Thương nhớ An Giang vùng đất sơn kỳ thủy tú

An Tiêm Mai Lý Cang

Tượng Phật màu trắng khổng lồ trên núi Cấm
đã được đưa vào sách kỷ lục The Guinness Book of Records

Trên vùng địa lý của miền đất An-Giang ở phương Nam từ xưa cho đến nay, nếu không có được dòng chảy của con sông Cửu-Long [1] và dãy Thất-Sơn (nằm trong 37 ngọn núi trong khu vực) hằng ngày in hình soi bóng nước, thì chỉ còn lại chẳng khác nào như là hình ảnh của một bức tranh tĩnh vật được lắp ráp vào bằng những cánh đồng nông nghiệp, sông ngòi. Tuy có vườn ruộng bao la với lúa chín vàng, nhưng sẽ không nặng hạt. Cỏ cây nẩy lộc đơm hoa kết trái, nhưng sẽ không được nhiều. Cảnh quan toàn miền đất sở tại yên ắng thanh bình, nhưng sẽ không thể được gọi An-Giang là nơi sơn kỳ thủy tú. Và cũng không thể có cơ hội, để cho sức sống năng nổ của người dân sở tại có dịp ra công mở mang khai phá, kiến tạo thành hình nên những bức tranh cung đình tâm linh, làng mạc xinh tươi, phố phường đẹp đẽ, duyên dáng giống như là hình ảnh sắc màu gợi cảm như ngày hôm nay.

Đi thực tế, thắng duyên tuyệt vời rừng núi của dãy Thất-Sơn đã tạo ra cho địa phương một dáng đứng xinh đẹp, và ảnh hưởng to lớn của dòng nước sông Cửu-Long cũng chính là phương tiện thủy lợi tối quan trọng đã giúp cho vùng đất nầy (nói chung, là cho cả hai mươi triệu người dân ở trong các tỉnh miền Tây) hưởng được một nguồn lợi tức dồi dào về nông nghiệp, thủy sản, hoa màu.

Sở dĩ người ta có thể đưa ra một sự nhận xét khách quan và tự tin như vậy, là vì ở vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu-Long, thì miền đất trực thuộc tỉnh An-Giang vốn có rất nhiều lợi thế về địa hình thiên nhiên, cho nên nó đã vô tình tạo ra được một dáng vẻ gấm vóc mỹ miều, thủy sơn hòa quyện. Và cùng với truyền thống tinh thần hi sinh chiến đấu chống giặc ngoại xâm để quyết tâm bảo vệ quê hương, xây dựng tình người từ bao thế hệ đã trôi qua. Giờ đây, dải đất An-Giang hầu như từng đã được nhiều người nghe biết đến như là một địa phương nổi tiếng không còn xa lạ, có mang nhiều sắc thái đặc biệt ảnh hưởng về hoàn cảnh lịch sử nhân sinh xã hội, sinh hoạt văn hóa đa dạng ở vùng miền.

Và có một điều rõ ràng mà ai ai cũng đều được biết, là hễ cứ mỗi lần nhắc tới hình ảnh màu mỡ nên thơ của cục đất An-Giang, thì người ta liền nói ra hình ảnh của dãy núi Thất-Sơn cùng một lúc với địa hình thượng nguồn của con sông Cửu-Long. Trước khi đổ vào lãnh thổ Việt-Nam, thì nó đã tách chia ra làm thành hai nhánh, rồi cùng đều chảy song song vào địa phận của tỉnh An-Giang tạo nên mùa nước nổi đặc trưng hằng năm, trước khi tỏa đi khắp các miệt vườn ở miền Tây trên dải đất phương Nam. Chẳng những thế, hai nhánh sông Tiền và sông Hậu của dòng Cửu-Long trước khi cùng nhau chia thành chín nhánh đổ ra bể cả thì lại còn có dịp được thông nhau bởi con sông Vàm-Nao [2] ở ranh giới giữa hai huyện Chợ Mới&Phú-Tân. Theo lời của người dân địa phương, thì khi xưa Vàm-Nao chỉ là một con rạch nhỏ lần lần bị nước xoáy tròn từ sông Tiền sang qua sông Hậu, và trở thành là một ngư trường nổi tiếngdồi dào có rất nhiều loài tôm cua, cá bông lau, cá hô, cá đao, cá ngác, cá đuối, cá sấu, đặc biệt là những giai thoại lý thú về loài cá nược.

Và nhờ vậy mà từ lâu An-Giang có thêm một phương tiện của trời ban cho, để làm giàu cho các công trình thủy lợi và giúp cho mọi sự giao thông vận tải về mặt đường thủy càng thêm được thuận tiện dễ dàng. Do vậy, với hệ thống sông ngòi kênh rạch trải đều ra giống như mạng nhện cho nên người ta thấy có rất nhiều cảnh sinh hoạt bán buôn di động hằng ngày diễn ra trên các chợ nổi hay tại các bến sông, một nét văn hóa cá biệt của những vùng miền sông nước.

Tỉnh An-Giang từ lâu có thể nói được coi như là nơi tích tụ của rất nhiều di tích lịch sử, địa điểm du lịch của các danh lam thắng cảnh ở miền Tây. Ngày xưa, ở nơi đây vốn là vùng đất phù sa cho nên thổ ngơi vô cùng thích hợp với nhiều loại trái cây trồng, lúa nếp, và diện tích rừng rất rộng có nhiều loài động vật hoang dã, nói chung về tài nguyên nhiên nhiên thì rất là phong phú. dồi dào. Lúc bấy giờ đất rộng người thưa, cuộc sống của người dân bất luận trong mọi hoàn cảnh xã hội nào thì họ cũng đều cảm thấy an nhàn, thư thả, vui đời đạm bạc. Do vậy, tâm tình của họ thì thật là chơn chất hồn nhiên, hằng ngày tuy có bận làm lụng vất vả tay chân nhưng vẫn không quên dành lại chút thời gian để tiêu khiển thú vui với bầu rượu, đồng nội mây ngàn. Còn nói riêng, đối với tâm trạng của những cô thôn nữ miền quê chứa chan đầy nhựa sống khi có cơ hội giao lưu với bè bạn sơ giao vừa tới ở miền xa, thì họ lại càng bộc lộ ra tình người đơn sơ, mộc mạc, ăn nói một lời nhưng cũng không quên tế nhị thật thà khoe sắc quê mình có nhiều nét đẹp nơi miền sông nước. Và luôn luôn tỏ ra có tấm chân tình lưu luyến cùng khách lãng du, chẳng hạn như bằng những câu hò truyền cảm chứa chan bình dị.

Hò ơ…Long-Xuyên nước ngọt gió hiền
Tàu xuôi Nam-Hải ngược miền Nam-Vang
Thương hồ chiếc dọc chiếc ngang,
Tiếng rao lãnh lót nhịp nhàng chèo khua…
Chèo vô núi Sập lựa con khô sặc cho thiệt ngon,
lựa trái xoaài cho thiệt dòn,
đem ra Long-Xuyên lựa gạo cho thiệt trắng, thiệt thơm.
Em về em dọn một bữa cơm, để gười quân tử,
Hò ơ…Để người quân tử ăn còn nhớ quê…

Trái lại, thành phố Long-Xuyên ngày nay có khác. Long-Xuyên bây giờ chính là trung tâm của tỉnh lị An-Giang đã có những hình ảnh sinh hoạt năng động phát triển không ngừng về các lãnh vực văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật. Thành phố Long-Xuyên cách Hồ-Chí-Minh 189km, cách Hà-Nội 1950km và cách biên giới Campuchia 45km tính theo đường chim bay. Và cũng kể từ khi chiến tranh chấm dứt, thì thành phố Long-Xuyên đã phải trải qua nhiều giai đoạn thay đổi về các cơ cấu tổ chức hành chánh địa phương cho thích hợp với ảnh hưởng nhu cầu thực tế. Hơn thế nữa, nhờ cuộc sống của người dân được tăng trưởng, nói chung là do nhờ sự phồn thịnh của địa phương mà đường phố Long-Xuyên đã được chỉnh trang, tân tạo ra vẻ khang trang đẹp đẽ hơn xưa.

Thành phố Long-Xuyên có trường Đại-Học An-Giang dạy các Khoa Kinh Tế – Quản Trị Kinh Doanh, Khoa Nông Nghiệp&Tài Nguyên Thiên Nhiên, Khoa Sư Phạm, Khoa Kỹ Thuật – Công Nghệ – Môi Trường. Và ngoài siêu thị Co.opMark, siêu thị điện máy Nguyễn-Kim, siêu thị điện máy Chợ-Lớn và một loạt các siêu thị khác tràn ngập hàng hóa, điện tử v.v, thì Long-Xuyên còn có thêm cả trăm nhà máy xay gạo, chế biến nông thủy sản, rau quả, thức ăn gia súc, chế biến nước mắm, nước chấm. Đó là chưa kể đến các làng nghề truyền thống hiện vẫn đang còn tồn tại như là làm dầm chèo, đóng xuồng ghe, chằm nón, dệt, làm cẩm thạch, làm lưỡi câu, se nhang, làm len, làm bánh tráng, đan đát, đồ sắt v.v. Còn tại trung tâm thành phố thì chợ búa, tiệm tùng bán buôn, bến đò, bến xe xảy ra nhộn nhịp (kể cả sinh hoạt náo nhiệt ngược xuôi ở chợ nổi) cũng đã từng mang lại nhiều ấn tượng vào lòng du khách bằng những hình ảnh kỷ niệm thật đầy thú vị.

Còn thành phố Châu-Đốc (khi xưa từng là tỉnh lị của tỉnh Châu-Đốc) thì cũng có địa thế giống y như thành phố Long-Xuyên là cùng đều nằm bên bờ sông Hậu, nhưng thành phố Châu-Đốc lại là thành phố biên giới có nhiều nét đặc trưng nhất ở trong toàn tỉnh An-Giang. Nhận xét khác, người ta có thể nói rằng địa phương Châu-Đốc mới chính là một địa điểm du lịch hấp dẫn nhất đối với hầu hết mọi thành phần du khách mỗi khi có dịp tìm đến tham quan ở An-Giang. Châu-Đốc xưa nay vẫn là vùng đất biên thùy, và cư dân ở hai quốc gia thường có rất nhiều cơ hội qua lại để trao đổi bán buôn cũng như từng cùng nhau dễ dàng kết tình hữu nghị láng giềng.

Trong tỉnh An-Giang ngày nay, thì Châu-Đốc là thành phố lớn thứ nhì sau Long-Xuyên nhưng lại là một thành phố được nổi tiếng nhiều hơn cả Long-Xuyên do nhờ có nhiều thắng cảnh thiên nhiên, và nhiều tụ điểm thờ phụng các cung đình văn hóa tâm linh. Cũng như, là nơi có cửa khầu quốc tế Tịnh-Biên sang Campuchia rất thuận tiện cho mọi sự giao thương và du lịch. Và mặc dù thành phố tuy nhỏ nhưng lúc nào người ta cũng thấy cái cảnh đông người lăng xăng qua lại, và dọc theo phố chợ thì tràn ngập hàng hóa thật là đa dạng tạo ra một hình ảnh ảnh sung túc, nhộn nhịp với cuộc sống năng nổ của cư dân địa phương. Trong những năm gần đây, người ta thấy rõ hình ảnh của thành phố Châu-Đốc đã có khá nhiều thay đồi thông thoáng để đáp ứng theo ảnh hưởng của nhu cầu xã hội địa phương. Và đó cũng là do nhờ có con số du khách ngày càng thăm viếng nhiều hơn, hiện nay hằng năm thì có đến con số hàng triệu lượt du khách hành hương, tham quan, kể cả người nước ngoài.

Và như ai cũng biết, là lợi thế về địa lý của thành phố biên giới Châu-Đốc có nhiều sông rạch đều nằm gần tại đầu nguồn của con sông Cửu-Long, cho nên luôn luôn ưu tiên hưởng được nguồn lợi tức về thủy sản nước ngọt rất dồi dào. Sông rạch ở ngư trường nào tại địa phương, thì người dân cũng thường đánh bắt được nhiều loai cá quen thuộc như cá lóc, cá chốt, cá trèn, cá sặc rằn, cá rô v.v. Do vậy, tại chợ Châu-Đốc, người ta thấy có rất nhiều gian hàng bày bán đầy đủ các loại cá khô mắm như nào là khô cá lóc, khô cá đồng, khô nhái, khô cá kết, khô cá tra biển hồ, khô cá chạch đồng, khô rắn, khô cá sặc, khô cá sửu, khô cá dứa, mắm thái, mắm cá linh, mắm cá trèn, mắm cá chốt, ba khía, ghẹ, mực v.v. Nguồn lợi về nghề cá mắm ở Châu-Đốc có thể nói, là không một thành phố nào khác trong toàn quốc có thể so sánh kịp. Nhờ vậy, mà từ lâu nó đã làm cho đời sống của người dân được sung túc, ấm no. Vì thế cho nên, đối với tâm hốn của cư dân địa phương, thì hình ảnh của con cá chính là biểu tượng cho nguồn thu nhập kinh tế gia đình của cư dân ở tại địa phương nầy.

Và cũng chính sự tồn tại của các làng nghề truyền thống làm khô mắm từ hằng trăm năm qua ở địa phương là một sự kiện đóng góp kinh tế không nhỏ của người dân sở tại, với tổng sản lượng khô mắm được đưa ra thị trường hàng năm ước tính lên tới được với con số hằng trăm nghìn tấn. Do vậy, cho nên ngày nay người ta đã không còn ngại để đánh giá về tiềm năng phong phú khô mắm sở tại, và đã tặng cho Châu-Đốc có được một cái tên văn hóa ẩm thực mỹ miều là Vương quốc khô mắm ở miền Tây.

Ngoài ra, Châu-Đốc còn có một kinh đào Vĩnh-Tế chạy dài từ Châu-Đốc xuống tới Hà-Tiên dài hơn 90km. Đây là một công trình giao thông thủy lợi giúp ích rất lớn lao về nhiều mặt cho nền kinh tế nông nghiệp địa phương, do quan Thoại-Ngọc-Hầu trực tiếp chỉ huy, đôn đốc thực hiện. Do vậy, mà người dân địa phương lúc nào cũng xem ông như là một vị công thần đứng đầu trong công cuộc phát triển dinh điền, khai thác thủy lợi, khẩn hoang lập ấp, và đã làm cho thay đổi toàn bộ cuộc sống của người dân được ấm no, ngày càng được sung túc hơn xưa.

Bên cạnh đó, thì cũng có từng hàng cây thốt nốt tạo dáng ngộ nghĩnh ở tại vùng thổ ngơi nầy làm tăng thêm vẻ đẹp phần hậu cảnh cho một bức tranh hòa quyện với thiên nhiên.

Thành phố Châu-Đốc về đêm tuy bớt vẻ nhộn nhịp nhưng ven dưới bờ sông vẫn hãy còn có mang một sức sống lặng lẽ, yên bình. Ở đây người dân làm nhà cạnh các bè cá, và lần lần hình thành nên một đơn vị xã hội trong ngôi làng nổi có tiệm tùng tạp hóa bán buôn đủ loại đồ nhật dụng y như ở trên bờ. Càng về khuya, thì du khách có cảm nhận như là mình đang sa lạc vào một làng nghỉ dưỡng du lịch nên thơ huyền ảo đang bồng bền, lung linh trên mặt nước. Và hình ảnh đó cũng chính là những làng nổi cá bè Châu-Đốc kéo dài tới cả khoảng 10km với khoảng 700 bè cá, và chủ nhân của các bè hầu hết đều nuôi cá ba sa hoặc cá tra.

Ngoài là địa phương được coi như là một trong những khu vực trồng lúa nhiều nhất tại ĐBSCL, An-Giang còn là cái nôi của vùng đất phát sinh ra nền văn minh, văn hóa Óc-Eo [3] của vương quốc Phù-Nam (Funan), An-Giang may mắn thừa hưởng được di sản của một phế tích văn minh của thời đại xa xưa ngay tại khu vực Giồng-Cát, Giồng Xoài ở chung quanh dưới chân núi Ba-Thê ẩn chứa rất nhiều cổ vật vô cùng giá trị. Và được nhà khảo cổ người Pháp tên là Louis-Malleret (1901-1970) Giám-Đốc Trường Viễn-Đông Bác-Cổ (École française d’Extrême-Orient) tìm thấy vào thập niên 1920, nhưng mãi cho đến đầu tháng 2 năm 1944 thì mới tiến hành khởi công khai quật. Khu vực thành cổ nầy rộng khoảng chừng 450 ha đã được xác định coi như là thủ phủ của vương quốc Phù-Nam đã suy tàn. Và về lý do bị diệt vong của nó, thì cho đến nay vẫn hãy còn có những công trình nghiên cứu tiếp tục của những nhà khảo cổ để bổ sung vào tính thuyết phục..

Do vậy, ngoài cánh đồng nông nghiệp phì nhiêu, vườn tược xanh tươi, sông ngòi lưu thông tiện lợi dễ dàng cùng với hình ảnh núi non man mác hòa quyện hữu tình, thì An-Giang lại còn có thêm cả dấu ấn chứng tích của một nền văn minh cổ đại từ thời bao thế kỷ đã trôi qua. Chính nhờ vậy, mà An-Giang ngày nay đã được rất nhiều người nhìn nhận coi như là một địa điểm xứng đáng để bỏ công đến tham quan tìm hiểu về những nét đặc trưng của vùng địa lý ở nơi nầy.

Thực vậy, kể từ năm 2006 sau khi An-Giang đăng cai tổ chức lễ khai mạc Festival du lịch đồng bằng sông Cữu-Long lần thứ nhì được thành công tốt đẹp, thì ngày nay con số lượt du khách trong và ngoài nước đã tăng lên nhiều hơn là mọi sự dự đoán của buổi ban đầu. Và người ta chỉ cần nhìn vào bộ mặt sinh hoạt nhộn nhịp khác thường nơi phố phường chợ búa ở thành phố Long-Xuyên, thị xã Châu-Đốc, so với từ những năm về trước, thì sẽ không sao có thể tránh khỏi được những sự ngạc nhiên về sức sống năng nổ vươn mình mau lẹ của dân cư địa phương. Còn giờ đây, thì đường đến An-Giang với phương tiện di chuyển thuận tiện dễ dàng tiết kiệm được nhiều thời gian hơn, do nhờ khi hai cây cầu Cao-Lãnh và cầu Vàm-Cống sẽ được hoàn thành, và chính thức đưa vào hoạt động vào gần cuối năm nầy. Riêng cầu Long-Bình được bắc sang sông Bình-Di nối liên mạch giao thông giữa hai tỉnh An-Giang và tỉnh Kandal (Campuchia), thì vừa mới đã được thực hiện xong, giúp cho hai quốc gia có thêm phương tiện liên lạc về đường bộ được dễ dàng hơn xưa.

Vả lại, từ lâu dáng đứng An-Giang cũng đã từng được địa phương giới thiệu các thông tin cần thiết dành cho những khách phương xa đến viếng thăm bằng hai lộ trình. Nói cách khác, từ thành phố Hồ-Chí-Minh nếu đi bằng ô tô thông thường thì phải theo quốc lộ 1 xuống tận Tiền-Giang, còn muốn đi phượt bằng xe máy thì nên bắt đầu từ thành phố Long-An theo ngã tắt ngang qua Đồng-Tháp. Và cảnh quan của một loại hình cư trú của người dân sinh sống quanh vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu-Long sẽ hiện ra trước mắt du khách. Là dọc theo hai bên bờ sông rạch, kênh đào người ta thấy có rất nhiều mái nhà san sát nghèo nàn, và dưới cơn nắng nóng như thiêu đốt mà cánh đồng lúa bát ngát lúc nào cũng vẫn xanh tươi lả lướt như là một tấm thảm mênh mông. Đặc biệt là có những ngôi làng nổi do ghe, bè của cư dân kết tụ lại biến thành nhà cửa trên sông tạo thành nên một hình ảnh sinh hoạt xã hội ở miệt sông rạch bưng biền

Dải đất An-Giang khi xưa có tên là Tầm-Phong-Long vốn là của vương quốc Chân-Lạp được vua Nặc-Tôn dâng cho chúa Nguyễn-Phúc-Khoát vào năm 1757, để đáp đền ơn cứu giúp dẹp loạn nội chiến. Sau đó, dưới thời vua Gia-Long mới mộ dân từ miền Trung vào khai khẩn đất hoang. Năm 1832, vua Minh-Mạng cho lập thành tỉnh An-Giang [4], và cái tên của miền đất nầy hãy còn được lưu truyền cho đến ngày hôm nay. Và sau bao năm trải qua những thời kỳ thăng trầm lịch sử, thì miền đất nầy bây giờ đã quy tụ được một con số dân cư lên tới con số kỷ lục là 2.151.000 ngàn đầu người theo thống kê vào năm 2011. Là một tỉnh lị có dân số nhiều nhất trong các tỉnh ở quanh vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu-Long, với diện tích đo đạt được 3.536,7km2. Theo địa lý tỉnh An-Giang, thì một phần diện tích của miền đất nầy nằm trong vùng tứ giác Long-Xuyên

Tứ giác Long-Xuyên là một vùng đất hình tứ giác thuộc ĐBSCL, bao gồm trên địa phận của ba tỉnh thành An-Giang, Kiên-Giang và Cần-Thơ. Và bốn cạnh của tứ giác là biên giới VN, Biên giới Campuchia, vịnh Thái-Lan, kênh Cái Sắn và sông Hậu (Bassac). Trước năm 1975, nơi dây chỉ là những vùng đất hoang dại nhiễm phèn từng đã bị rừng tràm và cỏ dại phủ dày. Tuy nhiên, sau khi đất nước tái lập hòa bình thì nông dân địa phương mới bắt đầu kiên trì khai thác công cuộc tẩy rửa đất phèn để trồng lúa, và phải tính bằng với con số thời gian rất dài hằng thập niên mới thành công biến vùng đất nầy trở nên màu mỡ, phì nhiêu. Hiện nay, tổng sản lượng số lúa trong toàn vùng Tứ giác Long-Xuyên đã thâu hoạch được hằng năm đạt trên 7 triệu tấn.

Trở lại vùng đất An-Giang từng nổi danh có nhiều thắng cảnh thiên nhiên, di tích lịch sử, địa điểm văn hóa tâm linh mà du khách thường xuyên tới lui thăm viếng. Và hễ cứ mỗi khi trở lại, thì mọi người đều thấy nơi nào cũng có khá nhiều thay đổi hơn xưa. Tổ chức hành chánh của An-Giang bây giờ được chia ra làm thành 11 đơn vị trực thuộc gồm có: thành phố Long-Xuyên, thị xã Châu-Đốc, thị xã Tân-Châu. Và tám huyện là: Châu-Thành, Chợ-Mới, An-Phú, Châu-Phú, Phú-Tân, Tịnh-Biên, Tri-Tôn và Thoại-Sơn. Đặc biệt là ở huyện Thoại-Sơn khi xưa vốn từng là một hải cảng giao thương sầm uất của vương quốc Phù-Nam, là nơi mà năm 1944 được phát hiện ra vị trí thành cổ của nền văn minh văn hóa Óc-Eo ở quanh vùng dưới chân núi Ba-Thê, cách thành phố Long-Xuyên 40km theo con đường tỉnh lộ 943.

Chính những công trình phát hiện khai quật trên núi Ba-Thê, và cánh đồng Óc-Eo đã được các nhà khảo cổ từng xác nhận cho rằng miền đất ở An-Giang khi xưa vốn là một thương cảng sầm uất có thành quách, nhà cửa, và những kênh đào tạo nên thành hình chữ nhật. Bên trong phạm vi đó, các nhà khảo cổ đã tìm thấy có rất nhiều cổ vật tượng hình bằng đá, và dấu tích của các khu sản xuất đồ nữ trang cùng các khoen tai, nhẫn, chuỗi hạt thủy tinh, mã mão, hoa văn chạm chìm, con dấu, văn tự, lục lạc, mũi dùi, rìu, nhà sàn trên cọc gỗ v.v. Các thủ công mỹ nghệ như các bếp lò, đĩa đèn, nồi chậu, vò, bình gốm, gạch nung v.v được trang trí bằng hình ảnh loài vật. Hiện nay, các loại cổ vật đa dạng nầy đang được trưng bày nầy ở tại các viện bảo tàng An-Giang, thành phố Hồ-Chí-Minh và thủ đô Hà-Nội để cho mọi người có dịp đến xem trực tiếp. Và tiếp cận quan chiêm với các cổ vật Óc-Eo từng có nhiều ý nghĩa liên quan đến nền văn hóa tâm linh, tín ngưỡng phồn thực, nhất là các hiện vật cộng đồng cần thiết trong quá trình giao lưu sinh hoạt dân gian vào thời đại lúc bấy giờ.

Tuy nhiên, theo lời truyền khẩu của các vị bô lão ở tại địa phương thì trước đó 31 năm tức là vào năm 1913, trong khi người dân sở tại tham gia vào công tác đào đất để làm nhà việc (công sở thời Pháp thuộc) hay đào kênh gì đó thì có san bằng một gò đất. Và vô tình tìm thấy được một pho tượng Phật bốn tay cao 1m70 ngày nay được để phụng thờ ở trong chùa Linh-Sơn, núi Ba-Thê. Còn về pho tượng Vishnu hiện đang được trưng bày tại viện bảo tàng Hồ-Chí-Minh, thì đã từng được các nhà khảo cổ chính thức thừa nhận xem như là một báu vật hết sức quý hiếm, thể hiện đầy đủ những đường nét tinh hoa cổ đại của nghệ thuật tạc tượng của nền văn hóa Óc-Eo thời cực thịnh. Cũng theo lời tường thuật của các vị bô lão, thì nền văn hóa Óc-Eo đã bị tàn phá đến cả hai lần. Đó là, phong trào xới đất tìm vàng từ sau thập niên đầu thế kỷ 20 tức là sau khi phát hiện ra pho tượng Vishnu. Lần thứ nhì cũng là thời kỳ người ta đua nhau đi tìm vàng nhiều nhất, là vào sau những năm 1944. Chính những cổ vật sức mẻ mà người dân đào xới tìm ra được từ ngày trước mà do họ không hiểu hết được những giá trị, cho nên vào lúc bấy giờ bị họ để bỏ lung tung. Rồi sau giai đoạn vừa mới chấm dứt chiến tranh, thì lập tức lại cũng đã có lẻ tẻ những kẻ đi đào xới tìm vàng.

Và bây giờ, trên bình diện quốc gia nhằm mở rộng các công trình truy tầm nền văn minh văn hóa Óc-Eo, thì các nhà khảo cổ không còn đóng khung trong vị trí của tỉnh An-Giang nữa, vì sự lan tỏa của nó đã vượt đi tới khắp cả các vùng miền sinh thái khác nhau xung quanh những tỉnh thành lân cận. Và người ta đã từng tìm thấy, có những cổ vật được xác nghiệm có tính tương đồng với nền văn minh văn hóa của Óc-Eo ở tại Đồng-Tháp, Kiên-Giang, Cà-Mau, Long-An, Đồng-Nai, Tây-Ninh, Bình-Dương, Bình-Phước, Bình-Thuận và miền duyên hải Giồng-Am, Cần-Giờ (Hồ-Chí-Minh).

Giờ đây, trở lại thêm một lần nữa để nói về địa thế của một miền đất ở phương Nam hoa gấm, có sông xanh sóng biếc là An-Giang nếu không bao gồm có được hai huyện Tịnh-Biên và Tri-Tôn, thì hình ảnh ruộng đồng sông nước ở nơi nầy sẽ được ví coi như là dáng vẻ của một bức tranh không toàn bích. Nó không thể có được điều kiện cần và đủ, hầu để mong thu hút con số du khách lặn lội tìm đến từ ở phương xa. Chính nhờ có màu sắc chân dung của dãy Thất-Sơn huyền bí nằm trong vùng địa lý của hai huyện lị nầy, đường bệ soi bóng hình trên dòng Cửu-Long mà nó đã làm nổi bật lên phần hậu cảnh trong bức họa cánh đồng mênh mông lúa chín An-Giang.

Thất-Sơn, là tên gọi của bảy ngọn núi chính (trong số 37 ngọn núi ở An-Giang) mọc lên không liên tục ở trong hai huyện Tri-Tôn và Tịnh-Biên. Mặc dù ngày nay nó được mang những cái tên rất đẹp như nào là: Thiên-Cấm-Sơn, Phụng-Hoàng-Sơn, Ngọa-Long-Sơn, Ngũ-Hồ-Sơn, Anh-Vũ-Sơn, Liên-Hoa-Sơn, Thủy-Đài-Sơn. Thế nhưng trong dân gian lâu nay người ta cũng vẫn hãy còn thường quen miệng gọi bằng nhiều cái tên khác nhau như là núi Cấm, núi Cô-Tô, núi Dài, núi Sam, núi Két, núi Tượng, núi Tà-Béc v.v. Trong bảy núi nầy, thì từ lâu núi Cấm được xem như là một thắng cảnh đẹp nhất ở An-Giang và của cả miền Tây ở trên dải đất phương Nam.

Núi Cấm cao nhất 715m, núi Cô-Tô cao 614m, núi Dài cao 580m, núi Dài 5 Giếng cao 265m, núi Két cao 225m, núi Tượng cao 145m, núi Nước thấp nhất cao 20m.

Núi Cấm (Thiên-Cấm-Sơn) là một trong bảy ngọn núi chính nằm gần thị xã Châu-Đốc. Đây là một nơi du lịch nổi tiếng đứng đầu có con số đón nhận khách tham quan, và chỉ đứng hàng thứ nhì sau Miếu Bà Chúa Xứ ở núi Sam. Từ khu du lịch Lâm-Viên, người ta có thể đi lên tới đỉnh núi Cấm một cách dễ dàng theo các lộ trình tự nhiên có phong cảnh cây cối tươi mát, hoa thơm cỏ lạ cùng với các suối nước, hang động, điện chùa. Trên đỉnh núi Cấm ngày nay, ngoài cảnh trí thơ mộng của hồ Thủy-Liêm, thì còn có chùa Vạn-Linh, chùa Phật Lớn. Đặc biệt là pho tượng Phật Di-Lặc khổng lồ cao 33,6m, diện tích bệ tượng 27x27m, mặt hướng về phía Nam. Trọng lượng chung của cả nền và vỏ tượng nặng gần 1700 tấn, riêng tượng Phật Di-Lặc nặng 600 tấn. Đây là một công trình kết cấu thẩm mỹ nghệ thuật cao, hài hòa giữa màu sắc không gian núi rừng có ý nghĩa tâm linh đối với nhu cầu tinh thần trong cuộc sống đương đại của con người. Mới đây, lại thêm một lần nữa, là công trình hoàn mãn của bức tượng (trên đỉnh núi) lớn nhất ở châu Á nầy đã được đưa vào Sách Kỷ-Lục Châu-Á (Asia Book of Records) vào ngày 2/3/2013. Và ngay từ bây giờ thì người ta có thể nói rằng, hình ảnh của pho tượng Phật đó chính là biểu tượng cho miền đất của An-Giang an lạc, thái bình.

Đường lên núì Cấm hiện nay đã có thực hiện hệ thống cáp treo đưa du khách từ chân núi lên tận chùa Vạn-Linh, thiền viện chùa Phật Lớn, hồ Thủy-Liêm, xa xa là tượng Phật-Di-Lặc khổng lồ. Dưới chân núi Cấm là khu du lịch Lâm-Viên hiện nay tuy đã có những nhu cầu như khách sạn, nhà hàng, hồ bơi v.v nhưng cũng còn đang có những dự án khác sẽ được đưa vào khai thác trong tương lai để nhằm phục vụ tiện nghi hơn dành cho du khách.

Còn núi Ba-Thê có độ cao 221m so với mặt nước biển thuộc huyện Thoại-Sơn, thì có địa thế nằm lẻ loi trong cánh đồng Tứ giác Long-Xuyên cũng là nơi tham quan thích thú đối với những thành phần du khách muốn đi tìm hiểu, về di tích thành quách điêu tàn của nền văn minh văn hóa Óc-Eo. Trên núi có nhà trưng bày các cổ vật được phục chế dành cho du khách viếng thăm, để cho họ có những khái niệm nghiên cứu tổng quát, và cũng có thể để hình dung về vị trí nơi đây khi xưa vốn là một lãnh địa từng đã có một thời văn minh vàng son rực rỡ.

Ngoài núi Cấm trên trong dãy Thất-Sơn, thì còn lại 6 ngọn núi khác cũng có những vẻ đẹp khác nhau, và đã từng quyến rũ lòng du khách qua những tấm hình ấn tượng đầy kỷ niệm sau một chuyến du hành.

Và từ xưa nay, người VN của chúng ta vốn là dân tộc có cá tính tôn trọng các vị tiền hiền, cho dù ở vào mọi thời đại nào cũng vậy. Và nói riêng, về trường hợp ở tại miền Tây trên dải đất phương Nam. Nếu ở mọi địa phương đều có tôn thờ các vị tiền hiền, thì tại An-Giang cũng vậy. Người dân ở tại địa phương nầy cũng hết sức lấy làm tự hào, vì có được một Thoại-Ngọc-Hầu.

Quan đại thần Thoại-Ngọc-Hầu (1761-1829) tên thật là Nguyễn-Văn-Thoại (hay Thụy) quê gốc ở Quảng-Nam, và nguyên là một danh tướng phò vua Gia-Long cho đến khi thống nhất nước nhà vào năm 1802. Sau đó, ông được triệu hồi ra Bắc nhận chức Trấn thủ Lạng-Sơn. Năm 1808, ông được đưa vào Nam nhận chức Trấn thủ Định-Tường. Năm 1817, ông được nhận chức Trấn thủ trấn Vĩnh-Thanh. Từ đó, ông có dịp gắn bó cuộc đời sự nghiệp của mình với dải đất miền Tây cho đến lúc cuối đời. Sự nghiệp mở mang to lớn của ông để lại ở phương Nam thật quả xứng danh với ý nghĩa của một bậc khai quốc công thần, mà từ lâu đều đã được hầu hết người dân ở địa phương tôn thờ kính trọng. Trong thời gian tại chức, ông đã từng tỏ ra với tất cả khả năng của một nhà quản lý hành chánh có tầm nhìn về chiến lược kinh tế, quốc phòng và ngoại giao. Do vậy, ngoài các kế hoạch khai thác dinh điền, khẩn hoang lập ấp, dẹp loạn cứu dân thì ông còn có những công trình lớn lao khác để lại cho đời như là kênh Thoại-Hà, và đặc biệt là kênh Vĩnh-Tế dài gần 90km, dọc theo biên giới Campuchia từ Châu-Đốc kéo xuống tận Hà-Tiên.

Tuy nhiên, trong thời kỳ nào cũng vậy. Một quốc gia sở dĩ được phát triển mở mang tiến bộ là là nhờ do có sự hợp lực đoàn kết sáng tạo của người dân trong thời bình, và cũng như phải có tinh thần chiến đấu, hi sinh khắc phục mọi biến cố thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm trong thời chiến. Trong những điều kiện cần thiết ấy, thì từ bao thế hệ đã trôi qua nhân dân đồng bào An-Giang đều sẵn có theo truyền thống kế thừa, kể từ những ngày tháng đầu tiên cùng nhau chung lưng đâu cật xây dựng xóm làng. Theo thống kê vào năm 2009, thì toàn tỉnh An-Giang có tất cả là 30 thành phần đồng bào sắc tộc anh em cùng chung sống bên nhau trong một không gian sinh tồn, hài hòa về màu sắc phong tục của nếp sống văn hóa cá biệt. Và tạo thành nên được một bản sắc chung rất đa dạng, phong phú cho vùng đất ở địa phương. Trong số đó thì sắc dân người Kinh, Khmer, Hoa, Chăm là chính mà người ta có thể nói đó là những thành phần của người dân tiêu biểu thực tế về văn hóa do có sự trộn pha dòng máu trong quá trình cộng cư tự lâu đời. Do vậy, tuy dù có khác nhau về màu da, ngôn ngữ nhưng từ lâu tất cả đồng bào sở tại đều giống khuôn nhau trong tinh thần vui sống tương liên thân thiết. Chính vì thế, mà những tập tục tín ngưỡng cũng như lễ hội riêng rẽ của bất cứ các sắc dân nào ở đây, thì tự nó cũng đã đều biến thành là tài sản văn hóa của chung để cho hầu hết mọi người cùng hoan hỉ tham gia, và tôn trọng.

Do vậy, giờ đây mỗi khi du khách nào đến với An-Giang mà nếu để lỡ kịp tham quan các cung đình tín ngưỡng Hồi-giáo của người Chăm thì quả thật đó là một điều đáng tiếc! Và một trong những cung đình tư tưởng được xem như là hoành tráng nhất của người Chăm ở tại An-Giang, thì đó là thánh đường Mubarak ở tại xã Phú-Hiệp, huyện Phú-Tân.

Thánh đường Mubarak tọa lạc bên bờ Châu-Giang từ lâu đã được cộng đồng tín đồ Hồi-giáo người Chăm ở An-Giang tổ chức làm lễ khánh thành hoàn mãn công trình vào năm 1992. Và nó được xem như là một bản sao giá trị, có những đường nét kiến trúc truyền thống tiêu biểu cho các ngôi đền Hồi-giáo Islam cổ xưa với bốn ngọn tháp chính, và các mái vòm. Bên trong thánh đường không có bàn thờ tượng hình thần thánh nào cả mà chỉ có một đầu nhà có hậu tẩm để cho các giáo sĩ dùng làm nơi điều hành các buổi lễ, và cũng có bục giảng (minbar) để cho giáo sĩ hoằng truyền giáo lý cho các tín đồ hằng tuần. Ngoài ra, các vách tường trong chánh điện thì được phủ lên bằng màu nước sơn trắng và xanh nhạt đơn giản, hài hòa theo sự thiết kế trên trần cao đưọc treo bằng những loại đèn chùm trông rất uy nghi, tôn nghiêm.

Người Kinh ở An-Giang thường quen miệng gọi thánh đường đó là chùa Chăm. Và chùa Chăm nầy là một thánh đường Hồi-giáo duy nhất đã có dành môt lối đi riêng cho nữ giới vào giáo đường, và cho phép du khách bước chân vào tham quan. Hằng năm, ở tại thánh đường Mubarak nầy đều có xảy ra ba kỳ lễ lớn. Đó là lễ Roja, lễ Ramadan và lễ giáng sinh Muhammet. Trong những ngày lễ hội văn hóa truyền thống chính thức dó, thì hầu hết tất cả những người Chăm ở tại An-Giang cũng như ở tại các tỉnh miền Nam đều ráng cố gắng thu xếp việc nhà để có thể lên đường hành hương hội tụ về đây mừng lễ, để giữ gìn bản sắc phong tục. Và cùng lúc, cũng để cùng nhau chung vui văn nghệ quanh tiếng trống Paranưng (đang có nguy cơ bị thất truyền) hay tiếng trống Panà (gồm có 2 trống đực và 10 rống cái). Đây là những bộ môn nghệ thuật đánh trống cổ truyền với nhịp điệu âm vang lúc khoan thai, lắng dịu, lúc dồn dập vang dội như thúc giục tiến bước lên đường làm rung động tâm hồn khán thính giả. Tuy nhiên, đối với nguời Chăm thì cho dù là tiếng trống nào cũng vậy, họ có quan niệm cho rằng mỗi khi nghe được âm điệu của tiếng trống quê hương tổ tiên cất lên, thì đó là một sự báo hiệu niềm vui tương lai mà dân làng sẽ đón nhận được nhiều hạnh phúc.

Theo tài liệu của Ủy-Ban Dân-Tộc trong năm 2009, thì tổng số người Chăm tại VN có tất cả là 161.729 người, riêng ở tại An-Giang có 14.209 người (không kể ở các tỉnh miền Nam khác) thường ở trong những mái nhà sàn. Và nếu ngày nay ở miền Trung đa số người Chăm đều theo đạo Bà-La-Môn (Chăm Bàni), thì ở miền Nam đa số người Chăm đều theo đạo Hồi (Chăm Islam). Chính do có sự sai biệt phần nào về phương cách tu tập và hành đạo trong tín ngưỡng, mà mối liên hệ giữa cộng đồng người Chăm ở trong nước đã có chút ít những sự khác biệt nhau về phong tục tập quán. Tuy nhiên, sau ngày chấm dứt chiến tranh VN thì do nhờ mức sống của nguời Chăm Islam đã được cải thiện nhiều về điều kiện kinh tế, cho nên giờ đây hằng năm cũng đều có những người Chăm An-Giang dư dả thay mặt cho cộng đồng đi hành hương về thánh địa La Mecque ở Arabie Saoudite.

Ngoài ra, ở đây còn có làng nghề Chăm Châu-Giang (cạnh thị xã Châu-Đốc) nổi tiếng với nghệ thuật dệt thổ cẩm theo thủ công truyền thống. Và ngày trước, hàng dệt thổ cẩm Châu-Giang là một loại hàng rất được nhiều người ưa chuộng. Ngoài các cửa hiệu bán sỉ, thì nó còn được có những người Chăm buôn lẻ mang đi bán tận khắp các tỉnh miền Nam.Tuy nhiên, giờ đây vì lý do sự phát triển cạnh tranh của các sản phẩm dệt may công nghiệp hiện đại, cho nên con số người tiêu thụ hàng vải Châu-Giang đã bớt dần, và nếu không có đưọc những biện pháp nhằm hỗ trợ kịp thời cứu vãn, thì có nguy cơ làm cho làng dệt nầy trong tương lai sẽ không thể còn tồn tại.

Tuy nhiên, trong thời điểm nầy du khách tìm đến tham quan ở các làng mạc Chăm An-Giang, thì cũng hãy còn cảm nhận được rằng mình đang lạc bước vào một thế giới hoàn toàn khác lạ với phong cảnh của các thánh đường, nhà cửa có nét kiến trúc đặc biệt ngộ nghĩnh. Phần nội thất thì trang trí hoa văn tượng trưng về bản sắc riêng, và thấp thoáng có bóng người trong bộ trang phục truyền thống sắc màu sặc sỡ đang sinh hoạt gia đình hằng ngày, hay đang ngồi quay tơ, dệt lụa…

Còn về phần hình ảnh sắc thái cộng đồng của người Hoa và người Việt thì không riêng gì ở tại An-Giang mà hầu hết ở khắp các nơi, ngày nay, đều đã được coi như là cùng chung thực thể gắn bó tương liên không thể tách rời về các hình thức tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán. Tuy nhiên, ở An-Giang bây giờ thì các món ăn truyền thống của người Chăm cũng được khá phổ biến trong bữa cơm gia đình của tất cả mọi người dân cùng sinh sống ở tại địa phương với các loại bánh Chăm, món ăn Tung-Lò-Mò (lạp xưởng bò), gỏi sầu đâu, cà ri.

Trở lại ngược dòng thời gian khi mà toàn bộ không gian của dải đất phương Nam hãy còn là hoang dã, thì tất cả các đồng bào dân tộc anh em trong số đó có người Khmer là một trong những thành phần của người dân bản địa đã từng ra công đóng góp khai thác mở mang canh tác ruộng vườn. Chính vì vậy mà ngày nay ảnh hưởng về màu sắc tín ngưỡng, phong tục tập quán của họ để lại hãy vẫn còn rõ nét Theo cuộc điều tra phân loại về dân số năm 2009, thì người Khmer ở rải rác trong tỉnh An-Giang có được 90.271 đầu người, và tập trung nhiều nhất ở tại các huyện Tri-Tôn, Tịnh-Biên, Thoại-Sơn và Châu-Thành.

Tất cả những người Khmer sinh sống quanh khu vực đồng bằng châu thổ sông Cửu-Long đều còn được gọi là Khmer-Krom, tức là người Việt gốc Campuchia. Và cũng không khác gì với phong tục tập quán của đồng bào dân tộc Khmer hiện đang ở tại địa bàn trong hai tỉnh Trà-Vinh và Sóc-Trăng, nhưng người Khmer ở An-Giang thì lại có con số rất ít hơn. Tuy nhiên, về các hình thức lễ hội chính thức truyền thống của họ diễn ra hằng năm đều vẫn không kém phần sôi nổi, và vô cùng ngoạn mục. Họ cũng ăn mừng vui vẻ tưng bừng trong các ngày lễ Chol-Chnam-Thmay (mừng năm mới), lễ cúng Ông Bà (Sêne-Đolta), lễ cúng Trăng (Ok-Om-Bok) có tục lệ kèm theo là thi thả đèn gió và đua ghe Ngo v.v. Tuy nhiên, về ngày lễ hội đua bò Bảy Núi thì phải nói rằng là người Khmer ở An-Giang đã tổ chức rất là hấp dẫn đặc biệt.

Và gần như ai cũng biết, là hầu hết người Khmer ở địa phương nầy đều đã gắn liền cuộc sống của họ với mảnh ruộng đồng cùng với các công cụ từng giúp đỡ cho họ rất nhiều trong việc cấy cày đồng áng, thu hoạch mùa màng. Chính vì vậy, mà các con bò thường được họ nuôi nấng chăm sóc rất là kỹ lưỡng như là một người bạn thương yêu hữu ích, và họ không bao giờ quên giăng mùng tránh muỗi mòng đốt bò vào những buổi tối. Và từ lâu, theo thông lệ mỗi năm trong dịp lễ cúng Ông Bà (Sêne-Đolta) thì họ thường đem bò ra để tham gia vào cuộc đua bò được tổ chức theo dưới hình thức sinh hoạt thể thao mang tính dân gian, với chủ yếu là tranh tài vui chơi hơn thua giữa các chùa chiền, phum sóc.

Tuy nhiên, vì nhận thấy trò thi đua thể thao mang đậm tính dân gian độc đáo sôi nổi, ngoạn mục nầy ngày càng được rất nhiều người ham mộ tham gia ủng hộ, cổ vũ nhiệt tình đông đảo. Cho nên, chính quyền sở tại đã quan tâm đến việc đầu tư nâng cấp lên để trở thành ngày lễ hội văn hóa truyền thống hằng năm của người Khmer ở An-Giang. Và từ hơn mười năm nay, ngày lễ hội nầy đã được đầu tư mở rộng có tầm vóc qui mô hơn, cùng với sức hút được cả những thành phần khán giả ở ngoài tỉnh An-Giang (kể cả từ Campuchia) cũng thích thú tìm đến tham dự rất nhiều. Về phần các chủ bò muốn tham dự cuộc thi thì sau khi vụ mùa thu hoạch đã kết thúc, họ liền lo chăm sóc cho bò nghỉ ngơi, bồi dưỡng cỏ rạ đầy đủ để cho bò có thêm sức khỏe. Đồng thời, họ cũng bắt đầu đem bò ra tập luyện cẩn thận những động tác khởi đầu.

Sau khi trải qua những vòng loại, các cặp bò nào thắng cuộc kể từ vòng trong thứ 16 thì cũng đều tỏ ra có bản lĩnh khi lâm trận để quyết liệt tranh nhau đi vào vòng chung kết. Và khán giả đã vô cùng lý thú vỗ tay, huých sáo, reo hò khi mục kích được những cú nước rút, tăng tốc bứt phá khi bò về ngược vượt qua mặt địch thủ một cách ngoạn mục khi về đến đích. Đó cũng là trường hợp gay cấn, giống y hệt như là trường hợp của hoạt cảnh ngựa về ngược ở trong các trường đua ngựa. Thể theo lời của ban giám định bằng máy bắn tốc độ thì những cú nước rút tối đa của bò diễn ra trong cuộc tthi, khi bứt phá tăng tốc thì đã lên tới 40km giờ, thậm chí có khi lên tới cả 60km giờ. Đây thực là một môn thi đua thể thao cảm giác mạnh, với những màn tranh đua so tài vô cùng lý thú hồi hộp, hấp dẫn và đầy ấn tượng nhất, vì đã từng xảy ra có những pha vô cùng gay cấn có thể bất ngờ gây nguy hiểm đến tánh mạng của tài xế (nài bò).

Và như mọi người đều biết, là tỉnh An-Giang tuy trù phú tài nguyên về nông nhiệp nhưng có địa thế nằm sâu trong đất liền không giáp biển. Bù lại, An-Giang có được một hệ sinh thái rừng tràm Trà-Sư ở Tịnh-Biên phong phú mà từ lâu chính quyền sở tại đã từng có dự án quy hoạch bảo tồn, và công nhận là ” Khu Bảo Vệ Cảnh Quan”. Rừng Trà-Sư có tổng diện tích là 854ha vùng lõi và 643ha vùng đệm với một thế giới bên trong là hàng ngàn muông chim xinh đẹp cùng các loài động vật, thực vật, gỗ cây tràm lợi ích. Và du khách sẽ dễ dàng nhìn thấy như nào là sen, súng, ốc, ếch, cá, rắn, cây cối hoa rừng dùng vào dược liệu đông y v.v. Rừng Trà-Sư là một công trình cải tạo đất phèn của tỉnh An-Giang đã được phát quang, triển khai trồng cây tràm vào năm 1983 ở tại các vùng đất vùng đất hoang ngập nước mọc đầy lau sậy thuộc huyện Tịnh-Biên.

Trải qua mấy thập niên, nay khu rừng nầy đã trở thành một vùng đất sinh thái với hệ thực vật rất là đa dạng, phong cảnh tốt tươi đẹp ngỡ ngàng, và có lắm loại cá, chim quy tụ về đây sinh sản rất nhiều, Còn bao bọc xung quanh khu rừng tràm là cả một cánh đồng bát ngát nước ngập lai láng, và bên trong rừng tràm thì có đài quan sát để cho du khách tham quan nhìn thấy được cảnh quan một cách rõ ràng hơn.

Ngày nay, rừng Trà-Sư đã được tổ chức “BirdLife International” [5] đánh giá coi như là một nơi tiêu biểu về phương thức quản lý trong công tác bảo tồn vùng đất bị ngập nước ở tại vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu-Long. Đây cũng là một cảnh quan độc đáo có lung vũng, đìa bàu, trảng cỏ nước ngập rừng tràm dành cho các nhà nghiên cứu về không gian giữa thiên nhiên và con người, và cũng là một địa điểm lý tưởng dành cho du khách muốn tìm đến để hòa mình vào với cảnh rừng nước lặng lẽ, hoang sơ.

Trở lại Tri-Tôn, sau ngày lễ hội đua bò đã từng mang lại nhiều hứng thú cho du khách bốn phương. Nếu những thời gian còn lại ở địa phương nầy, mà trong lòng bạn còn tưởng nhớ đến những đồng bào ruột thịt vô tội của mình mới ngày nào đã từng bị cánh quân cuồng sát kề bên tràn qua xâm lăng giết hại, thì bạn hãy đến với khu di tích nhà mồ Ba-Chúc. Và chính tiếng chuông mõ cầu siêu não nuột ở nơi đây, sẽ làm cho bạn nguôi đi được phần nào về niềm thương tiếc vong linh của hầu hết tất cả nạn nhân.

Đất An-Giang ngày xưa vốn là một nơi có quá nhiều truyền thuyết, và đã từng được dân gian thường có dịp kể lại cho du khách nghe qua về vùng địa linh nhân kiệt rất là thú vị nhưng không sao kể hết, vì lý do thời gian trong cuộc hành trình của du khách quá ngắn. Và bạn sẽ không có được những cơ hội, để tỏ lòng thán phục trước những tấm gương thực thoại của nhiều nhân vật hiền tài về các phương diện khác nhau như nào là kinh tế, xã hội, chính trị, văn học nghệ thuật và văn hóa tâm linh v.v, mà họ đã từng tiên phuông xả thân làm đẹp quê hương, xây dựng tình người. Chẳng hạn như là ngoài hình ảnh của danh nhân Tôn-Đức-Thắng gần đây nhất, thì trước đó cũng đã từng có Thoại-Ngọc-Hầu, Trương-Minh-Giảng, Nguyễn-Tri-¨Phương, Nguyễn-Công-Trứ, Trương-Bửu-Diệp, Huỳnh-Phú-Sổ v.v.

Do vậy, nhất là ở An-Giang cũng là nơi mà người ta từng được nghe biết đến con số các tín đồ theo đạo Phật-giáo Hòa-Hảo khá dông ước tính có độ khoảng từ 1.433.252 đến trên 2.000.000 người theo thống kê vào năm 2009, và nói riêng ở tại địa bàn tỉnh An-Giang thì có được 936.974 tín đồ. Đạo Phật-giáo Hòa-Hảo do Giáo-chủ Huỳnh-Phú-Sổ sáng lập vào năm 1939 tại làng Hòa-Hảo, huyện Tân-Châu, tỉnh Châu-Đốc (nay thuộc thị trấn Phú-Mỹ, huyện Phú-Tân, tỉnh An-Giang). Đây là một tôn giáo lớn đứng hàng thứ tư tại Việt-Nam, với mục đích chủ trương tu hành tại gia và thực tế giúp đỡ người nghèo.

Ngoài ra, phải nói rằng ở quanh khu vực núi Sam chính là một nơi có mật độ cơ sở thờ phụng nhiều nhất trong cả nước. Nếu tính chung các đền chùa, lăng miếu lớn nhỏ ở rải rác (kể cả trên đỉnh núi, sườn núi), thì có tới cả 200 cơ sở thờ tự. Trong đó, có những ngôi chùa nổi tiếng như chùa Tây-An, chùa Hang, lăng Thoại-Ngọc-Hầu và đặc biệt là Miếu Bà Chúa Xứ. Tuy nhiên, có một điều ghi nhận mà tác giả cần muốn nói ra, là từ hằng bao năm qua từng đã có con số hàng chục triệu du khách thay nhau để tham quan đất An-Giang. Nhưng vẫn còn có rất nhiều người cũng chưa hề bao giờ biết được diện mạo của thành phố Long-Xuyên là trung tâm văn hóa, hành chánh của tỉnh lị có phố phường đông đúc. Có chợ búa sầm uất nhộn nhịp, có viện bảo tàng, có ngôi nhà sàn cổ được xây cất lên từ năm 1887 ở tại cù lao ông Hổ, và nằm trong khu lưu niệm Tôn-Đức-Thắng với lối kiến trúc hài hòa giản dị, cảnh quan yên vắng thanh bình cho nên thường được du khách tìm đến viếng thăm. Hay như, ở vùng địa lý sở tại nào phát sinh ra nền văn hóa Óc-Eo.

Lý do, là vì đa số họ chỉ đi theo những tuyến đường tổ chức hành hương rất ngắn hạn chỉ đưa đến Miếu Bà Chúa Xứ ở núi Sam Châu-Đốc nằm cách Long-Xuyên khoảng 54km và cách Hồ-Chí-Minh khoảng 245km. Và do số lượng người quá đông, cho nên ai nấy cũng đều lo tranh thủ với thời gian để sớm được vào cúng lễ, và còn phải bận dành lại khoảng thì giờ để tham dự lễ vía Bà diễn ra rất tưng bừng trong bầu không khí thật là tôn nghiêm, long trọng.

Hằng năm, có khoảng trên dưới hai triệu người đến hành hương ngay tại Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam Châu-Đốc để tham gia vào ngày lễ hội sinh hoạt tín ngưỡng dân gian truyền thống ở địa phương. Theo thông lệ, ngày đại lễ thường niên diễn ra vào hạ tuần tháng tư với các nghi thức tuần tự như là lễ tắm và thay xiêm y cho tượng Bà. Tiếp theo, là các lễ rước bài vị từ lăng Thoại-Ngọc-Hầu, lễ Túc-Yết, lễ Xây-Chầu, lễ Chính-Tế cùng với các nghi thức quen thuộc như là dâng hương, trà, chúc tửu, đọc văn tế cầu nguyện quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. Đặc biệt, là tổ chức chức hát bội.

Ngày trước, thường thì sau những buổi buỗi lễ Xây-Chầu và Chính-Tế thì ban tổ chức lúc nào cũng có xen vào các chương trình văn nghệ cây nhà lá vườn địa phương, bằng các tuồng hát bội nhằm giúp vui cho hầu hết bá tánh thập phương cũng như dân làng sở tại đến tham gia ngày lễ vía Bà. Còn bây giờ, thì chương trình hát bội cũng đã được trộn pha vào bằng những trích đoạn, cải lương hồ quảng thật là hấp dẫn và lý thú. Vì đào kép bây giờ không phải còn là những người ở tại địa phương nữa, mà họ chính là những ngôi sao thượng thặng của vầng trăng cổ nhạc trên dải đất phương Nam từ thành phố Hồ-Chí-Minh xuống tận nơi để hát cúng dường. Trong nhiều dịp tham dự vào ngày lễ vía Bà Chúa Xứ núi Sam hằng năm, tác giả được biết từ lâu đã có sự luân phiên tham gia góp mặt trình diễn văn nghệ cúng dường từ hằng thập niên qua của hầu hết các nghệ sĩ như Út Bạch-Lan, Ngọc-Gàu, Lệ-Thủy, Ngọc-Huyền, Thoại-Mỹ, Tú-Sương, Vũ-Linh, Kim-Tử-Long, Vũ-Luân, và đặc biệt là cải lương chi bảo Nguyễn-Thị- Bạch-Tuyết quê hương tại An-Giang v.v.

Đặc biệt hơn nữa , là hầu hết các nghệ sĩ gà nòi vốn là thành viên trong đại gia đình hát bội của NSND Thanh-Tòng, một nghệ sĩ tài ba từng được mệnh danh là vị thống soái của nghệ thuật cải lương tuồng cổ, cũng đã từng luân phiên năm nào cũng có đến đây trình diễn. Và đã đem lại bao niềm vui thích, đáp ứng đúng với nhu cầu của người dân sở tại, cũng như của hàng vạn thành phần khán giả hành hương, du khách.

Và đó cũng là những cơ hội hết sức hiếm hoi, để cho những người nghệ sĩ có dịp được gặp gỡ trò chuyện với rất nhiều khán giả ở tận vùng sâu, vùng xa chưa bao giờ có phương tiện, để cho họ có thể nhìn thấy được tận mặt hình ảnh thần tượng của những người nghệ sĩ tài danh mà từ lâu họ từng có lòng mến mộ. Cách đây mấy năm, tác giả có cùng với nghệ sĩ bầu show Thúy-Uyển (Giám đốc kịch đoàn Dân-Nam ở Cali (Hoa-Kỳ) hẹn nhau về thăm quê hương. Trong thời gian khá lý thú nầy, tác giả đã được bà mời cùng đi theo nhóm nghệ sĩ từ Hồ-Chí-Minh về Châu-Đốc để hát cúng dường tại Miếu Bà Chúa Xứ. Khi tới nơi vào lúc chiều tà, thì tác giả nhìn thấy có rất nhiều nhóm nghệ sĩ khác như là Út Bạch-Lan, Lệ-Thủy, Thoại-Mỹ, Vũ-Luân, Tú-Sương v.v cũng đã đến trước rồi, và mọi người đang thu xếp hành lý cá nhân đem vào khách sạn. Ngoài ra, cũng còn có những nhóm khác nữa khi hát xong rồi thì họ trở về liền cho nên không ngủ lại.

Điều thú vị của tác giả, vì đây là lần đầu tiên mà mình có dịp chứng kiến tận mắt cái cảnh người dân điạ phương đi hành hương ở núi Sam có mang theo đầy đủ cả quần áo, lương thực mì gói, thuốc men, chăn chiếu. Và ăn ngủ lăn lóc bên trong phạm vi Miếu Bà, để đợi chờ xem hát trong những ngày đại lễ người ta đông đúc chen chân không lọt, trong lúc bên ngoài hàng quán mở cửa suốt đêm. Còn các nghệ sĩ, thì họ lúc nào cũng ra sức trình diễn ca hát rất nhiệt tình trước con số khán giả quá đông hơn cả ở trong một rạp hát bên ngoài. Vui thú nhất, là mỗi khi các nghệ sĩ đi ngang qua lớp người chen chúc bị khán giả phát hiện nhìn thấy là họ liền tươi cười kêu tên, và kèm theo với những tràng pháo tay ròn rã.

Riêng về hoạt cảnh ở hậu trường sân khấu, thì tác giả cũng đã nhờ được vào ngồi tận bên trong cánh gà để có dịp nhìn thấy tận mắt cái hình ảnh thích thú trong không gian sắm tuồng bé nhỏ. Hậu trường quá nhỏ, phần giữa dùng làm sân khấu, hai bên hông thì để dành lại riêng cho nghệ sĩ nam nử sắm tuồng, và phía sau là bàn thờ tổ nghiệp. Dưới thời tiết quá nóng, hầu hết các nghệ sĩ đều phải đổ mồ hôi hột trong nhiều lớp xiêm y hát tuồng lộng lẫy sắc màu sặc sỡ. Có những nữ nghệ sĩ trình diễn nhiệt tình cho nên khi vừa diễn xong thì bị thấm mệt ngất xỉu, và được các bà phụ sắm tuồng lăng xăng cởi bớt các lớp áo, lột gày, giựt tóc mai, thoa dầu gió. Có những nghệ sĩ diễn tuồng mà bên cạnh đó đã phải có tới năm sáu người nhanh lẹ để phụ giúp trang điểm phấn son, thay đổi xiêm y, đeo râu đội mão để kịp thời tiếp tục vai tuồng bước trở ra sân khấu. Có những nghệ sĩ cao niên nhập vai diễn nhưng vì lâu ngày quên lời hát, cho nên cứ đứng sát cánh gà mà diễn tuồng, trong lúc đó thì người nhắc tuồng lúc nào cũng cầm kịch bản đứng khuất sau cánh gà đọc to lên để nhắc lời. Và đó thường là trường hợp của những nghệ sĩ bỏ nghề lâu năm, nhưng luôn luôn vẫn nhớ lại với những kỷ niệm xưa dưới ánh đèn sân khấu cho nên tìm dịp trở về hát cúng dường. Lại có khi nghệ sĩ bên trong sắm tuồng không kịp, thì có người lập tức cất lên tín hiệu để báo cho nghệ sĩ đang diễn hát xong vai trò của mình phải đứng ở lại sân khấu để diễn hát lại thêm một lần nữa. Do vậy, mà khán giả mới có dịp khi nhìn thấy một nghệ sĩ nào đó khi đang hát, thì lại có những động thái khác lạ chẳng hạn như hướng ngón tay cái chỉ xuống tức là báo cho biết đã thấm mệt không thể tiếp tục hát thêm được nữa.

Trở lại theo tin tức của Ban-Quản-Trị lăng miếu núi Sam, thì trong tương lai cũng ở ngay cạnh khu vực nầy sẽ có một cảnh quan công trình văn hóa tâm linh đồ sộ mọc lên. Đó là công trình quy hoạch thành hình một Khu công viên văn hóa núi Sam đã được khởi công từ năm 2015 nhưng đến nay vẫn chưa hoàn tất. Và nếu khi đã thực hiện xong, thì trên núi Sam sẽ có hình ảnh của các tượng Phật Đản Sinh, tượng Phật Tuyết Sơn và tượng Phật nằm. Riêng tượng Phật Thích Ca thì nằm ở vị trí trung tâm của quần thể các tôn tượng nói trên và có độ cao 81m trong tư thế tọa thiền, có sắc thái phù hợp với nét nghệ thuật truyền thống dân tộc được khắc vào vách đá núi Sam. Và người ta có thể nói công trình nầy có ý nghĩa quan trong đặc biệt mang tầm vóc quốc tế, góp phần phục vụ nhu cầu văn hóa tâm linh cho bá tánh thập phương bên cạnh các tuyến du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, nói cách khác là để kịp thời đáp ứng chiến lược phát triển về ngành du lịch địa phương

An-Giang là một tỉnh biên thùy có địa thế nằm ở địa đầu giới tuyến của miền Tây, và có đường ranh giới dài 104km với vương quốc Campuchia. An-Giang có hai cửa khẩu quốc tế, một cửa khẩu quốc gia và hai cửa khẩu phụ. An-Giang có 9 khu công nghiệp và 15 cụm công nghiệp. Ngoài lợi ích của sông Tiền và sông Hậu, thì An-Giang cũng còn có 21 con kênh đào và các rạch tự nhiên như là rạch Long-Xuyên, rạch Ông Chưởng, rạch Cái-Tàu-Thượng, rạch Chắc-Chà-Đao, rạch Mặc-Cần-Dưng, rạch Mương-Khai, rạch Cần-Thảo, rạch Cái Đầm, rạch Cái Tắc v.v. Ngoài ra, An-Giang còn đang có các dự án kêu gọi đầu tư phát triển vào các trung tâm thương mại, giải trí, mở rộng khu công nghiệp để nhằm đáp ứng nhu cầu địa phương. Tỉnh An-Giang có diện tích đứng hàng thứ tư ở miền Tây, nhưng lại là nơi có con số dân đông nhất ở vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu-Long. An-Giang là một vùng đất có quá nhiều địa điểm để tham quan như nào là các chùa miếu, lăng bia, đình đền, khu di chỉ, khu di tích, thánh đường, chùa Hoa, tháp nhà cổ nằm rải rác ở khắp cả địa bàn trong tỉnh. Hơn thế nữa, tính cộng đồng đa văn hóa ở địa phương nầy cũng đã từng được người dân thể hiện ra bằng mọi sự gắn bó tương liên cảm thông nghĩa tình dân tộc từ trong làng mạc sâu xa ra tới ngoài thành thị phố phường.

Và cũng chỉ có mấy năm gần đây thôi mà thành phố Long-Xuyên và thị xã Châu-Đốc đã tăng tốc vươn mình phát triển kiến thiết không ngừng về mọi mặt, và nay đã trở thành là trung tâm du lịch của cả miền Tây. Vì vậy mà mới đây, trong chuỗi hoạt động đầu tiên trong định hướng chiến lược phát triển du lịch tỉnh nhà đến năm 2030, thì người dân sở tại đã không chậm trễ tìm bằng mọi cách phát huy nhiều sáng kiến hầu để làm tốt hơn về ngành du dịch, với kỳ vọng sẽ đón chào được thêm nhiều du khách tìm đến tham quan. Và đó cũng chính là ý nghĩa của tinh thần nội dung trong ngày lễ khai mạc Tháng du lịch An-Giang năm 2017. Với chủ đề “An-Giang non nước hữu tình”, địa phương đã diễn ra các hoạt động như hội thảo, khảo sát các tuyến, điểm du lịch sở tại, tuần lễ văn hóa ẩm thực có sự góp mặt của “Vua đầu bếp” Martin Yan (Yan Can Cook), tuần lễ du lịch xanh-sạch-đẹp và thân thiện, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ. Song song đó, là các sinh hoạt thể thao như đua bò, đua thuyền rồng, thả đèn hoa đăng và trình diễn văn nghệ.

Ngoài ra, trong thời gian nầy thì tại huyện Tịnh-Biên cũng đã long trọng khai mạc Hội chợ Thương mại Quốc tế năm 2017 với sự hiện diện quy mô của 374 gian hàng của trong và ngoài nước nhằm giới thiệu các sản phẩm hiện đang có mặt trên thị trường tiêu thụ. Và đây cũng là một Hội chợ biên giới ở An-Giang đánh dấu 11 năm trưởng thành, từ cấp địa phương trở thành quốc tế.

Và sự kiện nầy chính là một tố chất tạo thành cái thế ưu thắng, giúp cho người dân sở tại từ bao năm qua đã cùng nhau tự tin hợp lực siết tay vững bước đi tiến về phía trước. Vả lại, từ lâu An-Giang cũng từng nổi danh được rất nhiều người nghe biết đến như là một vùng thắng cảnh tuyệt vời đặc biệt ở trên dãy đất phương Nam. Địa phương nầy là nơi độc nhất có hình ảnh núi non ở miền Tây, và những huyền thoại ly kỳ mang đậm màu sắc văn hóa tâm linh cùng chuyện lạ đời thường về cuộc sống dân gian từng có xảy ra trong xã hội miệt bưng biền, sông rạch. Do vậy, một khi du khách có dịp tìm đến tham quan vùng đất nầy, thì chắc chắnrằng họ sẽ được hoàn toàn thỏa mãn về một chuyến đi không phí công chọn lựa để khám phá màu sắc duyên dáng, thanh bình, nên thơ với hồn quê sông nước địa phương.

Thêm vào đó, chính bài hát nổi tiếng lan truyền có ý nghĩa tuyệt vời “Dòng An Giang” (A) có giai điệu quê hương tình tứ ngọt ngào, thể hiện vẹn toàn nét đẹp thanh bình, hạnh phúc hài hòa cảnh quan từ lâu đã được phổ biến, cũng từng chinh phục được cảm tình của nhiều thính giả ở khắp mọi miền. Tiện đây, tác giả cũng muốn nói thêm rằng là mặc dùkhông thể nào có thể so sánh được với giá trị của bản nhạc “Dòng sông xanh”. Tuy nhiên, trong mảnh phần hồn da diết của bản nhạc và lời trong bài hát “Dòng An-Giang”nầy, thì nó cũng đã diễn tả tuyệt vời và thể hiện ra được toàn cảnh của một bức tranh không gian tĩnh lặng, êm đềm, gợi lại hình ảnh thơ mộng mến yêu của miền sông nước thiên nhiên ở địa phương. Và có vẻ hao hao, tương tợ một phần nào đó so với ý nghĩa trong cảnh quan củanội dung bản nhạc lừng danh thế giới “The Blue Danube” của Johann Strauss II, mà cố nhạc sĩ tài hoa Phạm-Duy đã gắng công xuất sắc đặt lại lời Việt với tựa đề là “Dòng sông xanh”.

Ngày nay, người ta có thể nói rằng là trong toàn bộ không gian của nền văn minh văn hóa ở trên dải đất phương Nam, thì một phần rất lớn đều nằm trong địa hạt của tỉnh An-Giang. Vì thế, cho nên An-Giang bây giờ có được nhiều ý kiến xem như là một dải đất tiêu biểu đa dạng cho các tỉnh ở quanh vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu-Long. Giờ dây, hồi tưởng lại từ những cuộc hành trình xông vào khai phá mở mang miền đất An-Giang của các bậc tiền nhân, thì người ta không thể nào quên được công đức của từng thế hệ lớp người đi trước. Và trong quá trình cộng cư của các sắc dân ở địa phương nầy, cũng đã vô tình tạo ra được có những đứa con hiếu nghĩa, có lòng dạ thủy chung với quê hương cho nên cùng nhau góp sức điểm tô xây dựng xóm làng ngày càng thêm khởi sắc hơn. Hơn thế nữa, là một tỉnh sơn kỳ thủy tú có cảnh quan xinh đẹp ở miền Tây do nhờ yếu tố thiên nhiên ưu đãi, và cùng với sức sống mạnh mẽ của người dân sở tại đa dạng về văn hóa từ bao năm qua quyết tâm tranh đua miệt mài làm đẹp quê mình. Vì thế, cho nên hình ảnh An-Giang bây giờ thực sự đã có được một sức hút diệu kỳ về tình tự quê hương đối với hầu hết tất cả đồng bào trong cả nước.

Còn nói riêng, với tâm hồn của khách lãng du mạo hiểm thì ý nghĩa trong cuộc sống của đời người là hãy đi tìm mọi sự khám phá phiêu lưu để tự mình có dịp trải nghiệm qua mọi điều lý thú mà họ đã khắc ghi sâu đậm nhiều ấn tượng ở trong lòng. Và An-Giang chắc chắn sẽ là điểm hẹn không thể không đến, để họ lắp ráp vào trong cuộc hành trình lịch sử còn dang dở mà họ từng đã vươn tay, chạm chân trên con đường chinh phục vùng đất phương Nam. Hơn thế nữa, một khi tâm hồn của họ cảm nhận được đã có sự vấn vương với vùng miền sông nước gấm hoa nơi sở tại, thì tức là giấc mộng viễn du của họ từ bấy lâu nay thực sự hoàn toàn đã được toại nguyện trên bước giang hồ. Tuy nhiên, với tinh thần khai phóng, và ý chí quyết tâm đầy sinh lực thì họ cũng có thể nhìn thấy thêm hãy còn có nhiều thông điệp mới, đánh thức họ cần phải tìm hiểu biết được nhiều hơn về hình ảnh của quê hương duyên dáng, mến yêu ở khắp trên muôn vạn nẻo đường.

Nhất là, các dấu ấn thân thương trong tâm hồn của những thành phần du khách phương xa, trước phút chia tay mà lòng hãy còn bịn rịn ở nơi vùng miền sông nước. Đặc biệt hơn, là với cảnh quan đồng ruộng lúa chín vàng mênh mông, thơ mộng đẹp như tranh, trộn pha với tấm chân tình dân dã của con người sinh sống lâu đời bên cạnh dòng An-Giang sông sâu sóng biếc.

An-Tiêm MAI-LÝ-CANG
(Paris)

1 – Cửu-Long là một con sông có con số về độ dài dao động được ước tính khoảng chừng 4.350km cho tới 4.909km. Và là một trong 12 con sông lớn nhất trên thế giới.

2 – Vàm-Nao là một con sông có nước xoáy tròn dài khoảng 7km chạy dọc theo làng Hòa-Hảo, làm ranh giới giữa Long-Xuyên và Châu Đốc. Nơi đây từng xảy ra trận thủy chiến khốc liệt giữa quân đội Việt-Xiêm vào khoảng cuối năm 1833. Khi còn là thuộc địa Pháp, thì người dân yêu nước kháng chiến ở địa phương từng ngậm hờn bằng hai câu ca dao:

Ngó lên Châu-Đốc, Vàm-Nao
Thấy tàu giặc chạy như dao cứa lòng

3 – Óc-Eo ( Or Kaev) có nghĩa là “Suối Kiếng”. Nền văn minh, văn hóa Óc-Eo của vương quốc Phù-Nam được thành hình từ khoảng đầu thế kỷ I cho đến thế kỷ VII, sau công nguyên.

4 – Sách “Đại-Nam Nhất Thống Chí”.

5 – “BirdLife International” là một tổ chức quan hệ đối tác toàn cầu nhằm bảo tồn môi trường sinh thái của các loài chim, cũng như về tính bền vững của con người trong cách sử dụng tài nguyên thiên nhiên.

Dòng An Giang

(Tác giả: Anh Việt Thu)

———–

Dòng An Giang sông sâu sóng biếc,
Dòng An Giang cây xanh lá thắm,
lả lướt về qua Thất Sơn,
Châu đốc dòng sông uốn quanh,
soi bóng Tiền Giang Cửu Long.
Dòng An Giang trăng lên lấp lánh,
Dòng An Giang tung tăng múa hát,
đêm đến dòng sông thở than
bên mấy hàng cây hắt hiu
đã mấy mùa xuân thái bình.
Dòng An Giang đáy nước in sâu,
Nhịp cầu tre ngắm bóng say sưa,
nắng vẫn chiếu trên làn sóng nhấp nhô,
nắng vẫn chiếu trên gò má hây hây mơ màng, ngây thơ.
Cô thôn quê đang giặt yếm trên sông,
tiếng sáo vắng trên đồng lúa xanh tươi
trâu lang thang đôi cò trắng tung bay dập dìu.
Dòng An Giang ai qua vẫn nhớ,
Dòng An Giang xinh xinh nước biếc,
đây những thuyền ai lắc lơ
đôi mái chèo trăng lướt qua
lơ lửng vầng trăng vỡ tan.
Dòng An Giang xanh xanh xóm trúc
Dòng An Giang lơ thơ bến nước,
đây những người thôn nữ xinh
duyên dáng chuyền tay dắt nhau
múc mấy vầng trăng đổ đi.

Đã xem 784 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments