Ngôn ngữ nô lệ

“Lời quê góp nhặt dông dài”

(Kiều – Nguyễn Du)

            Theo nguyên tắc, ngôn ngữ phát triển theo đời sống của con người trên nhiều mặt: giao tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo, chính trị… Thông thường sự phát triển đó theo hướng tốt.

            Trong sự giao tiếp giữa con người với con người, ngôn ngữ cho chúng ta thấy trình độ văn hóa của người xử dụng nó. Điều quan trọng nhất trong việc xử dụng ngôn ngữ là sự chân thậthoặc dối trá.

            Chẳng hạn Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nói:

                        Xưa nay đều trọng người chân thật,

                        Thiên hạ nào ưa kẻ đãi bôi.

            Theo “Hán Việt Từ Điển” của Đào Duy Anh thì đãi bôi có nghĩa là xã giao bề ngoài, không thật lòng, gian trá.

            Theo nhiều cách nghĩ thì thật lòng là điều căn bản để con người sống với nhau, từ cha mẹ, con cái, vợ chồng, anh em, bà con, nhân quần xã hội đều như thế cả.

            Có người cho rằng để chứng tỏ có học vấn cao, văn hóa cao, nên thường “nói văn hoa, chải chuốt”. Trên truyền bình bây giờ, chúng ta thấy không ít những người nói năng như thế. Hiện tượng ấy làm cho người ta nghĩ đến câu Kiều của Nguyễn Du tả Sở Khanh:

                        “Nói năng chải chuốt, áo khăn dịu dàng.

            Khi viết như thế, cụ Nguyễn có lẽ cũng có nghĩ tới câu nói của Khổng Tử, cho rằng những người ăn mặc nói năng như thế là không “thật bụng” bao giờ.

            Điều nầy, từ xưa, tổ tiên chúng ta cũng đã từng nhận xét: “Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ”. Làm tốt là “làm đẹp”: Xấu làm cho đẹp. Nói chữ: “Nói văn hoa”. Trên các đài TV Việt ngữ ở Cali, rất nhiều người hay “nói chữ”, để che giấu cái dốt của mình. Nói chữ “hay” đến nỗi người nghe không biết họ nói gì!!!

            Những điều như thế nầy, tôi đã từng nói trong bài “Ngôn đạo”. Ở đây, tôi không muốn nhắc lại chuyện cũ mà bàn tới một vấn đề mới hơn – tưởng là mới, nhưng thật ra, cũng cũ lắm -. Ấy là việc nói nịnh của những người Cộng Sản Việt Nam, ở chóp bu cũng như hạng cắc ké, và cả những người Việt chống Cộng hải ngoại, không thiếu “tinh thần nô lệ ngôn ngữ”, như Việt Cộng vậy.

            Năm 1954, sau khi đất nước bị chia đôi hai miền Nam Bắc, thì ngôn ngữ hai miền phát triển thành hai hướng khác nhau, về căn bản và thực tế.

            Sự phát triển ấy, ở miền Nam cứ theo truyền thống của dân tộc nên không có gì đáng nói; nhưng ở miền Bắc, việc xảy ra làm cho nhiều người suy nghĩ, phê phán.

            Thứ nhất, ở miền Bắc, người ta tránh dùng “Danh từ Hán Việt”. Ví dụ: Miền Nam gọi là “phi cơ trực thăng”, miền Bắc gọi là “Máy bay lên thẳng”.

            Trực thăng có nghĩa là lên thẳng: Thăng là lên, trực là thẳng. Phi là bay, cơ là máy, một “cái máy”.

            Nói theo cách Việt Cộng nhằm để cho những người ít học hay không học dễ hiểu. Nói như vậy là sai. Khi người ta “hiểu”, đâu có phải hiểu ở mỗi chữ, cái tên người ta đặt cho vật ấy. Không cần hiểu những danh từ mô tả nó có nghĩa là gì, mà người ta hiểu đó là một vật (thể), là một chiếc máy bay, một cái tầu bay, có thể bay thẳng từ dưới đất lên thẳng trên trời. Họ đâu cần biết rõ tên nó là gì: “Phi cơ trực thăng” hay “máy bay lên thẳng”, đâu cần thiết.

            Cộng Sản bắc Việt gọi “Máy bay lên thẳng” mà không gọi là “phi cơ trực thăng” là muốn “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, như chủ trương của ông thủ tướng Phạm Văn Đồng, nghĩa là không dùng “danh từ Hán Việt” như người miền Nam.

            Nói như “cụ” Phạm là sai hoàn toàn:

            -Thứ nhất, không dùng “danh từ Hán Việt” là làm cho tiếng Việt nghèo đi. Bỏ không dùng những tiếng phi cơ trực thăng là làm cho tiếng Việt mất đi một số tiếng nói, chữ viết, làm cho người ta lúng túng không biết dùng những tiếng gì cho thích hợp.

            Thứ hai, khi ngôn ngữ phát triển, các dân tộc trên thế giới “mượn tiếng” của nhau, “dùng tiếng” của nhau là việc rất thông thường. Tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha… đều vậy. Thường có rất nhiều tiếng phát xuất từ một gốc, – có thể gốc Hy-La mà ra.

            Xem phim “Gone with the wind”, chúng ta biết nơi cư trú của Katie Scarlett O’Hara (nhân vật chính) là đồn điền Tara, ở Georgia. Tình cờ, khi xem phim “La fille de Ryan”, tôi biết thêm ở Ái Nhĩ Lan có một vùng có tên là Tara. Một cô gái Tầu làm việc chung hãng với tôi cũng có tên là Tara. Liệu mai đây, khi cô ấy về Tầu, thì cái tên Tara đó sẽ sang Tầu? Tra tự điển, tôi thấy cái tên Tara đó có nguồn gốc từ lâu ở Hy Lạp. Ngay tại Boston, cũng có một ngôi nhà kỷ niệm có tên là Scarlett O’Hara House, nhà có nhiều cột kiểu Hy Lạp. Xem ra, nền “Văn Minh Hy- La” có ảnh hưởng lớn và rộng khắp; có phải nhờ sự bành trướng và phát triển của “Đế Quốc La Mã”. Lịch sử lắm khi có những điều kỳ diệu!!!

            Ví dụ: Tiếng “General” chẳng hạn. Đó là tiếng Anh (English). Général cũng là tiếng Pháp, mà cũng là tiếng Tây Ban Nha… Có thể ý nghĩa của nó ở mỗi nước khác nhau chút ít, nhưng tổng thể thì như nhau, phát âm cũng na ná như nhau. Có phải có gốc từ “Văn Minh Hy- La”?

            Tiếng Tầu, tiếng Triều Tiên, tiếng Nhật, tiếng Việt cũng có thể có những tiếng “cùng một gốc tiếng Tầu” mà ra, nhưng đã bị “địa phương hóa” khá nhiều. Ngay bên Tầu, mỗi nơi cũng nói tiếng Tầu khác nhau, huống chi tiếng Tầu qua tới Triều Tiên, Việt Nam.

            Ngày xưa, người Việt học chữ Hán, viết thì giống người Tầu, đọc thì khác người Tầu. Ví dụ: Thực là ăn, thực khách là khách ăn (ở nhà hàng chẳng hạn). Có nơi bên Tầu gọi là “xực” – có người nói đùa “cẩu xực” là chó cắn. Thủ tướng Khuyển Dưỡng Nghị của Nhựt “nói chuyện” với cụ Phan Bội Châu bằng cách viết chữ Hán (Tầu), viết qua, viết lại để trao đổi nhau ý kiến, trao nhau đọc, gọi là “bút đàm”. Còn như nói thì ai nói nấy hiểu.

            Chữ Tầu xử dụng theo cách ấy, còn gì là Hán nữa đâu. Ở Quảng Đông thì nó bị “Quảng Đông hóa”, ở Quảng Tây thì nó bị “Quảng Tây hóa”, ở Phúc Kiến thì nó bị “Phúc kiến hóa”. “Phúc Kiến hóa” thì chữ “phúc” đọc thành “sển”, như tên cụ Vương Hồng Sển chẳng hạn. Cụ ấy bảo “Hồng Sển” là “Hồng Phước”. Ngoại trừ người Phúc Kiến, các nơi khác bên Tầu chẳng ai hiểu nỗi “Hồng Sển” là “Hống Phước”, nói chi tới Việt Nam.

            Ở Việt Nam, chữ Hán đã bị “Việt hóa” nên người ta mới gọi là “danh từ Hán Việt”, có nghĩa là tiếng Tầu đã biến thành tiếng Việt. Tiếng Việt thì người Việt dùng, mắc mớ chi mà phải “kỵ húy” như kỵ tên tuổi người nào đó trong Hoàng Triều. Thành ra, chủ trương như ông thủ tướng Phạm Văn Đồng, người ta cho là ngớ ngẩn.

            Vả lại, dù có muốn tránh, nhưng có tránh được đâu!? Ví dụ: Miền Nam gọi “Thủy quân lục chiến”, có nghĩa là lính “thủy” (nước), nhưng đánh nhau ở trên đất (lục)”, không phải đánh nhau ngoài biển. Nghĩa đen từng chữ là như vầy: Thủy: nước. Quân: lính. Lục: đất (lục địa chẳng hạn). Chiến: Đánh nhau.

            “Kỵ húy”, Phạm Văn Đồng cũng như Việt Cọng không muốn dùng “danh từ Hán Việt” nên gọi “Thủy quân lục chiến” là “Lính thủy đánh bộ”. Lính và đánh là tiếng Nôm; nhưng Thủy (nước) và Bộ (đất) lại là tiếng Hán Việt. Toàn bộ cả 4 chữ ghép lại  thì cũng vậy thôi. Làm sao có thể dùng toàn tiếng Nôm mà không có danh từ Hán Việt được. Không lý gọi “Lính thủy đánh bộ” là “lính nước đánh đất”? Trên thế giới nầy, các dân tộc “mượn” tiếng của nhau là việc thường tình. Ngôn ngữ mà như thế thì còn ra cái thể thống gì nữa, hay những người Cộng Sản Việt Nam muốn trở lại thời kỳ đồ đá?!

            Tiếng Việt của chúng ta cũng “pha” nhiều tiếng Lào, tiếng Miên và nhất là tiếng Chàm. Nói ra, người ta hiểu cả, có sao đâu!

            Không mượn tiếng của dân tộc khác, tiếng Việt sẽ nghèo đi. Mắc mớ chi mà phải làm cho ngôn ngữ nghèo đi, hỡi “cụ” Đồng ngớ ngẩn.

            Tuy nhiên, người ta cũng không nên dùng quá nhiều (lạm dụng) danh từ Hán Việt trong một câu nói, một câu văn bởi vì nó có thể làm cho những người “ít học” – thiếu hiểu biết về danh từ Hán Việt, không hiểu người ta nói gì.

            Trong cuốn “Thèm đi” cua Nguyễn Tuân, tôi thấy ông dùng nhiều lần chữ “thiên nhai”. Hồi nhỏ, tôi hiểu “thiên nhai” là chân trời. Thiên là trời; nhai là bến bờ. Tra từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, tôi biết thêm: Miền rất xa xôi. “Thiên nhai địa dác (giác?): Chân trời góc đất. Người Việt có thành ngữ “Chân trời góc biển” cũng có nghĩa như vậy. Bây giờ không mấy ai dùng chữ “thiên nhai”. Trước 1975, khi chưa có sắp chữ bằng computer, tôi từng bị thợ nhà in sửa “thiên nhai” thành “thiên thai”. Có lẽ họ nghĩ tôi viết sai.

            Tuy nhiên, những chữ cổ cũng nên dùng hạn chế, theo luật “đào thải”. Khoảng thập niên 1960, đọc học bạ của một học sinh, tôi thấy ghi mục nghề nghiệp của người cha là “tài thọ”. Không hiểu là nghề gì, tôi hỏi một người bạn đồng nghiệp, anh ấy cũng không biết. Tôi bèn hỏi một cụ đồ nho, từng vào ra “cửa Khổng sân Trình” hồi cuối thế kỷ 19, tôi mới hay “tài thọ” là nghề rồng cây rừng, cây lớn, để lấy gỗ. Tài có nghĩa là “trồng cây”. Tài bồi có nghĩa là “trồng tỉa và vun xới.” (planter et butter). “Nuôi dạy thành nhân tài” (Trích từ điển đã dẫn ở trên). Thọ hay là thụ: cây lớn. Người ta thường nói “cây đại thọ” (hay thụ) để nói tới những cây có hàng chục tuổi. 

                                                     &                             

            Tuy nhiên, việc “kỵ húy” mới là quan trọng.

            Ngày xưa, để tỏ lòng tôn kính nhà vua cũng như các nhân vật trong Hoàng Gia, mọi người phải “kỵ húy”. Kỵ húy là nói tránh, nói trại khi nói đến tên vua hay một ai đó trong Hoàng Gia. Khi viết, – như sĩ tử đi thi chẳng hạn – khi viết tới những chữ kỵ húy thì phải viết thiếu đi một nét.

            Tên vợ vua Minh Mạng là Hoa, Hồ Thị Hoa nên có cài việc đổi tên như sau: Tỉnh Thanh Hoa đổi thành Thanh Hóa (có dấu sắc), Chợ Đông Hoa, đổi thành chợ Đông Ba. (“Chợ Đông Ba đem ra ngoài dại” –ca dao Huế). Nhậm đổi thành Nhiệm, vì kỵ húy “Hồng Nhậm”, tên vua Tự Đức.

& 

            Việt Cộng kỵ húy???!!!

            Việt Cộng rất kỵ húy. Dĩ nhiên, là “húy Tầu”, không có “húy Nga” vì tiếng Nga khó trùng âm với tiếng Việt.

            Ví dụ: Trong sử sách, thường viết “bọn Tầu xâm lược” hoặc “Nhà Minh xâm lăng”, “nhà Thanh xâm lăng”. Sợ “phạm húy”, Việt Cộng không nói như thế. Sách báo Việt Cộng viết là “Bọn phong kiến phương Bắc xâm lược”.

            Gọi như thế sai ở hai điểm:

            -Thứ nhất:

            Bọn Tầu xâm lược không phải là “bọn phong kiến phương Bắc”. Tên chính xác của Tầu là China, là Trung Hoa (gọi một cách lịch sự như thời kỳ Việt Nam Cộng Hòa. “Tòa đại sứ Trung Hoa Quốc Gia” (trên đường Hai Bà Trưng). Gọi “nhà Minh”, “nhà Thanh” là gọi theo triều đại.

            -Thứ Hai:

            Nước Tầu chỉ là “phong kiến” vào thời kỳ trước “Tần Thủy Hoàng “tóm thâu lục quốc, nhất thống Trung Hoa”, tức là thời kỳ “liệt quốc” (Đông Chu), nước Tầu được chia thành nhiều nước nhỏ, do các vua (nhỏ) cai trị, dưới một ông vua lớn nhất (nhà Chu). Vua lớn “phong tước”, và ban đất cho các vua nhỏ để họ tự cai trị (kiến địa). “Phong tước và kiến địa”, gọi chung là “phong kiến”. Từ đời Tần Thủy Hoàng, nước Tầu đã thống nhất, là một đế quốc, không còn chế độ “phong tước, kiến địa” nữa; gọi các triều đại Hán, Tống, Minh, Thanh… là “bọn phong kiến” là sai với lịch sử Tầu.

            Việt Cộng – từ Hồ Chí Minh trở xuống đều thế cả – không dám gọi nước Tầu là Tầu, mà “kính cẩn gọi là Trung Quốc”, tức là chấp nhận quan điểm hợm hĩnh của Tầu. Trong Thiên Hạ (dưới trời), nước Tầu ở giữa là “Trung Quốc” – ở giữa thiên hạ, các nước chung quanh là rào dâu, phiên ly, còn nam di mọi rợ. Trong ý nghĩa đó, người Tầu gọi người Việt là “Nam man” (người miền Nam man rợ). 

            theo quan điểm của chủ nghĩa coi Trung Quốc là trung tâm của thế giới, thì Tây Nhung, Đông DiBắc Địch, và Nam Man hợp lại thành Tứ Di, tên gọi Tây Nhung mang ý nghĩa khinh miệt…”

(Trích Wikipedia) 

            Người Tầu kiêu ngạo tự coi họ là “trung tâm thế giới”, khinh thị người nước ta, gọi là man di. Chúng ta không phản ứng lại sao được???!!!!

            Ta không thể gọi họ là Trung Quốc mà gọi là Tầu.

Người Tầu ở bên nước họ vì đói kém, vì giặc giã, loạn lạc giết chóc lẫn nhau nên họ tìm về phương nam kiếm sống. Họ đến nước ta bằng tầu, nên tổ tiên gọi họ là người Tầu. Lịch sự một chút thì gọi là “người Hoa” như thời Việt Nam Cộng Hòa.

            Có thể người ta nghĩ rằng, cả thế giới người ta gọi là Trung Quốc, nên họ cũng gọi theo như thế.

            Nó vậy là sai. Trên thế giới, thử hỏi có ai gọi Tầu là Trung Quốc? Người Pháp gọi người Tầu là Chinoise. Tiếng Anh gọi là Chinese… Hồi Pháp thuộc, khi tôi còn nhỏ, tôi có nghe câu đồng dao chê người Tầu: “Si-noa là giống bên Tầu, Đẻ ra con lợn hôi màu cứt heo.”Câu nầy có 4 chữ “nghịch” nhau: Si-noa đối với Tầu. Con lợn (tiếng Bắc) đối với heo. Heo là tiếng Nam.

            Chữ Chinoise là do từ tiếng Chin mà ra. Chin là gì?

            Theo vài tài liệu sử học, người ta phải trở lại thời tiền sử của Tầu hơn 250.000 năm trước. Tiếp đó là thời đại lịch sử bắt đầu với XIA là triều đại quân chủ đầu tiên của Tầu, xuất hiện vào khoảng 2,100 trước Tây Lịch ở phía bắc sông Hoàng Hà. Tới năm 221 trước Tây Lịch, nhà Tần mới xuất hiện. Đó là “đế quốc” đầu tiên của Tầu. S’in hay Xia hay Quin (Tần) là nguồn gốc của tiếng Chin, rồi Chine. Người Tây phương cứ Chine hay China hay Chinese mà gọi. Những tiếng ấy có ý nghĩa gì về hai chữ “Trung Quốc” đâu???!!! Người Tây phương khi gọi Tầu là China, Chinese đâu có ý niệm gì về “một nước ở giữa địa cầu”, như người Tầu. Ngày xưa, người Tầu đã tự gọi họ là Trung Quốc là vì kiến thức địa lý của họ hồi ấy còn kém, còn lạc hậu, cho rằng “quả” đất là vuông, nước họ ở giữa, chung quanh là “tứ di”, xa hơn nữa là biển (tứ hải. Câu của Khổng Tử “Tứ hải huynh đệ” trong Luận Ngữ là từ quan điểm về địa lý như vầy mà sinh ra?).

            Việt Cộng vì nịnh Tầu, cung kính gọi Tầu là Trung Quốc cho vừa lòng các chú “con trời” (thiên tử). Ta cũng gọi Tầu là Trung Quốc được sao? Ta cũng nói nịnh hay vì ta ngu, hay ta không thoát ra khỏi cái tâm lý nô lệ Tầu như Việt Cộng?

            Nhiều nhà trí thức, bình luận gia xuất hiện trên các đài truyền hình, phát thanh hải ngoại, ở Cali, gọi nước Tầu là Trung Quốc.

            Khi người đã có cái “tinh thần nô lệ” như thế, thì trí ở chỗ nào, thức ở chỗ nào mà nghe họ nói cho mất công.

            Mỗi khi thấy trên đài, có môt ông trí thức hay đại trí thức, gọi nước Tầu là Trung Quốc, tôi chuyển sang đài khác, hoặc “tắt đài” để khỏi bực mình. (1)

            Nô lệ Mỹ.

            Văn hóa miền Nam thời Việt Nam Cộng Hòa, Việt Cộng gọi là “văn hóa nô dịch”. Sách báo thuộc loại “nô dịch” như thế, Việt Cộng buộc phải đem đốt.

            Thật ra, ở cả hai thời kỳ Việt Nam Cọng Hòa, người miền Nam không muốn bị “Mỹ hóa” đâu. Báo chí thời ấy không mấy cảm tình với những cái tên như “Tony Kỳ”, “Tony Lê Hoàng Hoa” và một số người “có vẽ Mỹ” vì họ du học bên Mỹ về. Tác phong và cách nói năng những người tôi vừa nói trên có đậm hay lạt pha nét Mỹ, mặc dù đám trẻ chúng tôi rất mê “phim Cao Bồi”.

            Đến Mỹ rồi, không ít người buồn vì bị đổi ngược họ tên. “Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt.”  (Xem phụ lục).

            Người Việt Nam khi đặt tên cho con, thông thường muốn gởi một cái gì đó, một hy vọng, ước vọng vào con của mình, dù con trai hay con gái…

            “Hạnh cho tên mình là một sự mỉa mai. Trong hơn hai mươi năm mang cái tên ấy, chàng không một lần nào gọi là gặp may, mà chẳng bao giờ gọi là sung sướng.” (Hạnh – truyện ngắn của Khái Hưng)

            Cha mẹ đặt cho tên Hạnh là muốn nói tới một điều hạnh phúc, một sự may mắn, mà Hạnh thì chưa bao giờ gặp may.

            Không nói tới các dòng họ lớn ở ngoài Bắc hoặc Thanh – Nghê- Tĩnh, hoặc cựu kinh đô Huế, như dòng họ Phan Huy, Vũ Quốc, Phạm Huy, Nguyễn (Du) hay Thân Trọng, Hồ Đắc, Hà Thúc, Nguyễn Khoa (Nam) của Huế, hay Phan Thanh (Giản), Hồ Hữu … của đất Nam Bộ, là những dòng họ có hoài bảo với con cháu, làm vẻ vang cho dòng họ mình. Thông thường, ở xứ Đằng Trong có nhiều họ Nguyễn (họ của chúa Nguyễn, vua Nguyễn), cũng có nhiều họ có tên đệm là “Văn”, nhiều hơn tên đệm là “Võ”, có phải người Việt Nam có khuynh hướng “trọng văn hơn võ”. Ca dao có câu: “Quan văn thất phẩm đã sang, Quan võ tứ phẩm còn mang gươm hầu.”

            Khi chúng ta đọc môt cái tên, theo cách dọc của người Việt Nam: họ trước tên sau, họ tên như thế, cho ta thấy có một sự sắp xếp về ý nghĩa của tên người ấy. Ví dụ: Một người đàn bà Huế có tên là “Lục Hà” (ca sĩ Hà Thanh, tên đầy đủ là “Trần Thị Luc Hà”), người em có tên là “Phương Thảo” (phu nhân giáo sư Bùi Tường Huân, tên đầy đủ là Trần Thị Phương Thảo). Điều nầy cho thấy người đặt tên cho họ (thân phụ hay nội tổ…) là người “hay chữ” (nói theo cách nói cũ, là người có “văn học”) vì Lục Hà và Phương Thảo là tên hai loài hoa được nói tới trong bài thơ “Tứ thời viễn du” của Thôi Hiệu:

                        Xuân du Phương Thảo địa

                        Hạ thưởng Lục Hà trì

                        Thu ẩm Hoàng Hoa tửu

                        Đông ngâm Bạch Tuyết thi

            Phương thảo, nghĩa thường nói là cỏ thơm, Lục hà là sen xanh.

            Việc đổi ngược tên họ làm cho người Việt mất vui phải không?

            Thật vậy, Trần Thị Lục Hà, đổi ngược là Hà Trần; Trần Thị Phương Thảo đổi ngượi là Thảo Trần thì người bị đổi tên vui làm sao được???!!!

            Giáo sư Trần Văn Khê, đổi tên ngược là Khê Trần; nhạc sĩ Trần Văn Trạch, đổi ngược tên là Trạch Trần thì ý nghĩa cái tên ra làm sao???!!!

            Khi lập hồ sơ giùm cho ông Đỗ No, tôi viết thành No Đỗ. No mà đem đổ thì đói là chắc. Còn ông Đỗ Rê, đổi thành Re Do thì một nhạc sĩ Mỹ đọc tới, có lẽ nghĩ rằng ông nầy cũng nhạc sĩ như ông ta, còn thiếu fa, mi, sol, si, la là đủ 7 nốt nhạc Tây phương.

            Tên là Trần Văn Ở, đổi ngược là  Trần thì rõ ràng ông nầy không mặc áo hay không có áo mặc?!

            Tuy nhiên, đạo diễn Trần Hàm hay nói theo cách Mỹ là Hàm Trần thì nói ngược hay nói xuôi, tên ấy, họ ấy chảng ăn nhập gì với nhau cả.

            Có người thì muốn gọi tên mình theo cách Việt. Khi nào cần mới gọi ngược như người Mỹ. Khi giao thiệp với người Việt với nhau, họ dùng theo cách Việt (xuôi). Chỉ khi cần làm việc với Mỹ họ mới chịu viết hay nói họ tên ngược.

            Tuy nhiên, cũng có người muốn gọi họ tên mình ngược, theo cách Mỹ. Có gọi họ tên ngược như thế người khác mới biết mình “là người Mỹ”, dù là người Việt. Dù có tới trăm năm nữa, da còn vàng, mũi còn tẹt, người Việt cũng không thể thành người Mỹ được.

            “Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt”. Đó là một sự hãnh tiến hay là còn nặng tinh thần nô lệ như khi gọi Tầu là Trung Quốc?! Điều đó rất dễ hiểu. Có phải đó là cái rơi rớt của “Văn hóa nô dịch” mà Việt Cộng đã “chụp mũ” cho người miền Nam trước trước năm 1975.

            Cũng có điều đáng mừng đấy. Tất cả các luật sư của “Tổ hợp luật sư Đỗ Phủ – Anh Tuấn”, tôi không thấy ai đổi ngược họ tên của mình, mặc dù khách của họ có cả người Việt lẫn người Mỹ.

            Viết như vầy là “Lời thật mất long”, đành xin lỗi vậy./

hoànglonghải 

Thơ xuân đất khách

Tác giả: Thanh Nam

Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
mới hay năm tháng đã thay mùa
ra đi từ thuở làm ly khách
sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ

Trôi dạt từ Đông sang cõi Bắc
hành trình trơ một gánh ưu tư
quê người nghĩ xót thân lưu lạc
đất lạ đâu ngờ buổi viễn du!

Thức ngủ một mình trong tủi nhục
dặm dài chân mỏi bước bơ vơ
giống như người lính vừa thua trận
nằm giữa sa trường nát gió mưa

Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
làm thân cây cỏ gục ven bờ
chợt nghe từ đáy hồn thương tích
vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa

Ới hỡi quê hương bè bạn cũ
những ai còn ai mất giữa sa mù
mất nhau từ buổi tàn xuân đó
không một tin nhà, một cánh thư!

Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi
rối bời tâm sự tuyết đan tơ
một năm người có mười hai tháng
ta trọn năm dài một tháng Tư!

Chấp nhận hai đời trong một kiếp
đành theo giông bão phũ phàng đưa
đầu thai lần nữa trên trần thế
kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ!

Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt
tập làm con trẻ nói ngu ngơ
vùi sâu dĩ vãng vào tro bụi
thân phận không bằng đứa mãng phu!

Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
cờ còn nước đánh phải đành thua
Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do!

Bằng hữu qua đây dăm bảy kẻ
đứa nuôi cừu hận, đứa phong ba
đứa nằm yên phận vui êm ấm
đứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa!

Mây nước có phen còn hội ngộ
thâm tình viễn xứ lại như xa
Xuân này đón tuổi gần năm chục
đối bóng mình ta say với ta

(Seattle 1977) 

Đã xem 5230 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments