Qui Nhơn và Tôi

Tôi đã đến thành phố biển hiền hoà này hai lần.  Lần nào cũng có những kỷ niệm khó quên.

Vào khoảng năm 1971, khi ấy tôi 27 tuổi.  Tôi đưa cô em dâu bé bỏng, mới 20 tuổi, bế con nhỏ vào Saigon, để dự lễ ra trường của chồng.  Cô em tôi rất xinh, khuôn mặt như Tây, trắng trẻo và bé nhỏ.  Thương em còn dại khờ đã làm Mẹ, tôi đi cùng em. Nhưng vì tôi còn 3 con nhỏ ở nhà, và cũng còn phải về đi dạy, nên tôi không thể ở lại cùng em.  Còn chút tiền, tôi đưa em, tôi chỉ giữ đủ tiền mua một vé xe buýt, từ chợ Thái Bình đến phi trường Tân Sơn Nhất mà thôi.

Tôi vẫn thường như thế, vì tôi chỉ cần vào trong phi trường quân sự, đã có mấy cậu em, sẽ lo cho tôi về Pleiku, bằng một chuyến bay nào đó.

Chia tay em, tôi dặn dò và yên tâm bước đi.  Tôi lên xe buýt, ngồi ngắm Saigon đang vươn mình thức giấc. Vài quán ăn bên đường, đã có mấy người khách, ngồi quây quần bên bếp than.  Những chiếc xe ba gác chở đầy rau cải, đang vội vã đi về phía chợ.  Các xe lam chở heo đã làm sẵn, hay các xe máy chở gà vịt, vùn vụt chạy ngang qua. Bên lề đường, người ta đã ra quét dọn.

Vừa đến phi trường, tôi đi tìm mấy cậu em, để nhờ các em xếp cho tôi một chỗ, về Pleiku.  Em check các chuyến bay và bảo tôi, “Khoảng 9 giờ, chị đi chuyến…về Pleiku, chị nhé!  Chị cứ ngồi đây, có gì em sẽ gọi.”  Tôi kiếm một tờ báo và lặng lẽ ngồi đọc.  Trong phòng đợi, tuy đông người nhưng không ồn ào, mọi người lặng lẽ ngồi đợi hoặc hấp tấp xếp hàng ra phi đạo.  Ngoài kia, tiếng động cơ lúc nào cũng rộn ràng. Dù mới sáng sớm, nhưng những chiếc pick up vẫn chạy đi, chạy lại và dường như phi trường không bao giờ ngơi nghỉ. 

Đang ngồi chăm chú đọc, bỗng có một sĩ quan không quân đến, và nói, “Mời chị sang bên kia uống nước, được không ạ?”  Tôi hơi ngạc nhiên, vội nói, “Cám ơn anh, đi đường xa, tôi không uống nước ạ.’ và tiếp tục đọc báo.

Đến hơn 9 giờ, cậu em ra nói, “Chị ơi, máy bay trục trặc.  Thôi, để em xếp chị đi chuyến khác, khoảng 12 giờ, chị ạ.” – “Ừ, cám ơn em, không sao đâu, chị chờ được.”

Động cơ vẫn ầm ầm ngoài phi đạo, nhưng chuyến bay về Pleiku của tôi, sao mãi không đến?

Đến gần 12 giờ, cậu em lại chạy ra bảo, “Chị ơi, chuyến bay này lại đình rồi!  Làm sao đây?  Chỉ còn mấy chuyến bay đi nơi khác.  Gần Pleiku, chỉ còn chuyến bay đi Qui Nhơn, lúc 4 giờ chiều thôi!”  Tôi đang bần thần, chợt người sĩ quan không quân ấy, đứng gần nói, “Chị cứ đi Qui Nhơn đi, chiều nay tôi cũng phải lái máy bay lên Pleiku để họp.  Tôi sẽ đưa chị về.” Tôi đành phải nói, “Vậy em ghi tên chị vào chuyến bay ấy đi!”  Sau đó, người ấy có hỏi về tôi, tôi nói, “Tôi đã có gia đình, 3 con, và đang dạy học ở Pleiku”.  Tôi thật sự không yên tâm để nói chuyện nhiều.  Trong lòng tôi, lúc ấy đang xôn xao nhớ con, rất muốn bay về Pleiku ngay.

Tôi vẫn phải kiên nhẫn ngồi chờ.  Chợt người ấy, lại đến, “Mời chị qua bên kia, ăn chút gì đi!”  – Tôi lại phải nói,”Cám ơn anh, tôi không đói.” Người ấy bảo,”Từ sáng sớm đến giờ, chị ngồi yên một chỗ, chẳng ăn, chẳng uống gì cả!  Ăn một chút gì đi chị!  Từ giờ đến 4 giờ chiều, còn lâu lằm!” – “Dạ, không sao ạ, cám ơn anh.”

Phi trường vẫn nhộn nhịp, ngưởi đi, kẻ đến.  Các em, đi đâu ăn trưa, đã về, nhìn tôi ái ngại.  Vẫy tay chào, các em lại bù đầu với các chuyến bay.

Gần đến 4 giờ, em gọi tôi ra phi cơ để đi.  Mừng quá, tôi vội vã đứng lên, theo đoàn người ra phi đạo.  Tôi thở phào, “Thật là may!”  Phi cơ nổ máy, chưa được bao lâu, âm thanh chợt hục hặc không đều, rồi tắt hẳn.  Một lúc sau, lại nổ máy.  Tiếng động cơ như có gì chặn lại.  Rồi tắt luôn! Phi hành đoàn thông báo, “Phi cơ có trục trặc, mời quý vị vào lại khu vực chờ đợi.”

Mọi người lục đục kéo nhau xuống.  Lúc này tôi không thể đọc báo nữa, mắt cứ ngóng ra phi đạo, đợi chờ.  Trời tối dần.

Chợt người ấy lại đến, “Đã qua bữa chiều rồi, mời chị đi ăn!” – “Cám ơn anh, đi đường xa, tôi không dám ăn uống.” Ông ấy không về chỗ cũ nữa, mà ngồi ở một băng ghế, không xa.

Các em tan ca, ra về, đến gần tôi và nói, “Em đã gửi các bạn em, họ sẽ liên hệ với chị.  Em về nhé!”

Trời càng tối, tôi càng nôn nóng, vừa nhớ con, vừa lo lắng.  Đến Qui Nhơn vào giữa đêm, thì biết ngủ ở đâu?  Làm sao về lại Pleiku?

Hơn 9 giờ, có người ra thông báo, “Những người đi chuyến bay…về Qui Nhơn, mời ra máy bay.”  

Rã rời và lo lắng, nhưng tôi cũng vội vã đi theo đoàn người.  Lên được máy bay, tôi cầu mong sao cho đừng có chuyện gì xảy ra nữa.

Khoảng hơn một tiếng sau, máy bay đáp xuống phi trường quân sự Qui Nhơn.  Trời đã tối đen, và phi trường im ắng.  Người ấy đến và nói, “Mọi người phải ở lại trong phi trường, chị ạ, đến 4 giờ sáng mới được ra.”  Thật ra, tôi cũng chẳng biết đi đâu, đành ngồi “chờ sáng” thôi! Người ấy chào tôi và hẹn sáng mai gặp lại.  May quá, có một đoàn “chiến binh”, cùng đơn vị của em tôi.  Họ đi đâu đó, trở về Quảng Ngãi, đang chờ đợi máy bay. Thế là mấy chị em, tán dóc suốt đêm.  Đến 4 giờ sáng, tôi chia tay các em, để về Pleiku.  Vừa ra cửa, tôi đã thấy người ấy, ngồi trên xe jeep.  Ông ta bước xuống và nói, “Mời chị lên xe, tôi chở chị ra bến xe về Pleiku.” Tôi vội chối từ, “Dạ thôi, cám ơn anh.  Tôi đi bộ cũng được ạ.”  Ông ta phì cười, “Làm sao chị đi bộ được? Hơn 30 cây số đấy!”  Tôi chợt thấy xấu hổ, thì ra bến xe ở xa đến thế!  Đành phải “nhờ vả” thôi.  Đường thì xa, và đêm còn tối, lại chẳng biết đi lối nào!

Một lúc sau, đến bến xe, thì trời đã hửng sáng.  Tôi xuống xe, cúi đầu cám ơn, và đi về phía chiếc xe đò đang nổ máy. Đúng là xe đò về Pleiku rồi!  Nhưng người lơ xe đang đứng ngay lối ra vào, đưa tay lấy vé, và nhường chỗ cho hành khách lên xe.  Tôi bỗng chợt ngẩn ngơ.  Buồn cười cho tình huống, nhưng không lo sợ.  Tôi lẩm bẩm, “Đời mình cũng có lúc như thế này nhỉ?”  Chưa biết phải làm sao, nhìn quanh, cũng chẳng thấy ai quen! Chợt chiếc xe jeep trờ tới.  Tôi quay lại, vẫn người ấy.  Nhảy xuống xe, hai tay xách hai túi, người ấy hỏi, “Chị mua vé chưa?” Tôi bật cười, không nói.  Người ấy, cũng chợt cười và chạy đi mua vé.

Khi tôi đã lên xe, người ấy đưa hai túi qua cửa sổ xe, và nói, “Cho tôi gửi ít quà cho các cháu.” Tôi nhìn ông ấy, cám ơn.  Trong thâm tâm, tôi thật sự cảm động. Xe chuyển bánh và ông ấy ra xe jeep.  Vẫy tay chào.  Tôi cũng gật đầu chào lại.  Cho đến bây giờ, tôi cũng không biết ông ấy thuộc đơn vị bay nào, và bây giờ ông ấy ở đâu?

Và mùa hè năm nay, vào tháng 7 vừa qua, gia đình chúng tôi, tất cả 18 người, đi tắm biển ở Qui Nhơn.  Chỉ vì bãi biển Qui Nhơn chưa bị dân Hán tộc dòm ngó.

Xuống máy bay, tôi hít thở, “Ôi, thành phố Qui Nhơn ngày xưa!”

Trên xe buýt, từ phi trường Qui Nhơn về thành phố, thật xa, làm tôi nhớ lại chuyện xưa, chuyện tôi định đi bộ, từ phi trường ra thành phố, năm nào!

Tôi không còn nhớ gương mặt của người sĩ quan không quân ấy, nhưng tấm lòng nhân hậu của ông ấy, tôi vẫn mãi không quên.  Ngồi nghĩ lại, chuyện như mới xảy ra.  Và tôi chợt nghĩ về mình, sao tôi lại có thể chủ quan như vậy, cứ như cả cái xứ Việt Nam, đâu cũng là “nhà”!  Thì ra, cái không khí thân tình và sự ấm áp của những người năm xưa, đã nuôi tôi lớn lên như thế.

Hôm nay, tôi trở về đây.  Con đường thật dài, đưa tôi về kỷ niệm.  Hai bên đường, ngày xưa tôi không thấy, vì bóng đêm vẫn chưa tan. Bây giờ là những cánh đồng lúa mênh mông, những luỹ tre xanh thân thuộc. Qui Nhơn vẫn còn vẻ đẹp đơn sơ và tươi mát. Người dân Qui Nhơn, cho đến hôm nay, vẫn thật thà và đôn hậu.  Vào quán ăn, cảm thấy thoải mái như ở nhà vì sự thân thiện của chủ quán và các em phục vụ.  Thức ăn rất ngon miệng, và không bị chèn ép giá cả.  Cô con gái của tôi, mua bánh xèo, cô bán hàng còn gói thêm cho một bịch nước mắm đã pha.  Còn dặn dò, nếu muốn ăn thêm thì ra.  Đặt nhiều quá, làm không kịp.  Cứ ăn đi, ra trả tiền sau.  Mới sáng sớm, chưa có tiền thối!    Ôi, họ dễ thương làm sao!

Trên đường về thành phố, khoảng 35 cây số, chúng tôi ghé thăm Chùa Ông Núi Bình Định, có tượng Phật ngồi, rất to lớn, và có nhiều bài thơ được viết trên những hòn đá rải rác đó đây, với lối chữ bay bướm.  Mọi người đi loanh quanh chụp ảnh.  Rồi chúng tôi ghé Tháp Đôi, là một kiến trúc mang đậm chất Champa. Hình ảnh này, làm tôi nhớ đến Tháp Chàm ở Nha trang.

Xe chúng tôi chạy qua cầu Thị Nại, cây cầu băng qua biển dài nhất ở Việt Nam, và thấy đồi cát Phương Mai rực vàng trong nắng.  Lúc đi qua Vườn Thơ Hàn Mặc Tử, nhìn những bậc thang, như ngút ngàn trên cao, chúng tôi ngần ngại không muốn lên, vả lại cũng đã trưa, cả nhà đang đói bụng. Có người đi về bảo là, trên ấy cây cảnh đẹp lắm, có các bài thơ, được viết trên những tảng đá xung quanh mộ của nhà thơ Hàn Mạc Tử.

Chiều hôm ấy, cả nhà đi tắm biển, ở khu dã ngoại Trung Lương, cách Qui Nhơn khoảng 30 cây số, thuộc huyện Phù Cát.  Đây vốn là một vùng đất còn khá hoang sơ và yên tĩnh, Nước biển trong xanh, mát rượi, Nhìn vào bờ, những đồi cát mênh mông.  Người ta leo lên tuy khó nhọc.  Nhưng lúc trượt xuống, họ giang tay cuời vang. Tắm ở đây rất thích thú. Tắm mãi không chán!

Từ giã Trung Lương trở về, thành phố đã lên đẻn, chúng tôi ghé vào một quán bánh xèo.  Nhưng vì quá đông khách, nên chủ quán dọn nhiều bàn trên vỉa hè phía bên kia đường.  Ôi, bánh xèo ở đây thật là ngon, nóng hổi và thật nhiều nhân tôm thịt.  Nước chấm cũng ngon.  Rau thơm, cải xanh, và giá sống, thì tha hồ.  Nhân viên phục vụ thật dễ thương.

Về nhà thay quần áo, chúng tôi đi bộ ra biển.  Nhiều quán ăn dọc theo bờ biển, đèn thắp sáng, và thực khách đã ngồi gần hết chỗ.  Chúng tôi chọn một quán, nhưng xin xếp chỗ trên lối đi, ven biển.  Lại nghêu, sò, ốc, hến,…và đậu phụng luộc, đậu phụng rang, và nước mía.  Dĩ nhiên, phe đàn ông, còn có thêm bia nữa.  Mấy cô em và cháu gái, rủ nhau chạy xuống bãi biển và nằm dài trên cát.  Thật thoải mái, khí hậu về đêm lại rất mát mẻ.  Ngồi ven biển, ăn đêm, và nghe sóng vỗ, thật tuyệt vời!

Ngay đêm ấy, về lại khách sạn, tôi đã cảm thấy yêu Qui Nhơn thật nhiều.  Yêu biển Qui Nhơn, yêu các món ăn của Qui Nhơn, và yêu cả tính thật thà và mến khách của người dân Qui Nhơn.

Sáng hôm sau, cả nhà ngồi gần hết chỗ của quán cà phê, phía bên kia đường khách sạn chúng tôi ở.  Cà phê cũng rẻ và ngon, và bà chủ quán thật dịu dàng, dễ mến.  Chúng tôi mua đậu phụng luộc, lai rai, chờ xe đến.

Hôm nay, đi bãi biển Kỳ Co.  Cũng xa, cũng đi qua cầu Thị Nại, hai bên là biển mênh mông, làm tôi nhớ cây cầu thật dài, ở Miami, khi chúng tôi đi thăm vùng Keywest.  Kỳ Co cách Qui Nhơn khoảng 25 cây số.  Bãi biển Kỳ Co có vẻ đẹp của Hạ Long, với nhiều ghềnh đá và nước biển trong xanh, có thể nhìn xuống tận đáy.

Chúng tôi đến một nơi, mà gia đình tôi đã đặt bữa ăn trưa. Thay đồ tắm và để lại đồ đạc xong, chúng tôi đi ca nô ra bãi biển Kỳ Co, mất khoảng 20 phút.

m ấy biển-động, canô vượt sóng, nhấp nhô, cứ như đi vào trung-tâm-bão, Nước tạt mạnh, làm tóc tai và quần áo mọi người ướt hết cả!  Những người trẻ tuổi, thì hét vang mỗi lần ca nô tung lên cao, rồi thình lình sụp xuống.  Còn người già, như tôi, thì tim như muốn bay ra!  Ca nô đi ngang qua, một bãi san hô, mà theo chương trình, lúc về, sẽ ghé lại, để mọi người nằm trên bè, mà ngắm san hô!  Lúc ca nô vào bãi, sóng biển làm ca nô dập-dềnh, mọi người leo xuống thật là  khó khăn.  Bước xuống, ai cũng bị nước ngập đến lưng ống chân

Đắng xa, là những quán hàng và các lều rải rác. Chúng tôi phải đi qua một con đường cát mới đến bãi tắm.  Dù có lát những tấm lót bằng tre, nhưng cát lỏng, rất sâu, rất lún.  Mọi người đi loạng-quạng!  Nghe xa xa, tiếng người ta reo hò với sóng, mọi người náo nức cố đi nhanh.

Từ khu các lều, có một cây cầu, dẫn ra chỗ tắm.  Thấy bên trái cây cầu, quá đông người.  Chúng tôi rủ nhau sang phía bên phải.  Vừa bước xuống biển, tôi hiểu ngay tại sao người ta lại dồn nhau về phía bên trái để tắm.  Thì ra, bờ biển phía bên này, rất sâu.

Tôi đi theo mấy cậu em, xuống trước.  Chưa kịp tắm, mới bước xuống vài bước, sóng ở đâu hăm hở, cuộn đến, dâng lên thật cao, như sắp chụp xuống đầu.  Sợ bị sặc nước, tôi vội-vã tung người lên, Thế là, cát dưới chân cũng rủ nhau trôi theo sóng.  Tôi bị hẫng-chân, và có cảm giác như chân “đáp xuống” khoảng không, tôi loạng-choạng chống chân xuống, và chân tôi như bị gấp lại, ở ngay cổ chân, đau buốt.  Tôi thét lên.  Tôi vẫy vùng tuyệt vọng, Chân tôi không đi được nữa, và cũng không thể nào đứng được nữa.  Mặc cho sóng đánh ngang đầu, tôi cố bò vào bờ.  Bò lên được một tí, sóng lại cuốn tôi ra! Cứ thế, phải một lúc sau, tôi mới bò lên được. Tôi đau đớn vô cùng.  Một cậu bé, trong đội cấp cứu, chạy đến và xoa mắt cá chân tôi.  Chỉ vài phút thôi, mà chân tôi đã sưng lên thật to và đau nhức vô cùng. Mọi người xúm lại, đám thanh niên nhà tôi, bế tôi lên bờ, đưa vào lều. Tôi bảo mọi người ra tắm đi, kẻo hết giờ.  Tôi không đứng, không ngồi được, đau buốt.  Tôi cứ nghĩ là, với gậy chống, tôi có thể lội vào tới bãi ca nô.  Nhưng khi mọi người chạy đi tứ tung, tìm được hai cây gậy, tôi thử chống gậy mà đi, chân tôi đau buốt và tôi như muốn ngã lăn ra. May có một xe công nông, bánh xe to gấp 4 bánh xe hơi, vào đưa hàng, cho quán ăn.  Cô em tôi, ra xin họ cho tôi đi nhờ vào bãi ca nô.  Ông tài xế xe công nông, đã de tới, de lui, để cho thùng xe áp sát vào căn lều, để tôi có thể lết vào thùng xe, vì thùng xe rất cao.  Xe vất vả lắm, mới vào đến bãi ca nô.  Vậy mà khi cám ơn và gửi tiền, người tài xế xe công nông, nhất định không lấy.  Đến bến canô, có rất nhiều khách du lịch, vì biển động không vào bờ bằng ca nô được nữa, họ đang đứng tụ tập, để chờ xe hơi đưa trở về Qui Nhơn.  Trong đám du khách ấy, có một cô y tá.  Cô ấy xoa bóp chân tôi.  Thấy tôi kêu đau, cô ấy nghĩ là xương bị gãy, nên kêu mọi người tìm cây ván nào đó, để nẹp chân tôi lại.  Muốn cho chắc chắn, cô ấy nói là, cần cột cả hai chân lại với nhau.  Sợ nẹp cây làm da tôi chảy máu, cô ấy kêu lên, là cần một cái khăn để quấn quanh ống chân.  Một cô gái, vội vã, rút tấm khăn lụa đang quấn quanh cổ, đưa ra.  May quá, cô em của tôi, đang che nắng bằng một khăn tắm của khách sạn, nên không phải dùng tới tấm khăn lụa ấy, nhưng lòng tôi cũng rất cảm động.  Mọi người xúm lại, nhìn chân tôi và bàn tán.   Em tôi đi mua đá ở nhà hàng, để bó quanh chỗ sưng.  Người bán hàng nói, “Anh mua cho cái người bị thương ở chân đấy hả, tôi không lấy tiền đâu, muốn bao nhiêu cứ lấy!”  Người trong ban tổ chức, tìm được một xe truck, không mui.  Họ sẽ đưa tôi về thành phố.  Mấy người “bê” tôi, vào trong thùng xe, vì hai chân nẹp với nhau, tôi không thể ngồi trong xe được.

Đường trở về Qui Nhơn, ngoằn-nghoèo lắm, chắc phải hơn 20 km đường đèo.  Tôi ngồi giữa, cậu em út và một cậu cháu.  Tôi phải bám chặt chân hai người, không thì tôi đã ngã lăn quay ra!  Nắng gắt và gió lộng!

Về đến Qui Nhơn, họ đưa tôi đi cấp-cứu ngay.  Bệnh viện sạch sẽ và nhân viên y tế lịch sự. Sau khi chụp X-ray, họ bảo là, chỉ sưng phần cơ thôi. Họ cho toa mua thuốc uống 5 ngày và họ bảo phải 6 tuần mới khỏi được.  Có một điều là, huyết áp của tôi lên đến 170, họ nghĩ là tôi bị bệnh cao huyết áp, nên họ đã chích cho tôi một mũi thuốc hạ huyết áp.  Tôi chưa bao giờ nghe bác sĩ của tôi, bảo là tôi bị cao huyết áp.  Có lẽ là quá lo sợ, lo làm sao để vào được đất liền, nên huyết áp của tôi đã lên cao đến thế.  Vì trong lúc nằm chờ xe, đưa tôi về lại Qui Nhơn, tôi tự hỏi, làm sao tôi leo lên lại được cái ca nô ấy, với sóng nhấp nhô và tình trạng thê thảm của tôi lúc ấy!

Tôi nằm, một mình trong khách sạn, ở Qui Nhơn 2 ngày nữa, để cả nhà đi chơi tiếp.  Chỉ có đám con trai, là phải chạy về, mang đồ ăn cho tôi thôi!  Sau đó, tôi đi xe-lăn trở về Saigon. 

Chưa kể tôi phải nằm một chỗ suốt thời gian còn lại, cuối cùng cũng phải đi xe lăn về Seattle!  Về đây, tôi đi khám ngay, và được biết là chân tôi không phải chỉ sưng phần cơ, mà còn bị bong gân và xương ống chân bị rạn nứt, sau khi chụp lại X-ray và MRI!  Bác sĩ yêu cầu tôi mang ống boot để giữ cho xương ống chân được cố định!

Chuyến đến với Qui Nhơn lần thứ hai, cũng có những cảm giác mạnh như thế, thì bảo sao chẳng là một kỷ niệm khó quên!

Dù sao, tôi vẫn yêu Qui Nhơn, vì tâm tình người Qui Nhơn rất ấm áp.  Đến với Qui Nhơn, chúng ta không gặp phải những tình huống bất ngờ, đôi khi còn thô bạo phũ phàng, như ở các nơi khác.  Món ăn ở Qui Nhơn rất ngon và không đắt đỏ.  Quang cảnh của Qui Nhơn lại rất đẹp, rất thơ mộng. Nhất là, Qui Nhơn hiện nay, vẫn là vùng đất của người Việt chúng ta, chưa bị bóng dáng của dân Hán tộc lai vãng.

Vũ Thị Bích – Mùa Thu 2018

Đã xem 2760 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments