Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Topa – Bất Tử

Ra khỏi bệnh viện, ông Hoành liền đi thẳng đến quán rượu lớn trong trung tâm thành phố. Từ lâu rồi ông không còn uống rượu vì căn bệnh sơ gan mà ông đã phải mang trong người. Nhưng, ông vừa được bác sĩ cho biết ông chỉ còn sống khoảng hơn ba tháng nữa thôi. Khi nghe vị bác sĩ nói vậy ông không hề buồn hay sợ hãi. Dù gì thì ông cũng đã sáu mươi chín tuổi rồi nên ông xem như mình cũng đã thọ lắm. Căn bệnh sơ gan mà ông quả quyết nguyên nhân chính là vì sau ngày 30 tháng tư 1975 miền Nam bị mất làm ông buồn quá nên ông thường tìm quên bên ly rượu. Có bao nhiêu tiền ông đều để mua rượu vì ông sống độc thân nên không phải bận bịu lo cho ai. Để có được những chai rượu thật trong nhìn bắt mắt, người cất rượu lậu đã dùng một loại hóa chất tên là Mytox. Mytox là tên của thương hiệu thuốc diệt rầy mà chất chính trong đó là Malathion. Sau này người ta thường gọi là thuốc nhũ dầu vì khi pha với nước thì nó có màu đục như sữa. Người cất rượu lậu chấm một đầu đũa chất này cho vào rượu đế làm cho trong… nên di họa cho ông đến hôm nay. Bây giờ người trong nước bị chết sớm hơn. Tất cả mọi thứ thực phẩm đều bị độc vì chứa đủ các loại hóa chất.

Hiện giờ đang là thượng tuần của tháng ba, hơn một tháng nữa sẽ là tháng tư thứ bốn mươi mốt… Quốc hận và Uất hận lại đến với những người miền Nam Việt Nam bị mất nước như ông. Nên, ông quyết định sẽ một lần về lại Việt Nam và sẽ đi thăm những vùng đất mà đôi giày Botte De Saut của ông đã từng hằn lên trên những vùng đất đó.

Người bán rượu đem đến ông chai Château Durport-Vivens Margaux Grand Cru Classé năm 2007 và dĩa xúc xích với vẻ nể phục. Ông Hoành nghĩ mình không còn sống lâu nữa nên ông xả láng, mặc dù tiền hưu của ông cũng không nhiều.

***

Đúng tám giờ bốn mươi lăm phút sáng ngày 23 tháng 3 năm 2016 nhằm ngày 15 tháng 2 âm lịch, ông Hoành ra khỏi khách sạn Hương Miền Quê của vùng đất Thần Kinh để bắt đầu một cuộc du hành của ngày đầu tiên. Khách sạn đã làm đúng theo yêu cầu của ông: Một chiếc xe bảy chỗ và người tài xế kiêm hướng dẫn viên thành thạo. Quản lý khách sạn nói khi ông Hoành đến gởi chìa khóa phòng:

– Rất tiếc là khách sạn của chúng tôi không có người hướng dẫn viên nào là người miền Nam.

Cả ngày hôm đó người tài xế đã đưa ông đến Lao Bảo – Khe Sanh rồi Thánh địa La Vang. Ngày mai ông sẽ đến những địa điểm mà ông từng tham dự những trận đánh năm xưa. Xe vừa chạy ra khỏi khu Thánh địa La Vang thì chú tài xế trẻ kiêm hướng dẫn viên đã đề nghị với ông:

– Bây giờ chưa tới năm giờ chiều, ông có muốn thăm qua Thành Cổ Quảng Trị một chút không?

Ông Hoành nhìn đồng hồ và gật đầu. Ông Hoành muốn thăm Thành Cổ vào buổi sáng ngày mai để nhìn lại tận mắt những nơi ông đã cùng đồng đội giành giật từng tấc đất với quân Việt Cộng và rồi chiến thắng. “Thăm Thành Cổ khi buổi chiều tàn… cũng hay lắm chứ. Mình còn nhiều thời gian và rồi sẽ trở lại đây ngày khác… có sao đâu”. Khi xe cách cổng thành khoảng mươi mét, chú tài xế cho xe ngừng lại bên đường rồi quay đầu nhìn người khách duy nhất trên xe và chú bắt đầu nói với giọng miền Bắc về những điều mà ông Hoành biết chắc, những điều này chú vẫn thường nói mỗi khi đưa du khách đến thăm viếng nơi đây. Vì, chú nói thao thao mà không cần đến tài liệu:

– Thưa ông, trước năm một ngàn tám trăm lẻ chín thì Thành Quảng Trị tọa lạc tại Tiền Kiên, tức thuộc xã Triệu Thành huyện Triệu Phong ngày nay. Nhưng, từ năm đóThành Quảng Trị đã được vua Gia Long cho di dời về đây và thành lúc đó chỉ được xây bằng đất. Đến năm một ngàn tám trăm hai mươi bảy thì vua Minh Mạng đã cho xây Thành lại bằng gạch. Chính tại Thành Cổ này, một cái thành rộng muời tám phẩy năm mươi sáu héc ta. Chu vi là hai ngàn một trăm sáu mươi mét. Thành cao bốn mét. Chân thành dầy mười ba phẩy năm mét. Đỉnh mặt thành rộng không mét phẩy bảy mươi hai …nằm trên địa bàn hai làng Cổ Vưu và Thạch Hãn. Vào năm một ngàn chín trăm bảy mươi hai thì quân đội của hai miền Nam Bắc Việt Nam đã đổ mồ hôi và máu suốt tám mươi mốt ngày đêm dưới bom đạn mà sức công phá và hủy diệt ngang với bảy quả bom nguyên tử đã ném xuống thành phố Hirosima của Nhật. Ngày đó chính quyền miền Nam đã huy động các quân binh chủng thiện chiến thuộc lực lượng tổng trừ bị như, Thuỷ Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Dù… để chiếm lại Thành… dù đã bị bom đạn san thành bình địa và chỉ còn sót lại một phần cổng thành phía Nam mà thôi. Chính quyền miền Nam muốn tái chiếm Thành Cổ chính ra là tái chiếm Quảng Trị để gây sức ép ngoại giao, chính trị, với nhà cầm quyền miền Bắc tại Hội nghị Paris. Đảng và nhà nước ta khi đó…

Chú tài xế bắt đầu nói về đảng và nhà nước… của chú, nhưng ông Hoành đã gắn cái headphone vào tai. Những điều chú tài xế nói ra ở đoạn sau đều là những điều không đúng với sự thật vì là những điều tuyên truyền cho chế độ. Ông Nguyễn Phú Trọng – bí danhTrọng Lú – đã rất có lý khi nói, chỉ những người miền Bắc mới giỏi lý luận, tức giỏi nói những điều điêu ngoa xảo trá lừa lọc mà không hề biết ngượng mồm ngượng miệng… quả không sai một chút nào cả.

Ông Hoành đang bị xúc động khi nhìn thấy lại Thành Cổ, nơi mà ông và các chiến hữu đã từng đổ mồ hôi và đổ máu để giáng cho bọn Việt Cộng một trận đến vang danh khắp hoàn cầu. Mặc dù cảnh vật nay đã thay đổi nhiều và đẹp hơn, nhưng cũng đã làm cho trái tim của ông đau thắt lên từng cơn. Ông xúc động khi nhớ về dĩ vãng, nhớ về những người bạn trong đơn vị đã cùng ông nắm chắc tay súng quyết gìn giữ từng tấc đất của tổ tiên… và đã hy sinh tại Cổ Thành này. Ông Hoành làm sao quên được kỷ niệm… vào một ngày hạ tuần tháng sáu năm một ngàn chín trăm bảy mươi hai, ông và các chiến hữu trong các quân binh chủng thuộc lực lượng tổng trừ bị đã khai hỏa mở màn cho một trận chiến đầy cam go với biết bao thân người gục ngã để quyết chiếm lại cho bằng được cái Thành Cổ này; lúc đó đang nằm trong tay quân Việt Cộng. Trận chiến đấu dai dẳng gần ba tháng trời và cuối cùng thì ngày mười lăm tháng chín năm một ngàn chín trăm bảy mươi hai,Thành Cổ đã được hoàn trả về lại cho dân quân miền Nam.

Ông bỏ mặc chú tài xế ngồi lại xe và lặng lẽ đi đến một góc tường thành, cách xa cổng tường phía Tây khoảng năm mươi mét rồi ông đứng thẳng người và lặng im. Ông đứng thẳng, hai tay buông thõng theo người như đang trong thế đứng nghiêm. Ông muốn đứng nghiêm trong giây lát để tưởng nhớ về những đồng đội đã hy sinh tại nơi đây. Rồi ông nói thầm một điều đã làm cho ông bị ray rứt bấy lâu nay khiến hôm nay ông phải về lại đây : “Chính tại ngay chỗ này mình đã không kịp vuốt mắt cho hai thằng bạn thân cùng tiểu đội vừa hy sinh khi mà chẳng còn bao xa nữa thì mục tiêu cuối cùng được giải quyết”.

Ngày đó Thành Cổ này đã đổ nát tan hoang. Tiếng bom nổ đến ù tai. Tiếng đạn bắn chát chúa đến nhức óc. Tiếng kêu cứu của các đồng đội bị thương làm đau thắt cả trái tim và, rồi thì tiếng reo hò mừng rỡ của toàn dân, toàn quân khi lá cờ quốc gia, lá cờ vàng ba sọc đỏ được tung bay trên cổng thành.

Hai mươi phút đã trôi qua rồi mà ông vẫn đứng lặng thinh như tượng gỗ vì ông như thấy lại được trận đánh ngày xa xưa đang đến thời điểm quyết chiến sinh tử. Nhưng, một việc thật bất ngờ đã làm cho ông phải rùng mình đến gai ốc nổi khắp người khi ông nghe thật rõ ràng tiếng người nói thì thầm bên tai ông:

– Xin ông giúp tôi. Xin người đồng đội cùng màu cờ cùng sắc áo hãy giúp đem tin của tôi về cho gia đình tôi.

Cùng với câu van xin đó, ông cũng nghe rõ ràng có nhiều tiếng chân đang bước đi về phía ông. Trong lúc ông đang dáo dác nhìn quanh để tìm nơi phát ra tiếng thì thầm và tiếng bước chân thì, cách chỗ ông đang đứng không xa, ông nhìn thấy một người đàn ông mà ông không biết đã từ đâu đến và đến tự lúc nào. Chỗ ông đang đứng là góc của tường thành với bãi cỏ rộng và hoàn toàn trống trải thì người vừa xuất hiện cũng đã làm cho ông bị hoang mang đến lạnh cả người. Khi ông đến đứng ở đây thì chỗ này hoàn toàn không có bóng dáng người nào cả, vậy mà… Ông Hoành khó đoán được tuổi của người đàn ông kia . “Có lẽ ông ta phụ trách dọn dẹp ở đây.” Ông nghĩ vậy vì ông thấy trên tay người đàn ông đang cầm cái chổi có cái cán thật dài. Điều làm cho ông ngạc nhiên và xen lẫn thích thú đó là “người quét dọn” đang mặc trên người bộ đồ rằn ri của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến và chân ông ta đang mang đôi giày Botte De Sault của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Bộ quân phục đã quá cũ và bị rách nhiều chỗ. Nhìn người đàn ông trong bộ quân phục ngày xưa mà ông đã từng khoác trên người suốt cả một thời trai trẻ đã làm cho ông xúc động. Ông bước đến bên người đàn ông quét dọn và hỏi chuyện:

– Ông… anh làm việc ở đây à?

– Không, tôi không làm việc ở đây nhưng tôi đã ở đây bốn mươi bốn năm rồi ông ạ.

– Bốn mươi bốn năm? Vậy là… vào năm một ngàn chín trăm bảy mươi hai… Lúc đó ở đây đang… Lúc đó ông anh bao nhiêu tuổi và làm sao mà ông anh ở đây được trong khi…

– Lúc đó tôi còn trẻ lắm nhưng tôi đã ở đây từ ngày mười ba tháng chín năm một chín bảy hai.

Ông Hoành kêu lên như thấy rõ sự vô lý:

– Ông anh có nhớ lầm không? Làm sao ông anh có thể ở đây vào ngày ấy được vì ngày ấy quân đội của chúng tôi, quân đội của miền Nam Việt Nam đang quần thảo với quân Việt Cộng tại ngay đây. Tôi… tôi không làm sao quên được hai ngày trọng đại đã xảy ra tại đây bởi vì hai ngày đó là hai ngày đã ghi lại trong ký ức của tôi những kỷ niệm của một thời mà những người lính Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi đã quyết tử để không cho mất một tấc đất nào của mảnh đất tự do này…

– Tôi không lầm đâu ông ạ. Ngày mà ông và những người lính Việt Nam Cộng Hoà sắp hoàn thành sứ mạng thì tôi…

Ông ta ngưng nói và buông rơi cây chổi nằm trên bãi cỏ rồi hai tay ông ôm mặt khóc nức nở. Ông khóc giọng khàn khàn nhưng da diết và thương cảm lẫn van xin:

– Ngày mà các ông sắp hoàn thành sứ mạng thì tôi nằm lại đây cho đến bây giờ. Bốn mươi bốn năm qua tôi đã ở tại chỗ này, tại ngay chỗ tôi đang đứng đây. Bốn mươi bốn năm qua tôi ở đây trong đói lạnh… với những người lính Việt Cộng… Nơi đây bây giờ chỉ còn duy nhất một mình tôi thôi ông ạ. Xin ông hãy giúp cho gia đình tôi biết tôi đang ở đây. Tôi đã ở đây quá lâu rồi nhưng gia  đình tôi không biết tin.

– Quê ông ở đâu, và ông muốn tôi làm gì cho ông?

– Quê tôi ở Cà-Mau. Tôi… tôi xin ông giúp đem bộ đồ tôi đang mặc đây và đôi giày tôi đang mang… về cho gia đình tôi là đủ. Kìa, những người bạn của tôi đến kìa.

Người đàn ông trong bộ quân phục Thủy Quân Lục Chiến cũ rách chỉ tay về phía xa cho ông Hoành thấy những người mà ông ta vừa reo lên vui mừng. Rồi liền sau đó ông ta lại ôm mặt khóc và lần này thì ông khóc rống lên. Người của ông co giật lên từng hồi chứng tỏ ông đau khổ lắm. Ông nói tiếp:

– Những người bạn của tôi vẫn thường đến đây thăm tôi vào những đêm có trăng sáng như đêm nay, nhưng rồi sau đó họ lại được ra về mà tôi thì không.

– Ông nói sao? Những người đó vẫn thường đến đây vào những đêm có trăng à? Vậy họ là người hay là…

– Chúng tôi là những người bất tử. Chúng tôi không bao giờ chết. Chúng tôi luôn sống trong tim của đồng bào miền Nam, và, cả những đồng bào miền Bắc không cộng sản nữa. Chúng tôi vĩnh viễn ở lại với quê hương mặc dù nhà cầm quyền này vẫn trả thù chúng tôi bằng những trò man rợ không đúng với truyền thống của người Việt Nam.

Ông Hoành nhìn những người bạn của “người quét dọn”. Tất cả họ cũng khoác trên người những bộ quân phục rằn ri, mà, một số thì đang ngồi bệt xuống trên những đống gạch đổ nát. Một số thì ngồi ngất ngưởng trên các bờ tường bị loang lỗ những dấu đạn. Thỉnh thoảng họ nói chuyện thì thào với nhau nhưng tất cả đều quay nhìn về hướng ông Hoành và “người quét dọn.”

Ông Hoành cảm thấy như có một điều gì đó rất không bình thường. Mặt trời thì đã khuất. Những ngọn đèn thì không đủ chiếu sáng. Thế nhưng ông vẫn nhìn thấy rõ mồn một những bộ sắc phục mà ông yêu thương đã được những người đó khoác trên người và, tất cả họ đều còn rất trẻ. Những gương mặt thật hiền hậu và thật buồn của những người đó như lờ mờ, như phảng phất khí thiêng ít nhiều quanh đây. Ông Hoành không tin vào đôi con mắt của mình nên ông đưa cả hai tay lên dụi mắt nhiều lần để nhìn cho rõ hơn. Bây giờ thì những người đó đứng lên rồi từ từ quay lưng đi, đi mất hút như thể họ đi vào khoảng không. Ông tin đó là những người lính Việt Nam Cộng Hòa năm xưa từng tham dự  trận đánh tại đây đã hiện về cho ông thấy. Ông may mắn được thấy lại những người lính trẻ một thời đã hy sinh cho miền Nam được tự do là vì ông đã quá mang nặng nỗi đau đớn bị mất quê hương, mất người thân yêu ruột thịt và mất bạn bè. Ông không nhìn những hình ảnh đã và đang diễn ra dưới góc độ mê tín, nhưng, chắc chắn đó là vấn đề của tâm linh. Chắc chắn đó là những chiến hữu của ông đã nằm xuống tại Cổ Thành này. Nếu họ không phải là những người lính trong bộ quân phục của quân đội Việt Nam Cộng Hòa thì họ là ai? Đúng như “người quét dọn” đã nói: “Chúng tôi là những người bất tử. Chúng tôi là những người không bao giờ chết… trong trái tim của đồng bào miền Nam và, cả với đồng bào miền Bắc không cộng sản”. Ông Hoành nhìn quanh để tìm người đã đứng nói chuyện với ông và còn cầu xin đem ông đem bộ đồ và đôi giầy của ông về cho gia đình. Nhưng, ông ta đã biến đi đâu từ lúc nào mà ông Hoành không hay biết gì cả.

Không thể tin, mà tin làm sao được chuyện kỳ lạ như thế này khi người đàn ông trong bộ quân phục Thủy Quân Lục Chiến cũ rách với cây chổi có cán dài đã không còn ở đây nữa… mà chỉ có chú tài xế đã đến đứng bên ông tự lúc nào. Ông liền đưa tay chỉ về hướng phía xa đồng thời ông nhìn ngay mặt chú tài xế và hỏi:

– Chú… chú có thấy những người lính ngồi phía xa kia bỏ đi đâu không chú?

Chú tài xế hoảng sợ đến trợn trừng đôi con mắt lên:

– Trời ơi. Chẳng lẽ ông… chẳng lẽ ông cũng thấy…

– Chú em bình tĩnh. Rõ ràng là tôi thấy những người lính…

– Ông ơi, trong nhiều năm liên tiếp người ở đây vẫn thường nhìn thấy quân đội của cả hai miền đêm đêm hiện về đi loanh quanh trong Thành Cổ và gào khóc vang dội khắp trời. Nhưng, kể từ khi nhà cầm quyền cho trùng tu lại Thành Cổ và đưa được rất nhiều những bộ hài cốt về Bắc thì từ đó cảnh rùng rợn ở đây cũng giảm bớt rất nhiều. Chẳng lẽ ông cũng vừa thấy những oan hồn của những người lính… sao ông?

Ông Hoành nhìn xuống chỗ đang đứng rồi nói như xác nhận:

– Chắc chắc tại ngay chỗ này còn xác một người lính Thủy Quân Lục Chiến miền Nam nằm dưới đó. Người lính đó vừa nói chuyện với tôi…

Chú tài xế đã thật sự sợ hãi vì hai tay của chú run lên bần bật như đang bị lạnh. Chú sợ luôn cả ông Hoành nên quay người toan bỏ chạy. Nhưng nghĩ sao đó chú lại nắm chặt cánh tay ông Hoành và lôi đi thật nhanh. Vừa đi như chạy chú vừa nói giọng lắp bắp cho ông yên tâm:

– Trời tối… rồi ông ơi. Ngày mai… ngày mai cháu… cháu sẽ lại đưa ông… đến đây… nữa.

Ông Hoành bước đi theo người tài xế nhưng ông vẫn cố ngoái đầu nhìn lại nơi đã thấy những người lính đứng ngồi trên đống gạch và trên bức tường thành loang lỗ dấu đạn. Gương mặt ông lộ vẻ ưu tư trầm lặng chứ không sợ hãi.

Tuy chỉ đi nhanh hơn bình thường một chút thôi vậy mà chú tài xế lại thở hổn hển làm như thể đã chạy một quãng đường thật xa. Chú tài xế lịch sự mở cửa cho ông bước lên nhưng, ngay khi cánh cửa vừa mở ra chú liền rống lên thất thanh và giọng nói biến đổi vì quá sợ:

– Bộ đồ này của ai? Sao lại… trời ơi.

Ông Hoành chụp lấy bộ đồ thật nhanh và đưa ra chỗ có ánh sáng. Đây là bộ đồ lính quen thuộc mà ông từng khoác trên người trong nhiều năm thời chiến tranh xâm lăng từ miền Bắc. Bộ đồ lính cũ và rách. Bộ đồ lính mà “người dọn dẹp” mặc trên người.Trong nỗi kinh hoàng và xen lẫn xúc động, ông áp bộ đồ lính vào ngực. Nhưng, ngay khi đó chú tài xế lại thất thanh la lớn hơn:

– Còn đôi giày này… nữa…ông ơi.

Ông Hoành đưa cánh tay đang run vịn vào vai chú tài xế và nói như khẩn nài:

– Tôi xin chú. Xin chú hãy bình tĩnh. Xin chú đừng la toáng lên như vậy. Để tôi… Ông Hoành lục tìm trong hai túi áo của bộ đồ lính và lấy từ trong một cái túi áo ra một mảnh giấy nhỏ. Mảnh giấy còn mới và trắng tinh. Mảnh giấy ghi tên tuổi, số quân của “người quét dọn”, và địa chỉ nhà thật rõ ràng ở một nơi nào đó mãi tận Cà-Mau. Một địa danh mà thời ông có nhiệm vụ gìn giữ quê hương miền Nam thân yêu ông cũng đã từng đi qua đó rất nhiều lần.

Ông ôm bộ đồ lính và đôi giày vào ngực rồi ngước mặt nhìn lên trời cao và ông nói trong khi hai dòng nước mắt cứ chảy tràn ra ướt hết cả mặt ông:

– Ông ơi, xin ông cứ yên tâm và an nghỉ bình an. Sáng sớm ngày mai tôi sẽ thực hành ngay những gì mà ông đã nhờ tôi. Xin ông hãy an tâm và yên nghỉ bình an. Ông nhé.

Ông Hoành nói với chú tài xế đang ngây người ra nhìn ông sững sờ như người không còn hồn vía:

– Ngày mai đúng năm giờ sáng chú đưa tôi đi Cà-Mau, chú nhé.

Chiếc xe đã chạy xa khỏi Thành Cổ Quảng Trị nhưng ông Hoành vẫn cố quay đầu nhìn lại Thành Cổ. Cái Cổ Thành mà ông đã may mắn được chứng kiến sự linh thiêng của một con người – những con người bất tử – Tối nay ông thấy cái Thành Cổ này mang đầy vẻ huyền ảo, lung linh, vì nơi đây đã chôn vùi biết bao sinh mạng của những người cùng một dòng máu và cùng một ngôn ngữ, mà chỉ vì một con người dâm đãng và xảo trá đã du nhập vào quê hương một chủ nghĩa hoang tưởng và man rợ nên đã gieo biết bao tai họa đến cho dân tộc Việt mà chưa biết đến khi nào ánh sáng hạnh phúc và tự do thật sự mới chiếu sáng đến cho đồng bào khắp cả ba miền./.

ToPa ( Hòa Lan )

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

3 Trackbacks / Pingbacks

  1. Bất Tử – biển xưa
  2. Bất Tử | dòng sông cũ
  3. Mùa Xuân cho những người lính cũ: ‘Anh không chết đâu Anh’ trong lòng một Việt Nam tự do, dân chủ – Bến cũ

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: