại dương, có người đoán chắc ông bị đồng bọn sát hại, cướp lấy tài sản rồi tẩu tán đi nơi . Riêng vợ Thế Long, là bà Đào Thị, biết chồng có bệnh mê gái khó chạy chữa nổi thì nghi ngờ ông đã bị phụ nữ xứ người mê hoặc nên bán tài sản, xây dựng phòng nhì ở một hòn đảo hoang vắng nào đó mà trong mê muội ông đã tưởng lầm là chốn . Bà lo nuôi con, mong đợi mơ hồ ngày về của chồng, và trải qua nhiều năm tháng niềm hy vọng ấy cũng nhạt nhòa đi như lớp sương chiều tan dần vào bóng hoàng hôn.

Khiếp sợ trước cái hình ảnh bọt bèo của những con người vờn trên sóng nước ngàn khơi, Đào Thị nhất quyết không cho con mình nối nghiệp người cha. Hơn nữa, Thế Lân lại là con một, thừa hưởng một gia tài lớn, nên không thấy cần băn khoăn về nẻo tương lai. Quá được cưng chiều, Thế Lân sinh ra lười biếng, thường xuyên bỏ học đi chơi. Bấy giờ các sách thuộc loại ngoại thư được sản xuất nhiều, bày bán khắp nơi chợ búa và các vỉa hè. Một số tác giả là những thầy đồ lỡ vận, hờn dỗi cuộc sống nên viết các sách khiêu dâm câu dần lớp trẻ để có đồng tiền chi trả cho các quán rượu mọc lên như nấm, vừa phản kích lại đạo đức đương thời để tự biện minh cho sự suy đồi. Đủ loại truyện tình ướt át, lâm ly được họ thêu dệt một cách hoang đường, xen kẽ là những trang sách mô tả chi tiết những cảnh nam nữ giao hoan trong chốn khuê phòng. Tuổi vừa mới lớn, ý tình bồng bột, Thế Lân đọc loại dâm thư tưởng như lạc vào thế giới ảo huyền kỳ thú, suốt ngày vùi trong miệt mài với sách gần như quên ngủ, quên ăn. Đào Thị, không hiểu rõ được sự tình, đinh ninh con mình là kẻ hiếu học lấy làm mừng lắm, không ngờ nó đang tự đầu độc nó từng ngày bằng những phế phẩm văn chương chuyên khai thác phần hạ bộ con người. Thiếu hẳn thực tế ngoài đời, lại không có được khả năng phán xét đúng, sai, Thế Lân càng chìm sâu trong hoang tưởng, đầu óc luôn mơ màng đến những chuyện ái ân, tự mình đồng hóa với các nhân vật phóng đãng trong sách coi như trên đời không gì cao cả hơn sự yêu đương.

Càng ngày hoang tưởng càng ăn sâu vào não bộ, trở thành một nỗi ám ảnh thường trực khiến cho tâm thần bấn loạn, đến độ muốn chiếm đoạt hết phụ nữ ở trong thiên hạ đem về làm vợ, mới thỏa tấm lòng. Cuối cùng anh ta nhận thấy chỉ có làm vua mới thỏa mãn được cái nhu cầu ấy như lòng sở nguyện. Tuy vậy, việc vua làm được chẳng khó khăn gì, nhưng được làm vua là điều không dễ.

Sau những tháng ngày trằn trọc, Thế Lân cho rằng chỉ còn mỗi cách vào làm thái giám mới có cơ hội gần gũi được số phi tần đông đảo ở chốn lục viện tam cung. Nhưng thái giám là hạng người bất lực, còn nước non gì! Vốn là dòng dõi con buôn, ít nhiều đã có truyền thống buôn lậu từ đời ông cố, Thế Lân nảy ra một ý: chẳng là bấy giờ triều đình tuyển chọn thái giám chỉ có hai cách – một là trưng dụng những kẻ sinh ra đời đã là bán nữ, bán nam, hai là chiêu mộ một số trai trẻ khỏe mạnh tình nguyện để cho ngự y châm cứu vào huyệt cốc-nhi hầu trở thành hạng bất lực. Trong đám thầy thuốc ở chốn triều đình chuyên trách vụ này, hẳn không thiếu những con người sẵn sàng đem cái lương tâm chức nghiệp ra làm hàng hóa trao đổi ở trên thương trường. Chỉ cần tìm ra mối lái, và có tiền nhiều, là giải quyết xong.

Sau ba tháng trời dò la tìm hiểu, Thế Lân gặp được ngự y họ Lưu là người như ý. Nguyên vị ngự y này thích vợ đẹp, nhưng đã ba lần chọn xong đều bị tuyển mất vào cung, nên ngấm ngầm nuôi oán hận đối với nhà vua. Nay thấy có dịp chuyển mối hận thù thành món tiền lời to sụ, nên bảo Thế Lân:

– Ta sẽ giúp ngươi đạt được nguyện vọng của mình, với hai điều kiện: một là phải trao cho ta một ngàn nén vàng, hai là trong vòng sáu tháng kể từ khi bước vào cung – không được có hành động gì như mọi sinh vật bình thường.

Số vàng quá lớn, song Chu Thế Lân thấy mình không thể bỏ qua cơ hội ngàn năm. Còn chuyện cần phải “án binh bất động” trong vòng sáu tháng, thì gã nghĩ mình cứ việc hứa liều. Sau đó, gã về bán hết nhà cửa, ruộng vườn, gom góp tư trang, vàng bạc để cho đủ số họ Lưu đòi hỏi, chỉ chừa được một chút vốn lận lưng và dành lại một ít tiền để gởi mẹ già vào sống trong chùa.

Thái giám được chọn dưới tuổi 25 và phải thuộc hạng thanh niên cường tráng. Thế Lân tuổi đời 24, lại là một người to béo, phương phi, được kể là tốt tướng nhất trong đám thí sinh. Đến ngày định mệnh, ngự y họ Lưu cầm kim chích trệch ra khỏi chính huyệt độ chừng vài ly, coi như một sự lầm lẫn về phần kỹ thuật, thế là xong việc. Và ba ngày sau thí sinh phải qua hội đồng khảo sát hiệu năng của cuộc châm cứu vừa rồi mới kể như là kết thúc. Họ Lưu bèn cho Thế Lân uống thêm mấy hoàn bổ âm, liệt dương để vượt qua cửa ải này, nhưng vốn hiểu biết dục vọng không đáy của giống loại người nên ông tăng liều để gã họ Lưu bị tê liệt hẳn sinh lý trong vòng sáu tháng, thời gian thừa thãi cho ông rời xa triều đình.

Đến ngày khảo chứng kết quả của cuộc châm cứu, thí sinh được gọi từng người vào một phòng riêng, do một hội đồng gồm có năm vị thái giám thâm niên chủ trì. Cả năm vị này được tuyển trong những thái giám nổi tiếng khắc nghiệt nhất ở cung đình. Công cuộc thẩm tra sẽ được diễn tiến hết sức cụ thể nhưng cũng vô cùng dung tục. Họ khám nghiệm lại thí sinh rồi bắt cởi bỏ hết các vải vóc trên người, đẩy vào một căn phòng kín. Thực ra quanh phòng có những lỗ nhỏ được ngụy trang khéo để các vị trong hội đồng có thể chễm chệ ngồi ở bên ngoài chõ mắt vào trong theo dõi nội tình mà người trong cuộc không sao hay biết. Bấy giờ chưa có các loại phim ảnh “con heo” để gợi tính dục, người ta thực hiện theo lối hoàn toàn thủ công. Ở đấy có sẵn một số nữ tỳ xinh đẹp và khêu gợi nhất, hoàn toàn khỏa thân, làm công việc này. Dĩ nhiên bọn họ đã được các lão thái giám cho dự một khóa huấn luyện ngắn hạn về môn kích động, theo đúng bài bản.

Thế Lân nhờ mấy hoàn thuốc của Lưu ngự y nên vượt qua mọi thử thách một cách êm xuôi, được xếp vào loại ưu hạng trong các thí sinh trúng tuyển. Với điểm cao ấy gã có thể được sung vào đội ngũ chánh quản tam cung, nhưng vì tân tuyển, chưa có kinh nghiệm, cần phải tập tành công vụ trong một thời gian ở hàng phó quản.

Như thế, nhờ có tham nhũng, một gã dâm ô như Chu Thế Lân đã nhập lậu được một thứ vũ khí vô cùng lợi hại – là cái cơ thể nguyên lành của gã – vào chốn hậu cung.

Gã được chính thức nhận chức vào đúng đầu xuân Giáp Tuất, và mới ngày đầu rảo qua A phòng mênh mông với đủ phòng ốc che phủ lụa là ngũ sắc, được chia phân thành từng ô sắp xếp theo dấu 10 can ở trong kinh Dịch, gã đã rối loạn tam tinh trước đám giai nhân lổn ngổn như một cảnh chợ phù hoa chỉ thấy nơi miền thượng giới. Gã đã dụi mắt, khịt mũi có đến trăm lần, bàng hoàng nhìn ngắm không sao tin được đây là cảnh thực. Ba ngàn cung nữ, được lựa lọc trong khắp cõi dân gian, mỗi người một vẻ, suốt ngày chỉ sống nhởn nhơ, chải chuốt điểm trang để chờ phục vụ cho mỗi một người ngồi trên ngai vàng. Và con người ấy, gã đã nhìn thấy tận mắt khi được vào cung quỳ lạy trong ngày nhận chức, là một ông cụ gầy yếu, hom hem, tuy cái tuổi trời chưa đến ba mươi.

Đôi khi Thế Lân cảm thấy lo âu trước sự bất động của cơ thể mình. Chẳng lẽ là Lưu ngự y đã lừa gạt gã? Nhưng nhớ lại mấy hoàn thuốc và lời dặn dò cấm kỵ trong vòng sáu tháng, gã lại yên lòng chờ đợi. Tranh thủ trong thời gian này, gã phải nghiên cứu chương trình hành động sao cho có thể khai thác tối đa vị trí mà gã đã mua bằng giá ngàn vàng. Nắm vững đường ra lối vào của từng khu vực, chạm mặt nhớ tên của mỗi phi tần, mua chuộc những bạn thái giám trong triều bằng những tiệc rượu thâu canh, dần dần gã đã tạo được uy thế là người tận tụy, trung chính, hết lòng vì vua, được các bề trên tín nhiệm và các cấp dưới nể phục.

Thuở ấy, xê dịch trong chốn tam cung lục viện, vua không dùng ngựa, vì ngựa ồn ào và cỡi nó phải tốn sức, mà chỉ dùng dê để kéo xe đi. Có lẽ dê là biểu tượng đúng nhất cho hoạt động này. Trên chiếc xe nhỏ bốn bánh bọc nhung, vua nằm ngả người lên nệm lông chim, phó mặc hai con dê đực to béo thong thả kéo xe đi rong khắp chốn nội cung. Triều đình qui định nghiêm ngặt để những cung phi lâm bệnh, hay là đang kỳ kinh nguyệt, cũng như ở thời thai nghén phải gài chặt cửa, không được lộ diện ra ngoài mỗi khi xe đến. Vua cũng trao quyền định đoạt cho dê, và nó dừng lại trước một phòng nào thi người cung nữ ở đấy phải lo chuẩn bị để khi đêm xuống sẽ vào hầu hạ nhà vua. Sử sách vẫn ghi câu chuyện các nàng cung phi rắc đầy lá dâu và tưới nước muối từ nơi đầu cổng vào sân để nhử dê vào. Bấy giờ, thái giám theo hầu ghi ngay vào sổ danh tính phi tần cùng với số hạng phòng ốc, khuôn viên – như là địa chỉ – và ngay đêm ấy, vào đầu giờ Tuất thì cầm lồng đèn kết hoa đi với bốn kẻ dưới quyền khiêng kiệu có phủ rèm điều đến chờ tại cửa. Bấy giờ cung phi đã ở tư thế sẵn sàng, sau khi tắm nước trầm kỳ, ướp xạ, xông hương, trang điểm lộng lẫy nằm chờ trong thế khỏa thân. Khi thấy lồng đèn xuất hiện, cửa phòng được mở, thái giám cầm lấy tấm chăn nhung đỏ mang theo choàng phủ lên người đàn bà để đám tùy tùng bồng đặt lên kiệu. Thế là lồng đèn dẫn đường, đưa kiệu tiến về nội điện. Đến nơi, thái giám ra hiệu dừng lại, bước lên thông báo cho đám thị vệ canh chầu mở cửa. Kiệu được đưa vào và dừng trước cửa thứ hai. Cứ thế đến cửa thứ năm, cung nữ được khiêng khỏi kiệu, đưa vào bên trong. Khi tùy tùng lủi ra ngoài, thái giám gỡ lấy tấm chăn để người cung nữ tiến vào nội phòng nhà vua. Thái giám lại quay ra ngoài, xếp chăn, ngồi đợi, cho đến tàn canh để khi được lệnh lại đem chăn vào khoác lên cung nữ và kiệu trả về chốn cũ. Đồng thời ông phải ghi ngay vào sổ ngày, giờ, năm, tháng cuộc hầu hạ này, để biết cho được chính xác nếu người cung nữ thọ thai.

Trước khi vào cung, Thế Lân quan niệm đời sống vua chúa và các hoàng hậu, cung phi, theo sự vẽ vời của các sách vở và các tuồng hát nên tưởng tượng nó vô cùng diễm lệ và đầy thơ mộng. Bây giờ, đối diện sự thật, gã rất bàng hoàng. Dần dần, gã lờ mờ nhận thức rằng tam cung lục viện chỉ là một trại tập trung tàn bạo phũ đầy nhung lụa để giam giữ cho trọn kiếp những kẻ nữ tù xấu số, và đúng hơn nữa là một cái chuồng nguy nga nhốt giữ những súc – vật – người để cung phụng cho dục vọng của kẻ có quyền sinh – sát. Vua chúa, ngoại trừ nhiều vị dầy công khởi nghiệp, đánh bắc dẹp đông là có công tích với dân với nước, còn đa số người kế vị chỉ là một lớp thụ hưởng, biếng lười, thích sự xa hoa, quen điều tàn ác. Nhận thức ấy lại khiến gã quyết tâm nhiều hơn trong những ý đồ hành lạc.

Theo như Thế Lân tính toán, cung nữ thường xuyên là ba ngàn người, có thể chia làm ba loại: một loại cực tốt và một loại cực xấu, chiếm tỷ lệ nhỏ, xen giữa hai cực là hạng đông đảo bình thường. Loại rất tốt này có thể ước khoảng chừng 500 người, đó là những kẻ có nền vững vàng, ý thức về phẩm giá mình sâu sắc, không thể lung lạc hoặc bị dao động vì tình huống nào. Còn hạng rất xấu ắt cũng xấp xỉ số lượng như thế độ 500 người, là loại lẳng lơ, dâm đãng, sẵn sàng làm theo ý muốn nhất thời, mà không đếm xỉa gì đến danh dự, tương lại. Giữa hai loại người kể trên, số người bình thường gồm độ hai ngàn, đó là những kẻ thường xuyên chòng chành giữa tốt và xấu, dễ bị tác động của các ảnh hưởng bên ngoài. Nói theo ngôn ngữ chính trị ngày nay, đó là đa số thầm lặng. Như vậy, Thế Lân sẽ để yên lành cho số 500 cực tốt mà không phí sức hoài công gạ gẫm, chỉ hướng hoạt động vào số 500 cực xấu rồi sẽ dùng lực lượng này tác động vào cái số đông thầm lặng hai ngàn, nâng dần con số có thể thao túng là hai ngàn rưỡi. Với cái sức lực sung mãn của gã, nếu như mỗi đêm giao tiếp năm người, thì phải mất gần năm rưỡi mới quay vòng được.

Nhưng làm thế nào giao tiếp cho được an toàn, giữa đám thái giám đầy lòng nghi hoặc và lớp cung tần đa sự, chua ngoa?

Thế Lân vắt óc để tìm phương kế. Bây giờ sáu tháng đã qua, tác dụng của thuốc không còn, sinh lực đã được phục hồi mau chóng, gã muốn số vàng bỏ ra cho lão họ Lưu phải được thu về lợi tức tối đa. Bỗng gã chợt nhớ nội cung có một chuồng lớn nhốt đầy loại chó sung mãn, để người nuôi dạy, cho vua sử dụng trong dịp săn bắn đầu xuân, thỉnh thoảng vẫn được thả cho chạy rong để giãn gân cốt và gần như chẳng mấy ai buồn lưu ý đến. Nếu gã có thể cải trang làm chó, dọ dẫm đi giữa đêm khuya, chẳng là thượng sách hay sao?

Thế Lân hì hục chọn mua một loại vải đen, tìm ít da thuộc làm cốt, lúi húi khâu kết tạo tác ra một lốt chó – một con chó mực, cho phù hợp với đêm đen – rồi một đêm khuya gã khoác vào người, khi chắc thiên hạ đã an giấc điệp. Gã mở nhẹ cửa bò ra khỏi phòng, rồi cứ bốn chân men xuống bực cấp, theo các lối đi, nép mình vào dãy tường hoa, thỉnh thoảng dừng lại hít ngửi ở dưới gốc cây y hệt loài khuyển chính hiệu. Gã rẽ phải, quẹo trái, đi vào khuôn vi gần nhất và đến căn phòng Thúy Liễu, là người cung nữ lẳng lơ mà gã đã chọn làm điểm đột phá đêm nay. Vẫn cúi khom người, gã đưa một tay cào lên cánh cửa. Chỉ nghe im lìm. Gã cào mạnh hơn. Và cửa sực mở, hắt ra ánh sáng của ngọn đèn hồng. Gã chồm vào trong, Thúy Liễu vừa buột miệng kêu:

– Con…

Thì gã bật dậy kịp thời, ngăn chận tiếng “chó” khỏi ra đầu miệng, hổn hển nói ngay:

– Ta là Chu Thái giám đây…

– Ồ!

Dưới ánh hồng lạp chập chờn, long lanh đôi mắt đa tình của người cung nữ:

– Ta đến tìm nàng, nên phải tự biến thành loài súc vật luồn lõi trong đêm. Ngoài đôi ta đây, không ai biết được cuộc hội ngộ này.

Thúy Liễu có thừa thông minh để hiểu việc gì đang đợi chờ mình – và mình chờ đợi – nên vội đưa tay tắt ngọn đèn hồng.

Trái hẳn với điều Thế Lân suy tính, đêm ấy gã không còn đủ thời gian tìm đến với người thứ hai, nói gì đến bốn, năm người. Đã nhiều năm rồi chờ đợi mỏi mòn mà không gặp được nhà vua – khát vọng duy nhất của đời Thúy Liễu cũng như của những phi tần – dồn nén ấy đã lâu ngày thành mối ám ảnh gây nên cuồng loạn. Vì thế, mỗi một đêm xuân làm sao bù đắp cho nhiều năm dài đã là những ngày đông lạnh triền miên, và Chu Thế Lân dẫu đem tất cả háo hức chất chồng qua bao thời gian mơ tưởng vẫn không thực sự làm nàng toại nguyện. Chưa tàn canh ba, gã phải vội vã cáo từ, nhưng còn bị kéo lui lại mấy lần mới khoác được cái lốt chó, lết về phòng mình.

Sau thử nghiệm ấy, họ Chu thêm phần bạo dạn, từ đấy không đêm nào gã lại không bốn cẳng ra đi sục sạo khắp chốn tam cung. Nhưng sau hai tháng, gã thấy mình gần kiệt lực trong khi đối tượng tìm gặp thảy đều ở buổi ban đầu phơi phới tình nồng. Đến tháng thứ ba, gã đã đuối sức, cố gắng đến tháng thứ tư thì bước không nổi, đầu ù, mắt hoa, chân tay run rẩy. Con số những kẻ dâm đãng mà gã thống kê thì gã chỉ mới tiếp xúc trên một phần năm, và số còn lại chỉ cần nghĩ đến đã khiến gã thấy hoảng sợ. Hẳn khát thèm nào đã được thỏa mãn cho đến thừa mứa, no nê, cũng dễ khiến thành nhàm chán đến độ khủng khiếp. Đồng thời, như có một luồng thông tin ngấm ngầm trong giới, Thế Lân được sự đón mời khẩn thiết của nhiều cung phòng. Gã phải vét hết số tiền dành dụm gởi mua đủ loại sâm nhung cùng các liều thuốc bổ dương có mặt trên thị trường, để nhờ tiếp sức. Nhưng các loại thuốc kích dục có làm cho gã chồm lên như một con ngựa đuối sức nếm phải đòn roi quất mạnh, để rồi sau đó lại rơi xuống sự đuối liệt thảm thương, bởi mọi trợ lực giả tạo mang đến từ ngoài càng làm cạn kiệt nhiều hơn chút ít nội lực đang còn thoi thóp. Cuối tháng thứ năm, Thế Lân hoàn toàn là kẻ suy bại, giống hệt như các thái giám thực sự. Và sự thái quá, cuối cùng đã gặp được sự bất cập.

Tuy vậy, Thế Lân không thể làm ngơ trước sự đón mời nồng nhiệt của kẻ chào hàng, và nhiều cung nữ đã từng với gã qua đêm thân mật nay thành liều lĩnh một cách quái đản, thường dám réo gọi mỗi khi bóng gã thoáng qua. Để xoa dịu các cung nữ quá đỗi nhiệt tình hòng tránh những điều tai họa, gã lại lê cái thân xác suy nhược bọc trong lốt chó tìm đến bọn họ vào lúc đêm khuya, một hai lấy lời an ủi, vỗ về, mượn cớ bệnh hoạn để mà chối từ… nhiệm vụ. Thoạt đầu, gã không dám tự thú nhận về sự bất lực của mình. Đàn ông nào trên đời này thảy đều có lòng tự ái đặc biệt ở trong khả năng giới tính của mình, và họ thường vẫn phao tin thất thiệt để tự chứng tỏ vượt trội trên người đồng loại. Rốt cuộc, Thế Lân thấy chỉ có lòng thành khẩn khai ra sự thực mới cứu được mình.

Nhưng dẫu gã đã dẹp bỏ tự ái truyền thống của người đàn ông bằng những chứng minh cụ thể về sự bất lực, các nàng cung phi vẫn cứ bừng bừng nổi giận, nhất định không tin đó là sự thực. Người ta đã nhiếc mắng gã bằng những ngôn từ cay độc và phũ phàng nhất, và nhiều người đã đánh gã, cắn gã, thậm chí rút các trâm cài lược giắt rạch da thịt gã cho đến chảy máu. Gã đã làm họ hụt hẫng, thất vọng và họ trả thù. Bây giờ họ không còn sợ gã nữa, vì gã đã cùng phạm tội và phạm nhiều hơn. Thà cứ để họ chết héo dần đi trong sự mỏi mòn, hơn là châm lửa đốt khu rừng cấm cho cháy bùng lên mà không tìm phương dập tắt.

Hóa ra những sự gắn bó giữa người, thuần bằng ngã dưới, lại dẫn đến những kết quả bi thảm vậy sao? Trong khi ê ẩm khắp mình, đau từng khớp xương, nhức từng bắp thịt, gã đã khom mình lê lết đi trên bốn chân về lại chỗ ở, thấm thía hiểu rằng phải đi bằng chính đôi chân giữ sự ngay thẳng cho một mái đầu ngẩng cao mới tiếp nhận được nguồn vui thực sự của lòng tự hào.

Một hôm ngắm mình trong gương, Thế Lân hoảng hốt đối diện với một con người xa lạ, má hóp, mắt sâu, dáng vẻ lờ đờ, cọm rọm như một ông già suy yếu ngoài tuổi 70. Sự biến đổi thật mau chóng, vượt xa qui luật tang thương của trò tạo hóa. Thì ra, mọi vật, mọi việc trên cõi đời này đều phải trả bằng cái giá tương xứng, và mọi khả năng, kể cả khả năng ước vọng, đều có lằn ranh khó nỗi vượt qua. Ý thức được các điều đó thì đã muộn rồi. Có lẽ, những câu kết luận tìm thấy chậm nhất là điều tệ hại nhất của nhân loại.

Và khu rừng cấm đã bị đốt cháy cứ cháy phừng lên, mỗi ngày quạt cái sức nóng vào vùng lân cận. Các cung nữ đã đạp ngã các thứ tường thành cấm kỵ để tiếp đón Chu Thế Lân, bây giờ như leo lên trên mình cọp, không còn kiêng sợ gì nữa. Các ả đem sự bí mật của mình tiết lộ cho kẻ đồng hội, đồng thuyền, thêu dệt, vẽ vời cho thêm kỳ thú để tự thỏa mãn qua sự khiêu khích nơi người nghe chuyện, và lầm nghĩ rằng ngoài gã Thế Lân hẳn còn nhiều vị thái giám cương cường có thể gạ gẫm vào vòng thân mật. Hậu cung rõ ràng đã có khá nhiều triệu chứng bất thường, và những con người xét nét, đa nghi rất mực, là các thái giám, bắt đầu sục sạo đi tìm sự thực. Chức vị phó quản của gã Thế Lân còn là nguyên cớ cho sự sục tìm, bởi các thái giám chính hiệu đã bị tước đoạt khả năng ham muốn bản năng, chuyển đổi dục vọng thành nỗi khát thèm quyền lực. Và một thái giám họ Cù, sau khi nắm chắc nguồn tin, đã làm tường trình tâu lên vua.

Thoạt nghe, vua tái cả mặt, không muốn tin chuyện động trời như thế là điều có thật. Lập tức, lệnh truyền gọi Chu Thế Lân đến trước bệ rồng. Vua quát:

– Tên súc sinh kia! Mày đã giở trò cuồng loạn ở nơi cung cấm, ngàn lần đáng tội bêu đầu!

Họ Chu đập đầu xuống bệ, một mực kêu oan, khóc than thảm thiết. Vua nhìn thấy gã gầy ốm, xanh xao, má hóp lưng còng, không tin gã dám cả gan xúc phạm hậu cung, bèn cho tạm giam vào ngục để chờ tra hỏi phi tần. Một đoàn giám sát được gấp thành lập, thẩm vấn từng người cung nữ. Dĩ nhiên ả nào cũng đều xác quyết về sự trong trắng, trung thành đối với nhà vua, lên án những phường dâm đãng, lăng loàn. Vua chợt hiểu rằng trong vấn đề này nếu không bắt được quả tang tại trận thì ai cũng đều tự cho là mình đạo hạnh thập toàn. Viên thái giám đã tố cáo nội vụ, thấy việc chưa được làm rõ, sợ mình sẽ bị kết tội vu cáo, bèn xin vua cho khám xét chỗ ở của Chu Thế Lân, và được chấp thuận.

Một đoàn mười viên thái giám được phái đến nơi, rà soát, lục lọi, xâm tìm từ ngoài vào trong, từ trên mái nhà xuống đến nền đất, vẫn không thấy một dấu vết khả nghi. Họ toan quay về bỗng thấy ở trên bàn thờ tiên tổ họ Chu có một tráp lớn bằng bạc, chạm trổ khá đẹp đặt sau lư hương, bèn lấy xuống xem. Tráp được khóa kỹ, phải dùng mũi gươm thật bén cạy nắp, và họ tìm thấy một đống vải màu đen và có viền nẹp da. Lôi ra, mọi người bàng hoàng và cũng mừng rỡ nhận rõ đấy là tấm áo mượn hình loài chó với chiếc đầu chó độn bằng bông vải.

Vua thấy tang vật, ngồi chết lặng đi, căm giận cùng cực. Một sự xúc phạm thể giá vương triều đến mức như thế thật đã ra ngoài trí tưởng mọi người. Khi điệu gã lên, vua ném tang vật xuống đầu của gã, hét to: “Cẩu đại tặc”, rồi lại nín lặng. Trong bầu không khí trang nghiêm và yên tĩnh như trước cơn giông bão, chỉ nghe có tiếng nghiến răng của đấng quân vương.

Không có một hình phạt nào tương xứng với tội trạng ấy. Dẫu đem băm vằm xác gã ra trăm ngàn mảnh thì cũng vô ích, vì sau khi chết thân xác của gã có đem xào lăn hay là nướng chả cũng không làm gã động lòng. Cuối cùng nhà vua nảy ra một ý: cho đem treo gã lên một cành đào ở giữa hậu cung và buộc cung nữ mỗi người đánh gã đúng ba chục hèo. Như thế, vừa có tác dụng răn đe thị chúng, vừa ngầm theo dõi những ai đã có tình ý với gã đặng đem trừng phạt, vì vua cho rằng kẻ nào đánh nhẹ hoặc là đánh không đủ số qui định, ắt có liên hệ với tên cẩu – tặc.

Nhưng tất cả đám cung nữ đã đánh đập gã một cách nhiệt tình. Không phải vì họ sợ bị theo dõi, nhưng vì ai cũng căm thù: các nàng đã tiếp xúc gã trong đêm thì quá bất bình vì gã đã khơi bùng dậy ham muốn ở nơi lòng họ rồi lại bỏ cuộc đột ngột, niềm vui với đám người , các nàng chưa gặp được gã thì bất mãn hơn, phải đánh để cho hả giận vì gã đã không tìm cách gặp mình. Còn những cung nữ đạo hạnh thì phải trừng phạt gã thật quyết liệt để bênh vực cho thể giá hậu cung. Vì vậy, mới nếm gậy của khoảng ba chục người gã đã tắt thở. Những kẻ còn lại cứ tiếp tục đánh vào cái xác chết cho đến tan tác, rã rời.

Nhà vua truyền đem ném xác giữa đồng cho loài côn trùng dưới đất và loài diều quạ trên không tiêu thụ tử thi của phường cẩu tặc. Rồi cho bắt Lưu ngự y là tội phạm gốc của tai họa này. Nhưng đã từ lâu ông xin cáo quan về nuôi mẹ già, rồi bán sạch hết nhà cửa ruộng vườn, mua chiếc ghe lớn để đưa toàn gia ra ngoài bể khơi tìm đến một xứ sở , không rõ là nơi chốn nào.

Vua chưa nguôi giận và cũng khốn khổ vì không biết rõ trong đám cung nữ những ai đã có giao tình với loài cẩu tặc. Tốt nhất là cho sa thải toàn bộ ba ngàn cung phi để họ trở về đời sống dân dã và tuyển mộ một lớp mới. Vì họ kể như là hạng bị ô nhiễm rồi nên được cho phép lấy chồng để phân biệt với phi tần đúng hiệu, khi trả về dân không quyền được lập gia đình, và những ai vi phạm vào qui định đều bị kết tội.

Cung nữ sau những năm dài cay đắng ở nơi hậu cung đã tưởng đời mình tàn lụi thảm thương trong chốn tù ngục lụa là nay được thả về, rất là vui sướng. Đi qua cánh đồng còn phơi xương của Thế Lân, họ bèn lấy đất lấp lại, vun thành mộ lớn. Về sau, nhiều cô có chồng, có con, được sống vui vầy, mỗi khi qua đó vẫn nhớ ơn gã bèn trồng nơi mộ một loài hoa thơm hoặc một giống cây ăn trái. Cây hoa nở rộ, lớn lên, gọi chim chóc đến khiến chẳng bao lâu mộ đã thành rừng, và đất tự nhiên nổi lên như một gò lớn – hình như thái giám họ Chu xúc động được sự chăm sóc của các cung nữ nên không chịu nằm bất động – do đó, có người gọi đây là hòn Cẩu Sơn, tức là núi Chó.

Một số nho sĩ trong vùng nghĩ về núi Chó và chuyện Thế Lân, cho rằng tai họa làm cho đồi phong bại tục là sự dâm ô và làm rối nát xã hội là tệ tham những. Có Chu Thế Lân, là sự tồi bại, nhưng nếu không có được Lưu ngự y tiếp tay, thì cái thể giá vương triều đâu bị tổn thương như thế? Các vị bèn dựng ở tại Cẩu Sơn một tấm bia lớn, ghi hai câu thơ để nhắc nhở đời. Xin dịch sát ý, nhưng kém văn vẻ, như sau:

Dâm ô đảo lộn, người ra thú
Tham nhũng lộng hành, quỷ nhục vua.

Về sau có một nịnh thần cho rằng tấm bia đã bêu xấu vua, hơn nữa lấy thú mà đối với vua là chuyện khi quân, nên cho đập nát tấm bia.

Riêng số phận của các vị thái giám thì bi đát hơn. Nhà vua không còn tin tưởng ở phép châm cứu, nên kể từ đấy, thái giám được tuyển vào cung phải bị thiến gọn, do các quan lớn đầu triều kiểm tra. Danh từ hoạn quan xuất hiện từ đấy. Nhưng theo sử sách, do còn tham nhũng nên vẫn có sự thiến sót và các loại yêm – hoạn dỏm đã có một thời náo động hậu cung, gây nên lắm chuyện cực kỳ quái đản mà chúng ta sẽ nói đến, trong một dịp .

VŨ HẠNH

Đã xem 590 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments