Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

TRẦN NHẬT KIM – VÙNG LẦY NƯỚC MẮT

Bìa

Họa phẩm       :           Ngóng Trông

Họa sĩ             :           Nguyễn Cao Nguyên

Trình bày        :           Trần Nhật Minh

Copyright @ 2000 by Tran Nhat Kim

                                    Để kính dâng hương hồn Mẹ tôi.

                                    Tặng Thu,

                                    Người vợ đã vạn nẻo tìm chồng.

                                    Để kính tặng các bà mẹ,

                                    những người vợ

                                    đã một thời yêu thương

                                    và những năm tháng tủi hờn

VÙNG LẦY NƯỚC MẮT

_____________________________________________________

                                                Xin chân thành cảm tạ quý thân hữu

                                                đã cho phép tôi ghi lại câu truyện và

                                                được giữ tên thật của quý vị

                                                                                    Tác giả

Tựa

            Cách đây hơn một năm anh Trần-Nhật-Kim đã ra mắt tác phẩm “Cuộc chiến chưa tàn”, mô tả lại những bước đường gian truân trong cuộc đời cải tạo.  Năm nay tác giả lại trình diện tác phẩm thứ hai “Vùng lầy nước mắt” để tiếp nối văn phẩm thứ nhất về một vài khía cạnh cần bổ túc.  Sự tách rời một thể chuyện thành hai pho sách nằm trong dụng ý của tác giả nhằm xây dựng cho mỗi tác phẩm một sắc thái riêng biệt, thích hợp với bản chất của những nhân vật giới thiệu trong nội dung câu chuyện.  Anh Trần-Nhật-Kim muốn “Cuộc chiến chưa tàn” phải bao hàm một ý tưởng chủ động và một tinh thần bất khuất trước nghịch cảnh, vì đây là áng văn nói lên dũng khí của những con người không chịu khuất phục trước bạo quyền.  Trong “Vùng lầy nước mắt”, trái lại, tác giả chỉ muốn đó là một sự than thở ngậm ngùi có tác dụng gợi lên tối đa thương cảm trong tâm tư người đọc.

            Anh Trần-Nhật-Kim hoàn thành tác phẩm thứ hai để “kính dâng hương hồn Mẹ”, để tặng Thu “người vợ đã vạn nẻo tìm chồng” và để kính tặng các bà mẹ cũng như những người vợ Việt Nam khác đã có “một thời thương yêu và những năm tháng tủi hờn”.  Trong cuốn tự truyện này vì viết thay cho vợ nên anh đã xử dụng một văn phong mượt mà óng ả.  Từ dòng đầu đến dòng cuối, độc giả sẽ chỉ thấy toàn là những phản ứng chịu đựng, những sự cam phận trước bạo lực, những oan ức tạo thương cảm ngập trời và bất bình cùng cực.  Suối văn của anh tuy giản dị, độ lượng, tha thứ nhưng lúc nào cũng mang một tinh thần sắc bén và nghiêm túc.

            Ðọc “Vùng lầy nước mắt” độc giả sẽ sống lại những biến động kinh hoàng trong xã hội miền Nam sau ngày 30 tháng Tư đen tối.  Từ lúc gót chân người cộng sản đặt xuống phần đất này của tổ quốc, mọi việc đã hoàn toàn đảo lộn và nhanh chóng đổi thay theo chiều hướng đi xuống chứ không đi lên như nhiều người đã một thời kỳ vọng.  Dù không phải là cuộc tắm máu như một số báo chí Tây Phương suy luận và trù liệu, nhưng bàn tay tội ác của cộng sản đã để lại một hậu quả vô cùng trầm trọng mà thời gian sẽ không thể nào gột rửa.  Tất cả những biến động kinh hoàng đó đã được anh Trần-Nhật-Kim ghi lại một cách tương đối đầy đủ và diễn tả bằng một văn phong nhẹ nhàng nhưng vô cùng thấm thía.

            Lần theo những trang sách của tác giả, những người không sống những ngày tăm tối sau 30 tháng Tư  1975 sẽ thấy hiện ra trong trí óc một cảnh tượng ghê hồn:  đoàn quân xâm lăng nghèo đói của Hà Nội khi chiếm được vùng đất giầu có miền Nam, đã tổ chức ngay một cuộc ăn cuớp đại quy mô.  Một cuộc ăn cướp tàn nhẫn, vô nhân đạo mà nạn nhân là nửa phần dân tộc.  Chế độ cộng sản đã cướp đi của người dân miền Nam không chỉ của cải mà còn cả vợ con họ, không chỉ tín ngưỡng, tư tuởng và tình cảm mà còn cả tự do là thứ tài sản mà họ trân quý nhất.

            Ðể âm mưu cướp của giết người này có thể thực hiện xuông sẻ, Hà Nội đã tiến hành một thủ thuật lừa đảo để lùa tất cả những người được chế độ gán cho danh hiệu ngụy quân, ngụy quyền vào các trại tù “cải tạo” mà không đếm xỉa gì đến hậu quả tai hại của việc làm thất nhân tâm này.

            Hậu quả trước mắt là cả triệu người miền Nam đã bỏ nước ra đi.  Họ liều chết vượt đại dương trên những con thuyền mong manh nhỏ bé để khỏi phải sống với những con người gian trá, những con người đã mất hết tính người.  Trên bước đường phiêu lưu mạo hiểm hàng trăm ngàn người đã chui vào bụng cá hoặc làm mồi cho hải tặc.  Không những bản thân ho bịï thiệt thòi vì không bao giờ được cập bến tự do, mà cái chết của họ còn để lại trong tâm hồn những thân nhân sống sót một vết thương không bao giờ hàn gắn.  Tổ quốc tuy đã được thống nhất về mặt lãnh thổ, nhưng nhát chém chia cắt dân tộc vẫn còn di lụy đến ngày nay.

            Hậu quả thứ hai là không biết bao nhiêu người của chế độ VNCH đã bị chết oan uổng và gia đình họ đã bị tan nát bởi cái chính sách “cải tạo” thâm độc của Hà Nội.  Cũng may đạo lý và truyền thống cao đẹp của dân tộc đã trang bị cho một số lớn phụ nữ Việt Nam sức chịu đựng và lòng hy sinh dũng cảm để cứu nguy chồng con trong cảnh bị đọa đầy cơ cực.  Lịch sử sẽ mãi mãi ghi lại đức hy sinh cao đẹp này như một nét son và một sự hãnh diện cho giống nòi.

            “Vùng lầy nước mắt” là một bản cáo trạng lên án sự tàn ác của chế độ cộng sản hiện nay, một bản cáo trạng được viết lên để đọc trước tòa án của lương tâm nhân loại.  Trong bản cáo trạng này phần luận tội không phải là những đoạn văn hằn học, lên án khắt khe, mà là một áng văn chương hiền hòa nhưng vô cùng thấm thía.  Ðó là nội dung của tác phẩm và nét đặc biệt của văn phong Trần-Nhật-Kim mà chúng tôi bàn đến trong lời tựa để giới thiệu “Vùng lầy nước mắt” cùng độc giả bốn phương.

                                                                            Nguyễn-Cao-Quyền

                                                                         Ngày 10 tháng 9 năm 1999

1             Khung cảnh đường phố thật nhộn nhịp.  Với nét mặt hoảng hốt, mọi người lũ lượt đang tìm đường di tản.  Thu phân vân nhìn người thân trong gia đình.  Hai cô em nàng đang cố may xong những túi vải đeo vai, như lời khuyên của nhiều người, hành trang phải nhẹ nhàng, với hy vọng được đón đi ở một địa điểm nào đó.  Thu càng lo sợ khi nghe nguồn tin từ các tỉnh miền Trung đổ về, nhiều cuộc thảm sát đẫm máu, đối với người dân hay quân cán miền Nam, do bộ đội cộng-sản miền Bắc gây ra trên đường tiến quân của họ.

            Nàng không biết phải làm gì lúc này.  Cha mẹ chồng và mẹ nàng đã cao tuổi, đàn con nàng còn nhỏ dại.  Giờ này chồng nàng vẫn chưa về.  Lệnh giới nghiêm ban hành từ nhiều ngày, buộc quân cán chính phải có mặt ở nhiệm sở 24/24 để bảo vệ và sẵn sàng chiến đấu.

            Tiếng súng nổ mỗi lúc một gần, trận chiến như sát một bên.  Phi trường Tân-sơn-Nhất nhộn nhịp hơn những ngày trước.  Phi cơ quân sự thực hiện các phi vụ yểm trợ lên xuống không ngừng, các chuyến bay dân sự cũng gia tăng.  Người miền Nam hối hả rời bỏ quê hương đang tràn đầy lửa đạn.

            Âm vang những thảm cảnh tại miền Trung vào thời gian vừa qua lại một lần tái diễn.  Từ  Huế đến Ðà-nẵng đau thương, rồi Liên tỉnh lộ 7 nhuốm đầy tang tóc.  Người ta kinh hoàng nghĩ đến một cuộc tắm máu nhuộm đỏ thành phố này, mà hàng trăm ngàn người sẽ gục ngã vì quyết tâm bảo vệ mảnh đất tự-do miền Nam.

            Sài-gon đang lên cơn sốt.  Tin chiến sự dồn dập với những tổn thất của trận chiến càng làm người dân hoang mang.  Hai trái CBU đã hủy diệt hàng Trung đoàn bộ đội chính quy cộng-sản miền Bắc tại Long-khánh, nhưng vẫn không cản được bước tiến cuồng vọng xâm lăng.  Vùng phụ cận phi trường Tân-sơn-nhất, cũng không tránh khỏi thiệt hại nặng nề về vật chất và sinh mạng do đạn pháo của bộ đội miền Bắc gây ra.

            Từng đoàn người già trẻ lớn bé, nhất là thành phần dân chúng từ các tỉnh chạy về đây, vì địa phương của họ bị lực lượng cộng-sản miền Bắc đánh phá.  Bằng mọi phương tiện, đang bồng bế dắt díu nhau chạy về phía phi cảng mong tìm được một chỗ để đến nơi an toàn.  Và khi chiếc vận tải cơ C-119 vừa cất cánh khỏi phi đạo, trong đó có hàng trăm người dân di tản, nổ tung vì hứng trọn những trái đạn của “quân đội giải phóng”.  Thu nhìn rõ một bên cánh máy bay bứt ra khỏi thân tầu, xoay tròn nhiều vòng trước khi rơi xuống đất.  Ðạn pháo của bộ đội miền Bắc hướng vào phi trường Tân-sơn-nhất, đã làm tê liệt các phi đạo.

            Quá tuyệt vọng về phương tiện hàng không, dân chúng đọng lại ở phi cảng lại chạy ra phía bờ sông, từ bến Tân Thuận đến Bạch Ðằng, kho 5 Khánh Hội đông nghẹt nguời.  Họ hy vọng được tầu Hải quân hay các phương tiện đường biển giúp họ di tản.  Người ta chen lấn nhau xuống tầu, để lại trên bờ những chiếc xe Honda, vespa đến các chiếc xe hơi dù còn mới, kèm theo chìa khóa với lời đề tặng cho người ở lại.  Tại các tỉnh, bất kể hiểm nguy, người dân đổ xô tới các vùng biển tìm cách ra khơi.

            Ông Vũ-văn-Mẫu, vị Thủ tướng của chính phủ Dương-văn-Minh vừa thành lập, lên tiếng yêu cầu người Mỹ rút khỏi miền Nam trong vòng 24 giờ, để người Việt giải quyết vấn đề nội bộ.  Ông hy vọng một cuộc đối thoại giữa những người anh em cùng huyết thống có thể ngồi lại để thực hiện việc hòa giải hòa hợp.  Nhưng đó chỉ là một giấc mơ của nhóm ông, vì người cộng-sản miền Bắc quyết không buông tha miếng mồi béo bở miền Nam đã kề bên miệng.  Những phi cơ trực thăng từ hạm đội 7 vần vũ trên không phận Sài-gon, yểm trợ cuộc di tản kiều dân Mỹ ra khỏi thành phố.  Và khi ông Dương-văn-Minh, vị Tổng thống cuối cùng lên tiếng đầu hàng, thì nguời dân miền Nam tự hiểu đã đi vào một khúc quanh lịch sử.  Phải cay đắng chấp nhận thua cuộc, và phẫn uất phải sống chung với cộng sản.

            Những đơn vị quân đội miền Nam vẫn tiếp tục chiến đấu đến giờ phút chót.  Nhiều chiến binh đã anh dũng tự sát, vì không chấp nhận đầu hàng chế độ bạo tàn cộng sản.  Khắp các nẻo đường, đủ loại quân phục quân trang vất bừa bãi.  Họ uất hận giã từ trận chiến.  Một cuộc chiến mà kẻ bị buộc bại trận vẫn còn hăng say chiến đấu, trong khi kẻ mang danh chiến thắng lại ngỡ ngàng trước thành quả  trong tay.

            Sau khi chiếm trọn miền Nam, nhà nước đẩy mạnh hoạt động khống chế về tư tưởng.  Dân chúng được đoàn ngũ hóa theo lớp tuổi.  Ðám trẻ nhỏ trở thành “cháu ngoan bác Hồ”, làm chỉ điểm cho đội cho đoàn những hành động của thân nhân trong gia đình hay mọi người xung quanh.  Các buổi họp Tổ được tổ chức hàng đêm, dưới con mắt quan sát của công-an khu vực.  Mọi sự di chuyển từ nơi này đến nơi khác phải được chính quyền địa phương cho phép.  Ðời sống riêng tư của người miền Nam bị đám công-an nhà nước theo rõi gắt gao.

            Ðảng và nhà nước áp dụng tại miền Nam chính sách đã thực hiện cho miền Bắc trong mấy thập niên.  Một chính sách đã làm dân chúng miền Bắc điêu đứng, đói khổ và chậm tiến.  Cuộc sống chung hòa bình của một dân tộc đã bị “Ðảng và Nhà nước” lèo lái trở nên chia rẽ.   Người dân căm phẫn trước chính sách tàn bạo của chế độ.

            Nhà nước đẩy các gia đình có thân nhân “cải tạo” ra ngoài lề xã hội, khiến người dân không còn ý tưởng hợp tác với chính quyền.  Thành phần thanh niên đã đứng dậy làm lịch sử cứu nước.  Từ thành thị đến thôn quê, thanh thiếu niên đã liên kết thành lực lượng chống phá chế độ cộng-sản.  Nhà nước mạnh tay đàn áp, tình trạng an-ninh trở lên bất ổn, khiến đời sống người dân ngày càng nghẹt thở hơn.

            Thu bàng hoàng trước cảnh nhà tan cửa nát.  Chồng vợ mỗi người một nơi, cha con mỗi người mỗi nẻo.  Nàng phải thay chồng làm cha, nuôi dậy đàn con thơ dại trong một xã hội đổi thay bất chợt.  Dưới chế độ mang nặng hận thù, nàng phải nhẫn nhục chịu đựng trước những sự dè bỉu, khinh miệt vì là vợ con “Ngụy”.

                                                                        *

                                                                                                                                                                                     2.

            Sau ngày 30/4, miền Nam đã đổi đời.  Của cải xây dựng bằng mồ hôi nước mắt cũng không còn là của riêng  nữa.  Ðời sống kinh-tế ngày càng khó khăn, vì vậy Ti-vi, tủ lạnh thi nhau chạy ra ngoài đường.  Sinh hoạt năng động của thành phố này bỗng chốc ngưng đọng, Sài-gon như một thành phố chết từ vật chất đến tinh thần.  Người dân miền Nam vốn sống phóng khoáng, muốn làm là làm, muốn nói là nói như trước kia, đã trở thành bải hoải câm nín trước bạo lực cách mạng.

            Thực chua xót cho sự đầu hàng, phải chấp nhận sự trả thù mà không do giai cấp đấu tranh.  Hậu quả thật kinh hoàng là phá vỡ nền tảng gia đình, truyền thống văn hóa của người miền Nam.  Hướng dẫn thế hệ trẻ trở thành công cụ cho sách lược vô nhân đạo.  Nỗi đau của người miền Nam là nhìn thấy sự mất  mát của mình.                                                                                                                               2(Chợ Trời Saigon sau ngày 30-4-1975)

            Sau ngày chồng nàng bị đám công-an đến nhà bắt đi “cải tạo”, gia đình Thu như thiếu một cái gì, chẳng khác nào căn nhà không có nóc.  Nàng cảm thấy lo sợ truớc một cuộc sống hoàn toàn thay đổi.  Từ sáng đến tối, nàng phải hòa mình với đám người cùng cảnh ngộ để mưu tìm sự sống.

            Theo các bạn, Thu dành được một chỗ bán tại cây săng Trương-minh-Giảng, giờ đây đã trở thành khu chợ trời bỏ túi.  Thay vì bán đồ dùng tại nhà cho các mối tới mua như  lúc đầu, nàng mang ra bán tại khu chợ trời này với giá cao hơn.

            Sau khi bán hết đồ dùng trong nhà, Thu đi mua hàng về bán lấy lời.  Với chiếc xe đạp là phương tiện duy nhất, nàng đi khắp hang cùng ngõ hẻm, gặp ai cũng hỏi xem họ có đồ dùng gì cần bán.  Nàng như một người đi câu, không hứa hẹn nơi nào có cá.  Thu mua từ chiếc radio, quạt máy để bàn đến chén đĩa bát ăn.  Bất cứ món hàng nào cũng có khách  từ miền Bắc vào mua.  Sài-gon biến thành một chợ trời.  Người dân đã sống một cuộc sống thật, không còn “phồn vinh giả tạo.”   Dần dần những mặt hàng trở lên khó kiếm, vì số người buôn bán như nàng ngày một tăng. Thu chuyển qua mua các mặt hàng lớn, nặng nề hơn nhưng tiền lời cũng khá hơn trước.

            Từ sáng đến tối dầm mưa dãi nắng, ăn không ra bữa ngủ chẳng đủ giờ, Thu không thể chống cự được sự mệt mỏi.  Càng đi sâu vào nghề nàng càng gặp nhiều khó khăn.  Bản chất nàng quá ngay thẳng, không khôn lanh bằng người.  Nàng cũng không thể điêu ngoa dành dật khi mua bán, không kể những người theo đuổi tán tỉnh dụ dỗ, có thể biến đổi cuộc sống của nàng vốn thiếu thốn bấp bênh.

            Mỗi tối, sau bữa cơm chưa kịp nghỉ ngơi, Thu lại phải có mặt trong buổi họp tổ dân phố, để nghe những lời dè bỉu khinh miệt “chế độ Ngụy quyền miền Nam”, và thành phần chống chế độ trong đó có chồng nàng.  Người ta đã nêu cao khẩu hiệu “lá lành đùm lá rách” để kêu gọi tương trợ đóng góp.  Nàng luôn luôn được nhắc nhở phải năng nổ trong công tác xã-hội, vì thuộc diện có chồng đi “học tập cải tạo”.  Bằng đường lối ngoài miệng thì tự nguyện tự giác, nhưng luôn luôn bị đám công an khu vực hối thúc ép buộc.  Vì vậy người dân đã “hoan hỷ đóng góp” công và của để nhà nước thực hiện việc quản lý.

            Nhìn các con, Thu rất thương chúng.  Nàng mong có một cuộc sống tạm ổn định để có nhiều thì giờ lo cho các con.  Hình ảnh một đứa trẻ bị bắn gục vì hành động cướp giật, và nhiều tội danh không được ghi nhận rõ rệt luôn ám ảnh nàng.

            Vào giờ phút suy sụp của miền Nam, Thu vẫn lo sợ cho số phận chồng nàng. Có thể là một cuộc tắm máu như đã từng xẩy ra, vì là đối tượng thù địch của một hành động Nam tiến được mệnh danh thống nhất đất nước.

            Thu cũng như phần đông những gia đình miền Nam, cố bám víu vào những lời hứa hẹn của Ðảng, vào tinh thần những bản thông cáo “khoan hồng” của nhà nước để trấn an phần nào nỗi lo sợ của mình.

            Trong khi đó nhà nước lại đưa ra lời đe dọa “đi học tập cải tạo vì có nợ máu với nhân dân”.  Thu không phân định được ý nghĩa của câu nói này.  Có phải vì bảo vệ mảnh đất tự-do mà họ đang sống là có tội với đồng bào họ

            Mối lo sợ của nàng càng gia tăng khi gặp lại thân nhân miền Bắc vào thăm, Thu mới biết  đời sống tăm tối mà họ đã trải qua trong mấy thập niên.  Không phải là một đời sống hoa mộng mà nhà nước đã mang tới cho họ, như từng tuyên truyền khi đánh chiếm miền Nam.  Vì ảnh hưởng của câu nói “tam cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) đã tạo cho dân chúng miền Bắc thói quen “ba không” (không biết, không nghe, không thấy) .  Họ không thể tin ai, mặc dù ngay cả với thân nhân quyến thuộc.

            Theo chính sách của xã hội mới, lớp trẻ được đoàn ngũ hóa, được giao phó công tác, chúng mong có  chiếc khăn quàng đỏ, là cháu ngoan “Bác Hồ”.  “Bác” đã nhìn thấy sức mạnh của tuổi trẻ.  Ðầu óc trong sáng ngây thơ của chúng, với chính sách “trăm năm trồng người”, chúng sẽ dễ dàng trở thành mẫu người đúng với tham vọng vủa “Bác”.  “Bác” muốn xử dụng chúng như  những mũi nhọn công phá nền tảng gắn bó gia đình.

             Thu lo sợ sinh hoạt xã hội mới sẽ ảnh hưởng tới tương lai các con.  Nàng không muốn chúng trở thành những công cụ vô hồn, mà chính sách trồng người sẽ khuyến dụ chúng rời khỏi gia đình.  Nàng hy vọng khi gần gũi với các con nhiều hơn, sẽ giúp chúng tránh được phần nào những điều tệ hại xẩy tới.  Nàng quyết định nghỉ bán chợ trời.

            Thu làm đơn xin dậy học, dù số gạo cấp phát hàng tháng của một giáo chức không đủ cho gia đình nàng vì giá sinh hoạt ngày càng đắt đỏ.  Nhưng dù sao cũng tránh được phần nào khó khăn do chính sách hộ khẩu gây ra cho mọi gia đình.  Vì ngay sau khi chiếm được miền Nam, nhà nước xử dụng đường lối cấp phát gạo theo hộ khẩu, với hy vọng nắm chặt đời sống mọi người trong thành phố.  Ðồng thời đẩy thành phần dân chúng ở các tỉnh chạy về đây, tới các vùng kinh tế mới để dễ bề kiểm soát.

            Khi tới văn-phòng giáo dục, Thu gặp một cán bộ từ miền Bắc vào.  Nàng phải trả lời nhiều câu hỏi thuộc về lý lịch.  Hắn cho hay khả năng văn hóa của nàng đáp ứng được nhu cầu ngành giáo dục hiện giờ, nhưng thuộc diện có chồng đi “cải tạo”, việc thâu nhận sẽ được thông báo sau.  Hắn yêu cầu nàng tham dự mấy buổi sinh hoạt nhân ngày “nhà giáo yêu nước”, để hiểu đường lối giáo dục của chế độ mới.

            Ðến ngày hội thảo, một số giáo chức được chỉ định thuyết trình về môn học mình phụ trách, phải nêu ra ưu khuyết điểm và đường lối giảng dậy.  Phần quan trọng vẫn là phần chính trị do cán bộ trưởng ban phụ trách.  Thu có cảm tưởng mình đang nghe một bài tuyên truyền về “ba giòng thác cách mạng, chủ nghĩa Mác-lê bách thắng” như là khuôn vàng thước ngọc phải noi theo, bài xích văn hóa miền Nam là đồi trụy.

            Thu đã chứng kiến thời gian sau ngày 30/4, từng toán học sinh được khích động để làm công tác tịch thu sản phẩm văn hóa miền Nam.  Nàng đau xót nhìn tủ sách mà nàng nâng niu, gìn giữ từ nhiều năm phút chốc trở thành thứ đồ bỏ.  Nó không phải chỉ là kỷ niệm của thời đi học, mà bao gồm các tác phẩm văn chương, văn học của dân tộc Việt Nam.   Họ không biết tới giá trị những bộ sách này mà gọi chung là văn hóa nô dịch.

            Ðến âm nhạc cũng chung số phận với sách báo.  Nhạc miền Nam được mang tên mới, “nhạc vàng”.  Cả thành phố chỉ có một loại nhạc cách mạng đầy mầu sắc tử chiến, được mang danh là “nhạc đỏ”.  Người miền Nam nghe mãi thứ nhạc mới này rồi cũng chán, vì nó không đáp ứng được thói quen của một dân tộc nặng về tình cảm.  Họ không thể chấp nhận được thứ nhạc mang âm hưởng nhuốm đầy máu lửa.  Nhà nước đã dùng lời êm dịu hơn, bóng chim bồ câu hòa bình được đưa ra như một biểu tượng, nhưng không hiểu sao vẫn để lộ ý tưởng hận thù.

            Thời gian trôi qua, “nhạc đỏ” quả không phải là món ăn tinh thần của dân chúng.  Những cán bộ trẻ miền Bắc vào Nam đã nhận ra sự khác biệt giữa hai giòng âm nhạc, và hiểu rõ loại nào thích hợp với tình cảm của họ.  Chính họ cũng chán nghe loại “nhạc đỏ”, vì bản nào cũng cho người nghe cảm giác giống nhạc Trung-hoa, không tìm thấy chút nào tình tự quê hương dân tộc.

            Trên bục giảng, người cán bộ đang nhắc lại những điều mà Thu đã nghe nhiều lần.  Nàng tự hỏi, với đường lối giảng dậy theo chính sách như vừa thuyết trình, liệu con em hấp thụ được những gì làm hành trang cho hành trình của cuộc đời chúng sau này.  Hay những giáo điều lỗi thời kia sẽ ảnh hưởng, kìm hãm sự suy tư trong sáng tự nhiên của tuổi trẻ vô tư.  Chúng sẽ khó khăn tiếp nhận những tiến bộ đang trên đà phát triển cực nhanh của thế giới văn minh.  Thu thấy các nhà giáo miền Nam ngơ ngác trước đường lối giáo dục mới, mà nàng hiểu rằng, khi giảng dậy chỉ còn là một cái máy nói ra những điều ghi sẵn.

            Thu thấy khó chấp nhận được lối giáo dục này, vì nó khác với đường lối giáo dục tại miền Nam, vốn đặt nặng về mặt giúp con người phát triển theo khả năng.  Chế độ cộng sản đã nhắm vào giai cấp công nông làm nòng cốt cho cuộc cách mạng, thành phần vốn yếu kém về vật chất lẫn sự hiểu biết, dễ tin lời tuyên truyền có kỹ thuật của cộng-sản.

            Thu  không ngạc nhiên khi nhận được lời từ chối của cơ quan giáo dục địa phương.  Nàng chỉ là một trong hàng triệu gia đình có thân nhân đi “học tập cải tạo”.  Chế độ mới đã đẩy họ ra ngoài lề xã hội khi từ chối cho họ công ăn việc làm.  Thử hỏi làm sao có sự hợp tác thực lòng giữa nhân dân và chính quyền.  Một số gia đình miền Nam đã bừng tỉnh khỏi “thiên đường mộng tưởng”.  Họ cảm thấy bị phản bội vì nuôi ong tay áo, đã từng đóng góp cả người lẫn của cho cuộc cách mạng trên danh nghĩa chống ngoại xâm.

            Thu cố tìm một việc gì hợp với khả năng sức khỏe của mình, cũng không mong công việc tương ứng với trình độ học vấn.  Nàng đến xin làm cho công ty hóa chất thành phố, một chân nửa thư ký nửa công nhân.  Thời gian làm việc nhất định tám tiếng một ngày.  Bắt đầu công việc là phối hợp với một số thanh niên đi kiểm tra các kho hàng trong thành phố.  Trên danh nghĩa kiểm tra số lượng hàng hóa trong kho, nhưng mục đích vẫn       là kiểm soát truớc khi quản lý tài sản.   Giai đoạn làm tạm đã qua, trước khi biên chế để được thâu nhận là nhân viên chính thức, một lần nữa bản lý lịch được đưa ra xét lại.  Cán bộ cơ quan cho hay vì thuộc diện có chồng đi “cải tạo”, nàng cần một cán bộ cao cấp bảo đảm hành vi chính trị.  Thu không đáp ứng được điều này, vì họ hàng không có ai là cán bộ cao cấp.

            Không còn con đường nào hơn, Thu trở lại nghề buôn bán kiếm sống nuôi con.  Nàng biết sẽ có nhiều cơ cực và gian truân, nhưng tâm hồn nàng được phần nào thảnh thơi.

                                                                        *

            Nghe Tuyết đi thăm nuôi chồng về, Thu vội sang thăm.  Nét mặt Tuyết thật buồn, mắt đỏ hoe ngấn lệ.  Nàng  an ủi bạn:

            -“Dù sao thì Tuyết cũng được gặp mặt, biết sức khỏe anh ấy ra sao.  Chẳng qua vì thiếu ăn, mà thực phẩm nuôi tù lại thiếu chất bổ dưỡng, nên thân thể suy nhược.  Hy vọng lần quà này, với thuốc men cần thiết, anh ấy sẽ mau lại sức.  Tuyết đi thăm có dễ dàng không?”

            Giọng Tuyết nghẹn ngào:                                           3(Tù Cải tạo sau ngày 30-4-1975)

            -“Mình nhận được thư  anh ấy cho hay bị đau.  Thư không viết rõ đau làm sao, bệnh tật thế nào.  Mình quá vội vàng nên chỉ mang mấy thứ  anh ấy ghi trong thư.”

            -“Trong thư chỉ ghi: Láng 3, trại Katum, tỉnh Tây-Ninh làm sao bạn tìm ra nơi anh ấy ở?”

            -“Mình có hỏi thăm về trại Katum, nhưng trước khi đi cậu em họ có khuyên không nên đi thăm một mình, vì đường rừng nguy hiểm.  Cướp bóc thường xẩy ra trên quãng đường từ tỉnh Tây-ninh đến trại.  Chẳng biết ai mà rủ đi cùng, nhất là anh ấy đang bệnh nặng, nên mình cũng liều đi.”

            Thu nhìn bạn thương cảm:

            -“Tuyết đi chuyến xe mấy giờ?”

            -“Cả đêm không ngủ, nên chưa sáng mình đã dậy.  Cháu Bé chở ra bến xe Bà-quẹo.  Ðến bến xe còn sớm,   buổi sáng quá lạnh, mới bốn giờ sáng, nên mình bảo cháu về.  Hơn năm giờ xe mới chạy.”

            -“Xe chạy tới trại hay bạn phải đổi xe?”

            -“Mình xuống bến xe Tây-ninh, rồi đổi xe đi trại Katum.  Nói là trại Katum, nhưng đâu phải chỉ có một nơi, mà phân chia thành nhiều Lán.  Mình cũng không rõ có bao nhiêu Lán thuộc trại này.  Trong thư anh ấy chỉ ghi Lán 3, mà không ghi ngày thăm nuôi.  Thành thử khi mình tới Tây-ninh đón xe vào trại, thì không có xe nào vào Lán 3.  Vì hôm mình lên là ngày thăm nuôi của Lán 6.”

            -“Trại Katum là trại nằm sát biên giới Việt-Miên đường đi thật khó khăn.  Các Lán nằm rải rác cách xa nhau, nếu không có xe chạy thẳng tới nơi thì vất vả vô cùng.”

            -“Mình năn nỉ tài xế cho mình ngồi phía sau, để không mất chỗ ngồi của khách, mặc dù mình trả tiền hơn mọi người.  Hắn vẫn không chịu chở, vì cho mình xuống ngã ba đường vào Lán 3, hắn phải đi xa thêm một quãng đường.  Thấy tình cảnh của mình, mấy người khách trên xe nói vào hắn mới chịu chở.  Ðến ngã ba hắn bảo mình xuống, rồi nói theo lối rẽ mình đi thẳng là tới Lán 3.”

            -“Hắn có nói chi tiết đường đi và Tuyết phải đi bao lâu không?”

            -“Người tài xế chỉ bảo mình đi tới phía trước và đường còn khá xa.  Bây giờ đã xế trưa, mình đứng giữa đường nóng bỏng, rừng cây trùng điệp xung quanh.  Con đường dài phía trước nhỏ dần, mờ khuất ở phía rừng cây xa xa.  Không một ai qua lại.  Lúc này mình mới cảm thấy  sợ hãi vì khung cảnh hoang vắng.  Mình cũng không hiểu còn phải đi bao lâu nữa mới tới nơi.

            “Mình mải miết đi, không biết đã đi được bao xa.  Trời về chiều, bóng mặt trời đã bám nơi ngọn cây, trải một lớp ánh vàng mong manh xuống rừng cây xanh thẫm.   Mình chợt nhớ tới lời người em họ.  Quãng đường này thật vắng, nếu gặp cảnh không may lấy ai cứu giúp cho đây.  Mình chỉ cầu xin mọi việc được an lành.  Ðôi gánh oằn vai mỗi lúc một thêm nặng.  Mình không dám ngừng chân, sợ chiều xuống quá nhanh.”

            “Ðến khi trời xẩm tối, quang cảnh phía trước không còn nhìn rõ, như xoa một lớp bột mầu xám lợt.  Qua khỏi khúc đường vòng cánh cung, từ xa le lói ánh đèn.  Lòng mình dội lên một niềm vui và cảm thấy khỏe hơn nên rảo bước trên con đường đất.  Mình thầm nghĩ, ít nhất cũng tìm đuợc chỗ nghỉ chân qua đêm.”

            “Mình lần mò trong đêm tối yên lặng, lâu lâu mới vẳng nghe tiếng chó sủa.   Không còn nghe thấy tiếng chim ríu rít, ngoại trừ tiếng côn trùng đang hòa vang.  Khi tới xóm nhà có ánh đèn, mình gõ cửa căn nhà gần nhất.  Ông chủ nhà là người lớn tuổi.  Thấy mình ông ngạc nhiên hỏi:

            -“Trời đã tối, chị đi đâu mà tới đây vào giờ này?”

            Giọng nói hiền hòa với âm thanh miền Nam của ông làm mình yên lòng.  Nhất là gương mặt phúc hậu, chất phác với chòm râu bạc của ông làm mình tin tưởng.

            -“Thưa bác, cháu nhận được thư nhà cháu cho hay bị đau, hiện “cải tạo” ở Lán 3, nên vội đi thăm. Lần đầu tiên cháu đi nên không biết đường.  Xin bác vui lòng cho cháu nghỉ qua đêm.  Bây giờ trời tối quá cháu không đi tiếp được.”

            -“Ðây cũng gần Lán 3.  Hôm nay đâu phải là ngày thăm nuôi mà chị lên?”

            -“Thư nhà cháu không ghi rõ ngày nào được thăm.  Khi tới Tây-ninh cháu mới biết hôm nay không phải là ngày thăm nuôi của Lán 3.  Cháu quá nóng ruột vì nhà cháu đau nặng nên vội đi.  Hy vọng vì tình trạng sức khỏe của nhà cháu mà trại chiếu cố cho gặp.”

            Mình đưa thư anh ấy viết cho ông chủ nhà xem.  Ông nói:

            -“Chị đến đây thân một mình không gặp chuyện gì dọc đường là phước lắm rồi.  Ði thăm nuôi ở vùng này nên đi chung nhiều người cho an toàn.  Thôi được, chị hãy nghỉ ở đây đêm nay, một lát nữa con tôi về xem nó có giúp được chị không.”

            -“Cháu cám ơn bác đã giúp đỡ.”

            -“Chị đi cả ngày đường chắc chưa ăn gì, Ðể xem nhà có gì để chị ăn cho đỡ đói.”

            -“Cám ơn bác, cháu có mang thức ăn, nhưng vì mải đi trước khi trời tối nên chưa kịp ăn.”

            “Ông chủ nhà chỉ chỗ ngủ cho mình và nơi rửa tay chân.  Bây giờ mình mới thấy mệt.  Thân thể rã rời, cơn mệt như thấm sâu vào từng thớ thịt làm chân tay bải hoải.  Mình thấy đói bụng, vì từ sáng tới giờ mải lo về sức khỏe của chồng mình, nhất là cố đi trước khi trời tối, nên chưa có gì vào bụng, ngoài mấy hớp nước khi tới bến xe Tây-ninh.”

            -“Tuyết có gặp con ông chủ nhà không?”

            -“Mãi gần nửa đêm hắn mới về.  Ông chủ nhà nói chuyện với hắn thật lâu trước khi hắn gặp mình.  Mình đưa thư cho hắn.  Xem xong thư  hắn bảo ngày mai sẽ nói giúp với cán bộ quản giáo trại về trường hợp của mình.

            Sáng sớm hôm sau hắn vào trại, mãi hơn 8 giờ mới trở về nhà.  Hắn nói trại chỉ cho nhận quà nhưng không được gặp mặt, vì không phải là ngày thăm nuôi.  Hắn dẫn mình vào gặp cán bộ quản giáo để gửi quà.  Khi gặp cán bộ mình năn nỉ:

            -“Xin cán bộ thông cảm.  Lần đầu tôi đi thăm vì có sáu cháu nhỏ ở nhà nên khó đi xa.  Nghe tin nhà tôi đau, tôi vội đi nên không hay chưa tới ngày thăm nuôi.  Xin cán bộ thông cảm cho tôi được gặp mặt, tôi rất cám ơn.”

            -“Hôm nay không phải là ngày thăm nuôi.  Vì thông cảm chị từ xa tới đây, trại cho nhận quà là chiếu cố lắm rồi.  Tôi không thể để chị gặp mặt được.”

            Mình nói mãi hắn cũng không chấp thuận.  Tự  nhiên mình thấy tủi thân, thất vọng nên không cầm được nước mắt.  Mình bật khóc.  Mình thương anh ấy quá.  Lên tới đây mà cũng không được gặp mặt.  Không hiểu anh ấy bây giờ ra sao.  Biết nói mãi cũng vô  ích, mình chào hắn rồi trở ra đứng trước trại đợi xe về.

            Bây giờ đã hơn 11 giờ trưa.  Mặt trời chói lòa, tỏa hơi nóng hừng hực của ngày hè oi bức.  Không có lấy một bóng cây che nắng.  Mình đợi cả giờ vẫn không thấy một chiếc xe nào đi qua.  Quay nhìn lại, khu trại vẫn im lìm.

            Bất chợt một cán bộ đi tới nói:

            -“Ban quản giáo trại thông cảm hoàn cảnh của chị từ xa tới đây.  Một lòng lo lắng cho chồng, nên cho chị gặp mặt 15 phút.  Chị nhớ không được khóc khi gặp mặt.”

            -“Tôi xin cám ơn cán bộ.”

            “Chưa bao giờ mình cảm thấy vui như lúc này,  Niềm vui chợt đến khi lòng mình đang thất vọng.  Nhưng mình tự hỏi, có gì nghiêm trọng mà hắn dặn mình không được khóc khi gặp mặt.  Phải có cái gì bất ổn.  Mình đâm sợ những sự không may xẩy đến.  Hắn không dẫn mình tới nhà thăm nuôi, mà đưa tới một chuồng bò bảo đợi.  Mình lại thắc mắc.  Sao lại cho gặp ở một nơi không mấy sạch sẽ như nơi đây.  Ở một chỗ vắng vẻ như thế này.

            “Chẳng bao lâu, mình thấy anh ấy xuất hiện từ lối rẽ đầu kia chuồng bò.  Ðến lúc này mình muốn khóc, vì hình ảnh trước mắt làm mình không cầm được nước mắt.”

             “Chồng mình đang đi tới.  Mình xót thương quá, thầm hỏi tại sao người chồng yêu thương của mình lại ra nông nỗi này.  Thân hình anh thật tiều tụy, sắc mặt không khác gì tầu lá héo, như vừa trải qua một cơn bệnh ngặt nghèo.  Hai chân anh run rẩy lết từng bước khó khăn.  Nếu không nhờ đôi nạng nơi tay, chắc anh khó lòng đứng vững.  Không hiểu từ đâu nước mắt mình tuôn rơi.  Mình lấy khăn che miệng, hai hàm răng nghiến chặt chiếc khăn tay để khỏi bật thành tiếng khóc.  Anh ấy xanh xao, ốm yếu ngoài sự tưởng tượng của mình.

            “Mình chạy tới bên anh, anh không đứng vững, như muốn ngã vào vòng tay mình.  Mình dìu anh ngồi xuống nền đất, dựa lưng vào vách chuồng bò.  Anh duỗi thẳng hai chân, lấy tay xoa hai đầu gối.  Mình nắm cánh tay, xoa khắp lưng anh .  Anh gầy quá, những đốt xương sống, những dẻ xương sườn gồ cao sau lần vải mỏng.  Người anh chỉ còn da bọc xương.  Mình hỏi anh:

            – “Anh đau làm sao.  Ðau đã lâu chưa mà không cho em hay?”

            “Anh nhìn người cán bộ đứng trước mặt rồi quay nhìn mình, giọng thều thào đứt quãng như không còn hơi sức:

            -“Anh mới đau, không có gì nghiêm trọng lắm.  Chắc  ít  ngày sẽ khỏi.”

            Vào lúc này mình không cầm giữ được lòng mình nữa.  Mình bật khóc.  Nói với anh qua màn nước mắt:

            -“Anh chỉ nói anh đau.  Không cho em hay anh đau ra sao, nên em không biết mua thuốc gì.  Em chỉ mang vài thứ thuốc cảm thông thường và thuốc bổ. Em có mua ít thức ăn cho anh.  Vì em vội đi, nhất là không biết đường, nên không kịp làm thức ăn nóng cho anh.  Lần thăm tới em sẽ mang đầy đủ hơn.”

            Mình chợt thấy anh nắm chặt tay mình.  Bàn tay anh giá lạnh làm sao, như hơi ấm trong người đã thoát hết ra ngoài.  Anh chợt nói:

            -“Em ở nhà nuôi dậy sáu con nhỏ dại đã vất vả lắm rồi, lại còn lo lắng cho anh.  Em mang như thế này cũng đã nhiều, anh  làm em cực nhọc lo lắng thêm.”

            -“Anh đừng lo, mẹ con em ở nhà cũng đầy đủ lắm.”

            Thu biết không, mình nói thế để anh yên lòng.  Mình lấy đâu ra tiền đi thăm khi nghe anh đau bất chợt.  Ðành phải bán chiếc đồng hồ đeo tay của anh còn lại trước khi đi “cải tạo”, để mua các thứ cần thiết cho anh.

            -“Ở nhà có gì lạ không em.  Các con ra sao, chúng có ngoan không?”

            -“Anh yên tâm, mọi việc ở nhà vẫn bình thường.  Các con ngoan cả.  Em vội đi quá, nhất là đi lần đầu, nên không cho con đi thăm anh.”

            Người cán bộ xem giờ và nhắc chồng mình vào trại.  Thời gian trôi qua thật nhanh.  Mình đã nói được gì đâu.  Mình xin cán bộ cho anh ở lại thêm ít phút mà không được.  Mình choàng tay ngang lưng anh giúp anh đứng dậy.  Anh không còn tự sức đứng lên được nữa.  Mình đưa cặp nạng cho anh dựa vào cho thêm vững.  Mình nói với anh:

            -“Anh ráng uống thuốc và ăn uống đầy đủ cho mau lại sức.  Lần thăm tới em và các con sẽ lên thăm anh.”

            Anh thều thào nói:

            -“Em hãy giữ sức khỏe.  Bảo các con anh thương chúng nhiều lắm.  Anh sẽ viết thư cho em.”

            Anh quay bước, thân hình anh lắc lư theo đà cặp nạng.  Hình bóng anh khuất dần ở cuối lối rẽ vào chuồng bò.  Mới hơn ba năm “học tập cải tạo” mà con người anh đã biếân đổi ngoài sức tưởng tượng.  Mình không biết tương lai anh sẽ đi về đâu.

                                                                        *

 4.

            Sau nhiều ngày dầm mưa dãi nắng, hết chợ này đến chợ khác buôn bán ngược xuôi Thu ngã bệnh.  Nàng đã nghỉ chợ mấy ngày.  Chỉ còn ít ngày nữa là Tết Nguyên đán.  Quần áo các con nàng mặc đã cũ. Chúng cần ít quần áo mới mặc Tết.

            Thu đi ngược đường Lê Lợi, khu Eden vắng tanh.  Nàng trở lại chợ Bến-thành tìm mua quần áo cho các con.                                      4 (Vượt biên sau 1975)                                                                              Thu chợt nghe tiếng gọi tên mình phía sau.                                                                                        Quay lại nàng nhận ra Nga, người bạn học cũ lâu ngày không gặp.  Giọng Nga vui vẻ:

            -“Thu đi đâu đấy, lâu quá không gặp?”

            -“Tết nhất đến nơi, mình mua ít đồ dùng cho các cháu.”

            -“Dạo này Thu và gia đình ra sao.  Ông xã có khỏe không?”

            -“Mình vẫn thường.   Ông xã đi cải tạo đã lâu.  Còn Nga thế nào?”

            -“Mình vẫn đi dậy học tư.  Mấy bữa nay hơi bận một chút vì phải sắm sửa vài thứ cần dùng truớc khi xuất ngoại.”

            -“Nga đi nước nào và bao lâu nữa sẽ rời đây?”

            -“Gia đình mình được phép đi Pháp.  Mọi thủ tục đã lo xong, chỉ đợi ngày đi.  Còn Thu vẫn đi dậy chứ?”

            -“Mình phải nghỉ dậy ngay từ buổi đầu Sài-gon bị mất vì ở diện có chồng đi cải tạo.  Mấy năm nay vẫn đi buôn hàng chuyến từ các tỉnh về đây bán kiếm lời nuôi các cháu.”

            -“Thu có ý định trở lại nghề dậy học không.  Mình đang tìm người thay trước khi đi, vì mấy gia đình mình nhận dậy là chỗ thân tình.  Nếu bạn bằng lòng dậy thì hay quá, mình sẽ giới thiệu với họ ngay.”

            -“Như Nga biết mình thích nghề dậy học từ lâu, nếu bạn giới thiệu chỗ dậy thì không gì quý bằng.  Nhưng điều kiện dậy như thế nào?”

            -“Cũng không có gì phức tạp.  Mình thường tới nhà họ dậy, mỗi gia đình độ 4, 5 đứa.  Chúng còn nhỏ tuổi nên dậy cũng không vất vả lắm.  Mình dậy ba buổi một tuần xen kẽ, mỗi buổi hai giờ.  Thu đừng lo ít học sinh, chỉ sợ bạn không đủ sức mà dậy.”

            -“Vậy Nga giới thiệu cho mình nhé?”

            -“Mình cũng muốn giới thiệu cho xong, vì còn nhiều việc phải làm trước khi đi.  Nếu có thể sáng mai Thu đến nhà, mình sẽ đưa bạn đi.”

            -“Vâng, sáng ngày mai mình sẽ đến Nga.”

            Trên đường về nhà lòng Thu thật vui.  Nàng nhủ thầm có lẽ ông Trời đã rủ lòng thương xót, đã ban cho nàng một công việc hợp với khả năng và ý thích mà nàng mong đợi từ lâu.

            Thu rất mừng, nàng không còn đi sớm về tối như thời gian trước đây.  Không phải lo ngại đám công-an chặn xét trên các ngả đường mà nàng đi qua, không phải tranh giành mối bán nơi mua.  Nàng không còn phải đối diện với những bộ mặt đanh ác của đám công an kiểm soát, những phút giây hồi hộp khi bị mất cả vốn lẫn lời, những lời ong tiếng ve tán tỉnh của bọn người vô loại. Hay trải qua những tủi nhục, khinh miệt trên đường kiếm sống.

            Thu dậy mỗi gia đình 3 buổi một tuần, mỗi buổi 2 giờ.  Nàng dậy 6 ngày, còn ngày chủ nhật để săn sóc các con và chính mình được thong thả.  Những gia đình nàng tới dậy có ý định cho con cháu họ xuất ngoại bằng đường chính thức hay không chính thức.  Nàng hướng dẫn Anh hay Pháp ngữ tùy theo gia chủ có ý định cho con em họ tới quốc gia xử dụng tiếng Pháp hay tiếng Anh.

            Thu như một con thoi.  Trên chiếc xe đạp nàng chạy từ nhà này đến nhà khác, từ sáng đến chiều.  Ða phần là những gia đình giầu có nên tiếp đãi nàng rất hậu.  Nàng coi đám học trò như con em mình nên hết lòng giảng dậy, không quản công khó miễn là chúng hiểu và thực hành được những điều chúng học.  Vì tận tâm và thân thiết nên học trò học rất tiến bộ.

            Thêm nhiều gia đình mời Thu tới dậy.  Tiền kiếm khá hơn, dù có mệt nhọc nhưng vẫn dễ chịu hơn thời gian đi buôn hàng chuyến.  Nàng cảm thấy thoải mái, không còn lôi thôi lếch thếch như trước.

            Khi đi dậy học Thu mới biết một sinh hoạt nóng bỏng đang xẩy ra, mọi người tìm đủ cách để ra khỏi nước.  Có tổ chức được cán bộ địa phương hậu thuẫn, hay có nơi được chính quyền địa phương đứng ra tổ chức cho người vượt biên mệnh danh là “bán chính thức”.  Ðó chỉ là hình thức che đậy, vì chính người đại diện chính quyền địa phương thường nhấn mạnh, chuyến đi đã được trung ương chấp thuận để gây qũy.  Mặt khác, người dân miền Nam cũng hiểu nhà nước cho cán bộ trà trộn vào đám người vượt biên để xử dụng sau này.  Tầu sắt lớn được trang bị máy tốt, thức ăn nước uống đầy đủ, dù giá có cao hơn các tổ chức tư nhân gấp bội.  Người đi tới nơi viết thư về diễn tả chuyến đi như một cuộc du lịch.

            Ngoài một số chuyến đi được chính quyền địa phương tổ chức, còn khá nhiều tổ chức tư nhân không dính líu tới chính quyền.  Họa chăng chỉ móc nối ăn chia với công an địa phương nơi tầu tách bến.  Do thành quả các chuyến đi, mọi người khao khát ra khỏi nước vì không muốn sống chung với chế độ cộng-sản.

            Sau một thời gian dậy học phụ huynh học sinh rất  mến nàng, thân thiết như người trong gia đình.  Biết hoàn cảnh Thu có chồng đi “cải tạo”, họ càng tin tưởng và cho nàng biết về hoạt động đưa người vượt biển.   Họ cho hay sẽ cho con cháu họ vượt biên một ngày rất gần, nếu nàng bằng lòng có thể cùng đi với gia đình họ.

            Thu đọc thư của mấy đứa học trò đi tới nơi viết về.  Trước khi chúng đi nàng biết trước, nên càng tin tưởng mấy người này làm ăn đứng đắn.  Không giống một số tổ chức ăn chia với cán bộ, lừa người đi để lấy tiền.

            Sinh hoạt trong các gia đình sửa soạn cho con em vượt biên có hơi khác.  Một mặt cha mẹ bắt con em học cho chăm, mặt khác về phía học sinh, chúng cũng hiểu là sẽ phải dùng tới ngôn ngữ mà chúng đang học khi tới đất nước người.  Chúng học chăm và rất tiến bộ, nhưng cũng không tránh khỏi nôn nóng vì những lá thư gửi về.

            Thu suy nghĩ rất nhiều.  Có nhiều việc đến với nàng cùng một lúc. Chồng nàng không biết nay ở đâu, còn sống hay đã chết.  Ðã gần ba năm rồi chưa có tin về, liệu anh có gặp điều gì nguy hiểm không.  Các con nàng còn nhỏ quá.  Ðứa con lớn mới mười bốn tuổi, liệu nó đi được không.  Nếu có gì không may xẩy ra cho con, nàng sẽ là người khổ tâm nhất vì để đứa con yêu thương của mình vào nơi nguy hiểm.

            Mỗi lần Thu tới dậy học, gia chủ đều gợi ý muốn nàng nhận lời đi cùng với con cháu họ.  Chúng sẽ nhờ cậy nàng hướng dẫn khi tới đất nước người.  Họ sợ Thu ngại vì không có tiền trả lộ phí, nên cho nàng một điều kiện thật dễ dãi là đưa một số ít trước, số còn lại sẽ trả khi tới nơi.  Ðối với nàng hiện giờ số tiền này đâu phải là nhỏ, cũng may vì chỗ quen bà chỉ lấy một phần tiền trước.  Ðành vậy, nếu cho con đi nàng phải bán số nữ trang, quà kỷ niệm của chồng từ hồi mới quen để lo cho con.

            Thu cũng thấy đây là một điều kiện khá thuận lợi, nhất là chỗ quen biết không sợ bị lường gạt.  Như trường hợp một số tổ chức ma, dẫn khách đi xem tầu coi máy,  mọi thứ đều hoàn hảo.  Người đi đóng tiền trước một phần, khi xuống thuyền lớn sẽ đưa hết.  Ðến ngày đi có người đến đón.  Trong đêm tối sợ bị phát giác, nên bảo sao nghe vậy, cho đi thuyền nhỏ đông người cũng đành chịu.  Chủ tầu chỉ mong thâu được tiền, cũng không quan tâm tới an nguy của người ra đi.

            Nhưng tệ hại hơn nữa, có tổ chức đón người đưa tới chỗ đợi, hừng sáng đã thấy công an tới bắt.  Nếu có của nộp cho bọn công an để được tha về là một điều may, nếu không ngoài mất của còn bị bắt tù đầy.

            Thật khó mà biết được thật hay giả, nhưng số người đi vượt biên ngày càng nhiều.  Một cuộc “bỏ phiếu bằng chân” cả về mặt chính trị lẫn kinh tế đối với chế độ cộng-sản.  Vượt biên như là một thứ dịch, lan tràn trong thành phố và các tỉnh ven biên.  Nó đáp ứng được hoài bão của đa số dân chúng muốn thoát khỏi chế độ ngày càng hà khắc, đang biến miền Nam đã một thời trù phú phút chốc trở lên nghèo đói, mất tự do.   Mọi người phải tìm một lối thoát cho con em mình, hầu tránh được cái không may mà họ đã gặp.  Người miền Nam bản chất vốn tình cảm phóng khoáng, không chấp nhận một cuộc sống luôn bị đe dọa.

             Từ quán cà phê đến nơi họp chợ đông người, câu chuyện hấp dẫn nhất vẫn là vượt biên.  Người ta dẫn chứng bằng hình ảnh, những bức thư có dấu bưu điện ngoại quốc của người ra đi gửi về.  Vô tình đã là những động lực khuyến khích những người còn ở lại thực hiện một chuyến đi xa.

            Thu rất phân vân khi biết ngày đi đã gần kề, bãi bến thuận lợi, tầu thuyền sửa soạn rất an toàn, kỹ lưỡng.   Nàng cũng mong các con mình học đến nơi đến chốn, có tương lai tốt đẹp sau này.  Nhưng làm sao đây, đi một lúc sáu mẹ con cũng khó.  Lấy ai lo cho chồng đang trong vòng tù đầy, và số tiền phải có quá nhiều đối với nàng trong lúc này.  Cho đứa nào đi cũng dở, chúng còn nhỏ dại, nhờ ai săn sóc khi xa nhà.

            Tại trường, tin vượt biên làm lũ trẻ sao lãng việc học.  Ðứa con trai lớn một hôm đi học về nét mặt buồn thiu.  Nó cho hay đứa bạn thân nhất còn gặp hôm thứ sáu, thứ hai không thấy đi học, hôm sau mới biết cả gia đình đi vượt biên.  Từ đấy, Thu thấy con chăm chỉ bơi ở hồ tắm trước nhà.  Chiều nào đi dậy học về, nàng cũng thấy con đứng trên cầu thang dơ hai tay lên cao, miệng gọi “mẹ ơi”, đã thấy nó nhẩy xuống dưới nhà.  Nó làm động tác như người bơi lội phóng mình xuống nước.  Nàng tưởng con mình tập  nhào lộn như khi đi tắm nên mỉm cười xoa đầu nó.

            Vào một ngày con nàng xin mẹ đi Mỹ, nó nói bạn bè thân thiết của nó lần lượt ra đi.  Thu bảo con còn nhỏ, đi xa không ai săn sóc.  Nàng đâu yên tâm cho nó ra đi trong hoàn cảnh này, ngoài biển cả bão tố còn cướp biển dọc đường.  Nhiều chuyến đi không đến nơi vì tầu hư máy, đói khát đau ốm lấy ai lo cho nó đây.

            Thu thấy con tập bơi nhiều hơn.  Mỗi sáng trở dậy nó tập thể dục lâu hơn trước, ôn lại những bài võ Vovinam mà nó học từ khi còn nhỏ.  Nàng nhìn thấy sự quyết tâm của con.  Nó hiểu phải biết bơi trước khi dự một lần vượt biển.

            Việc dậy học của Thu tiến triển đều.  Học trò ngày một đông, vì vậy thời gian làm việc của nàng cũng tăng theo.  Suốt tuần lễ bận rộn, chỉ còn ngày chủ nhật được thảnh thơi ở nhà với con.

            Khi bà Tư, gia đình học trò nàng thân nhất, cho hay họ sẽ cho con cháu họ đi vào chuyến gần nhất.  Nếu nàng chưa muốn đi lúc này, có thể cho bất cứ đứa con nào đi cũng được.  Ðể nàng yên tâm, bà bảo chuyến đi được sửa soạn rất kỹ vì có con cháu bà cùng đi.  Nào là thuyền tốt, ba máy đầu bạc, tài công giỏi, thức ăn nước uống đầy đủ, bãi bến đã mua xong. . . Với các điều kiện kể trên, sựï thành công của chuyến đi đã đạt tới bẩy tám phần mười.  Còn sự may rủi ngoài biển khơi khó mà lường được.  Thu gặp mấy đứa học trò đi chuyến này, chúng bảo nàng nên cho con đi, và hứa sẽ săn sóc nó như em.

            Thời gian ra đi đã gần kề, nàng phải có một quyết định.  Cho nó đi hay ở lại.  Thu cũng muốn cho con đi vì tương lai của nó.  Nàng không muốn nó giống như đứa trẻ vì hoàn cảnh đời sống mà phải nghỉ học, đi bán rong những món hàng tầm thường.  Nàng nhìn thấy tương lai con nàng nếu chúng ở lại đất nước này, như mấy đứa cháu, đã bị gạt ra khỏi ngưỡng cửa đại học vì cha chúng đi “cải tạo”.  Hay phải cung cấp mạng sống cho chiến trường Campuchia như mấy đứa trẻ trong xóm.  Ðất nước này là của riêng thành phần mới tới chiếm ngụ, họ cho mọi người được sống hay bắt phải chết, có toàn quyền hành động dưới danh nghĩa quốc gia dân tộc.

            Sau bữa cơm tối, Thu gọi đứa con lớn vào phòng, nàng hỏi:

            -“Con muốn vượt biên sang Mỹ lắm phải không?”

            Khuôn mặt nó vụt hớn hở, đôi mắt nó bừng sáng.  Nó trả lời như đã suy nghĩ, quyết định từ lâu.

            -“Con muốn đi lắm me ạï.”

            -“Mẹ chỉ ngại khi xa nhà không có ai săn sóc con.  Mẹ tội nghiệp cho con lắm.”

            -“Mẹ đừng lo, con lớn rồi, con có thể tự lo được.”

            -“Nhưng dọc đuờng nguy hiểm lắm con biết không?”

            -“Người ta đi đến nơi thì con cũng đi được.  Con không muốn ở lại đi bán bong bóng hay kẹo đậu phụng như mấy đứa bạn của con.”

            Thu thương con quá.  Liệu nó có đủ trí khôn để nhận biết những nguy hiểm, bất trắc sẽ xẩy ra trên con đường nó sắp đi không.  Thu phân vân cũng như nàng đã tự hỏi,  là quyết định của nàng có đúng không.  Nàng thầm nghĩ nếu giờ này có chồng ở nhà, hẳn anh sẽ đưa ra một lời khuyên, hay có một quyết định giúp nàng tránh được những giây phút khó khăn như lúc này.  Nàng phải làm sao đây, vì quyết định của nàng sẽ ảnh hưởng tới cuộc đời của con sau này.  Liệu sẽ thành công hay thất bại.  Thế nào mới là một quyết định đúng.  Còn thời gian sắp tới các con nàng lớn lên, liệu nàng có khả năng giúp chúng quyết định về đời sống của chúng, hay chế độ này sẽ an bài tất cả.

            Thấy mẹ im lặng suy nghĩ, con nàng tiếp lời:

            -“Mẹ đừng lo lắng nhiều quá, con rất muốn ra đi.”

            Nghe con cương quyết trả lời, nàng nhìn con thương xót.  Có lẽ số phận an bài như vậy.  Thu như bớt đi phần nào lo âu về quyết định của mình.  Nàng dặn con không nói cho ai biết, và âm thầm sửa soạn hành trình cho con. Nàng biết đây không phải là chuyến đi chơi bình thường, nó chỉ mang những gì cần thiết.  Nàng đánh hai chỉ vàng thành hai chiếc nhẫn khâu dưới gấu áo và dặn con lấy ra dùng khi cần.

            Thu cho bà Tư hay nàng cho đứa con mười bốn tuổi đi chuyến này, hy vọng con cháu bà sẽ săn sóc nó giùm nàng.  Bà bảo Thu nên đưa con tới lúc tám giờ tối để tiện việc sắp xếp.

            Mấy mẹ con ngồi ăn bữa cơm chiều, lòng nàng nặng chĩu.  Chỉ vài giờ nữa thôi, mẹ con nàng sẽ xa nhau, liệu còn gặp lại nó không.  Ðến giờ phút này nàng còn ngần ngừ, nửa muốn cho con đi nửa muốn giữ nó lại.  Còn con nàng vẫn vui vẻ, mặt hớn hở như vừa đạt được điều nó hằng mong đợi.  Nó cười nói với các em như không có gì khác lạ, nhưng thỉnh thoảng vẫn quay nhìn mẹ, khi  thấy nàng đang lo âu suy nghĩ.

            Hai mẹ con lên nhà bà Tư.  Thu chở con phía sau xe, túi quần áo của con để trong giỏ xe phía trước.  Thấy Thu chở con tới, bà vỗ vai nàng cười nói:

            -“Cô yên trí, chuyến này chúng đi như đi nghỉ mát.  Tháng này thời tiết rất thuận, biển êm.  Tôi đã xem xét mọi thứ, không có gì đâu mà lo.  Khuya nay xe chạy, quá nửa đêm lên thuyền lớn.  Mấy ngày là có tin về.”

            Thu ôm con, nàng không cầm được giọt lệ chia tay.  Làm sao tránh được nỗi buồn, từ khi sinh ra đến giờ các con nàng luôn quấn quít bên mẹ.  Rồi cha đi “cải tạo”, nó thân cận an ủi nàng rất nhiều.  Các con là nguồn yêu thương của nàng trong suốt thời gian vừa qua cũng như những ngày sắp tới.  Nàng lo lắng cho các con từng chút một, có bao giờ xa chúng lâu đâu.

            Ðể tránh hai mẹ con bịn rịn, bà Tư dục nàng về để đám trẻ được nghỉ ngơi trước khi đi.  Thu nắm chặt tay con, như không muốn rời xa nó.  Con nàng dục mẹ về, nhắc mẹ hãy giữ gìn sức khỏe.  Dù con còn ít tuổi, nhưng nét mặt nó thật dắn dỏi, cương quyết vô cùng.  Nàng ôm hôn con và đám học trò trước khi đi.

            Về đến nhà, nhìn mấy đứa con còn ở lại, nàng lại càng thương nhớ đứa con lớn vừa mới ra đi.  Các con nàng hỏi mẹ anh chúng đâu mà không thấy về cùng.  Thu kéo các con lại gần cho hay anh chúng đi vượt biên, ngủ đêm trên đó để sáng mai ra đi.  Nàng dặn các con không nói cho ai biết việc này.

            Ðã khuya, Thu dục các con đi ngủ.  Còn lại một mình, nàng muốn nằm một chút cho khỏe.  Tinh thần nàng mấy ngày nay thật căng thẳng.  Nàng nằm không lâu lại ngồi bật dậy, đi lại trong phòng nhiều lần.  Nàng đặt ra nhiều câu hỏi rồi tự trả lời.  Bà Tư không nói rõ giờ khởi hành, không hiểu giờ này nó đã đi chưa.

            Thu không sao chợp mắt.  Mỗi lần thiu thiu ngủ chỉ thấy hiện ra hình ảnh nguy hiểm trên biển cả.  Biển cả mênh mông, sóng dồn lớp lớp, chiếc thuyền gỗ quá nhỏ bé mong manh.  Nàng không sao yên tâm, hết nằm lại ngồi, như  linh cảm có sự gì bất trắc xẩy ra cho chuyến đi này.  Nàng mong trời mau sáng, vì đêm tối thật cô đơn với ngững giấc mộng hãi hùng.

            Thu ra khỏi giường, uống ly nước lạnh cho tinh thần đỡ giao động.  Nàng không hiểu được tâm trạng của mình, có phải vì quá lo lắng mà ra.  Mới xa con có vài giờ mà lòng nàng như lửa đốt.  Trời còn tối, gà vừa mới gáy sáng.  Bây giờ mới bốn giờ, còn quá sớm để đến nhà bà Tư.  Thu nhẩm tính từ nhà nàng ở đến bà Tư đạp xe cũng mất hơn nửa giờ, như vậy đến nơi cũng gần năm giờ sáng.  Không chần chừ nàng dắt xe ra khỏi nhà.

            Ðến nhà bà Tư mọi người đã thức, nàng có cảm tưởng đêm qua họ chưa đi ngủ.  Thấy nàng tới bà Tư ngạc nhiên hỏi:

            -“Cô đi đâu mà lại đây sớm thế?”

            -“Tôi tới sớm hy vọng cháu chưa đi, xin bà cho cháu ở lại.  Tôi thấy nóng ruột quá.”

            -“Tại cô lo ra đó thôi.  Chúng đã lên thuyền lớn từ lúc nửa đêm, bây giờ đã tới hải phận quốc tế.  Cô đừng lo nghĩ nhiều sinh bệnh mà khổ.   Khi nào có tin tôi tới cho cô hay ngay.”  Bà Tư nhìn Thu rồi tiếp lời “ Ðêm hôm qua cô không ngủ chút nào phải không.   Cô phải giữ sức khỏe mới được, mắt sâu vô rồi đấy.  Tôi nói cô hay từ trước là chuyến này gia đình tôi đi, sửa soạn rất kỹ.  Cô không nên quá lo.”

            Thu hiểu người tổ chức chuyến đi chỉ biết tin tức về việc đổ người an toàn nơi bãi khởi hành.  Khách đi được chở bằng ghe nhỏ ra thuyền lớn đậu ngoài xa.  Muốn biết tin lên thuyền lớn có an toàn hay không cũng phải đợi vài ngày.  Kể từ khi thuyền lớn khởi hành, người tổ chức không biết gì hơn vì thiếu phương tiện liên lạc.  Phải đợi khi thuyền tới nơi mới có điện về.

            Nàng đã bảo con trước khi đi, khi lên thuyền lớn hãy nhắn tin về cho nàng yên tâm.  Sợ con nhỏ dại, Thu đưa con một miếng giấy ghi sẵn để trong bao nhựa, khi lên thuyền lớn thì gửi về.  Chứng tỏ bước đầu đã an toàn.

            Thu như người mất hồn khi chưa có tín hiệu của con.  Nàng xin nghỉ dậy ít bữa.  Trong lúc này nàng không còn tinh thần để giảng dậy, làm biếng cả ăn, người lúc nào cũng như  hâm hấp sốt.  Ngồi nhà thì không yên lòng, Thu sang nhà Tuyết.

            Thấy Thu tới mắt đỏ hoe, mặt tái xanh như đang trong cơn bệnh, Tuyết vội hỏi:

            -“Thu đau hay sao.  Ðêm qua có ngủ được không mà trông bạn thảm hại quá.  Cháu lớn đã đi chưa?”

            -“Cả đêm hôm qua mình không chợp mắt chút nào vì lo cho cháu.  Ðưa cháu đi từ tối hôm qua, không hiểu nó thế nào.  Bây giờ vẫn chưa có tin.”

            -“Thu có biết thuyền khởi hành lúc nào không?”

            -“Sáng sớm hôm nay mình có tới bà chủ tầu xin cho cháu được ở lại, bà chủ tầu cho hay cháu đã lên thuyền lớn vào lúc nửa đêm.  Mọi việc tốt đẹp nhưng vẫn chưa có tín hiệu cháu gửi về.”

            -“Nhanh lắm thì cũng phải ngày mai mới có tin.  Ðây là một tổ chức đứng đắn thì bạn cũng yên tâm.”

            -“Không hiểu sao mình thấy nóng ruột quá.  Linh cảm như có chuyện gì không may xẩy ra.”

            -“Mình thông cảm nỗi lo lắng của Thu.  Mẹ nào chẳng thương con, nhất là chúng còn nhỏ dại.  Các cháu ở đây cũng muốn ra đi.  Mình biết vì tương lai của chúng nhưng vẫn không tránh khỏi lo âu.  Mấy bữa nay Thu có đi dậy không?”

            -“Mình xin nghỉ ít ngày.  Quả thực lòng mình xốn xang, còn lòng dạ nào mà giảng dậy.”

            -“Rồi mọi việc sẽ đâu vào đấy.  Mong cháu đến nơi an toàn.  Thu không nên quá lo lắng.  Nghỉ vài ngày rồi đi dậy lại cho vui. . . .”

            Hôm sau Thu mới nhận đuợc tín hiệu của con gửi về.  Như vậy mới tránh được nguy hiểm khởi đầu, từ nay trở đi nó còn phải đối diện với nhiều sự nguy hiểm khác.  Trên biển cả mênh mông, chiếc thuyền nhỏ quá mong manh.  Có đêm nàng mơ thấy chiếc thuyền vỡ ra từng mảnh, nàng sợ hãi hét to, mới hay mình vừa trải qua một giấc mộng hãi hùng. Từ đó nàng sợ những giấc ngủ về đêm.

            Thu đi dậy học trở lại dù tinh thần nàng chưa ổn định.  Nhìn đám học trò xấp xỉ tuổi con nàng, chúng sẽ lần lượt đi vào nơi nguy hiểm.  Không hiểu trong đám trẻ ngây thơ này, đứa nào sẽ còn, đi đến nơi đến chốn, chúng sẽ thành công ở vùng đất lạ, và đứa nào sẽ mất hút giữa biển khơi, để tiếc thương cho những người ở lại. Nàng thương xót chúng, như niềm yêu thương đứa con vừa ra đi đang chua xót lòng nàng.

            Nhiều khi nàng tự hỏi, lý do nào làm xáo trộn đời sống đang bình lặng ở đây, đẩy con người vào chốn đường cùng, mà vì sợ hãi đã nhất quyết ra đi, lao vào nơi nguy hiểm có thể hy sinh mạng sống.  Viễn ảnh nào đã làm con người khiếp sợ phải bỏ lại tài sản xây dựng bằng mồ hôi và nước mắt.  Phải bao lâu nữa mới có sự hòa hợp dân tộc.  Hay vì tư lợi, muốn bảo vệ quyền hành đảng trị, mà tập đoàn lãnh đạo đào sâu thêm hố chia rẽ, khiến một dân tộc nhiều tình cảm gắn bó không có được một ngày vui.

            Ðể giảm bớt lo âu, Thu giảng dậy đám học trò kỹ hơn, khuyến khích chúng chăm học.  Nàng cảm thấy gần gũi, yêu thương chúng hơn trước, và tìm thấy ở đám trẻ một niềm an ủi trong lúc tâm hồn nàng đang bấn loạn.

            Hơn một tuần sau bà Tư mới nhận được điện tín cho hay thuyền đã tới Chantaburi, một đảo nhỏ thuộc địa phận Thái-lan.  Thu đọc tấm điện tín mà lòng chưa hết lo âu.  Bức điện quá đơn giản, chỉ nói tới nơi, không cho biết rõ tình hình chuyến đi, nàng vẫn mong bức điện kể rõ tên người đã tới.

            Nhìn bà Tư, Thu thấy nét mặt bà có vẻ tư lự, như có điều gì chưa thể nói vào lúc này.  Bà có vẻ bận rộn như không muốn tiếp chuyện lâu.  Nàng định hỏi bà có chuyện gì nói cho nàng biết, nhưng Thu lại đổi ý.  Vì lúc này, bà cũng như nàng , ở quá xa nơi để biết chuyện.

            Tình trạng vượt biên ngày càng sôi động.  Có tổ chức móc nối với hải-quân, người đi xuống tầu hải quân tại bến Bạch-đằng, kho năm Khánh-hội, như thân nhân thủy thủ xuống thăm tầu.  Chiếc thuyền gỗ dùng để vượt biên công khai ra khỏi Sai-gon, mặc bọn công an chặn xét.  Sau đó, chiếc thuyền gỗ được tầu hải quân kéo qua khỏi Nhà Bè.  Tới địa điểm an toàn, người vượt biên mới rời tầu hải-quân xuống thuyền.  Dịch vụ hoàn tất, từ đây tới hải phận quốc-tế không còn bao xa nữa.

            Một tháng sau Thu mới nhận được thư con.  Cầm bức thư có dấu bưu điện Thái-lan, nàng mới chắc con mình đã tới nơi.  Lòng nàng phấn khởi như vừa uống một liều thuốc hồi sinh.  Thu xúc động khi đọc thư của con, đúng như nàng linh cảm, nó đã gặp chuyện không may dọc đường.  Nàng để giòng lệ tuôn rơi khi đọc thư:

            “. . . Bà Tư bảo mẹ về để chúng con ngủ một giấc trước khi đi, nhưng thực ra sau khi mẹ về là chúng con ra xe ngay.  Trời tối quá, ngồi trong xe chúng con không biết mình đi đâu.  Khi xuống xe mọi người vào một căn nhà nhỏ, không được nói chuyện.  Căn nhà không thắp đèn nên tối thui.  Bây giờ con mới thấy lạnh vì vẫn mặc bộ quần áo ở nhà khi đi.  Con không dám mở bọc lấy áo mặc thêm, vì sợ phải đi bất chợt.”

            “Khoảng nửa đêm chúng con ra khỏi căn nhà ngồi đợi.  Trời tối đen không nhìn rõ đường, nên nguời đi sau nắm áo người đi trước.  Con và mấy người học trò của mẹ lên thuyền rất khỏe, không gặp một trở ngại nào.  Theo mẹ dặn con đã gửi tín hiệu về, mẹ có nhận được Không.”

            “Ðêm tối mờ mịt không nhìn thấy gì ở đằng xa, chỉ toàn một mầu đen như  mực.  Mọi người trên thuyền đều vui khi qua hải phận quốc tế.  Mặc dầu biển êm nhưng chúng con vẫn bị say sóng.  Hết đêm lại ngày, qua ngày tới đêm.  Con nhớ mẹ và các em vô cùng.  Không biết đến bao giờ con mới gặp lại bố mẹ và các em.”

            Thu buông rơi lá thư, nàng thấm nhanh những giọt lệ trên trang thư của con.  Nàng không kìm giữ được tiếng nấc nghẹn mà niềm đau đang thấm sâu vào tim, làm ngưng nhịp thở như đứt đoạn của nàng.  Thu xót xa đọc tiếp trang thư:

            “Trước đây con vẫn thích biển, có lẽ chỉ là bãi biển Vũng-tầu hay Nha-trang vào dịp nghỉ hè.  Con được đùa với sóng hay chôn người dưới cát, đùa rỡn với các em.”

            Thu lại ngưng đọc, nước mắt nàng vẫn tuôn rơi.  Phải, tội nghiệp cho con nàng,  nó đã đối diện với sự thật, không phải đùa rỡn với sóng như nó thường nghĩ.  Nó đã trôi nổi trên đại dương.  Trên là bầu trời bao la, dưới là biển nước mông mênh.  Mặc dầu là biển lặng, nhưng con thuyền quá nhỏ bé chỉ là hạt cát, là vết bụi trong đại dương, làm sao có thể đương đầu với sóng dữ.  Thu hối hận, tự trách mình đã để con đi vào nơi nguy hiểm.

            “Thuyền bị sóng nhồi lên kéo xuống, lắc lư như nằm võng.  Con thầm ước giờ này được ở nhà với mẹ và các em thì vui biết mấy.”

            “Sau mấy ngày hành trình tương đối tốt, mọi người hân hoan vì không gặp hải tặc hay trở ngại nào trên quãng đường vừa qua.  Theo phương hướng và thời gian tầu chạy, giờ này tầu sắp lọt vào vịnh Thái-lan.  Không mấy lúc sẽ cặp bờ.”

            “Quá buổi trưa trời bỗng nổi cơn giông.  Bầu trời đổi mầu, mây xám kéo đến thật nhanh, lấy mất ánh nắng đang chiếu xuống mặt biển.  Gió thổi mạnh rít lên từng hồi.  Sóng biển dâng cao hơn, mầu nước thẫm đen.  Con thuyền chao đảo nhiều hơn trước.”

            “Bất chợt có tiếng thét “biển động” đã làm mọi người sợ hãi. . . .”

            Thu chợt bật tiếng nấc.  Nàng không cầm giữ được sự thương xót cho đứa con yêu quý của nàng.  Giòng lệ chan hoà.  Con nàng còn quá nhỏ dại để đương đầu với những hiểm nguy.  Thu chăm chú đọc tiếp:

            “Kẻ ôm vật này, người giữ cái kia.  Về phần con chỉ mặc chiếc quần đùi và áo sơ-mi mẹ khâu hai chỉ vàng dưới gấu.  Gói quần áo mang theo vẫn để ở chỗ nằm.”

            “Người tài công cố lái con thuyền.  Con chỉ thấy con thuyền bị nâng lên cao rồi hạ nhanh xuống.  Mọi nguời sợ hãi, tiếng kêu la như át cả tiếng sóng.  Sóng đẩy con thuyền, hất mọi người từ bên này sang bên kia mạn thuyền.  Con thuyền đã mất thăng bằng ở giờ phút này.  Nước biển đang rỉ vào thuyền qua khe nứt.  Những người nằm dưới hầm thuyền đã lên hết bên trên, vì dưới hầm nước đã vào nhiều, khiến phần nổi con thuyền nặng hơn phần chìm dưới nước.  Chiếc thuyền lắc lư nhiều hơn.”

            “Chúng con vẫn ở trên sạp thuyền, sát với phòng lái, từ trước lúc gặp bão.  Con ôm chặt vào khung gỗ tựa lưng nên không bị hất ra ngoài.  Chúng con không biết làm sao bây giờ.  Không ai có thể lo cho chúng con vào giờ phút này.”

            Thu đọc thư con trong tiếng nấc, nước mắt nàng đã đầm đìa, xóa nhòa hình ảnh trước mắt.  Nàng bỏ lá thư xuống, đưa khăn thấm những giòng nước mắt đang thi nhau rơi.  Nàng muốn đọc tiếp lá thư, nhưng dường như nước mắt đã làm nghẹn nơi cuống họng.  Nhịp thở của nàng thêm dồn dập:

            “Chủ thuyền lo cứu vãn con thuyền, còn người khác đang lo cho bản thân họ.  Nước vào thuyền nhiều hơn.  Phía lái đã nằm ngang mặt biển, còn mũi ngóc lên cao.  Nhiều người không bám chặt đã tuột từ mũi thuyền xuống phiùa lái.  Sóng biển vẫn nhồi con thuyền nhô lên hụp xuống.  Nằm trong thuyền nhìn ra ngoài, sóng dâng thật cao như muốn phủ con thuyền.  Khiến chiếc thuyền lúc nghiêng bên phải khi nghiêng bên trái.  Bất chợt chiếc thuyền xoay tròn, không hiểu có phải nó rơi vào con xoáy như mẹ thường kể cho chúng con nghe không.  Nó như bị kéo xuống rồi tức thời đẩy lên cao.  Con cảm thấy mệt nhiều hơn.  Muốn nôn mà không được, vì từ hôm qua đến giờ con bị say sóng nên chưa ăn thứ gì.  Chúng con cố bám vào khung gỗ.”

            “Chiếc thuyền như vặn mình oằn oại.  Tiếng gỗ vách thuyền bị xé rách phát ra âm thanh nghe thật rõ.  Sóng đập vỡ vách thuyền làm nhiều mảnh.  Xác thuyền chìm dần.  Tất cả mọi thứ chứa trong lòng thuyền nổi lềnh bềnh trên mặt nước.  Mọi người cố gắng vùng vẫy bám vào nhau, hay bất cứ vật gì trong  tầm tay.  Nhiều người đuối sức hay không biết bơi chìm dần xuống nước, chỉ thấy hai bàn tay quờ quạng rồi mất dạng.  Những người còn lại, sau một thời gian qúa lâu vật lộn với sóng nước đã mệt mỏi, đành nhìn những bạn đồng hành hay thân nhân mình chìm dần dưới làn nước biển.”

            “Con nhìn thấy cảnh người cha cỡ tuổi bố, khi thấy con mình bị hất xuống biển, ông lao theo cứu hai đứa con.  Nhưng hai con ông qúa sợ, đã ôm chặt cổ cha.  Chỉ thấy ba cha con vùng vẫy một lát rồi không thấy nổi lên nữa.”

            Thu ngừng đọc.  Cảnh thuyền vỡ như hiện ra trước mắt nàng.  Những tiếng kêu cứu thảm thiết đã bị sóng biển chôn vùi, những hình hài mất hút dưới đáy biển sâu.  Cơ may nào dun dủi mà con nàng sống sót.  Nàng vội đọc tiếp lá thư:

            “Chúng con sợ hết hồn khi thuyền vỡ.  Nhưng may mắn, con và mấy người học trò của mẹ, ôm được mảnh ván thuyền.  Cũng nhờ biết bơi nên con ôm chặt tấm ván mặc cho sóng nước đưa đẩy.  Con không rõ cơn bão xẩy ra bao lâu, đến khi gió bới thổi mạnh, sóng biển cũng giảm theo, không dữ dằn như lúc ban đầu.”

            “Trời quang trở lại, một số người ôm được ván thuyền hay các vật nổi còn vùng vẫy trên mặt biển.  Con bơi miếng ván lại gần chỗ đông người.  Bỗng mọi người la lớn, hò hét khi thấy một chiếc tầu đang tiến về phía chúng con.  Mọi người nhận ra đó là tầu đánh cá Thái-lan.”

            “Họ bắt đầu cứu người bị nạn.  Mọi người bơi lại gần tầu, đua nhau bám vào thang giây vừa thả xuống.  Mặc dầu biển đã bớt động, nhưng sóng vẫn còn dâng cao.  Con tầu vội chạy ra xa, tránh tình trạng mất thăng bằng khi mọi người cùng leo lên một bên.  Họ tiếp tục vớt từng nguời.  Con ôm miếng ván bơi lại gần tầu, bám vào thang giây và được kéo lên tầu.”

            Thu thở một hơi dài, như vừa trút được một gánh nặng.  Con nàng sống sót trong đường tơ kẽ tóc.  Niềm thương xót con đang dậy lên.

            “Bọc quần áo con mang theo đã văng đi ngay từ khi thuyền vỡ.  Chiếc áo con mặc rách nát tuột khỏi người con lúc nào mà con không hay.  Con chỉ còn mặc chiếc quần đùi.  Vì ngâm lâu trong nước biển lạnh nên con rét run.  Khi lên tầu Thái con được quấn mền ấm và uống nước nóng.  Lúc này con mới thấy mệt và đói.”

            “Chúng con được đưa tới trại gần nhất trên đất Thái.  Trại Chantaburi nơi con đang ở với mấy người học trò của mẹ.  Mẹ đừng lo vì mất chiếc áo mà con không có tiền tiêu.  Trại đã cho chỗ ở và ngày hai bữa cơm no.  Dù không bằng ở nhà nhưng cũng không đến nỗi nào.”

            “Bây giờ con đang ở sát biển.  Hàng ngày, sáng trưa chiều tối con vẫn ra đây ngắm biển.  Phần vì con thích biển từ lâu, hơn nữa trại không có chỗ nào chơi tốt hơn là bờ biển này.  Nhưng mỗi lần ra đây nhìn biển, con lại nhớ tới cảnh biển động, thuyền vỡ thật kinh hoàng.  Khi viết thư cho mẹ con vẫn còn thấy sợ.  Sự sợ hãi làm con khó ngủ nhiều đêm.”

            “Con có ý nghĩ là mẹ và các em không nên đi vượt biên, vì may mắn thì ít mà rủi ro thì nhiều.  Nhất là các em còn nhỏ, chúng không chịu nổi nếu gặp trường hợp như con.  Mẹ biết không, chiếc thuyền con đi có hơn một trăm người, mà sau cơn bão chỉ còn hơn bẩy chục.  Mẹ có nhận được tin của bố đang ở đâu không, đã mấy năm rồi mình không được tin bố. . . .”

            Thu đọc thư con nhiều lần.  Nàng mừng là con đã đến nơi  đến chốn.  Nhưng bây giờ nó phải đối diện với hoàn cảnh mới.  Con lớn lên trong một xã hội tiến bộ rất nhanh cả về điều tốt lẫn xấu.  Một xã hội có nhiều phương tiện để phát triển tương lai, nhưng cũng có nhiều cơ hội làm con người hư hỏng.  Liệu nó còn gặp điều không may nào nữa không.  Lòng mẹ thương con vô cùng.

                                                                        *

 5.

            Thu nhìn ra cửa khi nghe các con chào khách, nàng nhận ra người em dâu họ, mợ Ninh.  Cậu là một sĩ quan đang “học tập cải tạo”.  Thu ra tận cửa đón.

            -“Em đi bán hàng gần đây, ghé thăm bác, chị và các cháu.  Hôm nay chị không đi chợ?”

            -“Chị không đi buôn đã mấy tháng nay.  Hiện chị đi dậy học tư, được nghỉ ngày chủ nhật.”                                                                  5(Pháo kích khu dân cư trước ngày 30-4- 1975)  

            -“Lâu nay chị có nhận được tin của anh không?”

            -“Hơn một năm trước chị có gửi quà cho anh một lần.  Từ đó đến nay không nhận được tin của anh nữa.”

            -“Khi gửi quà em nghĩ chị đã biết anh đang ở đâu.”

            -“Ðịa phương chỉ cho chị hay ngày giờ chị tới trại Chí-hòa, đường Lê-văn-Duyệt gửi quà, nhưng không được gặp mặt.   Một tháng sau, vào ngày thăm nuôi kế tiếp, chị có tới trại Chí-hòa gửi quà.  Cán bộ trại cho hay không có tên anh ở trại này.  Còn em, em có nhận được tin của cậu ấy không?”

            Thu nhìn người em dâu, sức khỏe không mấy tốt, quần áo lam lũ.  Chứng tỏ đời sống quá chật vật, thiếu thốn.

            -“Mẹ con em vẫn thường.  Còn nhà em không biết bây giờ đang ở đâu.”

            -“Nghe nói trước đây em có nhận được tin của cậu ấy.”

            -“Cuối năm 1976 nhà em có nhắn tin khi ở trại Tam-hiệp.  Khi đó vì hoàn cảnh gia đình em chậm lên thăm.  Mấy tháng sau em lên thăm thì nhà em không còn ở chỗ đó nữa.  Không hiểu họ chuyển nhà em đi đâu.”

            -“Hiện giờ em và các cháu sống ra sao?”

            -“Như chị biết, khi chạy từ tỉnh Pleiku về đây, chúng em không mang theo được gì.  Chỉ là bỏ của chạy lấy người.  Nhà cửa bên bố mẹ chồng em không đủ chỗ cho vợ chồng em và mười cháu.  Chúng em và gia đình người bạn, lớn nhỏ hơn hai muơi người, tá túc tại một nhà xe của một người quen ỏ khu cư xá Thanh-đa.”

            “Rồi xẩy đến ngày 30/4/75, nhà em đi trình diện.  Cả nhà gom lại vừa đủ 13,500 đồng đóng cho nhà nước, gọi là một tháng tiền đường theo thông cáo, để nhà em đi “học tập”.  Sau một tháng như thông cáo nói trước khi đi, nhà em vẫn chưa về.  Em không biết nhà em ở đâu.”

            “Chúng em phải họp tổ dân phố hàng đêm.  Học tập chính sách nhà nước.  Em nghe nhắc lại nhiều lần, thành phần đi học tập cải tạo vì có nợ máu với nhân dân.  Lúc đó em mới hiểu ý câu nói “một tháng tiền đường”, và họ còn ngụy biện “đó là cái ưu việt của chế độ nhà nước xã hội chủ-nghĩa, bắt mọi người tự nguyện đi học tập.”  Em biết nhà em khó được về như thông cáo ban đầu.”

            -“Chị cũng ngạc nhiên ở điểm, họ có bạo lực nhất là miền Nam đã nằm trong tay họ, xá gì những sự chống đối mà họ phải che dấu, lường gạt mọi người.”

            -“Em và cháu lớn ngược xuôi kiếm sống.  Em thì buôn bán ở chợ, còn các cháu làm thuê vác mướn, gặp gì làm đó, kiếm sống cho qua ngày.  Ðời sống rất chật vật.

            Nhà nước đưa ra chính-sách đẩy dân thành phố đi vùng kinh-tế mới, như để giảm bớt gánh nặng kinh tế vì dân số quá đông của thành phố này.  Nhất là nhắm vào các gia đình có thân nhân đi “cải tạo”.  Ðúng là cách một mũi tên hạ hai con chim.  Vừa cô lập thành phần chống đối, vừa chiếm ngụ các căn nhà của gia đình “cải tạo” một khi ra khỏi thành phố.  Ðịa phương khuyến cáo, nếu gia đình em đi vùng kinh tế mới thì nhà em sẽ được về xum họp với gia đình.”

            -“Chị cũng nghĩ như em.  Thực tế chỉ là lời tuyên truyền, nhất là lời tuyên truyền của người Cộng-sản.  Chúng ta đã nhìn thấy sự thật.  Người Cộng-sản để lại trong lòng người dân sự ngờ vực về hành động của họ.”

            -“Vâng, nhất là khi em nhìn thấy mấy anh “cải tạo” ở trại Long-giao, Long-khánh.  Mới có mấy năm học tập mà đã thân tàn ma dại, thân thể gầy ốm, tiều tụy không thể tưởng tượng được.

            Em nghĩ mà thương nhà em quá.  Nhà em chắc cũng giống mấy anh “cải tạo” này.  Như chị thấy, chúng em chẳng giầu có gì, nhưng trước kia nhà em có bao giờ cực nhọc vất vả đâu.  Em mong nhà em sớm trở về đoàn tụ với gia đình.  Chẳng còn cách nào hơn, em đành chấp nhận mang các cháu đi vùng kinh-tế mới, đến một nơi chưa biết tương lai sẽ ra sao.  Trước khi chúng em đi, nhà nước hứa hẹn cấp phát cho mỗi gia đình một căn nhà, có đất vườn trồng cấy.  Nhất là gạo nước cấp phát đầy đủ trong thời gian đầu chưa có hoa mầu.”

            -“Chính quyền ở đây cũng hô hào như thế.  Ngoài ra Phường Khóm còn áp lực thúc đẩy người dân, nhất là gia đình có thân nhân đi “cải tạo”, hưởng ứng chính sách   “kinh-tế mới”.  Nhưng ở hoàn cảnh chị có khó khăn vì các bác già yếu, các cháu quá nhỏ dại, chưa phụ giúp được gì.  Thành thử chị không đi vùng kinh-tế mới.   Hơn nữa, không phải vì sẵn có ý nghĩ là chúng ta không tin được người Cộng-sản, nhưng thực tế cho thấy lời nói và việc làm của họ hoàn toàn trái ngược.  Không làm ai tin tưởng.  Nhưng nếu nhà nước cấp nhà thì cũng đỡ khổ lúc đầu.”

            -“Nói là nhà cho sang, thực ra chưa đáng là cái chòi.  Vì nhà chưa có nóc.  Mới chỉ là một khung tre, xung quanh che bằng một lớp phên thưa bằng tre mới được một nửa phần tường.  Không chắn được gió chứ  đừng nói tới che mưa.  Bếp nước không có, giuờng chiếu cũng không.  Các cháu phải nằm trên các tấm cói đan trên nền đất còn ẩm.  Cũng may em xin được một ít chăn màn, cho các cháu chen chúc nhau nằm, đỡ được phần nào muỗi vắt châm chích hàng đêm.”

            “Thành thử thay vì bắt tay lo ngay cho đời sống, em và các cháu phải góp nhặt vật liệu, bất kể là tấm gỗ hay tầu lá cọ, làm xong căn nhà để các cháu có chỗ che nắng đụt mưa.”

            “Sau những ngày dãi nắng dầm mưa, phong thổ chưa quen, vật chất quá thiếu thốn, các cháu nhỏ đau nặng.  Còn mấy đứa lớn có chút sức khỏe phải làm thuê vác mướn, quần quật từ sáng đến tối để có phương tiện sống qua ngày.”

            -“Ðời sống ở đây cũng khổ cực không kém, cả về tinh thần lẫn vật chất.  Nhưng ở hoàn cảnh như  thế em xoay trở làm sao?”

            -“Qua những tháng đầu vất vả, nhất là cháu út còn nhỏ, em không tiện đi xa.  Mấy mẹ con em học nghề đốt than.  Lúc đầu gặp nhiều khó khăn, nhưng vừa học vừa làm rồi cũng quen.  Chưa biết tương lai ra sao, nhưng em cũng tạm yên lòng một phần,  ít nhiều mình cũng có một phương tiện sống.  Mấy cháu phụ em làm than, còn các cháu khác, ngoài thời gian vào rừng tìm măng tre đem bán hay làm thuê làm mướn, đều xúm nhau chăm lo khu đất quanh nhà.  Trồng khoai trồng sắn, ngọn rau trái bắp hầu có thêm thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày.”

            -“Chị cũng phục em.  Một nách mười đứa con dại, trong hoàn cảnh thiếu thốn về vật chất lại luôn luôn căng thẳng về tinh thần, mà em vẫn chịu đựng lo lắng cho các cháu đầy đủ.  Nhưng thấy mấy cháu phải cực nhọc vất vả cũng tội nghiệp.”

            -“Em nhìn các cháu mà thương.  Bữa ăn quá đạm bạc mà làm việc cực nhọc từ sáng đến tối.  Chúng đang cần ăn để lớn.  Chị nghĩ có người mẹ nào thấy con ở hoàn cảnh này mà không đau xót, đứt ruột.  Nhưng em không làm sao khác được.”

            -“Em bán than tại địa phương hay có mối tới mua?”

            -“Khi than ra lò, em không thể tiêu thụ tại chỗ, vì nhà nào nhà nấy đều làm công việc như nhau.  Còn mối chỗ khác tới mua lại ép giá, tiền bán không bù được công sức bỏ ra.  Chúng em muốn kiếm thêm chút lời, nên mang về thành phố bán.  Nhưng kẹt một nỗi, vừa ra khỏi xã đã gặp đám công an thâu thuế.  Trên đường về đến đây không biết bao nhiêu trạm.  Em không hiểu sao lại có nhiều trạm thâu thuế đến thế.  Có thể nói bất cứ người công-an mặc sắc phục nào, dù không phải nhiệm vụ, cũng có quyền lấy tiền của dân.  Vào đến thành phố lại phải đóng thuế nhập thị, thuế kinh-tế.  Chưa kể nhiều thứ phụ thu này nọ.  Bọn công-an tham lam vô cùng.  Chúng xén đầu cắt đuôi, rồi cuối cùng họ cướp luôn công sức của mình.

            “Tháng vừa rồi em bị đau, nên hai cháu đi bán thay.  Tối hôm đó chúng không về, em sốt ruột vô cùng.  Vì dưới chế độ này, cái gì cũng có thể xẩy ra.  Nếu phản đối, họ bảo những thứ chúng em làm ra là đồ quốc cấm, là tiếp tay với phản động chống phá nhà nước.  Sáng hôm sau hai cháu mới về nhà.  Than bị tịch thu.  Hai cháu mặt mũi bơ phờ vì bị nhốt ở cơ quan một đêm.”

            -“Chị thông cảm hoàn cảnh của em.  Nhưng chúng ta chẳng làm sao được.  Thảm trạng này có kêu ca cũng vô ích.  Câu nói “quan ở xa, sai nha lại gần”, nhưng thời thế này, cả quan lẫn sai nha đều ở gần, cùng một lứa.  Họ vẫn coi chúng ta như kẻ thù.  Chị xin đi làm hầu có chút gạo cho gia đình thì họ làm khó đủ điều.  Nói là chị thuộc diện có chồng “cải tạo” không được chấp nhận.  Ðịa phương thì lợi dụng hộ khẩu bóp hầu bóp cổ người dân.  Chị có cảm tuởng chế độ này không muốn chúng ta, những gia đình có thân nhân đi “cải tạo”, được sống bình thường yên ổn.”

            -“Nhiều khi em chỉ còn biết khóc.  Nhà em thì như thế.  Biệt tăm biệt tích, không biết sống chết ra sao.  Còn các cháu đang tuổi ăn học thì bị đầy ải ở góc rừng này.  Vẫn chưa yên, cháu lớn là đứa giúp kiếm tiền phụ thêm gia đình, thì chính quyền địa phương bắt mỗi gia đình phải có một người, mang theo một tháng lương thực, để làm công tác “lao động Xã-hội Chủ-nghĩa.”

            -“Chị chưa thấy chế độ nào tàn ác như chế độ Cộng-sản.  Bóc lột tận cùng sức lao động của người dân mà không ai dám kêu ca phản đối.  Vừa làm không công lại vừa mất của.”

            -“Thấy cháu lớn phải đi dân công  em cũng thương xót lắm.  Em đành để cháu nhỏ ở nhà cho anh chị cháu trông nom.  Em mang bánh kẹo và các thức ăn liền theo đoàn dân công.  Vừa có thể săn sóc cháu lớn vừa bán cho họ để đổi lấy gạo cho các cháu ăn.  Em phải đi cả mười cây số đường rừng, từ sáng sớm đến tối khuya mới về.  Các cháu khác đi làm thuê, không được vào rừng lấy măng.  Chính quyền địa phương cấm lấy măng, và bảo để măng lớn thành cây tre sẽ dùng được nhiều việc hơn.”

            -“Chị thấy gia đình nào ở đây đời sống cũng như nhau, lấy khả năng nào mà thuê mướn người phát hoang làm rẫy.”

            -“Lúc đầu em cũng đặt câu hỏi như chị, nhưng sau này em mới biết, là có nhiều người không ở vùng này nhưng có đất đai rất nhiều.  Họ thuê người phát quang làm rẫy.  Ða phần là những phần đất tốt hơn chỗ em ở.  Nơi đây cũng gần căn cứ của Việt-cộng trước kia nên mìn bẫy còn lưu lại không dấu vết.   Cách đây hai tháng có hai cháu bị thương vì cuốc phải mìn.”

            -“Hai cháu bây giờ ra sao.  Chúng đã khá chưa?”

            -“Bây giờ các cháu đã khá hơn.  Khi nghe hai cháu bị thương em lo quá.  Không hiểu có nguy hiểm tới tính mạng không.  Cũng may một cháu bị thương nhẹ, nhưng cháu kia bị thương khá nặng.  Khi em tới nơi, cháu đã được khênh vào nhà đồng bào gần đó.  Nhìn cháu máu me đầm đìa, lúc tỉnh khi mê, lòng em như cắt.  Em sợ nó khó  sống nổi.  Mọi người khênh cháu đi bộ gần ba cây số mới ra tới đường lộ.  Vừa đi em vừa cầu xin ơn trên phù hộ cho cháu qua khỏi.  Em thuê xe Lam chở cháu tới bệnh viện Long-thành. Tới bệnh viện, nếu ở địa vị chị, chắc chị cũng nổi điên vì cung cách làm việc của đám cán bộ nhân viên nhà nước.”

            -“Họ bảo tình trạng của cháu ra sao?”

            -“Họ không đả động tới cháu, chỉ hỏi giấy tờ.  Quả thật, của đau con xót.  Lúc đó em muốn mắng vào mặt họ, nhưng đành nuốt giận, vì sự sống của con mình nằm trong tay họ.  Còn nước còn tát.  Em năn nỉ họ đủ điều, lậy van họ cứu cháu.  Nhưng họ vẫn không động tâm, cứ để mặc cháu nằm trên nền gạch.  Mà chị biết tại sao không, vì em không biết “thủ tục đầu tiên”.  Sau mấy giờ chờ đợi làm thủ tục, họ cho giấy chuyển cháu đi bệnh viện Biên-hòa.”

            -“Ðúng ra, đứng trườc con bệnh ngặt nghèo, dù có tiền hay không, họ cũng phải xem xét nặng nhẹ mới phải.  Ðâu có thể vô tình đến như thế.”

            -“Em cũng không hiểu tại sao họ vô lương tâm như vậy.  Hay vì xã hội thay đổi mà con người mất đi lòng nhân ái.  Em phải cắn răng chịu đựng, vì lo cho cháu là việc phải làm trước mắt.  Em thuê xe Lam đưa cháu đi bệnh viện Biên-hòa.  Khi tới nơi, cháu bị nhẹ thì không được chữa trị, còn cháu bị nặng phải đợi làm thủ tục nhập viện.  Từ phòng này tới phòng khác, cháu tới lúc ba giờ chiều mà đến tối mới được chữa trị.”

            -“Hiện nay các cháu thế nào.  Chúng có khỏe không?”

            -“Thật phúc đức, dù bị nhiều mảnh vào người, nhưng cháu qua được hiểm nghèo.  Cháu khó lại sức ngay, vì mất quá nhiều máu trong khi di chuyển và đợi chờ làm thủ tục.”

            -“Em và các cháu hiện giờ thế nào.  Em có tính toán gì không?”

            -“Ðời sống chúng em bảo là ổn định thì chưa.  Vì có gì gọi là ổn định dưới chế độ này.  Còn tính toán tương lai thì tính toán làm sao bây giờ.  Em chỉ có một ước vọng duy nhất là biết tin nhà em hiện ở đâu, và các cháu được đi học, để chúng sau này không ngu dốt.  Nhưng liệu điều mong mỏi của em có thể thành tựu được không.  Khi nhà em còn mang nhiều nợ máu với nhà nước, và các cháu là con cái “Ngụy”.

            “Còn đời sống chúng em.  Nói cho cùng, nhìn lên không bằng ai, nhưng nhìn xung quanh còn có nhiều người bất hạnh, cay đắng hơn nhiều.  Em may mắn có đời sống dù tay làm hàm nhai, lấy mồ hôi chan bát cơm, nhưng các cháu rất hiếu đạo.  Anh em chúng yêu thương đùm bọc lẫn nhau, kính nể cha mẹ.  Không giống những đứa trẻ vào đoàn vào đội, huênh hoang vì có chiếc khăn quàng đỏ mà có thái độ ngỗ ngược với gia đình.”

            -“Ðó cũng là điều chị mong mỏi.  Vì đời sống chúng mình hiện tại còn gì ngoài chồng con.  Anh đang ở đâu chị cũng không biết.  Sống chết thế nào chị cũng không hay.  Chỉ còn các cháu, chúng là nguồn hy vọng của chị.  Nhưng chúng còn nhỏ dại quá, dễ hấp thụ những chuyện dở ngoài đời.  Chúng ta có trách nhiệm, bổn phận săn sóc hướng dẫn chúng.  Nhưng nhiều khi chị tự hỏi, liệu mình có điều kiện để làm công việc nhỏ bé đó không.”

            -“Chị như đọc được lòng em.  Em vẫn hằng mong đợi những điều chị vừa nói.  Em không dám so sánh với đời sống mọi người xung quanh, nhưng em luôn cố gắng thúc đẩy, giúp các cháu vươn lên trong đời sống.  Nhưng có nhiều trường hợp làm chúng ta kính trọng.”

            -“Ở đâu cũng vậy.  Có trường hợp người đàn bà thật đáng kính vì lòng can đảm, đã hy sinh tuổi xanh của mình cho bổn phận cao đẹp, nhưng cũng có trường hợp làm mọi người khinh bỉ.  Như trường hợp một bà gần nhà chị.  Ông chồng là một sĩ quan đi “học tập cải tạo”, nhưng bà vợ ở nhà vẫn quen thói ăn chơi đàn đúm, quần áo diêm dúa.  Em có thể tưởng tượng được không.  Bà ngồi ăn phở với bạn, trong khi đứa con trai chưa tới mười tuổi, quần áo lôi thôi lem luốc đứng chờ, để được húp phần nước cặn dư thừa.  Ðã không cho con ăn, bà còn đuổi con đi chỗ khác, như xua đuổi một kẻ ăn xin.”

            -“Em cũng nghĩ như chị.  Có hay cảnh này, mới biết giá trị của trường hợp kia.  Như chuyện một cô bên cư xá Thanh-đa, gần nhà em ở trước.  Em biết cặp vợ chồng này từ trước ngày miền Nam bị chiếm đoạt.  Họ rất yêu thương nhau.  Thật là một gia đình hạnh phúc.  Cô còn trẻ, khi chồng đi “cải tạo” cô đã có ba đứa con, đứa nhỏ mới  đầy tháng.  Em vừa qua thăm,  nghe cô kể chuyện em cũng buồn lây.  Em hỏi cô ấy:

            -“Cô mới đi thăm nuôi, chú ấy có khỏe không?”

            -“Em đi thăm về đã hơn tháng nay.  Nhà em không được khỏe chị ạ.  Nhìn anh ấy mà thương.  Lòng em thật chua xót.  Nhưng chuyện đã lỡ rồi.”

            Nói đến đây cô bật khóc, như sự đau thương đang vò xé tâm can cô.  Như có dịp  tâm sự được cởi mở, được dãi bầy những niềm u uất.  Cô nói tiếp:

            -“Như chị biết, các cháu của em còn nhỏ quá.  Căn nhà em ở trả góp cũng bị nhà nước lấy lại, vì chồng em là sĩ quan “học tập cải tạo”.  Nhà nước bảo chồng em là “Ngụy” quân, đã từng giết hại cách mạng, có nợ máu với nhân dân.  Khóm phường làm khó em đủ điều, coi em như kẻ thù.  Còn công an khu vực, không nói chị cũng biết, em chẳng khác nào mỡ để trước miệng mèo.  Nhưng em đâu có thể vì miếng ăn hay được yên thân mà làm điều tàn tệ, chiều theo ý chúng.  Vì vậy chúng đâu để em yên.”

            “Ðời sống kinh tế khó khăn.  Các con em đứa dắt đứa bồng, làm sao em một mình xoay trở nổi.  Nhiều khi trước những ép buộc xung quanh em đã bất lực.  Quả thực em không muốn sống trong tủi nhục này.  Nhưng phải chịu đựng, vì chồng em đang ở tu,ø chưa biết ngày nào trở về.  Các con em còn nhỏ dại biết cậy nhờ ai lúc này.  Em phải sống vì chúng.”

            “Năm ngoái có tin nhà em về trại Nam-hà, em muốn đi thăm nhưng không có tiền.  Người thân mỗi người cho em chút ít, cũng tạm đủ mua quà cho nhà em.  Nhưng còn tiền tầu xe em biết lấy đâu ra.  Từ đây ra Bắc đâu phải một sớm một chiều mà tới, nhất là đến một nơi xa lạ em làm sao tự lo được.  May nhờ anh Ba, người đã giúp đỡ mẹ con em mấy năm nay, sẵn lòng chở  mẹ con  ra thăm nhà em.”

            -“Cô đã đi thăm chú năm vừa rồi, lần này là lần thứ hai?”

            -“Vâng, kỳ thăm này là lần thứ hai em và các cháu ra thăm nhà em.  Em đã nói thật mọi chuyện để nhà em hiểu về đời sống của mấy mẹ con em trong những năm qua.”

            -“Lần này chú Ba cũng chở cô và các cháu đi thăm?”

            -“Vẫn một tay anh ấy lo lắng, giúp đỡ mẹ con em.  Coi sóc và dậy dỗ các cháu như con của anh ấy.  Khi gặp nhà em ở nhà thăm nuôi, em có nói vẫn yêu thương, kính trọng chồng em.  Anh là một người chồng thật tốt.”

            Cô lại bật khóc.  Tiếng khóc thật tan nát trước những đổ vỡ của cuộc đời.  Em hiểu hoàn cảnh của cô, thông cảm nỗi khổ của cô.  Em im lặng giây lát rồi hỏi:

            -“Thái độ chú ấy thế nào?”

            -“Nhà em nét mặt thật buồn.  Anh ôm các cháu vào lòng, như  dằn sự đau khổ mà ở hoàn cảnh này anh đành bất lực.  Em nói với nhà em:  Anh tha lỗi cho em.  Em đã làm điều không phải.  Không giữ đuợc lòng chung thủy.  Không trọn đạo làm vợ.  Em không dám xin anh một lời tha thứ, mà chỉ xin anh thông cảm hoàn cảnh của em, hoàn cảnh tang thương của chúng mình.  Chúng mình hãy hy sinh vì con.  Em hứa nuôi dậy các con lên người, đúng như ý của anh khi còn ở nhà.  Nếu có điều kiện, em sẽ cho con ra thăm anh. . . .”

            Em có nói với cô ấy:

            -“Trong đời sống chúng ta hiện tại, mỗi người mỗi trường hợp khác nhau.  Chúng mình thì khốn khổ vì đời sống o ép.  Ðành rằng mình có tiếng được tự-do nhưng cuộc sống không khác gì trong nhà tù.  Ðời sống riêng tư bị nhòm ngó từng giây phút.  Còn những người đi “học tập cải tạo” khác nào đang bị lưu đầy, dưới hình thức nông nô.  Họ đã mất tất cả,  cả cuộc đời còn lại của họ.”

            -“Nghe chuyện em kể thật mủi lòng.  Vì sự sống, nhiều khi người đàn bà phải chấp nhận cả những điều mình không muốn làm. Em thấy bên Thanh-đa có gì lạ không.  Ðã lâu chị không qua bên đó?”

            -“Có một điều em thấy lạ là người ngoài Bắc vào đây rất nhiều.  Có những căn nhà chứa hàng mấy chục người, đa phần là thanh niên còn nhỏ tuổi.  Hay đây là một hình thức di dân chui.  Dù vào trong này bất hợp pháp theo như chính sách nhà nước, nhưng trước sau gì họ cũng được chính quyền địa-phương hợp thức hóa hộ khẩu.”

            -“Chị nghe đồng bào ngoài Bắc muốn vào trong Nam sống, nếu không thuộc thành phần nhân viên nhà nước chuyển vào vì nhu cầu, họ phải chi nhiều tiền cho cán bộ địa-phương nơi cư ngụ.  Trong đó phải kể cả thành phần bất hảo cũng vào theo, vì thành phần này dư dả tiền bạc.  Em có gặp những người quen trước không?”

            -“Các căn cư xá đổi chủ cũng nhiều.  Có điều làm em suy nghĩ, khi em gặp mấy người quen cũ, họ mừng rỡ nói: – “Tôi mừng cho bà, Trung-tá đã được trở về xum họp với gia đình.  Ông nhà có mạnh không.  Chính quyền địa-phương ở đây đang khuyến khích những gia đình có thân nhân đi “cải tạo”, hãy theo gương bà đi vùng kinh-tế mới, để mấy ông sớm được về xum họp với gia đình.” –  Em ngạc nhiên về chính sách nhà nước.  Họ bảo nhà em đã được về, trong khi em không biết nhà em đang ở đâu.  Còn sống hay đã chết.”

                                                                        *

 6.

            -“Mẹ ơi! Nhà có khách.”

            Thu vội bỏ chiếc áo đang khâu khi nghe tiếng đứa con trai út.  Nàng mừng rỡ thấy khách là bạn làm cùng sở với chồng nàng.   Nàng vồn vã:

            -“Lâu không gặp, tôi tưởng anh chị đã ra nước ngoài.  Anh chị và các cháu vẫn thường chứ?”

            -“Tôi cũng nghĩ là anh chị đã ra đi.  Ðời sống thay đổi qúa đột ngột nên tôi ít qua lại với bạn cũ.  Mấy hôm trước tôi có đi thăm nhà tôi ở trại Thanh-cẩm Thanh-hóa, gặp anh mới hay anh chị còn ở lại.  Tôi có thư của anh gửi cho chị.”                       6(Google: Bến Bạch Đằng ngày 30-4-1975)

            Thu bàng hoàng khi hay tin chồng.  Sự xúc động làm nàng nghẹn lời, mắt nàng xầm tối, hình ảnh trước mắt như mờ ảo.  Niềm vui đến với nàng thật bất chợt.  Thu nhận thư chồng, mắt nàng rưng lệ.  Nàng đợi tin chồng từ lâu, nhưng anh vẫn biệt tăm.  Mấy đứa con nàng xúm lại bên mẹ khi nghe có tin về bố.  Thu nhìn bạn hỏi:

            -“Chị thấy nhà tôi có khỏe không.  Anh có nhắn gì thêm không?”

            -“Trông anh cũng không đến nỗi nào, chỉ đen và gầy.  Khi tôi gặp, anh đang đào hố cá nhân với hai người bạn tù.  Có cán bộ võ trang canh gác nên không nói được nhiều.  Anh chỉ kịp nói: Chị cho nhà tôi hay tôi khỏe.  Ngày mai tôi có thư gửi chị.”

            Thu mủi lòng khi nghe bạn nói.  Những xót thương xa vắng bao lâu chợt trở về.  Nàng tội nghiệp cho chồng.  Anh đã đổi thay vì những khổ ải của cuộc đời.

            -“Chị về lâu chưa, anh có khỏe không?”

            -“Tôi mới về chiều hôm qua nên báo tin chị hay ngay.  Nhà tôi sức khỏe cũng khá, có lẽ nhờ chút quà thăm nuôi của gia đình.”

            -“Anh ra Bắc đã bao lâu, chị đi thăm thường không?”

            -“Sau ngày 30/4, nhà tôi đi trình diện theo lệnh gọi của nhà nước.  Anh bị giam ở miền Nam một thời gian rồi mới ra Bắc.  Vì đường đi dài ngày, nhất là khả năng tài chính không cho phép, nên lần này mới là lần thứ hai tôi đi thăm nhà tôi.  Còn chị có đi thăm anh thường không?”

            -“Ðã mấy năm nay tôi không nhận được tin.  Cám ơn chị đã cho tôi hay tin nhà tôi.  Mải nói chuyện của tôi, còn chị và các cháu ra sao?”

            -“Như tình trạng chung, sau khi miền Nam bị chiếm đoạt, nhà tôi phải đi trình diện theo lệnh của ủy ban Quân quản thành phố.  Tôi đinh ninh chỉ đi một tháng như thông cáo cho hay.”

            -“Thời gian đầu mọi người đều hiểu như thế.  Hơn nữa chúng ta nghĩ thời gian “học tập” một tháng chẳng là bao, đi học cho xong.  Nhưng không ngờ thực tế lại khác những điều đã nói.”

            -“Vâng, tôi cũng tin như thế nên yên lòng chờ đợi.  Nhưng sau một tháng vẫn bặt tin nhà tôi.  Cùng một lúc, căn cư xá mua trả góp tôi ở đã hơn mười năm, bị cơ quan địa phương tới trưng dụng.  Với lý do căn nhà tôi mua thuộc nhà nước quản lý.  Chúng tôi trở thành những người không nhà không cửa, mấy mẹ con tôi phải về dưới tỉnh sống với bà ngoại các cháu.”

            -“ Sau khi anh đi trình diện chị biết anh ở đâu chứ?”

            -“Tôi đâm ra hoang mang vì không biết nhà tôi ở đâu mà tìm, không biết họ mang nhà tôi đi đâu.  Tôi hỏi những người bạn quen có chồng đi trình diện cùng đợt với nhà tôi, cũng không ai biết gì hơn.  Ðến gần một năm sau tôi mới hay nhà tôi bị giam ở trại Tân-hiệp.  Rồi lại bặt tin nhà tôi một thời gian, cho đến khi nhận được thư mới biết anh đang ở trại Thanh-cẩm thuộc tỉnh Thanh-hóa.”

            -“Khi hay tin chị có đi thăm anh ngay không?”

            -“Vì tài chính eo hẹp, muốn đi thăm cũng không thực hiện nổi, tôi chỉ gửi quà cho nhà tôi mỗi tháng 3 ký qua bưu điện.”

            -“Chị thấy đời sống các anh ra sao?”

-“Có ra thăm mới thấy tội nghiệp.  Thực phẩm chính nuôi tù là ngô khoai sắn.   Những thứ do tù trồng mà vẫn không được ăn no, cũng chỉ để giữ mạng sống lây lất qua ngày.  Vì vậy có gia đình tiếp tế vẫn hơn, nhất là thuốc men trong trại rất thiếu.”

            -“Xin chị cho biết cách thức đi thăm, vì tôi chưa biết gì về vùng ngoài ấy.”

            -“Trước hết chị lên quận công-an xin giấy phép đi đường.  Trong đơn chị ghi đi thăm nuôi chồng học tập cải tạo tại trại Thanh-cẩm Thanh-hóa.  Chị xin 15 ngày cho rộng thời giờ.”

            -“Xin giấy phép đi đường có khó lắm không?”

            -“Tôi nghĩ quận sẽ cấp giấy dễ dàng, vì đây là thành phố.  Không giống dưới tỉnh  như  địa phương tôi ở, họ khó khăn đủ điều.  Chị mua vé tầu Thống nhất tới ga Thanh-hóa.  Tới ga Thanh-hóa đã trễ, không kịp vào trại.  Chị ở trọ lại một đêm.  Sáng hôm sau phải dậy thật sớm, ra bến xe mua vé đi Thanh-cẩm.  Xe không chạy qua trại mà sẽ ngừng tại trạm nhà máy xay nằm bên lộ.”

            -“Ðường vào trại có dễ đi không chị?”

            -“Trạm nhà máy xay còn cách trại gần chục cây số,  đường rừng đi lại rất khó. Chị phải thuê xe trâu chở quà.  Người đánh xe trâu sẽ dẫn đường vào trại Thanh-cẩm.  Không có gì phức tạp, chỉ có điểm cần lưu ý là trên tầu chị phải coi chừng đồ mang theo.  Nhất là khi tầu ngừng ở các ga nhỏ, người lên kẻ xuống chen lấn dễ bị mất trộm.  Khi tới ga Thanh-hóa, chị phải thuê người gánh tới nhà trọ.  Khó có thể tin ai được.  Chị phải nhanh chân theo kịp họ.  Ðôi khi gặp người xấu họ gánh đồ đi mất.”

            -“Ngoài nhà tôi chị có gặp ai quen nữa không?”

            -“Mải nói chuyện tôi quên mất, tôi có gặp chồng Vân-anh.  Tôi đã chuyển thư cho Vân-anh.  Nghe Vân-anh nói có biết chị.”

            -“Có phải Vân-Anh ở  Phan-đình-Phùng không?”

            -“Vâng, như vậy chị có quen?”

            -“Chúng tôi có học chung một thời gian.  Tôi sẽ lại thăm, nếu Vân-Anh đi cùng thì hay quá.”

            -“Thế bao giờ chị tính đi thăm anh?”

            -“Tôi phải sửa soạn quà cho nhà tôi và những thứ cần thiết cho các cháu ở nhà.  Vài ngày nữa tôi mới đi được.”

            -“Chị cho tôi gửi lời thăm anh.  Hôm vừa rồi có gặp mặt mà không kịp hỏi thăm sức khỏe của anh.”

            -“Rất cám ơn chị.  Tôi sẽ chuyển lời khi gặp nhà tôi.”

            Thu tiễn bạn ra tận cửa và hẹn gặp lại.

                                                                        *

 7.

            Trời về chiều, nhưng nắng vẫn còn gay gắt.  Không có lấy một cơn gió nhẹ, nên hơi nóng của mùa hè vẫn hừng hực, khó chịu.

            Thu đạp xe qua cầu Công-lý, con đường đã mang tên mới.  Mà trớ trêu, theo mọi người ở thành phố này nói, “Nam Kỳ khởi nghĩa tiêu Công-lý,  Ðồng khởi vùng lên diệt Tự-do.”

            Chùa Vĩnh-nghiêm với những lớp mái cong vượt khỏi hàng cây bao quanh chùa.  Ngày chủ nhật mà cảnh chùa thật vắng lặng, cửa chùa                        7(Chùa Vĩnh Nghiêm đường Công Lý)                                                                        đóng kín.  Những lá cờ nhiều mầu của Phật giáo thường treo nơi cổng chùa, đã được thay thế bằng hàng cờ mầu máu đỏ.  Bên phải cổng chùa, căn phòng trước kia dùng làm “Vãng sanh đường”, nơi tống tiễn những người qua đời, nay trở thành “Hợp tác xã Hoa sen”.  Một cửa hàng tạp hóa bầy bán xì dầu nước tương, cơ sở thương mại của chính-quyền  địa phương.  Nhà nước đang cố gắng thanh toán mục tiêu cuối cùng là xâm nhập và khống chế Tôn giáo.  Nhưng quả thật vô ích, đạo Phật vốn tại tâm.  Phật tử vẫn một lòng với đạo, đã thấy rõ dã tâm của chính quyền, cảnh chùa vì vậy mà hoang vắng.

            Thu rẽ vào đường Ðoàn-thị-Ðiểm, cả một quãng đường rợp bóng mát.  Phía trước mặt là trường nữ trung-học Gia-long, đã đổi tên thành Nguyễn-thị-minh-Khai.  Một nhân vật chưa có một chút công lao với văn học.  Ðã đi theo “cách mạng” và qua đời khi còn rất trẻ.  Tháng này Sài-gon đang vào hè.  Sức nóng làm mầu phượng càng thêm đỏ thắm.  Mái trường rợp bóng phượng.  Khuôn viên yên lặng, chỉ có tiếng ve trên cây.

            Những tà áo xanh da trời không còn nữa.  Người ta muốn học sinh phải đồng phục, thật đơn giản.  Phải xóa hết dấu vết của cuộc sống “phồn vinh giả tạo” trước kia.  Chỉ cần quần đen áo ngắn, mà không phải là chiếc áo dài duyên dáng ngày xưa.

            Thu chợt cười thầm khi nhớ tới thời gian còn học trung học.  Cũng vào thời gian này, khi niên học ở vào những tuần cuối cùng, nhiều món ăn đã được mang vào lớp.  Những túi vỏ trái cây, gói muối ớt, . . . còn dư được lưu lại dưới ngăn bàn.  Và đến ngày thi hết cấp, nàng đã gặp những thứ dư thừa dưới ngăn.  Thời học trò thật nghịch, nhưng lưu lại nhiều kỷ niệm tuổi xanh.  Mọi thứ đã qua đi thật nhanh, nàng cảm thấy như mất mát một thứ gì thật quý báu trong đời.

            Thu dọc theo đường Phan-đình-Phùng hướng về nhà bạn.  Lâu không gặp, nàng tưởng gia đình bạn đã đi xa.  Nghĩ tới bạn, Thu nhớ hai người đã học chung khi lên đại học.  Vân-Anh được liệt vào danh sách những người đẹp của trường.  Sau khi xong đại học, Vân-Anh đi dạy rồi lập gia đình, có người chồng thật tốt.  Hai người mua căn nhà cuối đường Phan-đình-Phùng.  Năm sau có đứa con trai đầu lòng và năm kế có thêm con gái.

            Thu nhớ đến kỷ-niệm của hai người.  Nàng cũng như bạn, có một thời niên thiếu thật đẹp.  Ðến khi lập gia đình đã có chồng lo lắng.  Nàng trọn đạo làm vợ và làm mẹ.  Có năm con mà nàng vẫn thư thả trong cuộc sống.

            Ngày 30 tháng 4 xẩy đến.  Chồng bị bắt đi “cải tạo”.  Cuộc sống của nàng hoàn toàn thay đổi.  Nàng phải vất vả kiếm sống để nuôi năm đứa con dại, hình ảnh tương lai thật đen tối.  Thu đã dẹp bỏ quá khứ hoa gấm, bước chân vào đời sống của một xã hội khác lạ, chưa hề biết đến trước đây.  Nàng phải buôn bán vất vả ngược xuôi từ sáng đến tối, bỏ đàn con nhỏ ở nhà.

            Thu cảm thấy xót xa lo sợ cho tương lai các con.  Chúng lớn lên trong khung cảnh được hướng dẫn chỉ biết hận thù.  Một chế độ đã hủy diệt nền tảng đạo đức và tình yêu thương gia đình.  Nàng thở dài nắm chặt tay lái, như một hành động làm vơi đi niền ưu tư trong lòng.  Thu cảm thấy bàn tay mình khô nhám, chai cứng.  Kỷ niệm của những ngày đi buôn hàng chuyến từ Gò dầu đến Mỹ-tho, từ Long-an ngược về Long-khánh.  Nàng đã trải qua nhiều nghề, qua nhiều thử thách của đời dù chỉ trong một thời gian thật ngắn.  Nàng không mong gì hơn là có một cuộc sống an lành, dù phải cực nhọc, nhưng tạm đủ nhu cầu cần thiết cho các con.

            Tới cuối đường Phan-đình-Phùng, Thu theo con đuờng nhỏ bên phải, lối rẽ vào nhà Vân-Anh.  Nàng bấm chuông đứng đợi.  Trong nhà vẫn yên lặng.  Thu chợt nhớ, hôm nay có thể là ngày cúp điện.  Cánh cửa cổng chỉ khép hờ.  Nàng đẩy cửa bước vào sân.  Vân-Anh xuất hiện nơi cửa phòng khách.  Dáng người bạn vẫn vậy.  Nét mặt hơi già đi, nhưng tính vẫn vui vẻ như hồi còn đi học.  Vân-anh chạy ra đón, cầm tay nàng kéo vào nhà, nói lớn:

            -“Mẹ ơi! Có Thu tới chơi.”  Quay qua Thu, Vân-Anh tiếp: “chà lâu quá không gặp, tôi tưởng gia đình bạn đã đi Mỹ.  Má tôi nhắc tới bạn luôn.”

            Hai đứa con của Vân-Anh đã lớn.  Thấy khách lạ chúng lại đứng bên mẹ.  Vân-Anh ôm hai con nói:

            -“Bác Thu bạn của mẹ, hai con ra chào bác đi.”

            Thu xoa đầu con bạn, khen chúng ngoan.  Nàng đáp lời bạn:

            -“Mình luôn nhớ tới bác, vợ chồng bạn và các cháu.  Sau ngày lộn xộn, không biết ai ở ai đi, ai còn ai mất.  Cuộc sống mới quá thúc bách nên không tới thăm bác và gia đình bạn.  Vân-Anh dạo này có gì lạ không?”

            -“Mẹ mình không được khỏe.  Mình có hai cháu, còn ông xã đi “cải tạo” tại trại Thanh-cẩm Thanh-hóa.”

            Tiếng dép từ trong nhà bước tới gần phòng khách.  Thu tới đón mẹ bạn.  Bà dang hai tay ôm nàng như mừng đứa con lâu ngày gặp lại.  Bà già đi nhiều.  Mái tóc bạc qúa nhanh.  Da mặt xếp nếp nhiều hơn.  Nàng đỡ bà ngồi xuống ghế, cầm tay bà Thu nói:

            -“Con thấy bác không khác lúc trước bao nhiêu.”

            Bà chậm rãi trả lời:

            -“Bác thấy yếu đi nhiều, chân tay như đi mượn.  Như không còn là của mình nữa.”

            -“Bác ăn ngủ như thường chứ?”

            -“Nhiều lúc ăn cho có, còn giấc ngủ chập chờn, nửa mê nửa tỉnh.  Còn chồng con dạo này ra sao, anh ấy có khỏe không, đã lâu bác chưa gặp.”

            -“Nhà con đi “cải tạo” cùng trại với chồng Vân-Anh.  Con lại hỏi nếu Vân-Anh cùng đi thăm thì tốt quá.”

            Bà buông tiếng thở dài, đứng dậy vào trong nhà.  Thu đưa bà vào giường, nàng nói:

            -“Bác nằm nghỉ, con ở lại với Vân-Anh một lát.  Lần sau con tới hầu chuyện bác lâu hơn.”

            -“Bác gửi lời thăm chồng con nhé.  Khi về nhớ lại cho bác hay.”

            Còn lại hai người, Vân-Anh hỏi bạn:

            -“Tôi tưởng gia đình bạn đi rồi?”

            -“Gia đình mình lúc đó rối bời.  Nhà tôi phải trực ở sở 24/24, thỉnh thoảng ghé về thăm nhà rồi đi luôn.  Một nách năm cháu nhỏ, bố mẹ chồng cũng như mẹ mình già yếu, nên cũng khó đi xa.”

            -“Sau ngày 30 tháng 4, gia đình bạn sống ra sao?”

            -“Mình không được đi dậy nên trong thời gian đầu phải bán dần đồ dùng trong nhà để sống qua ngày.  Sau đó mình buôn đi bán lại, tiền lời kiếm được cũng tạm đủ cho các cháu.  Nhưng vì hoàn cảnh xã-hội, số người đi buôn  ngày càng nhiều, đời sống trở nên khó khăn hơn.  Việc buôn bán chợ trời dù dễ dàng nhưng lại quá phức tạp.  Những người đàn bà đơn lẻ khó tránh được những lời tán tỉnh, cử chỉ xuồng xã của các con buôn trong khi giao tiếp.”

            -“Tôi nghĩ bạn có thể tìm được một việc làm nhẹ nhàng hơn, vì có khả năng.”

            -“Thâm tâm tôi cũng chỉ mong kiếm được việc làm hợp với sức khỏe của mình, cũng không đòi hỏi công việc hợp với khả năng kiến thức.  Mình gặp trở ngại là không đáp ứng được đòi hỏi của cán bộ sở quan.”

             -“Mình thông cảm với Thu, nhiều khi mình có cảm tưởng là chúng mình khó thoát được những cạm bẫy.  Mà đôi lúc nhu cầu sự sống như luôn xô đẩy chúng mình vào.”

            -“Khi mình tới xin việc làm văn phòng, tên cán bộ duyệt xét hồ sơ lý lịch hạch hỏi đủ thứ, bắt mình đi lại nhiều lần.  Hắn bảo mình có khả năng học vấn, đảm trách được công việc hắn giao. Nhưng hắn phải đứng ra bảo đảm vì mình ở diện có chồng đi “cải tạo”.  Nếu mình muốn có việc làm thì phải theo ý của hắn. Vì vậy mình bỏ ý định xin việc làm văn phòng ”

            -“Mình không hiểu tại sao đạo đức của đám người này mỗi ngày một đi xuống.  Hay vì là kẻ chiến thắng, có bạo lực trong tay nên hành động của họ trở thành tệ hại.  Mình có cảm nghĩ họ coi thường luật pháp, như được nhà nước khuyến khích.   Bao lâu rồi bạn chưa gặp anh ấy?”

            -“Sau khi nhà tôi bị bắt, tôi đã lên Phường, Khóm và Quận công an hỏi, nhưng họ đều trả lời không biết nhà tôi đang ở đâu.  Mãi hơn một năm sau tôi mới nhận được tin nhà tôi ở trại Gia-rai Long-Khánh do một người đi thăm nuôi cho hay.”

            -“Bạn có đi thăm anh ấy chứ?”

            -“Sáu mẹ con tôi có đi thăm.  Khi đó cháu lớn mới lên chín, còn cháu bé vừa tròn bốn tuổi.”

            Thu nhớ, khi nhận được tin chồng nàng vui mừng vô cùng.  Anh bặt tin đã lâu, những tưởng không còn cơ hội gặp mặt.  Sáu mẹ con nàng ra ga xe lửa đi chuyến tầu sớm nhất, để kịp giờ thăm nuôi.  Khi tới ga Gia-rai nàng mới biết ở đây có hai trại, trại trong cách trại ngoài cả cây số.  Nàng chỉ nhớ trong thư anh có ghi đồi Phưiợng-vĩ.  Hỏi thăm mới biết đó là trại ngoài, đối diện với ga xe lửa, cách một khoảng đất trống vài trăm thước.

            Mấy mẹ con nàng tới nhà thăm nuôi đã đông nghẹt người.  Nàng đứng cửa đợi chồng.  Anh và một số bạn tù đã ra khỏi cổng rào, đang tiến về phía nhà thăm nuôi.  Gặp nhau mừng tủi.  Thu thấy chồng già đi nhiều, tóc thêm nhiều sợi bạc, má có nhiều vết nhăn hơn trước.  Vẻ mặt mệt mỏi, xạm đen đi vì nắng.

            Các con nàng vây quanh bố.  Nhìn cảnh cha con ôm nhau mà xót xa trong lòng, liệu giây phút yêu thương này kéo dài đuợc bao lâu, có còn lần sau nữa không.  Hay anh lại mất hút, biệt tăm như hạt cát lắng chìm trong biển lặng.

            Thu xót thương nắm chặt tay chồng.  Vì chính lòng nàng lúc này đang cần tình yêu thương ấp ủ, hầu vơi đi những xót xa đang trỗi dậy trong lòng.  Mà chút nữa đây tình yêu thương sẽ vuột khỏi tay, đẩy nàng trở lại cuộc sống trống trải, thiếu vắng như thời gian vừa qua.

            Hai bàn tay anh chai nhám, nứt nẻ.  Vòng xẹo còn in dấu nơi cổ tay, mà vết thương vừa lành còn để lại một mầu đỏ au.  Thu xửng xốt, nàng lần tìm trên lưng chồng rồi hai cánh tay khẳng khiu của anh.  Liệu còn thương tích nào không, hay lần áo mỏng sờn vai đã che dấu những đau thương, khổ ải mà anh gánh chịu trong thời gian xa nhà.

            Thu không cầm được nước mắt.  Anh cho hay mới chuyển về đây được ít tuần.  Muốn nhắn tin cho nàng mà không có điều kiện.

            Hai mươi phút gặp mặt ngắn ngủi qua đi thật nhanh.  Anh hôn các con, một tay anh vòng qua vai nàng.  Thu nghe rõ từng hơi thở, vị mặn đang lăn dài trên má anh.  Trái tim nàng vò thắt khi anh nới lỏng vòng tay.  Anh trở ra ngoài xếp hàng, vừa đi vừa ngoảnh lại nhìn.

            Ngoài kia anh đang chuyển bước.  Các con nàng ngơ ngác nhìn theo.  Ðứa con nhỏ chợt vuột khỏi tay nàng chạy theo khóc đòi bố.  Anh đã đi qua khung cổng gỗ rào kẽm gai, để đứa con nhỏ đứng bơ vơ giữa lối vào.  Các con nàng òa khóc.  Nhìn chúng, nàng càng thương xót chúng nhiều hơn.  Chúng còn nhỏ dại, chưa biết những gì sẽ xẩy ra cho đời sống tình cảm của chúng cũng như của chính nàng.  Tiếng khóc của các con làm nàng bừng tỉnh, ra khỏi vực thẳm thê lương.  Thu hiểu là vừa mất đi nguồn yêu thương hạnh-phúc của mình.

            Nàng không còn thấy bóng dáng anh.  Qua khung cửa cổng, những dẫy nhà lợp tôn im lìm như say ngủ dưới nắng hè. . . .

            Vân-Anh lên tiếng:

            -“Nghe nói trại Gia-rai mỗi tháng cho thăm một lần, bạn vẫn gặp anh ấy chứ?”

            -“Một tháng sau ngày thăm lần đầu, tôi và các cháu lại đi thăm nhà tôi như đã hẹn.  Nhưng khi đến nơi, cán bộ trại cho hay anh đã chuyển đi nơi khác.  Họ cũng không cho biết chuyển nhà tôi đi đâu.  Tôi trở về lòng hoang mang vô cùng, không hiểu số phận nhà tôi ra sao.  Tôi không biết phải tìm kiếm nơi nào, nên chỉ còn chờ đợi .”

            -“Mình cũng nhiều lần đặt câu hỏi, tại sao họ phải che dấu khi có bạo lực trong tay.  Họ đã có những hành động tàn bạo, bất kể dư luận bên ngoài như từng xẩy ra trước đây.  Như vậy bao lâu sau bạn mới nhận được tin?”

            -“Khoảng nửa năm sau mới nhận được tin nhà tôi.  Cơ quan địa phương có hướng dẫn cách thức và chỉ định ngày gửi quà tại trại giam Chí-hòa đường Lê-văn-Duyệt.  Tôi rất mừng, nhà tôi bị giam ở đây dù cực khổ nhưng lại gần nhà, sẽ có cơ hội gặp mặt.  Tôi sửa soạn các thứ cho nhà tôi, kể cả món ăn hàng ngày mà nhà tôi thích nhất.  Cũng như tôi, có rất đông gia đình tới gửi quà, nên trước cửa trại Chí-hòa đông nghẹt người.”

            -“Sau đó Thu có được gửi quà hay gặp mặt anh ấy không?”

            -“Tôi tưởng hàng tháng, dù chưa được gặp mặt thì cũng cho gửi quà như thông lệ của trại Chí-hòa.  Nhưng khi tới nơi họ cho hay nhà tôi không có tên ở trại này, họ cũng không cho biết anh hiện ở đâu.”

            -“Bạn lại mất liên lạc với anh ấy một lần nữa?”

            -“Lòng tôi thực hoang mang, không hiểu số phận nhà tôi ra sao.  Có điều gì bất thường mà lúc có khi không.”

            -“Như thế bạn đã không nhận được tin anh từ ngày đó đến bây giờ?”

            -“Gần ba năm trước đây tôi có nhận được thư nhà tôi, mới hay anh đã chuyển lên trại Quyết-tiến thuộc tỉnh Hà-giang.  Tôi chưa nghe thấy tên trại này bao giờ, nhưng địa danh Hà-giang làm tôi lo sợ.  Một tỉnh giáp biên giới Hoa-Việt, mà chuyện kể từ hồi xa xưa đã có nhiều huyền thoại kinh hoàng.”

            -“Ðây là lần đầu tôi nghe bạn nói tới tên trại này.  Miền Bắc có nhiều trại “cải tạo” rải rác trong rừng sâu, núi cao mình không biết đâu mà lần.  Thu có liên lạc với anh ấy sau khi nhận được thư không?”

            -“Mình viết nhiều thư nhưng vẫn bặt tin.  Hỏi thăm họ hàng từ miền Bắc vào chỉ biết đó là trại kỷ-luật số 1 của Bộ Công an Hà-nội.  Mình lo lắng vô cùng, không hiểu tại sao chồng mình phải chuyển lên trại này.  Mình muốn đi thăm nhưng không biết trại ở nơi nào, đường đi nước bước ra sao.  Mình vẫn thăm hỏi nhưng chẳng một ai biết rõ hơn,  mãi mấy tháng sau khi gặp người em họ ở quê vào mới rõ ngọn nguồn.  Cậu em mình nói:

            “Nếu chị đi thăm anh thì rất vất vả, vì ngoài Bắc phương tiện chuyên chở  hạn chế.  Nhất là đường lên các tỉnh miền thượng du.  Từ  Hà-nội chị đi theo ngả Sơn-tây đường lên tỉnh Tuyên-quang.  Xe chở khách ngừng tại đây.  Chị xuống bến xe Tuyên-quang mua vé đi Hà-giang.  Nhưng gặp trở ngại là chị tới bến xe Tuyên-quang vào buổi chiều, khó có xe đi Hà-giang ngay.  Quãng đường Tuyên-quang – Hà-giang mặc dầu chỉ gần 200 cây số, nhưng vì đường xấu xe lại cũ nên xe chạy cả ngày mới tới.  Khi tới Hà-giang đã trễ, xe lại không chạy thẳng lên trại Quyết-tiến.  Chị phải đợi tới ngày hôm sau, mua vé xe đi huyện Quản-bạ, một huyện chỉ cách biên giới Hoa-Việt một dẫy núi cao, khoảng 10 cây số đường chim bay về phía Tây-Bắc.  Từ tỉnh Hà-giang lên trại Quyết-tiến chỉ có 36 cây số, nhưng vì đường lên dốc cao nên xe chạy cũng chậm.  Trại chỉ còn cách huyện Quản-bạ 10 cây số nữa.  Theo địa dư huyện Quản-bạ nằm sát biên giới hơi chếch về hướng Tây-Bắc, nhưng theo trục lộ di chuyển, Ðồng-văn nằm trên đỉnh cao nhất về phía chính Bắc.”

            “Thực ra ít người miền xuôi lên vùng này, ngoại trừ con buôn mua bán vận chuyển hàng hóa từ biên giới về Hà-giang và ngược lại.  Chị xuống xe tại ngã ba đường lên trại.  Từ ngã ba này không có xe lên trại, chị phải đi bộ theo đường núi dốc ngược.  Em không biết phải đi bộ bao lâu.  Em nghĩ chị khó mà làm nổi, vì đi tay không đã khó khăn huống chị còn mang vác nặng nề, chưa kể nguy hiểm cướp bóc dọc đường.”

             “Trại được coi như một trại trừng giới.  Nơi tập trung thành phần “đầu gấu” của các trại khác trên miền Bắc chuyển tới, có án nặng tới chung thân khổ sai.  Nói là có án, nhưng thực ra những người lên tới đây khó có hy vọng trở về. . . .”

            Sau khi kể cho bạn nghe về quãng đời vừa qua của mình, Thu hỏi bạn:

            -“Vân-Anh tính bao giờ đi thăm.  Nếu mình cùng đi cho có bạn thì hay biết mấy?”

            -“Mình cũng định ít bữa nữa đi thăm.  Thu xin giấy đi đường trước, còn ngày đi chúng mình sẽ định sau.  Chúng ta cần thời gian mua vé tầu và sửa soạn mua quà.”

            -“Nhu cầu của các anh ấy hẳn là nhiều thứ, theo bạn thứ nào cần thiết nhất?”

            -“Cái đó tùy hoàn cảnh chúng mình.  Nhưng thứ mà chúng ta không thể quên vẫn là thuốc đa sinh tố.  Vì thực phẩm trong trại không đủ dinh dưỡng, lao động quá cực nhọc, trong khi thời tiết khác nghiệt nên dễ sinh bệnh tật, ốm đau.  Chúng ta xin giấy đi đường trước, sau đó tôi với bạn đi mua vé tầu.”

            Thu đồng ý với dự tính của Vân-Anh.  Nàng từ giã bạn.

                                                                        *

 8.

            Thu đuợc chính quyền địa phương cấp giấy phép đi thăm chồng trong vòng hai tuần lễ cả đi lẫn về.  Nàng nhẩm tính lượt đi mất ba ngày tầu chạy, tới trại đợi một ngày để được gặp mặt. Lượt về cũng mất ba ngày nữa là chẵn một tuần.  Vé tầu đã mua khứ hồi.  Nàng còn bốn ngày để sửa soạn quà cho chồng.

            Thu không biết mình phải mang những thứ gì cho đúng với nhu cầu của anh.  Thư nhắn về anh không nói muốn nàng ra thăm,              8(Ga Bình Triệu Gia Định – Saigon)                                                                   cũng không cho nàng hay anh cần những thứ gì.                                                                        Nàng đành theo hướng dẫn của chị Tâm.  Ít ra chị cũng có kinh nghiệm, vì đã đi thăm chồng mấy lần.

            Trước đây nàng đã nghe kể về nhu cầu của người “cải tạo” ở các trại miền Nam.  Thư nào cũng kê khai những món ăn cần thiết nhất, chứng tỏ đời sống vật chất của tù nhân rất thiếu thốn.  Quanh năm không có lấy một bữa ăn gọi là ngon miệng no lòng.  Người “cải tạo” đã có một câu nói “no nhất thời, đói muôn thuở”.  Ðời sống nay đây mai đó, sống nay chết mai, khiến tù nhân có ý nghĩ “cái gì có thể ăn được ngày hôm nay, thì không nên để tới ngày mai.”

            Thu viết ra một danh sách những thứ sẽ mang ra cho chồng.  Bắt đầu từ thuốc men, đồ dùng vệ sinh cá nhân đến quần áo thức ăn.  Nàng suy tính, lâu lắm mới đi thăm một lần, đường đi lại quá xa, không thể lúc nào muốn đi là đi được, nên mang cho bõ công.  Cũng may chồng nàng không có bệnh gì trước khi đi bị bắt đi “cải tạo”.

            Nàng xếp mấy thứ thuốc theo thứ tự như ghi trong giấy để dễ kiểm lại.  Một lọ dầu cù là, một lọ dầu hiệu con hổ mà anh vẫn thường dùng.  Về quần áo, trại cấp một năm một lần.  Tiêu chuẩn một năm hai bộ bà ba mầu xanh vải Nam-định, nhưng thực tế chỉ phát một bộ.  Thành thử sau mấy tháng lao động nặng, bộ quần áo đã rách vá đủ mầu.  Còn đồ dùng vệ sinh cá nhân đến quần áo lót có dự trù trong chính sách, nhưng từ hồi vào trại anh chưa được phát một lần.

            Thu mua một bộ đồ trận xanh lá cây, thứ quân phục của quân đội Việt Nam Cộng hòa, vừa ấm lại bền.  Nghe nói vì quần áo trại phát không đủ, nên anh em cải tạo thường mang quần áo cũ ra dùng.  Do đó, nhà nước muốn tù nhân mặc đồng phục để dễ kiểm soát, nhưng vì hoàn cảnh xã-hội, quần áo tù đã trở nên khác nhau.

            Tại miền Nam, khí hậu ấm áp mặc thế nào cũng được.  Nhưng miền Bắc giá lạnh, nhất là vào những ngày mùa đông, nhiệt độ có khi xuống gần O độ C, làm sao anh có thể chịu được khi không có lấy một manh áo ấm.  Mà bụng đói thì cật rét.  Nàng mua thêm chiếc áo len dài tay thật dầy, anh vẫn thích mầu xám tro.  Một áo len ngắn tay để anh mặc bên trong khi lao động.  Thu sợ nhất anh bị ho khi mặc không đủ ấm như nhiều người mắc phải.

            Thu mua vài thước vải may mấy chiếc quần đùi cho anh thay đổi.  Nàng gấp gọn chiếc khăn tắm kẻ ô vuông và buộc chặt đôi dép làm bằng vỏ xe hơi.  Thu nhớ khi đi thăm anh  ở trại Gia-rai Long-khánh cũng có những thứ này, chắc bây giờ đã vứt bỏ vì hư cũ.  Năm năm rồi còn gì.  Nàng kiểm xong những gói bột, từng thứ có ghi tên phía ngoài.  Từ bột đậu xanh có trộn đường cát trắng đến bột đậu nành.  Một gói mè rang cán nhuyễn có trộn muối.  Nàng mang thêm ít gia vị.  Không hiểu trại đã cho tù nhân xử dụng hay vẫn còn cấm đoán như trước, vì sợ tù nhân dùng khi trốn trại.  Một ít khô cá thiều.  Nàng cẩn thận gói lại cây đường Thốt-nốt còn nguyên trong lá bọc ngoài.  Anh vẫn thích thứ đường này, vì vị ngọt dịu và thơm mát của nó.

            Theo thư của thân nhân bà bán hàng đầu đường viết về có cả mắm cá Linh, mắm cá Lóc, mắm Ruốc xào xả ớt.  Nhũng thứ này anh đâu có ăn khi còn ở nhà.  Theo chị Tâm cho hay thức ăn mặn chỉ cần mắm ruốc xào xả ớt là đủ.  Vừa dễ ăn mà khi cần có thể dùng để nêm canh cũng ngon.  Ðiều cần nhất phải thật cay và có nhiều xả.    Thu mua năm ký mắm ruốc bà giáo Thảo, thứ chính gốc tại Vũng-tầu.  Ruốc đã làm sạch, không trộn lẫn với mảnh sò mảnh hến hay rong rêu, mầu ruốc đỏ au như còn tươi nguyên.  Nàng thái thịt ba chỉ vừa mỏng, một ký ớt hiểm còn nguyên trái và hai ký xả băm nhỏ.  Nàng mang chảo xào ở bếp sau nhà mất cả giờ mới xong.  Lúc mới xào mùi mắm thật nồng, nhưng khi chín vị mắm rất thơm ngon, mầu mắm trở thành nâu tía.  Một muỗng mắm phải có tới bốn năm trái ớt hiểm.

            Thu đựng tóp mỡ ngào đường vào hai lon nhôm, thứ lon đựng sữa bột guigoz.  Món tóp mỡ thật lạ.  Trước kia nàng ít ăn tóp mỡ sau khi chiên mỡ lấy nước, tóp mỡ thường bỏ đi.  Ở miền Nam, tóp mỡ thường đóng thành từng bánh để làm chất bón cây.  Bây giờ vào lúc đổi đời, nó được dùng làm chất bổ dưỡng cho con người.  Chắc các anh cải tạo nghĩ là giá nó rẻ, không quá đáng vói số tiền bỏ ra.  Nhất là nó còn nhiều chất béo, vẫn có ích lợi đối với cơ thể  khô cằn của người “tù cải tạo”.

            Ðến món muối xả, nàng đã tốn công cả chiều nay.  Phải lựa củ thật ngon, bóc bớt phần vỏ cứng phía ngoài,  thái mỏng, giã nhỏ trước khi rang.  Một ký muối trắng trộn lẫn với hai ký xả.  Dù chẳng ngon lành gì nhưng cũng đỡ hơn ăn muối hạt.  Thu nghe chuyện kể, có anh cải tạo sau khi ăn hết phần thịt gà vào lần gia đình tới thăm nuôi, anh giữ lại mớ xương gà đem rang dòn, giã nhỏ rồi trộn với muối làm thức ăn cho những ngày sau đó.  Vì trong xương gà có chất vôi, có vị thơm bùi, vẫn cần cho cơ thể và giúp khẩu vị được thay đổi.

            Thu có gạch dưới hàng chữ thuốc điếu.  Trước đây anh thường hút thuốc hiệu Pall Mall, vì hương thơm có trộn thêm vị đậm đà của mật ngọt.  Bây giờ thị trường chợ đen có bán nhưng giá quá đắt.  Hơn năm năm rồi anh không được thưởng thức, dù có đắt nàng cũng cố mua cho anh một gói để anh nhớ lại hương vị ngày xưa.  Căn bản vẫn là thuốc lào hiệu ba số 8, nhưng phải là thứ thuốc lào đặc biệt, chỉ bán tại hiệu gần tiệm phở 79 trên đường Nguyễn Trãi.

            Nàng kiểm lại lần chót xem còn thiếu món nào so với danh sách đã ghi.  Từng món nàng bọc hai lần bao nhựa để tránh bao vỡ khi di chuyển, hay không thấm nước khi gặp mưa hoặc nước ngập sàn xe trâu khi qua suối gần trại.  Nàng chưa buộc chặt miệng túi khi cho quà vào hai bao sợi nhựa lớn, vì có thể còn vài thứ muốn mang thêm.

                                                                        *

  9.

            Trời về khuya, bầu trời giăng đầy những vì sao nhỏ.  Ánh trăng lọt qua khung cửa sổ, in bóng trong căn phòng vắng.  Sài-gon về đêm thật yên lặng.  Gió đêm vờn mát làn da, như không còn vương một chút hơi nóng của ngày hè oi bức.

            Thu cố giỗ giấc ngủ nhưng vẫn khó chợp mắt, cô đơn chợt đến lay động nhớ thương trong lòng nàng.  Thu đã trải qua nhiều đêm như đêm nay, trong căn phòng đong đầy kỷ niệm yêu thương mà phút chốc vụt biến, tan vỡ.  Ðã ghi đậm trong lòng nàng những tiếc thương khắc khoải.

            Cuộc chiến huynh đệ tương tàn đã ảnh hưởng sâu đậm tới tuổi trẻ thơ ngây của nàng.  Và bây giờ, khi đất nước mang danh “độc-lập thống-nhất” lại chia rẽ tình yêu thương xum họp gia đình.  Nàng chỉ là người đàn bà bình thường, với ước vọng thật bình thường, mong có một đời                       9(Miền Nam: Tháng 4-1975)                                         sống gia đình hạnh-phúc.

            Thu sang phòng bên, các con nàng đang say ngủ.  Qua ánh đèn mờ, từng nét mặt vô tư say sưa trong giấc ngủ êm đềm.  Nàng thương các con vô cùng.  Ở vào tuổi thơ ngây, chúng đã chịu nhiều thiệt thòi vì cảnh quốc biến gia vong.  Nàng cố gắng trông nom săn sóc chúng, mang tình yêu thương của mẹ bù đắp tình cha mà chúng thiếu vắng đã lâu.  Và hiện tại, chúng là nguồn an ủi, là hạnh-phúc yêu thương của chính cuộc đời nàng.  Nhờ các con mà nàng vơi được nỗi cô đơn trống vắng luôn ám ảnh.  Chúng như cầm giữ, níu kéo, giúp nàng tránh được những giây phút nông nổi mà đôi lúc tưởng chừng sẽ bị cám dỗ, lôi cuốn trong cơn lốc của cuộc đời.

            Thu cố gắng phấn đấu, vượt qua những khó khăn trong một đời sống biến đổi quá nhanh.  Nàng uất nghẹn chịu đựng những tủi nhục, bị chèn ép dè bỉu vì là vợ con “Ngụy”.  Nàng lo ngại khi thấy các con lớn lên trong khung cảnh xã hội này.  Liệu chúng có cơ hội vươn lên như một sự sống bình thường, hay sẽ bị thành kiến của chế độ mới đầy ải mà ngụp lặn trong hận thù truyền kiếp.

            Thu nhớ đến chồng.  Lòng nàng mừng rỡ khi nhận thư anh từ tay bạn.  Không hiểu bây giờ anh ra sao.  Niềm vui đến với nàng bất chợt, biết được trọn vẹn hay cũng mong manh như những năm qua.  Anh lúc hiện khi ẩn, không khác nào hạt cát chìm lắng xuống đáy biển khơi, như ánh băng mất hút ở cuối chân trời.  Nàng những tưởng không còn cơ hội gặp lại người chồng yêu thương.

            Tiếng gà gáy kéo Thu ra khỏi suy tư.  Qua khung cửa sổ trời vừa hừng sáng, lác đác những vì sao muộn.  Sau một đêm thao thức, dường như nàng chưa chợp mắt chút nào.  Những kỷ niệm thoáng hiện trong trí nhớ nàng thật rõ nét, như một chuỗi hình ảnh riêng biệt.  Mặc dầu đến chiều tầu mới khởi hành, nhưng nàng muốn có nhiều thời gian  thu xếp cho một chuyến đi xa.  Thu nghĩ tới các con.  Từ ngày chồng vắng nhà, nàng chưa bao giờ rời xa các con lâu như lần này.  Chúng còn nhỏ quá để có thể tự lo lấy mọi việc.  Nghĩ tới chúng lòng nàng không khỏi bồn chồn.  Liệu có gì xẩy ra khi nàng xa nhà không.  Mặc dầu các con nàng có ông bà và các cô ở nhà trông nom, nhưng lòng nàng vẫn thoáng một chút lo âu.

            Quà mang cho chồng gói gọn trong hai bao nhựa dệt.  Thu buộc bao rồi lại cởi giây nhiều lần, bỏ thêm vài thứ mà nàng nghĩ là chồng sẽ cần tới.  Nàng đọc kỹ tấm giấy liệt kê các món mang theo.  Nàng nhấc thử từng bao quà để ước lượng sức nặng và khả năng mang vác của mình.  Bao quà khá nặng, hai tay mới nhấc nổi một bao.

            Ðồ dùng của nàng mang theo đựng trong một xách tay nhỏ.  Thu muốn mang thức ăn khô làm sẵn cho mình trong mấy ngày tầu, ít nhất cũng tiết kiệm được phần nào để không tiêu tới số tiền mang theo.  Nàng còn cần mua vài thứ khi tới nơi.  Thu muốn nấu vài món ăn nóng mà anh vẫn thích khi còn ở nhà.  Ðã lâu  anh chưa được ăn món ca- ri với xôi lạp-xưởng.  Nàng mua thứ bột cà-ri chính gốc Ấn-độ nổi tiếng  ở đường Hồ-văn-Ngà, gần rạp Kim-châu.

            Thu cất giấy tờ đi đường và tiền mang theo vào túi áo trong.  Sở dĩ nàng cẩn thận vì nghe chị Tâm nói, chuyện móc túi thường xẩy ra trên tầu, nhất là về ban đêm khi mọi người đang say ngủ.  Nàng xem lại thư chồng gửi về có ghi tên đội lao động, anh ở đội xây dựng, một công việc mà anh chưa biết đến trước đây.   Nàng để trong một bao nhựa thư bốn đứa con nhỏ viết thăm bố chúng với hình và thư đứa con lớn viết về khi tới đất Thái-Lan.  Nàng mang thêm tấm hình mấy mẹ con chụp hôm Tết vừa rồi ở chùa Vĩnh-nghiêm, cho anh thấy mặt các con vì lâu ngày chưa gặp.  Ðể anh xem chúng lớn đến mức nào, nhất là cu út, ai cũng nói nó giống bố như khuôn đúc.

            Thu xuống bếp sửa soạn bữa ăn sáng cho các con và làm thêm vài món ăn trong ngày.  Chiều nay phải ra ga sớm, nàng không thể lo cho các con bữa ăn chiều như mọi khi.  Thu xem lại mấy món ăn làm sẵn cho các con dùng khi nàng vắng nhà.  Hai hộp ruốc thịt chà bông, một hũ mắm ruốc xào thịt, một nồi thịt heo kho nhừ, một nồi tôm kho khô và một vại dưa muối.

            Trong bữa ăn Thu bảo các con:

            -“Mẹ đi thăm bố, vừa đi vừa về mất một tuần, các con ở nhà phải ngoan” _  nàng quay qua nói với đứa con gái lớn – “thức ăn cho các con ở nhà mẹ đã làm sẵn.  Các con ăn thịt và tôm kho trước, còn mắm ruốc và thịt chà bông ăn sau cũng được.  Mẹ đã dặn bà bán hàng đầu đường, hàng ngày con ra lấy rau về luộc hay xào tùy ý.  Con nhớ lấy thêm trái cây về ăn mỗi bữa.  Mẹ yên tâm có ông bà ở gần.  Các con nhớ vâng lời ông bà và các cô, có điều gì không biết các con hỏi các cô.  Mẹ sẽ nói ông bà và các cô hay trước khi mẹ đi.”

            Ðứa con gái lớn chợt nói:

            -“Mẹ yên tâm đi thăm bố.  Ở nhà chúng con tự lo được, cũng như khi mẹ đi buôn hàng chuyến trước đây.”

            -“Ðành vậy, nhưng trước kia sáng đi chiều về, mẹ nhìn thấy các con mỗi ngày.  Còn bây giờ mẹ vắng nhà cả tuần.  Các con nhớ đóng cửa cẩn thận mỗi tối trước khi đi ngủ.  Tắt bếp lửa sau khi đun nấu.  Bà ngoại không được khỏe, các con trông chừng bà cho mẹ.  Các em nhớ giúp chị trông nom nhà cửa, các con phải thương yêu săn sóc lẫn nhau thì mẹ đi xa mới yên lòng.”

            Thu yên tâm một phần vì các con đang nghỉ hè, và dặn chúng không nên đi chơi xa khi mẹ vắng nhà.  Nàng đã nói với bà bán hàng đầu đường giao cho con những thứ chúng cần, khi trở về nàng sẽ hoàn lại số tiền còn thiếu.

            Bà là người tốt bụng, đã đứng tuổi, có chồng là sĩ quan đi “cải tạo”.  Nhưng không may ông đã qua đời trong trại cách đây không lâu.  Nghĩ tới trường hợp cải tạo của ông thật tội nghiệp.  Ông đã giải ngũ hơn năm năm trước ngày miền Nam bị chiếm đoạt, nhưng nhà nước vẫn bảo ông “có nợ máu với nhân dân” nên buộc ông đi “cải tạo”.  Với tuổi già sức yếu, ông không chịu đựng nổi những cực hình lao động.  Là người cùng cảnh ngộ, bà rất thương đám con nàng.  Bà thông cảm hoàn cảnh của Thu, nên thường an ủi khi nàng bặt tin chồng trong những năm qua.

            Sau bữa cơm trưa, mấy mẹ con ngồi sát bên nhau, từng đứa gửi lời thăm bố.  Nàng thường nói chuyện về bố chúng, về lòng yêu thương của anh đối với các con.  Thu luôn gợi cho các con hình ảnh một người cha, mà vì xa nhà đã lâu nhất là khi chúng còn thơ dại, hình ảnh của anh có thể phai mờ trong trí nhớ non nớt của chúng.

            Nhìn các con, nàng thương chúng rất nhiều.  Nếu không có mẹ thì đời sống của chúng sẽ ra sao đây, tương lai chúng sẽ đi về đâu.  Thu ôm các con như không muốn rời xa chúng.  Nàng nhắm mắt tận hưởng nguồn tình cảm đã an ủi, khuyến khích vào lúc nàng chán nản cô đơn.  Từng níu kéo giúp nàng tránh khỏi những nông nổi tủi nhục.  Nàng đã sống vì chúng, và cũng nhờ ở tình cảm yêu thương của chúng mà vui sống.

                                                                        *

10.

            Xe chạy theo đường Chi-lăng, con đường rộng thênh thang, hai hàng cây cao bên đường rợp bóng.  Ðường phố ngày càng ít xe hơi.  Có phải do khả năng xã hội hay vì khan hiếm săng dầu.  Phương tiện chuyên chở công cộng chỉ là chiếc xe xích lô, có gắn máy hay vẫn tận dụng sức người.  Nhiều khi vì đồng tiền khó kiếm, vật giá leo thang mỗi ngày, khiến người chở và người được chở cùng gặp hoàn cảnh tang thương.  Cả gia-đình vợ chồng con cái năm bẩy người chen chúc chất trên chiếc xe xích lô đạp, trong khi bác tài dáng vẻ thư sinh đang gò lưng đẩy xe trên con đường dốc.

            Xe qua cầu xa lộ, phía trước mặt là ga Bình-triệu.   Vào sân ga, Thu để hai bao quà dưới hiên đứng đợi Vân-Anh.  Nàng nhìn đồng hồ đã 3 giờ, đúng như giờ hẹn với bạn.  Tầu                          10(Tháng 4-1975)                                                sẽ chạy vào lúc 6 giờ chiều nếu không có gì thay đổi vào phút chót.  Nàng muốn lên tầu sớm hơn một chút để có chỗ ngồi vừa ý, nhất là tránh được cảnh chen lấn khi đông người lên tầu.

            Từ xa xe chở Vân-Anh tới, cũng hai bao quà không kể xách tay.  Thấy Thu đứng đợi, Vân-Anh lên tiếng:

            -“Thu đã tới lâu chưa?”

            -“Mình cũng vừa tới.”

            -“Bạn tính bao giờ chúng mình lên tầu?”

            -“Chúng ta lên tầu sớm cho thong thả.”

            Hai người phụ kéo những bao quà vào quầy soát vé và cân hàng.  Qua khỏi khu kiểm soát, Thu và bạn khênh từng bao tới chân cầu thang lên tầu.  Nàng nghe rõ tiếng thở dồn dập của bạn và của chính mình.  Mồ hôi đang lấm tấm trên vầng trán.

            Thu tìm được hai chỗ ngồi bên cửa sổ.  Người lên tầu đông dần.  Hàng hóa để dọc theo lối đi giữa hai hàng ghế.  Ði lại khó khăn hơn, vì hàng hóa chiếm dần khoảng trống lối đi trên tầu.  Nàng và bạn lấy giây buộc các bao quà với nhau, phòng khi bị lấy trộm trong đêm tối vào lúc say ngủ.  Nhìn những giọt mồ hôi trên gương mặt mệt mỏi của bạn, Thu hỏi:

            -“Vân-Anh có mệt lắm không.  Ðêm hôm qua yên giấc chứ?”

            -“Tới khuya hôm qua mới lo xong quà mang đi, vì vậy đi ngủ quá trễ.  Sáng nay phải dậy sớm xắp xếp việc nhà, thành thử mình không ngủ được bao lâu.”

            -“Còn bác và hai cháu ra sao?”

            -“Mẹ tôi vẫn thường.  Hai cháu có cụ coi chừng tôi cũng đỡ lo.  Còn Thu thế nào, đêm qua bạn có ngủ được không?”

            -“Mặc dù quà mang cho nhà tôi đã lo xong từ sớm, nhưng tối hôm qua mình không sao chợp mắt được.  Nhắm mắt mà đầu óc vẫn thức.  Mình nằm đếm tiếng gà gáy sang canh mà chờ sáng.”

            -“Chúng mình mang cùng một tâm trạng.  Cuộc sống như luôn  luôn thúc dục, vội vã.  Nhiều chuyện xẩy tới cùng một lúc khiến chúng ta khó vẹn toàn.  Nhiều khi không biết xoay xở thế nào.  Mấy chỗ dậy học của bạn ra sao?”

            -“Mấy hôm nay mình xin nghỉ dậy để mua sắm các thứ cho nhà tôi và các cháu ở nhà.  Nhiều thứ muốn mang nhưng đành để lại vì quá nặng.  Tầu xe lên xuống chỉ có hai chúng ta, khó mà khuân vác được.”

            -“Còn các cháu bạn nhờ ai coi chừng khi vắng nhà?”

            -“Mẹ mình đã già yếu.  Ông bà nội cháu cũng không khá hơn bao nhiêu.  Tuy vậy, có các cụ và hai cô em mình cũng đỡ lo khi xa nhà.  Còn các cháu, đứa lớn trông chừng đứa bé.  Tinh thần mình cũng hơi bấn loạn.  Một mặt lo cho các cháu khi mình vắng nhà, mặt khác lại muốn đi thăm nhà tôi vì đã lâu không gặp mặt.  Không hiểu nhà tôi lúc này ra sao?”

            -“Bây giờ cũng đã trễ rồi bạn có đói không?  Tôi có mang theo thức ăn còn nóng đây.”

            -“Mình chưa muốn ăn bây giờ, Vân-Anh ăn trước đi.  Khi đói tôi sẽ ăn.”

            Vân-Anh ăn cơm, còn Thu chỉ uống chút trà nóng mang theo trong bình thủy.  Nàng bảo bạn:

            -“Nghe chị Tâm nói chúng ta phải coi chừng đồ khi tầu ngừng tại các ga nhỏ, kẻ lên người xuống bất thường.  Chúng ta hãy thay nhau thức coi chừng.  Bạn có vẻ mệt hãy ngủ trước, tôi sẽ ngủ sau.”

            -“Tối qua Thu chưa chợp mắt chút nào, bạn cần ngủ một chút để lấy lại sức.  Ðêm hôm qua mình cũng ngủ được vài giờ nên không đến nỗi nào.  Ðể tôi coi chừng đồ cho.”

            -“Mình không sao đâu, Vân-Anh ngủ trước đi.  Quả thật tôi vẫn chưa buồn ngủ.”

            Hàng ghế gỗ vừa đủ cho hai người ngồi sát nhau.  Thu tựa người vào vách tầu, mong tìm một giây phút thoải mái.  Ghế đối diện  có hai người tới ngồi, một cụ bà khoảng ngoài 60 và một thiếu phụ trạc tuổi nàng.  Nàng  chào hai người:

            -“Bác và chị đi tỉnh nào?”

            -“Chúng tôi đi Thanh-hóa, còn hai cháu đi đâu?”

            -“Chúng cháu cũng đi Thanh-hóa.  Cháu đi thăm nhà cháu ở trại Thanh-cẩm, chị bạn cháu cũng ra thăm anh ấy.”

            -“Tôi ra thăm thằng con tôi học tập ở trại Lam-sơn.  Mấy tháng trước vợ nó có ra thăm, nhưng cách đây ít ngày gia đình bạn nó về cho hay nó bị đau.  Tôi không hiểu tình trạng sứa khỏe nó thế nào nên vội đi thăm.”

            -“Chị ấy bận cháu hay sao.  Bác đi sợ không chịu nổi tầu xe vì thức đêm thức hôm, ăn ngủ thất thường.”

            “-Tôi cũng đành vậy.  Lần này ra thăm tôi không biết ăn nói làm sao với nó.  Chúng vừa thành hôn thì chồng đi “cải tạo” nên chưa có con, vợ nó lại không đợi được ngày chồng trở về.  Tôi thông cảm con dâu của tôi, vì người đàn bà xuân sắc chỉ có một thời.  Mà biết phải chờ đợi đến bao giờ.  Tôi cũng tiếâc hộ cho con trai tôi.  Chúng đang sống với nhau hạnh-phúc, rồi bỗng chốc đổ vỡ cả.  Tôi bằng này tuổi rồi, còn chờ mong gì nữa.  Chỉ mong một điều là con cái gia đình êm ấm.”

            Thu nhìn ở cụ thể hiện tình thương bao la của một bà mẹ.  Ðúng là nước mắt chẩy xuôi.  Mẹ nào mà chẳng lo lắng cho con, dù chúng ở bất cứ tuổi nào.  Vẫn coi chúng như còn tấm bé, vẫn thương xót đùm bọc.  Nàng nhớ mãi hình ảnh mẹ chồng nàng, nước mắt đầm đìa trông thật thảm thiết vào đêm chồng nàng bị bọn công an đến bắt tận nhà.  Tiếng nức nở ấm ức của bà như thoát ra từ lòng yêu thương tha thiết của tình mẫu tử.  Ðối với bà, giây phút đó, tất cả đều xụp đổ, tan vỡ.

            Nhiều trường hợp này đã xẩy ra, mỗi hoàn cảnh một khác.  Mà trường hợp nào cũng vậy, đều mang cho mọi người nỗi khổ tâm trước cảnh chia ly.  Như khi đi thăm chồng nàng ở trại Gia-rai, Thu đã chứng kiến cảnh ba chị em, đứa lớn mới lên mười, đứa nhỏ khoảng năm sáu tuổi.  Chúng dắt díu nhau lên thăm cha.  Ðồ tiếp tế chỉ vỏn vẹn có nải chuối xứ với vài chiếc bánh mì.  Chúng đã mua bằng tiền giúp đỡ của người lối xóm.  Mẹ chúng vắng nhà đã lâu,  không hiểu việc gì xẩy ra cho người đàn bà trên đường kiếm sống hàng ngày, đã bỏ chúng bơ vơ trong một xã hội bất ổn.  Nàng nhìn thấy bốn cha con cùng khóc, mỗi người có riêng một tâm tư, một nỗi đau khổ khác biệt.

            Thu không ngạc nhiên, đi đến đâu cũng gặp thân nhân người cải tạo.  Chuyện về “cải tạo” chưa đến hồi kết, mà đang ở những dòng đầu, những đau thương chia ly còn tiếp diễn.

            Tiếng ồn ào bớt dần, mọi người đã ổn định chỗ ngồi.  Phía trên đầu hành khách, sát nóc tầu, đong đưa những chiếc võng vải của những người mong tìm một giấc ngủ trên quãng đường dài.  Con tầu thét lên từng hồi còi dài, báo hiệu giờ khởi hành.  Tầu từ từ rời sân ga, để lại phía sau những tiếng nhắn gọi của người ở lại.

                                                                        *

 1111.

            Mặt trời đã chìm hẳn dưới rặng cây ở phía xa,  con tầu tăng dần tốc độ bỏ lại thành phố nhỏ dần ở phía sau.  Ðây là lần đầu tiên Thu đi chuyến xe lửa đường dài, con tầu mang tên Thống-nhất.  Sau ngày miền Nam bị chiếm đoạt, nó đã nối liền Hà-nội  Sài-gon, mà vì nội chiến đã chia cắt mấy chục năm về trước.  Thu thấy lòng bồn chồn, nàng trên đường trở về nơi quê hương yêu dấu của nàng.

            Hình ảnh Hà-nội năm xưa không cho Thu nhiều kỷ niệm, vì nàng vào Nam khi còn nhỏ.  Nàng chỉ nhớ căn nhà mình ở nơi phố vắng xe đi lại, con đường mang tên “Hàng Chuối”.  Nàng cũng không hiểu tại sao người ta đặt tên này cho con đường chỉ trồng toàn “sấu”.  Hai dẫy sấu cao thẳng tắp ôm trọn lấy con đường trải nhựa xinh xinh, sạch bóng.   Con đường ít bóng nắng vì cành sấu cao rậm.  Vào những ngày mưa tầm tã, mây xám giăng kín bầu trời, cành lá sũng nước, con đường như lạc vào giữa khu rừng âm u.

            Vào mùa sấu, những trái sấu chín mọng trĩu cành.  Ðứng trên sân thượng, Thu có thể vít những cành sấu phủ trùm mái nhà, hái những trái sấu chín cây mà hương thơm dìu dịu quyến rũ.  Vừa cầm trái sấu trong tay, nàng cảm thấy lòng bàn tay mình ấm áp, vì trái sấu được mặt trời sưởi nóng.  Quên cả rửa, chỉ kịp chùi lớp vỏ sần sùi vào vạt áo, nàng vội cắn để tận hưởng vị ngọt dịu từ những giọt nước cốt của trái sấu tiết ra.  Nàng đã quên cả bữa ăn trưa vì mải mê với những trái sấu chín.

            Thu nhớ đến những trái sấu mầu vàng ươm sau lần vỏ ngoài, cùi sấu được cắt khoanh thành một lớp hình xoắn theo chiếc hột.  Sau khi bỏ hột, phần cùi được xếp lại nguyên hình trái sấu, ngâm trong nước đường có pha mầu, óng ánh sắc vàng dậy mùi cam thảo.  Vị sấu dôn dốt dòn tan, quyến rũ những thiếu nữ đến tuổi dậy thì.

            Vào những trưa hè êm ả, cả một quãng đường vắng lặng, những căn biệt thự nhiều tầng nằm hai bên đường như say ngủ.  Chỉ có tiếng ve trên cây, pha trộn với tiếng rao cao vút, ngân dài của bà bán bún thịt nướng.  Thu thèm mãi vị bún thịt nướng Hà-nội. Trên chiếc khay tròn bằng tre đan, những sợi bún trắng muốt xếp khoanh tròn, bên đĩa rau muống chẻ nhỏ tô điểm bằng những cánh rau thơm.  Một bát nước mắm trong vắt, lác đác vài lát ớt đỏ au khi khách hỏi.  Vài xâu thịt nướng thơm phức xếp ngang trên đĩa.  Khi nhỏ Thu chỉ thấy món ăn đó ngon, nhưng sau này nàng mới nhận ra, mỗi món ăn hàm chứa một nghệ thuật, diễn tả sự tinh khiết riêng biệt của mỗi thứ.

            Ðến ngày Tết Nguyên đán, Thu được mặc quần áo mới theo mẹ đi lễ đền Ngọc-sơn, phía bên kia cây cầu gỗ cong cong sơn mầu đỏ tía.  Nàng đứng trên cầu nhìn xuống mặt hồ, gió thổi mặt nước gợn nhẹ, lăn tăn từng đàn ôm lấy chân cầu.  Nhìn vào, đền ẩn hiện trong bóng cây bao quanh.  Nhô lên khỏi khóm lá những mái ngói đỏ au.  Khung cảnh thật trang nghiêm, huyền bí.

            Nàng đã thấy “tháp Rùa” cũ kỹ giữa lòng hồ, di tích về một vị vua trả lại kiếm thần sau khi phá tan giặc ngoại xâm.  Quanh bờ, những tàng cây cổ thụ soi mình bên bóng nước.  Hồi đó nàng chưa cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên ở nơi đây như các anh chị lớn của nàng.  Họ đã lặng ngắm những tà áo nhung gấm nhiều mầu, qua lại trong làn mưa mỏng hạt.

            Riêng Thu, nàng cảm thấy vui thích vì có dịp ra khỏi nhà,  được thấy nhiều cảnh lạ mắt.  Nàng thích những hạt lạc rang tròn quay có tẩm húng lìu thơm phức của chú Tầu, hay những gói hạt dẻ nóng hổi ủ kín trong tấm chăn dạ của người bán hàng.  Vị bùi của hạt dẻ thật quyến rũ, nàng thường dốc cả gói  vào túi áo khoác ngoài.  Bàn tay nhỏ bé của nàng cảm thấy ấm áp như đứng bên bếp lửa hồng.

            Ðến ngày Thanh minh giỗ Tổ, Thu theo mẹ về làng.  Nàng mặc quần áo mới như ngày Tết.  Mái tóc dài óng mượt được kẹp phía sau bằng chiếc kẹp cánh bướm nhiều mầu.  Lòng nàng hân hoan vô cùng.

            Sơn-tây không xa Hà-nội bao nhiêu.  Ra khỏi thành phố Hà-nội, con đường trải đá dẫn đến phủ Quốc-oai nằm giữa cánh đồng lúa xanh.  Phố Phủ gồm những căn nhà mái ngói lấp xấp bên đường.  Theo đường chính phố Phủ, xã Phượng-cách nằm về bên phải.  Những rặng tre bao quanh làng trồi lên như một ốc đảo mầu xanh thẫm, vượt khỏi biển lúa mầu mạ non.

            Thu trở về căn nhà của gia đình nàng đã bao nhiêu đời ở đây.  Chiếc cổng gạch lọt vào giữa hai cánh tường cao bao quanh khu đất rộng.  Qua khỏi cổng, một sân rộng lót gạch Bát-tràng, tiếp đến là dẫy nhà ngói năm dan, nơi thờ phụng những người đời trước.  Bên trái là ngôi nhà lầu xây theo lối mới, chỗ ở của gia đình nàng khi về đây.  Còn dẫy bên phải chia thành nhiều phòng, vừa làm nhà kho, nhà bếp và nơi dành cho những người giúp việc trong nhà.  Sát tường là vườn hoa xen lẫn những cây ăn trái.

            Nàng rất thích cây nhãn bên bể nước mưa.  Nghe mẹ nói là giống nhãn Hưng-yên, cùi dầy hột lại nhỏ, dịu ngọt vô cùng.  Nàng mê mẩn với những trái cây trong vườn, đến vẻ đẹp của vườn hồng nơi sân trước mà cha nàng tốn công vun xới.  Rồi đến cây đào gốc lớn sùi nhựa từng cục,  nàng thường dùng nhựa dán hình vào sách.  Vào dịp Tết, hoa đào nở rộ, mầu đỏ thắm hay phơn phớt hồng như xác pháo.

            Cảnh này đến cảnh khác như quyến rũ, cầm giữ nàng ở lại.  Sinh ra ở Hà-nội, nơi phồn hoa đô hội, nhưng xa ngôi làng này nàng vẫn nhớ, vẫn bồi hồi mỗi lần trở về.  Thu cũng không hiểu tại sao, đó có phải là tình quê mà đời trước liên hệ với đời sau như  những mắt xích vô hình.

            Nàng theo mẹ lên chùa Thầy.  Một ngôi chùa xây dựng hàng ngàn năm về trước, mái ngói rêu phủ.  Phong cảnh đơn xơ tịch mịch.  Qua ngưỡng cửa chùa, tại gian giữa, một pho tượng lớn ngồi trên bệ.  Nàng lại gần, đầu nàng mới ngang bệ ngồi.  Nhìn lên, đầu pho tượng như chạm vào mái ngói cao.  Phía trước pho tượng là chiếc mõ khổng lồ, mà mỗi lần gõ nhẹ âm vang vọng đi thật xa.

            Thu theo anh chị trèo lên dốc núi sau chùa.  Phía dưới là những hang động, nơi trú ẩn của dân trong làng mỗi khi có máy bay oanh tạc vào thời kỳ chiến tranh.  Xa xa, phía dưới kia nơi gốc cây gạo là khu chợ.  Từ trên cao nhìn xuống, dân làng họp chợ bé nhỏ như đàn kiến, âm thanh vang vọng vào vách núi rì rào như tiếng ong bay.

            Ðến ngày chia đôi đất nước, gia đình nàng vào Nam, để lại quê hương miền Bắc cả mồ hôi và nước mắt.  Thu lên tầu ở vịnh Hạ-long, một cảnh biển đã trở thành kỳ quan của thế giới.  Những hòn núi nhỏ nhô lên khỏi mặt nước với nhiều hình dáng khác nhau.  Người ta ví hòn này giống hình con Lân, hòn kia hình con Phụng.  Có hòn như giọt nước mắt đang nhỏ xuống mặt nước biển xanh thẫm.  Thoáng hiện trong rừng núi nhỏ những cánh buồm nâu.

            Cuộc chiến huynh đệ tương tàn vẫn tiếp diễn, Thu lớn lên ở miền Nam.  Nàng đọc sách và nghe kể chuyện về Hà-nội 36 phố phường, một nơi ngàn năm văn vật, có nhiều dấu tích lịch sử trên đường dựng nước và giữ nước.  Nhiều người ca tụng Hà-nội đẹp, Hà-nội duyên dáng.  Có lẽ Hà-nội đẹp vào hồi trước kia, khi người dân Hà-nội chưa ngửi thấy mùi thuốc súng, chưa sống trong cảnh lo sợ phập phồng vì hận thù giai cấp, chưa nếm vị củ khoai củ sắn trong bữa ăn hàng ngày.  Ðời sống người dân còn thoải mái cả về vật chất lẫn tinh thần.

            Khung cảnh làm Hà-nội trở lên duyên dáng, dù các con phố có nhỏ hẹp, là tự nó có trật tự và tô điểm thêm bằng thứ tình cảm ấm cúng, gần gũi.  Mà phải ở một thời gian đủ lâu mới tìm thấy cái cảm giác yêu thương, quen thuộc không thể thiếu đó.

            Còn đối với nàng, Thu vẫn yêu vùng núi chùa Thầy, quê hương Phượng-cách.  Các bạn thường bảo nàng có đôi mắt đẹp, trông quyến rũ thơ mộng nhưng trong sáng, hiền hòa như một bầu trời xanh vào ngày nắng Hạ.  Như  ca tụng vẻ đẹp về đôi mắt của người con gái Sơn-tây.  Nàng đã nhiều lần ngắm mình trong gương, và cảm thấy lòng mình dâng lên một niềm kiêu hãnh.

            Những hình ảnh đó không rõ nét mà cũng khó xóa nhòa.  Lớn lên nàng mới hiểu được tình cảm quê hương gắn bó.  Thời gian qua đi thật mau như mới ngày nào.

                                                                        *

            Con tầu uốn mình qua các khúc quanh, một bên đường là rừng cao su với hàng cây thẳng tắp.  Tầu vượt qua ga Gia-rai, phía bên trái là trại tù “cải tạo” nằm trên đồi Phượng-vĩ, nơi Thu gặp chồng lần đầu vào năm năm về trước.  Căn trại chìm hẳn trong bóng tối, leo lét mấy ngọn đèn điện vàng úa mờ mờ trong màn đêm.

            Vân-Anh cựa mình kéo Thu ra khỏi suy tư.  Nhìn khuôn mặt dịu dàng của bạn trong lúc say ngủ, khó đoán biết                               12(Di tản:  Tháng 4-1975)                                                                               được người đàn bà này đã bước ra khỏi tháp ngà, dấn thân vào cuộc sống cam go.  Không có gì nguy hiểm hơn cho một người đàn bà với hai bàn tay trắng, một đàn con dại, phải chấp nhận một sự thay đổi chớp nhoáng khi chưa sửa soạn tinh thần.

            Vân-Anh vươn vai ngồi thẳn dậy:

            -“Mình vừa ngủ được một giấc thấy khỏe hơn nhiều.  Bạn ngủ một lát đi.  Mình coi chừng đồ cho.”

            -“Không hiểu tại sao mình lại khó ngủ, mặc dầu đêm hôm qua không chợp mắt chút nào.”

            -“Tại bạn suy nghĩ nhiều đó thôi.  Mình cũng vậy,  nhiều lúc muốn quẳng gánh lo đi mà vui sống, nhưng vẫn không làm được.  Sinh hoạt của cuộc sống trước mắt không cho mình ngưng nghỉ, mình như chơi vơi giữa giòng.  Chồng mình ra đi mang theo cả chỗ nương tựa của mẹ con mình.  Thời gian qua đi thật mau, hơn năm năm rồi còn gì.  Chúng mình còn phải đợi đến bao giờ nữa đây.”

            -“Nhiều khi tôi cũng nghĩ như Vân-Anh.  Nhưng khổ một nỗi, các anh ấy có hay trước ngày về đâu mà mình biết thời gian chờ đợi đến bao giờ.  Cái đau thương của chúng ta ở chỗ là không biết tương lai mình đi về đâu, thử hỏi làm sao chúng ta có dự tính tương lai.  Chúng ta không có may mắn nhỏ bé như người mù sờ voi, vì ít ra họ còn có một chút thực tế để tin tưởng.”

            -“Thu nói phải đấy.  Ðời sống xã-hội bây giờ thật nguy hiểm cho những người đơn chiếc như chúng mình.  Bước chân vào một lãnh vực mà mình chưa có một chút kinh nghiệm.  Trong khi những người còn ở lại thành phố này sống thật vội vàng.  Họ tận hưởng những gì có được trong hiện tại, vì họ cũng như mình mờ mịt về tuơng lai.

            Còn thành phần mới tới, những kẻ đói khát lâu ngày trong một chế độ chỉ có bạo quyền, đã tận dụng quyền hành sẵn có để bóc lột và hưởng lạc.  Những người đàn bà trong hoàn cảnh khó khăn dễ bị đám người này đe doạ, áp bức.  Chính mình đã gặp cảnh ngộ này.”

            Thu ngạc nhiên hỏi bạn:

            -“Chuyện thế nào Vân-Anh. Ðã xẩy ra lâu chưa?”

            -“Cũng như Thu, Sau ngày đau thương của miền Nam, mình bán dần đồ dùng trong nhà để sống qua ngày.  Nhà tôi đi trình diện “học tập cải tạo” theo thông cáo của nhà nước.  Cũng tưởng một tháng là về.  Hơn nữa các cháu còn nhỏ, mình không thể để cụ coi chừng vì cụ đã già rồi.  Vì vậy mình nhận đồ cắt sẵn về nhà vắt sổ phụ thêm chi tiêu trong gia đình.

            Ðời sống khó khăn dần về kinh-tế.  Công an khu vực luôn theo rõi, như nghĩ rằng gia đình mình còn của ăn của để.  Mỗi lần họp tổ khu phố, mình là đề tài được nhắc tới vì không hội nhập sinh hoạt xã hội mới.

            Gạo cấp phát ngày càng khó khăn.  Mình có cảm tưởng nhà nước đang thi hành chính sách “bóp cổ, túm dạ dày” người dân, với mục đích đẩy các gia đình có thân nhân đi “cải tạo” tới vùng kinh tế mới.  Mình đành phải xin đi làm cho cơ quan xây dựng Thành phố.”

            -“Vân-Anh nói đúng.  Gía sinh hoạt ngày một tăng  thì đồng lương mình lãnh chỉ là đồng lương chết đói.”

            -“Thời gian đầu cũng dễ chịu, nhất là đồng lương chết đói của mình không bị ai ghen tị.  Mình chỉ cần có phiếu lãnh gạo cho gia đình.  Cũng chỉ mong được yên thân hầu có thì giờ với mẹ mình và hai cháu.  Nhưng khi trưởng cơ quan là cán bộ mới chuyển tới, mình không biết nói thế nào cho đúng với con người của hắn.  Là cán bộ kỹ sư, đã từng du học nước ngoài, xấp xỉ tuổi mình.  Hắn đúng là thứ con đẻ của cách mạng, không rõ mấy năm tuổi đảng.  Nhưng phải dựa vào thế lực nào mới có thể chiếm được một chỗ ngồi béo bở như cơ quan này.

            Một hôm hắn gọi mình vào văn phòng, nói là muốn tìm hiểu gia cảnh hầu cơ quan giúp đỡ.  Hắn nêu ra diện có chồng đi cải tạo là một khó khăn cho công việc mình làm.  Hắn bảo rất thông cảm hoàn cảnh của mình và hứa sẽ hết lòng giúp đỡ.  Mình tỏ lời cám ơn.  Từ đó hắn tìm cách gặp mình luôn, vồn vã và săn đón nhiều hơn.

            Mình bảo hắn biết là mình không thể làm điều hắn muốn.  Như không đạt được mục đích trước con mồi mà hắn tưởng là dễ khuất phục, hắn nổi cáu trở mặt, kiểm soát chặt chẽ công việc mình làm, moi móc khía cạnh lý lịch.  Mình nghĩ khó có thể tiếp tục công việc làm nên xin thôi và trở về nghề may là thế.”

            Thu thở dài, tiếp lời bạn:

            -“Ở đâu cũng thế thôi.  Chế độ này càng ngày càng  mất đi căn bản đạo đức.  Ðó có phải là thói quen của kẻ thắng trận, nhìn người bại trận như  những con mồi mà họ có quyền bóc lột, hành hạ.  Họ có bạo quyền trong tay, nên dưới hình thức nào đó, buộc người bại trận phải chết cũng dễ thôi.  Họ bảo họ có chính nghĩa, là lẽ phải, mặc dù hành động của họ thật tàn tệ, không một chút tình người.”

            -“Thu biết không, nhiều khi mình có cảm nghĩ là chúng mình sinh ra không hợp thời, ở một quốc gia tao loạn.  Khi nhỏ thì chạy giặc đô hộ, rồi gia đình mình di cư vào Nam vì biết không thể sống chung với chế độ cộng-sản.  Mình lớn lên ở miền Nam, được hưởng một cuộc sống tốt đẹp.  Bỗng chốc mất tất cả, cả những gì mình yêu thương nhất.  Chúng mình còn quá trẻ, đang cần sự thương yêu ve vuốt.  Mình cũng có những giây phút yếu lòng, vì chúng ta là những người đàn bà bình thường với khát vọng bình thường.”

            Thu nhìn bạn thông cảm.  Như đọc được tâm tư của bạn mà cũng là mối băn khoăn, lo âu của chính mình.  Hai người chợt yên lặng như đang theo đuổi niềm ưu tư chợt đến.  Nàng tiếp lời bạn:

            -“Mình cũng nghĩ như Vân-Anh.  Lòng mình ngổn ngang trăm mối.  Trước hoàn cảnh đời sống luôn bị đe dọa, mình có cảm tưởng như đang đứng giữa cơn lốc, liệu mình có thể có một cuộc sống an lành.  Mình cố gắng nhiều, nhưng cũng cảm thấy đã đuối sức.  Sự mệt mỏi như thấm sâu làm đầu óc căng thẳng, cơ thể rã rời, ý chí phấn đấu   tàn lụn.  Nhiều khi mình tự hỏi, có thể buông trôi đuợc không, để mặc cho số phận đưa đẩy.  Nhưng chính trong giây phút tinh thần sa sút đó, lòng mình se thắt khi nghĩ đến chồng, đến con.  Liệu có thể để cho những người mình yêu thương gặp hoàn cảnh này không.  Có lẽ nhờ ở thứ tình cảm tha thiết này mà mình dừng chân, cầm giữ được lòng mình, có thêm can đảm để sống.”

            Giọng nói của Thu chợt lạc đi, sự xúc động làm nàng nghẹn lời.  Ðời sống quả thực khắc nghiệt.  Nàng chót hiểu biết, có nhận thức về đời sống, mà từ lúc khôn lớn đã có hoài bão tạo cho mình một đời sống có ý nghĩa.  Không ngờ cuộc sống thay đổi, tất cả đều đổ vỡ.

            -“Thu biết không, từ ngày miền Nam bị chiếm đoạt, mình vẫn thắc mắc, sự thắc mắc không thể giải nghĩa được.  Mình không hiểu nổi hai chữ “chính nghĩa”.  Miền Bắc mang quân xâm chiếm miền Nam thì bảo là có chính nghĩa.  Còn miền Nam tận sức bảo vệ đời sống Tự-do của mình lựa chọn thì cho là không có chính nghĩa.  Miền Bắc mang quân đánh chiếm miền Nam thì gọi là “giải phóng”.  Thử hỏi, có bao nhiêu ngàn người miền Nam theo họ để họ thực hiện một cuộc giải phóng cho đúng nghĩa?  Còn bao nhiêu triệu người miền Nam khác lại không có quyền lên tiếng nói, khi họ nói lên với quyềân làm người của họ.  Họ không có quyền chọn lựa đời sống Tự-do cho mình.

             Bây giờ miền Bắc đã nắm trọn miền Nam, hoàn tất ý đồ tô đỏ cả non sông gấm vóc này.  Bắt tù đầy hàng triệu người miền Nam, đầy đọa cho đến chết, nếu không cũng thân tàn ma dại trong các trại “Tập trung Cải tạo”, thì họ bảo là khoan hồng, là nhân đạo.   Quả thật, mình không còn biết thế nào là công-lý nữa.”

            Giọng nói của Vân-Anh đầy phẫn uất, sự uất hận dồn nén lâu ngày.  Thu thấy mắt bạn nhắm nghiền nhưng đôi môi rung rung, như cố kìm hãm để không bật thành tiếng khóc.  Thu như  lây niềm uất hận, nàng im lặng tựa người sát lưng ghế, đôi mắt lim dim, lòng nàng xót xa với tiếng thở dài.  Dĩ vãng hiện ra như một hoạt cảnh,  pha trộn giữa đau thương hờn tủi và nuối tiếc dĩ vãng êm đềm.

                                                                        *

     13.

            Nghĩ tới các con, Thu thương chúng vô cùng.  Ít nhiều chúng cũng phải chịu ảnh hưởng về sự thăng trầm của bố me, mất mát niềm vui của tuổi thơ.  Mà nơi nào ở phần bên kia trái đất đang có một cuộc sống vui tươi, như hai thế giới trong một cuộc đời.   Không hiểu giờ này chúng đang làm gì, có tự lo được khi mẹ vắng nhà không.  Có gì không may xẩy ra cho chúng không.                                                                                     13(Vượt Biên sau ngày 30-4-1975)

            Còn đứa con trai lớn của nàng bây giờ ra sao.  Năm nay nó mới 14 tuổi.  Ở tuổi mà đứa trẻ cần nương tựa vào cha mẹ, cần sự nuông chiều, chăn ấm nệm êm.  Mà trái lại, lúc này nó đang dấn thân vào cơ cực, vừa trải qua những nguy cơ mà sự sống thật mong manh. Con đã xa nhà được sáu tháng.

            Nhìn ảnh nó gửi về thật gầy, lòng người mẹ bỗng chùng xuống.  Con vẫn mặc chiếc quần đùi khi đi, đứng trên tảng đá phía trước là biển cả mênh mông.  Chắc con nhớ nhà lắm, vì lần đầu xa mẹ với các em.  Nàng càng thương con hơn, vì con có nhiều kỷ niệm với mình.

            Thu nhơ,ù ngay sau khi nghỉ làm cho công-ty hóa chất, vì sự sống của gia đình, nàng phải đi buôn trở lại.  Nàng không muốn đi buôn bán chợ trời vì có nhiều phức tạp, nên chuyển qua buôn hàng chuyến tại các tỉnh lân cận.  Nàng đã thăm hỏi nhiều người quen ngoài chợ xem mặt hàng nào cần thiết nhất.  Nàng bảo các con:

            -“Ngày mai mẹ đi chợ Mỹ-tho mua gạo về bán.  Các con ở nhà coi chừng nhau, đến tối mẹ về.  Thức ăn mẹ đã làm sẵn, các con chỉ cần nấu cơm.”

            Ðứa con trai lớn chợt hỏi:

            -“Mẹ không đi làm nữa hay sao mà đi buôn trở lại?”

            Thu không thể cho các con hay lý do khiến nàng phải thôi việc, chúng chưa hiểu được những việc ngoài đời.  Thực ra nàng vẫn muốn làm công việc văn phòng, để được thư thả, có thì giờ trông nom săn sóc các con  và cha mẹ già yếu.  Nàng cũng muốn được ngồi nhìn trước gương như thuở trước, chải lại mái tóc mà từ lâu nàng không có thì giờ săn sóc.  Thu cũng hiểu ước vọng của người phụ nữ, được chăm sóc sắc đẹp của mình, mà nỗi lo lắng nhan sắc tàn phai luôn luôn ám ảnh.  Nhưng nàng đã chấp nhận đời sống khổ cực từ sáng đến tối, vì ít ra cũng tránh được nguy cơ đang xẩy ra trước mắt.  Nàng bảo các con:

            -“Tiền lương hàng tháng không đủ cho gia đình mình chi tiêu, nên mẹ muốn đi buôn để có dư chút tiền mua sắm cho các con và gửi quà cho bố.”

            Ðứa con gái lớn tiếp lời mẹ khi nghe nhắc tới bố:

            -“Lâu rồi không có tin bố.   Ðã hơn hai năm, hè này là hè thứ ba.  Không biết bây giờ bố ở đâu, có khỏe mạnh không.”

            Câu nói thương nhớ cha của đứa con gái vô tình nhắc nhở, khuấy động nỗi xót xa nhớ thương chồng trong lòng nàng.

            Ðứa con trai lớn nói:

            -“Mẹ cho con đi chợ với mẹ được không?”

            -“Mẹ nghĩ con ở nhà coi chừng các em thì tốt hơn.  Ði buôn hàng chuyến vừa xa lại vừa mệt.  Mẹ sợ con đi không nổi.”

            -“Con đi một lần thôi.  Mẹ cho con đi cùng cho vui.  Các em con ở nhà có Vi lo rồi.  Nếu có chuyện gì đã có ông bà và các cô.  Con đi bộ được, mẹ đừng lo cho con.”

            Thu cười bảo con:

            -“Con đi với mẹ cũng được. Lần đầu mẹ cần thăm dò đường đi và xem hàng hóa ra sao, thứ nào mình có thể mua để kiếm lời.” – Nàng quay qua bảo mấy đứa con nhỏ – “Ngày mai anh Ti đi với mẹ, Vi ở nhà coi chừng các em con nhé.  Anh Ti hãy đi ngủ sớm, sáng mai phải dậy đi chuyến xe đầu cho kịp phiên chợ.”

            Hai mẹ con dậy thật sớm.  Thu cho con mặc thêm áo ấm, vì buổi sáng tiết trời hơi lạnh.  Tới bến xe trời còn tối, nàng mua vé xe đi chợ Gạo.  Hai mẹ con ngồi sát  nhau bên lề đường chờ giờ xe chạy.

            Mọi người lên xe.  Chiếc xe chở khách cũ kỹ được sơn sửa lại vẫn không giảm được tiếng kêu khi qua các ổ gà.  Khoảng cách hai hàng ghế làm hẹp hơn trước để chở thêm khách.  Mặt và lưng ghế làm bằng sợi nhựa đan mỏng mảnh, mà mỗi lần xe thắng gấp, đầu gối của người ngồi sau đẩy mạnh vào lưng người ngồi trước.

            Giọng ca theo một bản nhạc “cách mạng” vang ra từ máy phát thanh nhỏ treo trước mặt tài xế, nghe mãi cũng nhàm chán.  Nàng nhìn sang con, nét mặt nó thật vui tươi trước cảnh đồng quê trải rộng hai bên đường.  Ðã lâu các con không được đi ra ngoài.  Ở tuổi của chúng cần đi xa để mở rộng thêm tầm mắt, phát triển trí khôn, mà vì hoàn cảnh lâu nay nàng không thực hiện được.

            Trời đã sáng hẳn, những cánh ruộng bát ngát ôm sát hai bên đường, những xóm nhà rải rác chen giữa các khóm tre.  Ðây là trục lộ chính từ Sài-gon dẫn tới các tỉnh phía Nam.  Con đường trải nhựa phẳng phiu trước đây, nay đã lác đác các ổ gà.

            Ðến chợ, Thu dắt con đi một vòng xem giá trước khi mua.  Nhà nước thu mua gạo thơm để xuất khẩu nên không thấy bầy bán như trước kia.  Hoặc nếu có, giá mua chợ đen cũng rất cao.  Ðâu đâu cũng chỉ bán thứ gạo thường.

            Thu mua vài món hàng và một ít gạo đựng trong hai xách tay.  Thấy mẹ xách nặng hai tay, Ti bảo mẹ:

            -“Mẹ để con xách một bên cho đỡ nặng.”

            Nàng nhìn con cảm động, nó còn nhỏ mà đã có ý chia xẻ sự cực nhọc với mẹ.  Nàng để giỏ xách bên đường và bảo con:

            -“Giỏ nặng lắm, con xách không nổi đâu.  Cẩn thận không gẫy xương sống đấy.”

            Con nàng hai tay xách một giỏ, nhưng mới đi được ít bước đã bỏ xuống.  Mặt mũi đỏ gay, như sức nặng đã vượt quá sức chịu đựng của nó.  Thấy thế Nàng bảo con:

            -“Ðể mẹ xách cho.  Mẹ đi một quãng lại nghỉ cũng được.”

            Con nàng vẫn cố gắng xách giỏ.  Nó nói với nàng:

            -“Từ đây ra bến xe cũng không còn bao xa, mẹ để con xách đỡ một quãng.”

            -“Mình không thể lên xe ở chỗ mình xuống lúc sáng được, vì xe ngừng ở trạm để công an kiểm soát.  Họ thấy gạo sẽ tịch thu mất.”

            -“Làm sao mình về nhà được hả mẹ?”

            Thu bảo con:

            -“Mình phải đi vòng vào đường làng phía sau trạm kiểm soát.  Khi ra đến đường mình sẽ kiếm xe về.”

            Hai mẹ con đi bộ gần 2 cây số đường trong làng.  Nhiều khi phải nấp trong vườn mía chờ đám công an đi qua mới đi tiếp.  Ra đến đường trời đã tối, không còn xe chở khách.   Hai mẹ con phải đón xe Lam về.

            Thấy đường Mỹ-tho khó khăn vì mới đi buôn chưa quen manh mối, nên Thu theo bạn đổi hướng đi đường Tây-ninh Gò dầu.  Cũng như những người đi buôn khác, phải tìm cách mua nhiều hàng để có thêm lời.

            Ðể  kiếm thêm tiền đuờng, khi đi nàng thường mang săng dầu đựng trong thùng nhựa nhỏ.  Các thùng săng dấu trong giỏ xách hầu tránh mặt đám công an kiểm soát dọc đường.  Tới chợ là bán ngay cho mối đã đợi sẵn.  Dù giá bán có rẻ hơn, nhưng có điểm lợi là có thì giờ mua hàng trở về và tránh tai mắt của công an địa phương.

            Lượt về, theo như người mua đã dặn, Thu mua vài ký thịt heo, vài cân đường trắng và đường Thốt-nốt, vài lít rượu trắng đựng trong các túi nhựa dầy . . .  Nhưng cái khó khăn là làm sao qua mặt công an tại các trạm kiểm soát.  Nàng biết cách dấu, nhưng quan trọng vẫn là đám tài xế và lơ xe có chịu làm lơ không.

            Nàng thấy có nhiều người mang theo cả bao lớn bao nhỏ, qua trạm không mảy may sơ xẩy, mà sau này nàng mới hiểu là họ ăn chia với tài xế.  Tới trạm, tài xế lại chung cho đám cán bộ, như một thứ tiền mãi lộ đối với bọn thảo khấu.  Cũng chỉ vì muốn kiếm nhiều tiền vừa an toàn mà không vất vả, nhiều người đàn bà đã bị đám tài xế lợi dụng.  Còn những tay mơ như nàng thường gặp khó khăn trong khi di chuyển.

            Thời gian đầu tiền lời không kiếm được bao nhiêu, Thu chỉ mong giữ được vốn và có thêm chút lời đủ gia đình ngày hai bữa.  Khi đi, nàng cố mang nhiều hàng hầu bán lấy lời làm vốn mua hàng cho lượt về.

            Vẫn hành trình như thường lệ.  Con đường nào cũng có những khó khăn khác nhau.  Thu đi buôn từ chợ này đến chợ khác.  Hết Trảng-bàng đến Gò dầu, tới các khu xa xôi thuộc tỉnh Tây-ninh.  Khi mua xong hàng trời đã xế chiều, với hai giỏ xách nặng chĩu đôi vai, đón được chiếc xe khách chịu chở về Sài-gon là một điều khó khăn.  Nhiều khi nàng và mấy người đi buôn hàng chuyến đứng đợi bên lộ hàng nhiều giờ, không xe nào chịu chở.  Mọi người phải đi bộ trước khi tìm được xe Lam.

            Có lần làm Thu nhớ mãi là sau khi mua xong hàng, mọi người ra chỗ xe chở khách thường ngừng.  Không xe nào chịu chở, vì tài xế biết đám người đứng đợi là những người đi buôn hàng chuyến.  Chỉ còn một chuyến chót trước khi trời tối.  Mọi người quyết định bằng giá nào cũng phải lên được xe.  Như mọi lần, sau khi lên xe, nàng năn nỉ hành khách cho để nhờ ít hàng dưới chân họ.  Với số lượng nhỏ không đáng gì để đám công an xét hỏi.

            Nhiều lần, có lẽ vì thương tình, nhất là thấy nét mặt mệt mỏi sợ hãi của nàng, không phải là thứ đi buôn chuyên nghiệp họ đã nhận hộ nàng.  Nhưng lần này, người tài xế tức giận vì người đi buôn không chia cho hắn phần lời, nên khi xe tới trạm hắn để mặc cho đám công an kiểm soát.  Những người đi buôn lẻ bị gọi xuống xe mang theo hàng của mình.  Vì vốn bỏ ra nhiều, Thu đành cùng mấy người khác mang hàng đứng đợi trước trạm.  Tên công an trạm vất hàng vào một góc phòng và bảo mọi người đứng đợi trước trạm chờ ngày mai giải quyết.

            Lúc này đã hơn 11 giờ đêm, mọi người xin hắn bỏ qua vì đây là cách duy nhất mà có thể kiếm sống nuôi đàn con nhỏ ở nhà.  Hắn vẫn một mực không chấp thuận.   Ðến 1 giờ sáng, Thu nóng ruột các con ở nhà, chắc chúng đang lo lắng đợi nàng về.  Nàng quyết định để hàng lại và đón xe đi về.  Thu đứng đợi cả giờ trước trạm mà không có xe nào chạy qua.

            Gần hai giờ sáng mới có chiếc xe chở hàng ngừng ở trạm.  Nàng năn nỉ tài xế và lơ xe cho đi nhờ xe về gần Sai-gon.  Người tài xế bằng lòng.  Trước khi lên xe người lơ xe bảo nhỏ nàng: “Lão tài xế này tệ lắm, chị đừng nghe lời hắn dụ dỗ.  Khi tới ngã năm xe ngừng chị hãy xuống ngay.”

            Người tài xế để nàng ngồi giữa hắn và chú lơ xe.  Trong suốt quãng đường hắn tán tỉnh đủ điều.  Nàng nhớ hắn nói: “Em đừng ngại.  Hãy đi theo qua.  Cần tiền nuôi con qua cho tiền, muốn đi buôn qua giúp đỡ. . .”  Thu khiếp sợ khi nhìn gương mặt dữ tợn của người tài xế, nhưng nàng vẫn phải im lặng.  Ðến ngã tư Bẩy Hiền nàng bảo hắn cho xuống xe nhưng hắn vẫn không ngừng.  Nàng quát lớn “cho tôi xuống đây”, hắn bực tức ngừng xe cho nàng xuống.

            Sáng hôm sau Thu lên trạm.  Người công an gọi từng người vào nhận hàng.  Nàng cầm hai giỏ hàng, bên trên là rượu đựng trong túi nhựa, phía dưới là đường và thịt.  Hắn cầm chiếc bút BIC đâm thủng túi rượu nhiều lần.  Rượu trào ra thấm ướt thịt và đường phía dưới.

            Thu tiếc số tiền bị mất kỳ này.  Thịt tẩm rượu làm sao bán.  Còn đường đã tan dần dưới đáy giỏ.  Ðể gỡ vốn vừa bị mất, và vì nhu cầu phải có hàng ngày, nàng vẫn phải đi buôn hàng chuyến.  Vào những ngày hên kiếm được khá tiền lời, các con nàng có bữa ăn ngon, nhưng có khi mất luôn cả vốn.

            Thu thay đổi mặt hàng mua về tùy theo nhu cầu của bạn hàng.  Mới 4 giờ sáng, Tuyết đã sang gọi nàng cùng đi.   Nàng không ngưng nghỉ dù hôm đó là ngày lễ hay mệt mỏi sau một đêm không ngủ.  Ngày này qua ngày khác, ăn không đúng bữa ngủ chẳng đủ giờ, người nàng tiều tụy trông thấy.  Quả thực nàng đã quên hẳn mình.  Từ sáng sớm tới đêm khuya, phấn đấu với mọi trở ngại dọc đường, những cám dỗ xung quanh, nàng vẫn phải chịu đựng.

                                                                        *

            Thu không biết mình thiếp đi bao lâu, nàng chợt thức giấc khi tầu ngừng bánh.  Tiếng lao xao rao hàng ở ngoài lớn dần, nàng hỏi bạn:

            -“Tầu tới ga nào đó Vân-anh?”

            -“Có lẽ Diêu Trì Thu ạ.”

            Thu nâng cao cánh cửa, gió mát lùa vào làm nàng tỉnh giấc.  Thu chợt nhớ tới Quy Nhơn không xa nơi đây, một nơi đã gợi cho nàng những kỷ niệm.                                                14Cảnh biển Quy Nhơn                                                                                                         Nàng có cảm tưởng mình nhận ra vị mặn của biển khơi, với hơi nồng của cát nóng.  Nàng biết thành phố này vì đã ghé qua  đây nhiều lần.  Một thành phố nhỏ nằm sát biển với những bóng dừa râm mát. Từ thành phố này đi theo quốc lộ 19, phi trường nằm về bên phải, dựa lưng vào đồi cát đỏ au.  Quốc lộ len lỏi giữa những cánh rừng, những đồi cỏ bát ngát.

            Qua khỏi đèo, phố chợ An-khê nằm sát bên quốc lộ.  Giòng sông Ba chẩy qua đã giúp cho vùng này có khí hậu mát mẻ, dễ chịu.  Hai bên đường san sát rừng cây và đồi cỏ, chen lẫn giữa nương rẫy thấp thoáng bóng nhà sàn của người miền núi.

            Cuối quốc lộ là thành phố Pleiku, một phố núi phủ sương.   Mà đến mùa nắng khô, ngọn gió Lào đã đốt cháy những cánh đồng cỏ tranh rộng bát ngát, biến thành vùng đất đỏ như tấm vải mầu giăng ngang dưới ánh nắng mặt trời.  Những con xoáy cuốn cát bụi lên cao hàng trăm thước, đã che phủ thành phố nhỏ bé này một lớp bụi hồng.  Và khi gần đến những tháng cuối năm, những cơn mưa dầm rả rích kéo dài nhiều ngày, càng làm cho thành phố đọng đầy gió núi trở lên âm u, cô độc.  Pleiku  là thành phố đầy sương, nhưng đi xa vẫn nhớ.

            Tầu lại chuyển bánh tiếp tục lộ trình ra Bắc.

            Tới ga Thanh-hóa đã xế chiều.  Thu nhớ lời chị Tâm dặn là khi tới đây không kịp giờ vào trại, phải trọ lại qua đêm.  Nàng và Vân-anh đứng đợi trước cửa ga, một lúc sau có hai người đàn ông tới hỏi:

            -“Hai bà có cần gánh tới nhà trọ để chúng tôi giúp cho.  Hai bà đi thăm các ông cải tạo phải không?”

            -“Bác giúp cho chúng tôi đến nhà trọ nào gần, sáng mai chúng tôi phải ra bến xe sớm để vào trại Thanh-cẩm.”

            -“Hai bà yên tâm đi theo chúng tôi.”

            Mỗi người gánh hai bao quà, còn Thu và Vân-anh theo sau.  Nàng nhớ là phải theo sát họ, tránh chuyện họ gánh đồ đi mất.  Nàng và bạn cố gắng theo sau mà không kịp, đành để họ chạy phía trước, mỗi lúc một xa dần.  Cũng may gặp hai người gánh thuê có lòng tốt, nên họ đứng chờ hai người mỗi khi theo không kịp.  Họ dẫn tới nhà trọ và hẹn sáng sớm hôm sau sẽ gánh ra bến xe.

            Nhà trọ đã đông người, không còn chỗ nằm cho người tới sau, khung cảnh lại ồn ào tăm tối, thiếu phương tiện vệ sinh.  Thu bảo bạn:

            -“Vào nhà trọ này dù còn chỗ nằm chúng ta cũng không ngủ được, có lẽ sang quán nước bên cạnh ngồi chờ trời sáng thì tốt hơn.”

            Vân-anh đồng ý.  Hai người qua quán nước bên cạnh nhà trọ, một căn nhà nhỏ  mái rạ thấp lụp xụp.  Ngoài hiên kê chiếc chõng tre, trên để mấy bình kẹo bột, kẹo vừng, mấy nải chuối xứ, vài khúc mía.  Một chồng bát đá ở đầu chõng, kế bên là vò nước trà xanh ủ kín dưới lớp bao bố dầy.  Mỗi lần múc nước cho khách, khói trà bay nghi ngút.  Quán không có đèn điện, chỉ thắp một ngọn đèn dầu nhỏ cho khách châm lửa hút thuốc.

            Thu và Vân-anh ngồi nơi hàng ghế đối diện với bà chủ quán, nàng gọi hai bát nước trà xanh.  Thu uống từng hớp nước trà nóng hổi.  Dưới ánh đèn dầu, nước trà ngả sang mầu nâu nhạt, có lẽ trà đã ủ lâu trong nồi.  Nàng thấy vị trà ngọt lịm, giảm dần sự mệt mỏi sau một đoạn đường dài.  Thu ngỏ lời với bà chủ quán:

            -“Chúng tôi tới đây quá trễ thành thử nhà trọ không đủ chỗ nằm.  Nếu có thể xin bà cho chúng tôi ngồi đỡ nơi hàng hiên qua đêm nay, sáng mai chúng tôi sẽ đi sớm.”

            -“Hai bà đi đường xa cần ngủ cho lại sức.  Nhà chỉ có mấy mẹ con tôi, vẫn có giường để hai bà nghỉ lưng.  Có điều nhà cửa chật hẹp xin hai bà đừng phiền.”

            -“Bà cho ngồi ở đây là quý lắm rồi.  Sáng mai chúng tôi ra bến xe sớm cho kịp giờ.”

            -“Hai bà ở trong Nam ra phải không?”

            -“Vâng, chúng tôi ở trong Nam ra, vừa xuống tầu là tới đây.  Chúng tôi ra thăm nhà tôi và chồng chị bạn tôi ở trại Thanh-cẩm.”

            Thu đưa mắt nhìn căn phòng.  Một bên kê hai chiếc giường, còn phía bên phải sau lưng bà chủ quán có một bộ bàn ghế thấp.  Ngọn đèn dầu nhỏ không đủ soi sáng căn nhà nhỏ bé.  Qua cửa phía sau là nhà bếp và khu vệ sinh.  Bà chủ quán mời hai người uống thêm bát nước trà nóng, và nói:                                                                                                                                                                                                       -“Hai bà nằm đỡ giường ngoài, ba mẹ con tôi nằm giường trong.”

            -“Như vậy sợ làm phiền bà và hai cháu.  Chị em chúng tôi ngồi đây cũng được.  Chẳng còn bao lâu nữa trời  sáng.”

            -“Hai bà cứ tự nhiên.  Ði tầu xe mấy ngày đêm rất mệt mỏi, hai bà cần đi ngủ sớm.”

            -“Chúng tôi rất cám ơn bà.”

            Thu và Vân-anh xách mấy bao quà để nơi góc phòng phía sau bộ bàn ghế.  Vân-anh ngả lưng xuống chiếc giường trải một chiếc chiếu trên lớp giát tre thưa.  Chắc bạn quá mệt mỏi vì không được ngả lưng mấy ngày trên tầu.  Nàng trở ra ngồi đối diện với bà chủ quán.  Thấy nhà vắng người nàng hỏi:

            -“Bà được mấy cháu, chúng lớn cả chưa.  Còn ông nhà chắc đi công tác?”

            -“Tôi có ba cháu, một trai hai gái.  Cháu trai đến tuổi nhập ngũ, ở nhà với tôi chỉ còn hai cháu nhỏ.  Nhà tôi đi bộ đội vào Nam, đã từ trần từ lâu.”

            -“Bà bán hàng có khá không?”

            -“Cũng chẳng được bao nhiêu, gọi là kiếm một chút để các cháu có thêm bữa rau bữa cháo.”

            -“Bà có làm thêm việc nào khác chứ?”

            -“Từ trước tới giờ tôi vẫn làm cho hợp tác xã, nhưng mấy năm nay bão lụt mất mùa nên thóc gạo đôi khi cũng khan hiếm.  Nhiều tháng xã viên chỉ được 5 ký thóc, xàng xẩy chỉ còn non 3 ký gạo.”

            -“Như vậy làm sao đủ gạo cho các cháu ăn?”

            -“Nhiều lúc cũng đành vậy, tôi cũng cố trồng ít bụi sắn, mấy luống rau sau nhà để có thêm thức ăn cho các cháu.  Cũng may dạo này đỡ hơn lúc trước.  Từ khi nhà nước đề ra chính sách thăm nuôi, cho gia đình tiếp tay với nhà nước nuôi người cải tạo, các bà ở trong Nam ra thường ghé quán tôi dùng nước.”

            -“Ông nhà mất, gia đình ta vẫn được tiền trợ cấp?”

            -“Khi trận chiến trong Nam mỗi ngày một mở rộng, nhà nước chỉ thị mọi gia đình phải góp công góp của để thống nhất đất nước.  Khi nhà tôi qua đời, trợ cấp về vật chất thì không có, nhưng nhà nước có động viên tinh thần nên đã cấp bằng khen.”

            Thu nhớ lại chuyện cũ, sau khi chiếm trọn miền Nam, nhà nước nhớ tới công ơn những gia đình đã đóng góp cả người lẫn của cho cách mạng, trong thời kỳ đánh phá miền Nam.  Ðịa phương lập danh sách thân nhân anh hùng liệt sĩ được ủy lạo.  Báo chí chính quyền có đăng hình phái đoàn nhà nước đến tận nhà các bà mẹ nuôi để thăm hỏi tặng quà.  Một bà cho báo chí và đại diện chính quyền hay, ngoài của cải đã đóng góp, bà có bốn người cả con lẫn cháu nội đã hy sinh cho “cách mạng”.  Và bây giờ còn lại thân một mình, bà sống nhờ tình thương của lối xóm.  Món quà duy nhất bà nhận được gồm một hộp sữa đặc, 5 đồng tiền mặt và một bằng ban khen.

            Từ chuyện xưa đến hoàn cảnh người trước mặt, bất kể là Bắc hay Nam, những thành phần dân chúng đã đổ máu và nước mắt cho “sự nghiệp cách mạng” được hưởng những gì.  Nhà nước đã có hành động nào để giúp đỡ những người này.  Hay vì tự thưởng công lao chiến thắng, thành phần lãnh đạo trở lên giầu có, mà quên mất lớp nguời nghèo khó trước mặt.  Thu hỏi tiếp:

            -“Cháu lớn đi bộ đội có thường về thăm nhà không?”

            -“Từ khi đi đến giờ, đã mấy năm cháu chưa về thăm nhà lần nào.  Chỉ biết đơn vị của cháu vào Nam, tôi cũng chưa có thư của nó.”

            -“Tôi nghĩ trường hợp của gia đình nhà, ông đi bộ đội đã tử trận, nhà chỉ có một cháu trai phải được hoãn nhập ngũ mới phải.”

            -“Trước ngày thống nhất, tình hình chiến trường miền Nam rất sôi động, địa phương có lệnh các gia đình có con em tới tuổi phải nhập ngũ.  Không phải chỉ có con trai mà cả con gái nữa.  Chúng tôi xót xa nhìn đám trẻ ra đi, mà có thấy đứa nào trở về đâu.  Những tưởng sau khi đất nước thống nhất, đám trẻ được trở lại trường để lo tuơng lai của chúng.  Không hiểu tại sao chúng vẫn phải ra đi, mà tôi nào có biết chúng đang ở đâu.  Liệu chúng còn sống hay đã chết, sao không thấy có thư gửi về.”

            Bà chủ quán tiếp lời:

            -“Bà ở tỉnh nào ngoài này?”

            -“Quê nội tôi ở Sơn-tây.  Gia đình tôi di cư vào Nam từ năm 54 khi tôi còn nhỏ.”

            -“Hai bà có ra đây thường không?”

            -“Ðây là lần đầu đi thăm nuôi, chúng tôi chưa biết đường, nên đi đến đâu hỏi thăm tới đó.”

            -“Ðường đi cũng không khó gì, nhưng hai bà mang nhiều đồ như thế cũng hơi vất vả một chút.  Hai bà yên tâm đi ngủ sớm, để có sức đi đường ngày mai.  Tôi sẽ gọi người gánh đồ ra bến xe và mua vé giùm cho.”

            -“Chị bạn tôi về cho hay sơ qua đường đi từ đây vào trại Thanh-cẩm, nhưng tôi vẫn chưa biết đâu vào đâu.  Bà chỉ thêm cho thì hay quá.”

            -“Từ đây ra bến xe hai bà không phải lo, người mua vé sẽ nói tài xế nhắc bà khi xe ngừng ở trạm nhà máy xay.  Tại trạm có xe trâu chở đồ vào trại.  Hai bà coi chừng đồ cẩn thận khi xe di chuyển dọc đường.  Người giữ xe trâu sẽ hướng dẫn hai bà đến nhà thăm nuôi.”

            Thu cám ơn bà chủ quán, nàng đưa bà chút tiền mà bà không nhận.

            -“Cám ơn hai bà đã nghĩ đến mẹ con tôi, nhưng hai bà đừng để tâm làm gì vì tôi có mất gì đâu.”

            -“Chúng tôi rất cám ơn lòng tốt của bà đã giúp đỡ.  Không dám gửi tiền bà một đêm ở trọ, mà có một chút quà cho các cháu vui.  Xin bà nhận để chúng tôi không áy náy.”

            Thấy Thu nói mãi bà chủ quán mới nhận tiền.

            -“Hai bà ghé đây có gì đâu mà cho cháu nhiều thế.”

            -“Gọi là một chút lòng thành.  Lần sau còn ra đây, tôi mới dám ghé vào.”

            Nàng cảm nhận lòng tốt của người đàn bà trước mặt.  Nỗi đau mất chồng và xa con không được một chút đền bù an ủi, mà hiện tại đang sống trong tăm tối.  Chế độ đã quên họ sau khi tận dụng mọi khả năng đóng góp vào nỗ lực mệnh danh là “giải phóng dân tộc”.  Một chiêu bài khơi dậy lòng yêu nước và khá hấp dẫn đối với một số dân chúng hai miền trước đây.

            Thu nhớ đến số phận cô em gái đã đến thăm nàng sau ngày miền Nam bị chiếm đoạt.  Em nàng cho hay,  vào lúc chiến trường tại miền Nam khốc liệt, để bổ sung quân số bị tổn thất, chính quyền miền Bắc đã đi khắp các địa phương, bắt thanh niên đi nghĩa vụ quân sự, bất kể cả trường hợp trước đây được miễn.

            Thanh niên trong làng lẩn tránh nhiều lần.   Sau khi điểm danh các gia đình có con em tới tuổi không chịu thi hành nghĩa vụ, chính quyền địa phương đã cắt giảm phần gạo cấp phát, lấy cớ gia đình không khuyến khích con em làm nghĩa vụ.  Nàng gặp người em họ về Sài-gon chữa bệnh sau khi bị thương trên chiến trường Campuchia.

            Thu cũng không ngạc nhiên trước câu nói: “chúng tôi chờ miền Nam ra giải phóng. . .” và những năm sau đó, khi người miền Bắc ghé thăm họ hàng ở miền Nam đã nói “tại sao phải vượt biên, ở miền Nam không đủ sướng hay sao.  Nếu cho tôi rời miền Bắc, tôi sẽ xin sống tại miền Nam. . .”  Em nàng cũng tâm sự:

            “. . .Chúng em ngỡ ngàng khi chính sách nhà nước không còn trước sau như  một.  Em phải nói với chị một điều, dù tình nguyện hay bị ép buộc đi nghĩa vụ, khi vào miền Nam, ít nhiều trong lòng chúng em, cũng có chút tình nghĩa đồng bào dân tộc.  Chính chúng em là những người bị mất mát, đó là mất lòng tin vào chế độ. . . .”

            Nhiều khi Thu cũng không hiểu nổi tại sao nhà nước lại dối gạt người dân.  Lợi dụng lòng tin của dân chúng hầu đạt được mục đích của tập đoàn lãnh đạo.  Ðó có phải là yếu tố mà giới lãnh đạo miền Bắc xử dụng để chiến thắng miền nam.  Liệu lòng tin của người dân đối với nhà nước có còn bền vững hay không.

                                                                        *

    15.

Thu và bạn dậy thật sớm, hai người từ giã bà chủ quán.  Ðến bến xe trời vừa hừng sáng.  Nàng thấy người gánh qùa nói nhỏ với tài xế, và hắn vẫy hai người lên xe.  Mặc cho người tài xế la hét, hành khách vẫn chen lấn  mong có một chỗ trên xe.  Thu thông cảm sự vội vàng của khách, vì chỉ có một chuyến xe mỗi ngày.

            Thấy quang cảnh trước mắt, Vân-anh bảo Thu:

            -“May có người gánh thuê lo giúp, nếu                             15(Sông Mã trước trại Thanh Cẩm)                                                                       bảo mình chen vào mua vé giành giật như thế này thì cũng đành chịu.  Không hiểu sao tại đây, vào thời điểm này, vẫn còn cảnh không “xã hội chủ nghĩa” chút nào.”

            Thu cười bảo bạn:

            -“Vân-Anh hẳn còn nhớ một câu nói diễn tả sinh hoạt tại miền Bắc, nghe có vẻ tiếu lâm, nhưng thật thấm thía: xếp hàng cả ngày, xếp hàng cả tháng, xếp hàng cả năm.  Xếp hàng chửi nhau, xếp hàng choảng nhau, Xã-hội Chủ-nghĩa.”

            -“Mình cũng nghe câu nói này.  Chẳng qua mức cung không đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của người dân.  Nhất là dưới chính sách kinh tế chỉ huy, nhà nước cho bao nhiêu thì người dân được hưởng bấy nhiêu.  Mình nhớ câu chuyện thân nhân ngoài Bắc vào kể lại.  Anh xếp hàng để mua hàng, nhưng lần nào cũng vậy, cứ đến gần chỗ anh đứng là không còn hàng bán.  Vì vậy mới có người đứng xếp hàng chuyên nghiệp, bán chỗ cho người tới sau.”

            Thu tiếp lời:

            -“Chẳng bù với miền Nam trước ngày 30/4, người dân đi xe đò có khi bực mình với bác tài chú lơ.  Mỗi khi khách tới bến, các chú lơ đã chạy tới đón.  Kẻ bế em bé, người xách đồ cho khách tới xe mình.  Dù sao sự bực mình cũng dễ qua nhanh, đa phần khách hài lòng vì được săn sóc chu đáo.”

            Giờ xe chạy ấn định là 9.30 giờ, mà tới gần 11 giờ xe mới khởi hành.  Trong xe chật ních, không còn một chỗ trống để xoay người.

            Ðường lộ trải đá, nhưng những cơn mưa rừng đã làm trôi lớp đất phủ mặt đường, để lộ lớp đá lồi lõm với những ổ gà rải rác trên mặt.   Xe phải tránh các ổ gà nên khó chạy nhanh, lắc qua lắc lại liên hồi.  Gặp lúc xe chạy nhanh, người Thu hất lên như đầu sắp chạm vào mui xe.  Hai bên đuờng chạy dài những mảnh ruộng nhỏ, nhiều thửa đang cầy vỡ cho vụ mùa sắp tới.  Thu thấy người kéo cầy thay trâu, một hình ảnh không thấy ở quê nàng trước ngày di cư vào Nam.

            Bác tài nhắc hai người khi tới trạm nhà máy xay.  Hai người gom các bao quà  trước trạm.  Thu hỏi cán bộ ở trạm để thuê xe trâu vào trại Thanh-cẩm.

            Chiếc xe trâu nhỏ vừa đủ chở những bao quà nên không có chỗ cho hai người đỡ chân.  Thu và Vân-anh đi bộ theo sau.

            Rời đường lộ trải đá, xe trâu rẽ vào con đường đất phủ đầy bóng cây, con đường cong cong như rắn lượn len lỏi giũa khu rừng tre.  Qua khỏi khu rừng là những vườn mía, thân cây thẳng đã mọc cao ngang vai, để lộ những lóng mầu nâu tía phủ mờ một lớp phấn bạc.  Những vườn cây khoai mì  thân cây nghiêng ngả, phần  đất xung quanh gốc đã hiện ra những đường nứt, báo hiệu đã tới mùa thâu hoạch.  Những vườn rẫy khoai mì mầu xanh đậm trải rộng xa xa, khiến con đường đất phía trước như co mình hẹp lại.

            Thu và bạn bước nhanh theo xe, nàng hỏi người đánh xe trâu:

            -“Còn bao lâu nữa mới tới trại Thanh-cẩm hả anh?”

            -“Ði qua khu rừng phía trước là tới con suối.  Từ suối tới trại phải đi mất một giờ.”

            -“Anh ở gần đây không.  Anh làm nghề này đã lâu chưa?”

            -“Cháu được cán bộ cho làm việc này sau khi cháu là tự giác.  Trại cháu ở giữa đường từ đây đến trại Thanh-cẩm.”

            -“Anh cũng đi “cải tạo” hay sao?”

            -“Vâng, cháu can tội hình sự.  Cháu ở đây đã hơn hai năm.”

            Người đánh xe cầm chiếc nón lá đội trên đầu xuống làm quạt, Thu mới có dịp nhìn kỹ khuôn mặt.  Hắn còn quá trẻ, thân hình gầy ốm.  Chiếc áo nâu mỏng đã bạc mầu, không che được đầu xương vai nhô lên.  Nàng hỏi hắn:

            -“Anh bao nhiêu tuổi, đi “cải tạo” bao lâu rồi?”

            -“Năm nay cháu 19 tuổi, đã đi cải tạo bẩy năm.”

            Vân-anh ngạc nhiên hỏi hắn:

            -“Khi đi “cải tạo” anh còn nhỏ mà?”

            -“Năm cháu bị bắt chưa đủ 12 tuổi.”

            -“Anh can tội gì mà ở lâu thế?”

            -“Vì nhà cháu nghèo lại đông anh em.  Chúng cháu không có gì ăn, nhất là miếng thịt cả đời chưa biết, nên cháu bắt trộm con gà hàng xóm.  Người mất gà đi thưa nên cháu bị bắt.  Vì chưa tới tuổi thành niên cháu phải ở trường Bộ, và khi tới tuổi cháu được chuyển về trại này.”

            Thu hỏi:

            -“Anh có biết khi nào được về không?”

            -“Cháu bị lệnh “tập trung cải tạo” nên không biết trước ngày về.  Lúc đầu cháu nghĩ, vì tuổi còn nhỏ, cháu ở một lệnh là được tha.  Nhưng sau khi ở quá một lệnh cháu cũng không được tha.  Cán bộ trại bảo chưa “cải tạo” tốt nên chưa được về.”

            -“Anh vừa nói lệnh là thế nào?”

            -“Một lệnh là 3 năm tù.”

            Vân-anh hỏi hắn:

            -“Cải tạo thế nào mới cho là tốt?”

            -“Khó mà biết được khi nào là tốt.  Chỗ cháu có người ở 3 lệnh mà vẫn chưa được về.”

            -“Gia đình anh có thường đến thăm nuôi không?”

            -“Nhà cháu ở xa lại nghèo.  Cháu còn mấy đứa em nhỏ.  Mẹ cháu chạy gạo cho mấy em cháu ở nhà đã hụt hơi, lấy đâu lên thăm nuôi cháu.  Mẹ cháu lâu lắm mới lên thăm một lần.”

            -“Trại cho các anh ăn uống khá không?”

            -“Chúng cháu trồng được thứ gì ăn thứ đó.  Bo bo, sắn, ngô, khoai là thứ ăn chính.  Còn ngày lễ lớn hay Tết Nguyên đán mới được hai miệng bát cơm với vài miếng thịt trâu kho muối.  Ngày thường dù chỉ ăn sắn luộc với muối cũng không được no.  Tiêu chuẩn ăn đã thấp mà còn xén đầu cắt đuôi.”

            Thu tiếp lời:

            -“Ngô khoai sắn trại trồng nhiều như thế sao các anh không được ăn no?”

            -“Mặc dầu chúng cháu trồng rất nhiều, nhưng trại chỉ cho ăn theo tiêu chuẩn 11 ký chất bột mỗi tháng.  Phần ăn hàng ngày còn bị cắt bớt để nuôi trâu nuôi lợn cải thiện vào dịp lễ Tết.”

            -“Trại có cho các anh học văn hóa hay một nghề chuyên môn nào, để khi về có phương tiện kiếm sống không?”

            -“Học nghề chuyên môn thì không có.  Suốt thời gian ở trại chỉ có lao động mà phải đạt chỉ tiêu mức khoán, tối về mệt là lăn ra ngủ.  Trong đời sống xô bồ thiếu hướng dẫn đúng mức, chúng cháu bị ảnh hưởng bởi các bạn tù những cái xấu, những kinh nghiệm phạm tội.  Cháu muốn trở thành người tốt cũng không có cơ hội.”

            Thu thông cảm tâm trạng người tù trước mặt, ít ra còn ở nơi hắn một chút lương tâm, một ý tưởng muốn trở thành người lương thiện.  Nhưng hắn phải sống hòa mình với tập thể để được yên ổn.  Trong hoàn cảnh sống mạnh được yếu thua, nhất là trong tâm tư hắn không còn một chút hy vọng ở ngày về, liệu hắn còn giữ được lòng ngay thẳng.  Hay với thời gian tù đầy kéo dài, sẽ mất dần tính lương thiện. Kinh nghiệm tội phạm của tập thể sẽ tiêm nhiễm, biến đổi con người hắn.

            Qua khỏi khu rừng tre, con suối lớn đã chắn ngang phía trước.  Con suối rộng nước chẩy khá mạnh.  Thu  không biết con suối sâu bao nhiêu, liệu có thể lội qua được không.  Nàng quay qua nắm tay Vân-anh , bảo bạn:

            -“Vân-anh cẩn thận.”

            Thấy hai người ngần ngại, người đánh xe trâu nhắc chừng:

            -“Hai cô lội qua được, vịn vào xe mà đi.  Vào mùa mưa nước trên nguồn đổ xuống, có ngày mực nước cao ngang thắt lưng, nước chẩy rất mạnh.  Bây giờ vào mùa nắng, con suối này không sâu lắm.  Buổi trưa khi cháu đi lấy trâu, mực nước mới tới bắp chân.”

            Ði hết khu rừng, phía trước mặt trống trải, hai bên đường chỉ thấy trồng sắn và mía.  Thu đã thấy từng đám nguời cải tạo có cán bộ võ trang canh chừng.  Vượt qua đám người này anh đánh xe trâu mới nói:

            -“Cán bộ trại cấm chúng cháu nói chuyện với các cô các bác.  Ban quản giáo không muốn mọi người ở ngoài biết về sinh hoạt cải tạo lao động của trại.  Những người cải tạo vừa rồi là tù hình sự thuộc trại của cháu.”

            -“Trại các anh ở có cách xa đây không?”

            -“Cô thấy ở phía xa, khu nhà bên trái là trại của cháu.  Từ đây đến đó còn hơn một cây số nữa.”

            Khi tới gần trại tù hình sự, số tù nhân lao động càng nhiều hơn.  Họ đang quốc lật các gốc sắn lấy củ.  Nàng không thể tưởng tượng được thân hình họ gầy ốm dến thế,  hai mắt trũng sâu, chiếc đầu trông quá to so với thân người.  Quần áo rách vá chằng chịt.   Thu hỏi người đánh xe trâu khi thấy cán bộ võ trang đánh đập tàn nhẫn một người hình sự :

            -“Các anh thường bị đánh đập như thế sao?”

            -“Vâng, chúng cháu bị đánh khi phạm lỗi, như  đi lao động ăn trộm củ sắn sống.  Chẳng qua chỉ vì quá đói, cần một chút gì nhét vào dạ dầy để có sức lao động.”

            Vân-anh động lòng hỏi hắn tiếp:

            -“Nghe nói làm lỗi chỉ bị phạt kỷ luật, chứ đâu bị đánh tàn nhẫn như  thế?”

            -“Cuộc đời chúng cháu bị khinh rẻ.  Cán bộ trại thường nói: “nuôi chúng cháu không bằng nuôi một con chó, vì nuôi chó còn được ăn thịt.”, nên khi đánh chúng cháu cán bộ không bao giờ nương tay.  Có người bị một trận đòn phải bỏ ăn mấy ngày.  Mặc dầu bị đòn, chúng cháu vẫn phải ăn trộm hoa mầu mỗi khi đi lao động.”

            Thu nhớ đến chồng, không hiểu giờ này anh ra sao.  Thân hình anh có giống mấy người hình sự này không.  Thấy đi đã lâu, nàng hỏi người đánh xe:

            -“Từ đây tới trại trong đi mất bao lâu nữa?”

            -“Khoảng chừng 3 cây số nữa.  Cô đi thăm bác trai lần đầu phải không?”

            -“Ðây là lần đầu chúng tôi đi thăm nên chưa biết nơi này.  Anh có vào trại trong thường không?”

            -“Cháu vào trại trong mỗi ngày để lấy trâu kéo xe.”

            -“Trại trong có giống như trại các anh ở không?”

            -“Trại các bác ở đã có từ lâu nên toàn nhà xây.  Vòng tường trại cao gần mười thước, trên có vọng gác ngày đêm.  Các bác ăn tiêu chuẩn như chúng cháu, nhưng khi đi lại lao động cán bộ canh giữ cẩn thận hơn.  Nếu hai cô gặp các bác lao động dọc đường, có nói chuyện đừng để cán bộ thấy.  Cán bộ bắt gặp có thể cấm gặp mặt thân nhân, có khi còn bị phạt giam kỷ luật.”

            -“Các bác ở trại trong có được đối xử tử tế không?”

            -“Các bác “cải tạo” miền Nam thuộc diện chính trị nên khác với chúng cháu.  Ðám hình sự chúng cháu mạng sống như con sâu cái kiến, chẳng có gì quan trọng.  Nhờ vậy chúng cháu dù bị đánh đập tàn nhẫn nhưng sống thoải mái hơn các bác nhiều.

             Với các bác, sự thù hận vẫn còn, nên khi vi phạm kỷ luật khó lòng được dễ dãi.  Trước đây trại trong có vụ trốn trại, một người bị đánh chết tại chỗ.  Người thứ hai bị đánh đập rất tàn nhẫn, bị bỏ đói và chết một tuần sau đó.  Hôm qua gia đình người bị chết tới đây, chắc hiện giờ vẫn còn ở nhà thăm nuôi.”

            Thu chợt rung động khi nghe tin này.  Nơi đây sinh mạng con người không có một chút giá trị nào.  Nàng hỏi hắn tiếp:

            -“Trại trong có đông người không anh?”

            -“Trước kia chúng cháu ở trong đó với các bác.  Khi các bác ở trại Quyết-tiến Hà-giang chuyển về, chúng cháu phải dồn phòng, nhường các bác một căn.  Và khi các bác ở trại Hoàng-liên-sơn tới, chúng cháu mới chuyển hẳn ra trại ngoài.  Trại trong bây giờ lên tới cả ngàn người.  Từ đây trở vào các cô sẽ thấy các bác lao động dọc theo bên đường.”

            Ðường đê nâng cao dần.  Khi tới đỉnh cao chỗ núi xẻ, một phần núi bạt phẳng để làm đường, hai bên vách chỗ núi xẻ dựng đứng thẳng tắp.  Phía dưới kia giòng sông Mã mầu nước đỏ đục ngầu.  Giờ này thủy triều đang lên, mặt nước lấn dần vào bìa làng phía bên kia bờ sông, phủ kín cánh đồng cỏ rộng.  Mặt sông trông càng rộng thêm.

            Thu chỉ tay về phía trước nói với bạn:

            -“Vân-anh thấy không, khu trại hiện ra ở đằng xa một mầu xám đậm, trông chẳng khác gì một tòa lâu đài đồ sộ, cao ngất.  Một bên là giòng sông Mã nước mênh mông chẩy xiết, còn một bên là những cánh rừng trùng điệp tiếp giáp với ngọn núi cao.”

            -“Mình cũng có ý nghĩ như Thu.  Khung cảnh ở đây quá huyền bí.  Khu trại trông thật đơn độc, nổi bật trên nền xanh thẫm của ngọn núi cao phủ mờ sương khói.  Con đường đê nổi lên rõ rệt giữa cánh đồng cỏ dại.  Cảnh trí xung quanh tạo cho khu trại vốn nổi tiếng hãi hùng càng thêm ghê sợ.”

            -“Vân-anh nói đúng.  Người ta nghĩ tên Thanh-cẩm có vẻ đẹp hơn, nghe êm dịu hơn, hay ít ra cũng làm cho người nghe ít sợ hơn.  Nhưng thực ra chỉ mới đổi được cái nhãn bên ngoài, còn bình với rượu vẫn là thứ cũ.”

            -“Thu thấy không, mấy ai biết tới tên trại này, còn người ngoại quốc chỉ được tới trại “trình diễn”.  Có ai đến nơi này để biết sự thật về chính sách tù đầy của cộng-sản.”

            -“Nhưng người ta quên làm sao được ở trên kia là “Ðầm đùn” của vùng đất chết Chi-nê Hòa-bình, còn dưới này là Lý-bá-sơ của Thanh-hóa.  Còn bao nhiêu trại khác nữa, có nghe thấy tên bao giờ đâu.  Như trại Quyết-tiến thuộc tỉnh Hà-giang chẳng hạn, mang danh là trại kỷ luật số 1 của Bộ công-an Hà-nội.”

            Thu bước nhanh theo xe, nàng hỏi người đánh xe:

            -“Trại trong chỉ có lối này vào phải không anh?”

            -“Từ Thanh-hóa vào trại có hai lối.  Các cô đi từ ga Thanh-hóa tới đây không qua phà là đường gần nhất.  Còn lối đi qua ngả bến phà Cẩm-thủy, theo con đường trải đá tới ngã ba, rẽ tay trái sẽ tới trại Lam-sơn, còn đi thẳng sẽ về trại Thanh-cẩm.  Phần đất này có tên là Bái-thượng, đi không xa là tới biên giới Lào-Việt.”

            -“Chúng tôi muốn mua ít gạo, nghe nói trong làng Ngọc có bán, anh có thể chỉ đường đi vào làng được không?”

            -“Làng Ngọc cách nhà thăm nuôi không xa lắm, chỉ hơn 1 cây số.  Trong đó người làng có bán gạo và gà.  Dân làng không cho tù hình sự chúng cháu vào làng, lấy cớ đám tù chúng cháu vào phá phách hoa mầu của họ.  Cán bộ trại cũng ít vào làng, vì biết dân làng chẳng ưa thích gì mình.  Bây giờ dân làng chỉ cho các bác cải tạo miền Nam vào làng mà thôi.”

            Thu nghĩ, tất cả những điều xẩy ra trong làng chỉ là hậu quả của chính sách “cải cách ruộng đất”, đã làm thương tổn đến truyền thống của người địa-phương.   Các hợp-tác xã nông nghiệp được thành lập nhưng không thành công.  Những năm gần đây, để thích ứng với hoàn cảnh, nhà nước đưa ra chính sách cho người dân                                                được  một phần tư hữu, và đóng góp một phần công sức cho hợp-tác xã.              16(Tháng 4-1975)                                  Cuối cùng ruộng tư thì tốt, còn ruộng hợp-tác xã chỉ thâu hoạch bằng một nửa.

            Khi tới gần chỗ núi xẻ, người đánh xe chợt nhắc:

            -“Hai cô để ý, từ chỗ núi xẻ tới nhà thăm nuôi, các bác miền Nam hay lao động dọc theo đường đi. Không chừng các cô gặp các bác lao động ở đây.”

            Qua khỏi chỗ núi xẻ, một phần đã bạt xuống làm đường.  Mặt kia của ngọn núi, phần hướng về phía sông Mã, một số đông anh em “cải tạo” đang lao động.  Người đứng trên đỉnh cao đào đá đẩy xuống dưới.  Những người ở dưới chân núi khênh vác, hay xúm đẩy những xe ba bánh chất đầy đá tảng đổ xuống triền dốc.  Một nền đất cùng độ cao với mặt đường được san phẳng nhô ra phía bờ sông.  Trại muốn nới rộng mặt bằng để có thêm diện tích.

            Họ im lặng lao động, chỉ nghe tiếng xà beng đục xuống thềm đá, hòa lẫn tiếng cuốc xẻng và tiếng hò đẩy những xe đá nặng.  Anh em “cải tạo” đi lại trong phạm vi lao động, trong khi công-an võ trang đứng gác xung quanh.  Thấy có gia đình thăm nuôi đi qua, các anh dơ tay như chào hỏi.  Thân hình người nào người ấy đen xạm, gầy ốm.

            Thu quay qua nói với Vân-anh:

            -“Chị Tâm nói có gặp nhà tôi lao động trên quãng đường này khi chị ra đây.  Ðã hơn một tuần rồi, không hiểu anh còn làm ở đây không.”

            -“Bạn để ý xem, may gặp anh ấy ở đây.”

            Thu nhìn về phía anh em “cải tạo” lao động tìm kiếm hình bóng chồng nàng, nhưng nơi lao động khá xa với đường đi, khó nhìn rõ mặt.  Phía trước mặt là ngã ba.  Ði thẳng là đường tiếp giáp với phía sau trại, còn ngả bên phải ôm sát giòng sông Mã.  Ðường bên trái vắng hoe, còn đường bên phải nhộn nhịp các anh “cải tạo” đang lao động.

            Khi thấy xe trâu đi ngả bên trái, nàng hỏi:

            -“Sao anh không đi đường bên kia?”

            -“Ðường này đi tới nhà thăm nuôi nằm ngoài vòng trại.  Cháu không được phép đưa các cô đi đường kia, vì phải đi qua trước cổng trại, mặc dù đường đó cũng đi tới nhà thăm nuôi.”

            Thu đi sau xe trâu qua chỗ ngã ba.  Con đường bên trái như một bờ đê cao hình cánh cung ôm trọn khu trại.  Còn lối bên phải ở thấp phía dưới, chạy song song với giòng sông Mã.  Khi tới gần khu trại, bức tường xây quá cao che khuất những mái ngói phía trong.  Chỉ thấy vòng rào kẽm gai và các vọng gác trên đầu tuờng.

            Qua hết vòng tường trại, tới một ngã ba Thu và bạn theo xe trâu rẽ về bên trái.  Sân vận động nằm về bên phải chạy dài theo con đường đất, nhà thăm nuôi nằm sâu dưới mặt đường nơi đầu kia sân vận động.  Người đánh xe trâu giúp hai người mang những bao quà vào  nhà thăm nuôi.  Nàng cho hắn chút tiền tiêu và một ít thuốc lào.

            Nhà thăm nuôi đã có gia đình tới trước.  Thu và Vân-anh gặp cán bộ phụ trách thăm nuôi ghi danh xin gặp thân nhân.  Cán bộ cho hay nàng sẽ gặp chồng lúc 9 giờ sáng, sau đó tới Vân-anh.

            Sau khi sắp xếp chỗ nằm, Thu bảo bạn:

            -“Vân-anh hãy nằm nghỉ cho khỏe.”

            -“Bạn cũng nên ngả lưng một chút.  Mấy ngày nay bạn cũng mệt mỏi lắm rồi.”

            -“Nhân lúc chưa hết giờ lao động, mình muốn lại chỗ ngã ba xem có gặp nhà tôi không.  Bạn nằm nghỉ, tôi đi một lát về ngay.”

            Thu đi ngược lại con đường vừa rồi.  Tới ngã ba, nàng di theo ngả bên phải sát giòng sông Mã về phía cổng trại.  Nàng gặp một số anh em cải tạo đang lao động bên đường.  Họ im lặng nhìn nàng đi qua.  Chắc họ cũng mong đợi thân nhân, mặc dù niềm hy vọng thật mong manh.  Cũng như chồng nàng, nếu không gặp người quen thì nàng biết đâu mà tìm đến.

            Thu nhìn quanh không thấy có cán bộ dứng gần, nàng hỏi một anh cải tạo trẻ tuổi:

            -“Tôi là thân nhân của anh Kim ở đội xây dựng, anh có biết đội anh lao động ở đâu không?”

            Anh mỉm cười, chỉ tay về hướng cổng trại.  Thu cám ơn anh.  Lòng bừng vui, nàng rảo mắt tìm kiếm hình bóng chồng.  Hai bên đường chạy dài những hố cá nhân, từng nhóm ba người đang lui cui đào đất.

            Nàng không hiểu trại bắt họ đào làm gì những hố tránh bom đạn này, ở vào những năm đầu của nền hòa bình vừa chiếm đoạt.  Hay chỉ dự phòng một trận không tập của người anh em Trung-hoa, đã từng là “hậu-phương lớn” của nước Cộng-hòa Xã-hội Chủ-nghĩa Việt-nam anh hùng.

            Thu chợt dừng bước.  Phía trước cách nàng chừng ba chục thước, từ dưới hố một bóng áo xanh nhẩy lên.  Anh nhẩy lần đầu không thoát khỏi miệng hố, mặc dầu hố  đào sâu chưa tới thắt lưng.  Anh nhẩy lần thứ hai, hất chiếc nón lá ra khỏi đầu vừa gọi tên nàng.  Thu nhận ra chồng.  Anh vừa nhớm chạy, nhưng chợt dừng lại khi phía sau lưng có tiếng quát gọi tên anh.  Nàng muốn chạy tới bên chồng, đuợc nắm tay anh cho thỏa lòng mong đợi từ lâu.  Khi thấy chồng nàng dừng lại, Thu cũng vừa nhớ tới lời người đánh xe trâu nhắc nhở nên dừng bước.  Chỉ nghe anh nói: “Anh gặp em ngày mai” trước khi rời con đường.  Anh bước vào căn nhà tranh nằm sau dẫy hố đào.

            Còn lại mình nàng đứng ngẩn ngơ, trơ trọi giữa đường.  Nhìn thấy vóc dáng chồng lòng nàng thật chua xót.  Tại sao anh lại ra nông nỗi này.  Chiếc áo xanh anh mặc cắt ngắn tay đã bạc mầu, lưng và vai áo vá một miếng khá lớn bằng vải kẻ ô vuông.  Nàng nhớ đã mang tấm khăn rằn này vào lần thăm đầu tiên ở trại Gia-rai Long-khánh năm năm về trước.  Anh mặc chiếc quần đùi vải xanh cắt ngắn hai ống từ chiếc quần dài trại phát.  Chân tay anh khẳng khiu, đen đúa.  Không hiểu anh có bị một trận đau nặng nào không, hay chỉ vì đói ăn mà lao động lại quá cực nhọc.

            Thu không ngờ gặp chồng trong hoàn cảnh này.  Nàng không nói thêm được lời nào, ngoài tiếng “anh” nàng gọi phút giây đầu.  Tiếng gọi của nàng như  tắc nghẹn nơi cuống họng, không thoát ra khỏi miệng.  Nàng xững xờ để rơi hai hàng lệ, niềm xót thương dâng lên trong lòng.  Thu nhìn lại nơi hố chồng nàng vừa nhẩy lên, hai bạn tù vẫn im lặng tiếp tục lao động.  Dáng dấp gầy ốm, chắc tuổi đã cao vì mái tóc gần như bạc trắng.

            Thu nhìn về phía chồng, anh đang đứng trước mặt người cán bộ áo vàng.  Có thể anh đang nhận một lời khiển trách vì vi phạm kỷ luật trại.  Nàng lo sợ, liệu anh có bị cấm gặp mặt thân nhân không.

            Thu rời chỗ chồng lao động, vì biết ở lại cũng chẳng ích gì.  Nàng tiếp tục đi theo đường bên phải, con đường như ôm sát giòng sông Mã.  Nước sông chẩy xiết đang dâng cao.  Triền sông thoải dốc, những đám lau sậy mọc chen chúc che khuất một phần bờ sông.

            Vòng tường trại thật cao, trên giăng nhiều lớp kẽm gai.  Ðầu cọc rào có gắn bóng đèn điện.  Các vọng gác có gắn bóng đèn cao thế, chia đều khoảng cách trên đầu tường.  Cổng trại thật lớn, khung cửa gỗ dầy có chấn song sắt lớn bằng cổ tay.  Hai bên cổng có trạm gác.

            Qua khung cổng trại, một sân đất rộng, hai bên hai dẫy nhà mái ngói vượt lên khỏi vòng tường ngăn.  Giữa sân trống là một hội trường, mái tranh lợp thẳng đứng như kiểu nhà Rông của đồng bào miền cao nguyên Trung phần.  Phía sau hội trường, trên nền đất cao, một dẫy nhà nóc bằng nhô lên khỏi bức tường dài chắn phía trước.  Nghe người đánh xe trâu nói đây là khu kiên giam, hiện giam giữ mấy chục vị Linh mục, tuyên úy Công-giáo.  Giờ này còn lao động nên khu trại thật vắng vẻ.  Không thấy một bóng áo xanh nào qua lại.

            Qua khỏi bức tường trại, Thu đã tới ngã ba, chỗ đường rẽ vào nhà thăm nuôi phía bên trái.  Trước mặt là khu cơ quan, gồm những căn nhà mái ngói nằm lấp xấp từng dẫy.

            Vân-anh hỏi Thu khi gặp nơi cửa nhà thăm nuôi:

            -“Bạn có gặp anh ấy không?”

            -“Mình  có gặp nhưng chẳng nói được gì.”

            -“Bạn gặp ở chỗ nào?”

            -“Từ chỗ ngã ba đường rẽ về đây, mình theo đường bên phải, đi độ năm chục bước là gặp.  Anh và hai người bạn đang đào hố cá nhân ở bên đường.  Anh chạy lại khi nhận ra mình.”

            -“Anh có khỏe không.  Bạn có nói chuyện không?”

            -“Anh chạy tới nhưng bị cán bộ bắt gặp.  Mình không hiểu có chuyện gì xẩy ra cho anh không.  Chỉ thấy anh đứng truớc cán bộ như đang nhận một lời khiển trách.”

            -“Cũng mong không có gì xẩy ra.  Hy vọng cán bộ thông cảm vợ chồng lâu ngày mới gặp.  Bạn hãy yên tâm.  Mình vào làng mua vài thứ cần thiết trước khi trời tối.”

            Sau mấy ngày trên tầu Thu cảm thấy quá mệt mỏi,  nàng thèm một giấc ngủ ngon tối nay.  Nhà thăm nuôi nhỏ lại đông người tới thăm, chỉ còn  chiếc giường dành cho hai người.  Nàng gật đầu chào thiếu phụ trạc tuổi nàng, đầu quấn khăn trắng.  Thu nhớ tới câu chuyện người đánh xe trâu kể lại, chồng chị mới mất cách đây không lâu.

                                                                        *

16.

Tiếng ồn ào phía ngoài đường lớn dần. Thu và Vân-anh vội buớc ra sân, tới gần bậc tam cấp bước lên đuờng trước nhà thăm nuôi.  Các đội cải tạo đang lần lượt trở về sau một ngày lao động.  Họ đi hàng đôi theo đội, vai vác dụng cụ lao động.  Thân thể gầy ốm, quần áo không còn lành lặn, rách vá loang lổ.  Họ bước đi trong dáng điệu mệt mỏi sau một ngày làm việc cực nhọc.  Khi đi ngang qua nhà thăm nuôi, mọi người lặng lẽ dơ tay vẫy chào.  Hàng trăm cặp mắt tìm kiếm người thân.                          17(Dẫy núi đối diện với trại Thanh Cẩm)

            Thu chợt nghe người đứng sau nàng gọi to: “Tuấn”.  Trong hàng các anh cải tạo có người dơ tay vẫy.  Nàng quay sang nhìn người đàn bà có âm thanh gọi thật trong, ấm ngọt, e ấp như được gói kín.   Cô còn trẻ lắm, trông độ hơn hai mươi, mặc chiếc áo dài bằng hàng mầu đen.  Mái tóc uơán dài che phủ một phần vầng trán rộng.  Thu phải công nhận người con gái đứng trước mặt mình thật đẹp.  Vẻ đẹp kín đáo phảng phất nỗi buồn man mác.  Thấy Thu nhìn mình mỉm cười, cô gật đầu đáp lễ.

            Các đội “cải tạo” lần lượt về trại.  Nàng ngạc nhiên khi thấy một số người ở khu gia đình cán bộ, đối diện với nhà thăm nuôi, ra đứng bên đường.  Từng đoàn xe ba bánh chở đầy khoai mì đi tới, như một thói quen dừng lại phía bên kia đường.   Thu thấy thân nhân cán bộ ra lấy khoai mì, sau đó anh em “cải tạo” lại tiếp tục đẩy xe về trại.

            Trời đã về chiều, những tia nắng muộn chiếu qua kẽ mây phủ mờ mặt đường.  Con đường đất nhỏ chạy dài tun hút về phía rừng cây xa xa.  Khung cảnh núi rừng tịch mịch.  Không nghe thấy tiếng động cơ xe chạy, hay âm thanh gõ móng của đoàn ngựa kéo.  Nơi đây như một thế giới riêng biệt, xa hẳn xã hội loài người.

            Qua mấy bậc tam cấp bước lên đường, Thu lững thững đi theo con đường đất.  Cánh rừng phía trước đã ngăn tầm mắt nhìn xa.  Bầu trời như thấp hẳn xuống.   Phía sau khu gia đình cán bộ là rừng cây.  Phía đối diện là ngọn núi cao, sườn dốc loang lổ những đám cháy đen, chen lẫn những khoảng đất đã khai phá mầu nâu đỏ, trên đỉnh cao chỉ còn thưa thớt những tàng cây.  Nàng có cảm tưởng mình lọt vào giữa một lòng chảo.  Con người vô cùng nhỏ bé đối với thiên nhiên.  Thu nghĩ đến chồng, không biết ngày mai có gì không may xẩy ra không.  Liệu anh có bị cấm gặp mặt vì vi phạm kỷ luật trại khi  gặp nàng trong lúc lao động  vào buổi chiều nay.

            Tiếng động phía sau lưng làm Thu dừng bước.  Quay lại nàng gặp nụ cười của người con gái áo đen mà nàng chưa biết tên.  Thu mở lời:

            -“Chào cô, cô tới đây lâu chưa?”

            -“Em vừa tới trưa nay, trước khi các chị tới một lát.”

            -“Sao cô chưa được gặp mặt?”

            -“Theo thông lệ của trại, thân nhân tới hôm nay ngày mai mới được gặp.”

            -“Ngày mai cô gặp lúc mấy giờ?”

            -“Em gặp lúc 8 giờ sáng.  Còn chị bao giờ gặp anh.  Chị ra thăm thường không?”

            -“Tôi được gặp sau cô, lúc 9 giờ.  Ðây là lần đầu tôi ra thăm nhà tôi, thành thử tôi chưa biết cách thức như thế nào.  Còn cô đã đi thăm nhiều lần chưa?”

            -“Lần thứ hai chị ạ.  Năm ngoái em đã ra thăm, khi hay tin anh ấy chuyển trại  từ  Hoàng-liên-sơn về đây.”

            -“Cô có cháu nào chưa?”

            Sau câu hỏi, Thu thấy cô gái hơi cúi đầu, day mũi dép trên mặt đường, như khó trả lời trước một câu hỏi thông thường.  Cô chợt ngẩng mặt trả lời:

            -“Em chưa có cháu nào.  Niềm vui đến với chúng em quá muộn màng.  Còn chị, chị có mấy cháu?”

            -“Tôi có 5 cháu.  Cháu lớn 14 tuổi, còn cháu nhỏ vừa lên 8.  Xin lỗi, cô cho biết quý danh được không?  Còn tôi tên Thu.”

            -“Em tên Liên.  Em 24 tuổi chị ạ.  Vì hoàn cảnh chúng em chưa lập gia đình, rồi anh ấy đi cải tạo.”

            Thu ngạc nhiên khi nghe Liên nói.  Cô mới 19 tuổi vào ngày miền Nam bị mất.  Hai người im lặng chậm bước.  Nàng quay qua hỏi:

            -“Hiện giờ Liên ở đâu?”

            -“Em vẫn ở Ðà-lạt từ ngày gia đình em di cư vào Nam.”

            -“Gia đình Liên vẫn thường chứ?”

            -“Ba má và hai em của em di Pháp từ năm rồi.  Gia đình em được anh cả bảo lãnh, chỉ còn mình em ở lại.”

            -“Sau khi ba má Liên đi, đời sống của Liên ra sao?”

            -“Trước ngày 30/4 gia đình em không phải lo nghĩ nhiều về vật chất.  Nguồn lợi ruộng vườn giúp gia đình em sống dư giả.  Sau khi miền Nam mất, cuộc sống đảo lộn, tài sản của gia đình em bị nhà nước trưng dụng, chỉ còn lại căn nhà em đang ở.  Ba má em muốn em qua Pháp tiếp tục học, nhưng em xin ở lại.”

            -“Sao Liên không cùng đi với gia đình?”

            -“Vì Tuấn em quyết định ở lại.”

            Một lần nữa Thu lại ngạc nhiên và kính trọng tấm lòng chung thủy của Liên.  Hẳn phải là một mối tình thật đẹp để cho người con gái như Liên hy sinh.  Nàng nhìn Liên mỉm cười:

            -“Tôi kính phục Liên nhiều lắm biết không.  Mối tình của Liên hẳn phải là mối tình tuyệt đẹp?”

            -“Nhiều lần em đã tự hỏi tại sao em phải hành động như thế, nhất là vào thời gian gia đình em sửa soạn ra đi.  Em đã thức nhiều đêm suy nghĩ.  Ði hay ở lại.  Chính em cũng không muốn sống trong tình trạng hối tiếc vì những quyết định vội vàng.”

            -“Ba má Liên có biết Tuấn không?”

            -“Ba má em biết Tuấn từ hồi chúng em mới quen nhau.  Hai cụ rất vừa lòng anh ấy.”

            -“Liên ở lại chắc hai bác buồn nhiều lắm.”

            -“Em biết đã làm ba má em buồn, hơn nữa em là đứa con gái duy nhất trong nhà, được hai cụ cưng chiều từ nhỏ.  Bố mẹ nào chẳng muốn cho con cái mình thành đạt, có đời sống hạnh phúc.  Nhất là các cụ biết sự đợi chờ của em chỉ là vô vọng.  Em cũng tự biết như thế, vì chúng em đang ở hai thế giới cách biệt.  Như đã nói với chị, em ở lại vì Tuấn mà cũng vì em nữa.”

            -“Tôi đồng ý với Liên, ngoài tình yêu còn có lòng thương nữa.  Nó gắn bó tình cảm của hai người.  Dù hoàn cảnh của chúng ta khác nhau, nhưng chúng ta có cùng một suy tư, có chung niềm khắc khoải.  Chúng ta sống cho tình yêu thương, và cũng vì tình yêu thương mà sống.  Cũng như Liên, tôi đã suy nghĩ về lòng chung thủy và sự đợi chờ,  nhất là trong hoàn cảnh đau thương này.  Liệu ngoại cảnh có thúc dục, ảnh hưởng tới lòng kiên trì của chúng ta không.”

            -“Vừa rồi chị nói kính phục em về lòng chung thủy, bây giờ em cũng muốn nhắc lại câu này với chị.  Vì ở chị ngoài lòng chung thủy, tình yêu thương còn có sự hy sinh.  Với trường hợp của em, như người thân đã nói, là em để tuổi xuân đi qua một cách oan uổng, và hiện tại em đang sống trong ảo vọng . . . .”

            -“Liên cho tôi ngắt lời nhé.  Quả thực, chỉ có mình mới hiểu được mình.  Ðời sống có quá nhiều thúc bách, đôi lúc làm chúng ta nản lòng chờ đợi.”

            -“Em cũng nghĩ tới điều này.  Em đã nhủ lòng là phải sống thực tế.  Nhưng chính tâm tư của em cảm nhận, là em đang sống một cuộc sống thực.  Người ngoài thường cho những người trong cuộc tối tăm, thiếu sáng suốt để nhận biết về việc của mình.  Nhưng chúng ta cũng không thể nhận xét, phân tích bằng đường lối mà xã hội thường dùng để phán xét.”

            -“Tôi đồng ý với Liên.  Tôi tưởng chúng ta có thể nói, chỉ vì là người trong cuộc, mới cảm nhận được thứ tình cảm lẫn lộn giữa yêu và thương.  Và cũng chính vì đó mà chúng ta sống và hy sinh.”

            -“Em cũng cảm nghĩ như chị, vì chính em đã trải qua những giây phút mà sự cám dỗ làm lẫn lộn thực với giả.  Và cũng từ đó, em nhận thức được giá trị cuộc đời như thế nào.  Nó có phải là những danh vọng lẫy lừng, một cuộc sống xa hoa vật chất, như kinh nghiệm của nhiều người,  đã không tha thiết những gì đạt được do sự thành công.  Vì tâm tư họ trống trải, mọi thứ trở thành vô nghĩa.  Vì vậy em biết được những gì cần thiết cho mình.”

            -“Liên biết Tuấn đã bao lâu?”

            Thu nhìn thấy trên gương mặt Liên một thoáng giây ngưng lại, nét mặt hơi đăm chiêu như đang lục tìm về dĩ vãng.  Ánh mắt Liên chợt sáng, như hình ảnh ngày xưa hiện ra với những niềm vui.

            -“Nếu nói gặp mặt thì lâu lắm rồi, từ khi em còn học lớp Ðệ Tam.  Em cũng không hiểu tại sao em cảm thấy cô đơn ở tuổi 15, luôn cần sự chiều chuộng săn sóc.  Hay vì phong thổ Ðà-lạt, cảnh sắc hữu tình của thành phố đầy hoa, đã ảnh hưởng tới tâm tư của em những nét trữ tình thơ mộng.  Em gặp Tuấn vào đêm Giáng-sinh.  Ngay từ phút giây đầu, em đã bị lôi cuốn bởi vóc dáng hào hùng, cử chỉ dịu dàng tha thiết của anh.  Rồi bẵng đi cả năm không gặp, em rơi vào trong thương nhớ.  Sự thiếu vắng làm em thao thức, như mất mát cái gì. . . .”

            -“Ðấy có phải là mối tình đầu của Liên không?”

            -“Khi đó em còn nhỏ nên chưa phân tích được,  nhưng có một điểm em thấy lòng mình xao xuyến mong đợi.  Và khi gặp lại, cuộc đời em thay đổi.  Chúng em yêu thương nhau từ đó.  Em lên đại-học.  Chúng em hiểu không thể thiếu nhau trong cuộc đời, và ước hẹn sẽ xây dựng một gia đình hạnh phúc.  Nhưng tai ương xẩy đến quá nhanh, chúng em chưa thực hiện được điều mình mong muốn.”

            -“Ngày 30/4 là ngày đau thương của dân tộc chúng ta.  Biết bao nhiêu thảm cảnh xẩy ra, nhiều gia đình đã đổ vỡ, chia ly.”

            -“Vâng, vào lúc chúng em hình thành nguyện ước thì miền Nam mất, Tuấn đi cải tạo.  Chúng em có với nhau 4 năm yêu thương, và bây giờ đã 5 năm chờ đợi.  Em hiểu tuổi xuân của em đang qua đi.  Có lúc em tự hỏi còn phải chờ đợi bao lâu nữa, và nếu Tuấn không về thì cuộc đời em sẽ ra sao đây.  Có phải mọi việc đã muộn màng rồi không.”

            Thu cảm thấy dâng lên trong lòng niềm chua xót khi nghe chuyện của Liên.  Có phải chuyện của Liên cũng là chuyện của chính nàng.  Những thắc mắc lo âu cuả Liên  làm tim nàng se thắt.

            Thu đã nhiều lần tự hỏi, nếu một ngày kia chồng nàng không trở về, có phải mọi việc trở thành dang dở không.  Sự đau thương đến với một kiếp người thực đơn giản thế sao.  Nàng đã khóc thầm trong nhiều đêm vắng cho số kiếp long đong của người đàn bà vào thời buổi này.  Nàng nuốt trọn những hờn tủi trong những năm qua.  Còn gì đau thương bằng nhìn thấy sự mất mát của mình, nhìn thấy tình yêu thương của mình vuột khỏi tầm tay.

            Thu cố giữ im lặng, để sự chán nản thất vọng như nước thủy triều đang dâng lên trong lòng lắng đọng.  Nàng thông cảm với Liên.  Bất cứ câu nói nào trong giờ phút này, dù là một lời an ủi, cũng có thể khơi dậy nỗi buồn để bật thành tiếng khóc.

            Liên tiếp lời sau tiếng thở dài:

            -“Ðôi khi vì lòng ích kỷ tự nhiên của con người, em có ý nghĩ, nghĩa vụ gì bắt em phải chờ đợi.  Em có quyền lo cho đời sống của cá nhân em.  Nhưng không hiểu sao em vẫn không thực hiện được ý định đó.  Có phải vì lòng yêu thương mà chúng ta hy sinh.  Chúng ta chấp nhận phần thua thiệt cho riêng mình.”

            -“Tôi có cùng ý nghĩ  như  Liên.  Vì tình yêu thương chúng ta chấp nhận hoàn cảnh hẩm hiu.  Nhưng thực ra, chúng ta mang nợ các anh ấy nhiều quá.  Họ đã trải thân chiến đấu bảo vệ miền Nam Tự-do, để chúng ta có đời sống an toàn hạnh phúc.”

            -“Vâng, mỗi khi nghĩ đến Tuấn và mỗi lần gặp anh ấy, em thấy thương xót nhiều hơn.  Mà phần đau như chính em phải mang, phải chịu.  Các anh ấy là những “anh hùng mạt lộ”, họ đã chiến đấu, đã hy sinh cho mọi người miền Nam quá nhiều.  Họ luôn đối diện với cái chết từ phương Bắc mang tới.  Họ đã được những gì.  Phải chăng họ sẵn lòng chiến đấu vì không muốn miền Nam rơi vào tay cộng-sản.  Nhưng tiếc thay, các anh ấy đã mất tất cả.  Chỉ bám víu vào niềm an ủi cuối cùng là tình yêu thương còn lại của người thân.”

            -“Liên nói đúng, chúng ta hơn các anh ấy ở chỗ, dù đời sống có thay đổi nhưng khung cảnh cũng ít nhiều quen thuộc.  Còn ở đây xa lạ quá, không phải là thế giới quen sống của họ.”

            -“Em thông cảm với nỗi đau thương, niềm tủi nhục trong lòng các anh ấy.  Họ bị buộc phải thua trận trong khi  lòng vẫn còn hăng say chiến đấu.  Họ đã trải thân bảo vệ nền hòa bình, dân chủ của miền Nam, là nơi được coi như  một tiền đồn của “Thế giới Tự-do”.  Mà hiện tại, họ bị đầy ải trong ngục tù tăm tối không có ngày mai.  Vì vậy em cố gắng ra thăm, dù chỉ gần gũi trong phút giây ngắn ngủi.”

            -“Tôi thông cảm vói Liên.  Nỗi đau của chúng ta vẫn là nỗi đau chung.  Có lẽ chuyện chúng mình chỉ mình hiểu được thôi. . . .”

            Tự nhiên Thu cảm thấy thân với Liên, như đã từng là đôi bạn, dù chỉ mới gặp không lâu.

                                                                        *

  17.

            Bầu trời một mầu xám lợt, sương đêm phủ mờ rừng cây.  Tiếng vượn đã ngừng kêu.  Trả lại bóng đêm cho đàn dế đang nỉ non to nhỏ, hòa lẫn tiếng ếch nhái gọi trăng nơi các thửa ruộng sau nhà.  Ngang trời chỉ còn những cánh vạc lẻ bạn.                                                               18(Cổng Nam Thành Nhà Hồ, Thanh Hóa: xây dựng năm 1397)

            Khu gia đình cán bộ đã lên đèn.  Ánh điện vàng yếu không đủ soi sáng căn phòng nhỏ.  Họ đang quây quần quanh mâm cơm gia đình.  Thu nghe rõ tiếng cười của các em nhỏ.  Chúng trạc tuổi con nàng, đang vui đùa bên những người thân yêu.  Nhưng tại góc núi này, chúng hấp thụ những gì để cải tiến cuộc đời, khi mà ánh sáng văn minh không tới đây, dù chỉ là nền văn minh của một quốc gia nghèo kém nhất.  Chúng sẽ được giáo dục như thế nào để phát huy tài năng của tuổi trẻ.  Hay từ sáng đến tối chỉ nhìn thấy hình ảnh tù đầy, thù hận.  Chúng sẽ tiếp tục nối gót người đi trước, trên con đường hạn hẹp bằng phương pháp “trồng người”, để có đủ sản phẩm cung ứng cho nhu cầu gọi là “cách mạng dân tộc.”

            Ở đâu đây vẳng đưa lời ca: “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng. . .”  Lời ca bùng lên mang theo những uất nghẹn đau thương của một dân tộc, mở đầu một kiếp sống hận thù.

            Thu nhớ đến các con ở nhà, không hiểu giờ này chúng ra sao.  Lòng nàng se thắt như đứng giữa hai ngả đường.  Chúng còn nhỏ dại, làm sao có thể tự lo được.  Chúng luôn cần cả mẹ lẫn cha.

            Vào tới chỗ nằm, Thu thấy Vân-anh đã sửa soạn xong bữa ăn.  Vân-anh nhìn nàng mỉm cười:

            -“Ði đâu về thế bồ.  Ðã thấy khỏe chút nào chưa?”

            -“Mình ra ngoài một chút cho mát, thấy bạn ngủ ngon nên mình để yên.”

            -“Ăn một chút cơm canh nóng cho ngon miệng, chúng mình ăn thức ăn khô đã mấy ngày nay.”

            Thu vui vẻ ngồi ăn cơm với bạn.  Bữa cơm thường nhưng ngon miệng vì cơm canh nóng hổi.  Nhất là khi tới đây, làn nước mát đã giúp nàng khoan khoái, dễ chịu sau mấy ngày cô thúc trên tầu.

            Thấy trời đã tối, Vân-anh hỏi:

            -“Thu có định làm thức ăn tối hôm nay không?”

            -“Mình nghĩ để sáng mai làm thì tốt hơn.  Bây giờ có làm cũng không đủ nồi nấu, hơn nữa trong bếp quá chật.  Sáng mai 9 giờ mới gặp mặt.  Mình dậy sớm một chút nấu cho nóng.  Có hai món với nồi cơm để nắm cũng không lâu.”

            -“Thu tính cũng phải, tối nay mình cũng cần nghỉ ngơi thư thả một chút.”

            Sau bữa cơm Thu rủ bạn ra sân.  Ngoài sân gió mát nàng thấy dễ chịu hơn.  Không gian thật yên lặng.  Ánh trăng bạc phủ xuống vạn vật một mầu trắng lợt.  Phía trước là sân vận động đang chìm dần vào bóng đêm.  Khu cơ quan nằm gọn nơi  cuối sân, chiếc cột cờ bằng thân tre đơn độc vươn lên khỏi những mái ngói lấp xấp nằm sát nhau.  Con đường đất trước nhà thăm nuôi vắng tanh, không có lấy một bóng người qua lại.

            Thu thấy mẹ con thiếu phụ quấn khăn tang ngồi nơi ghế cuối sân.  Người mẹ ôm vai con vỗ về to nhỏ.  Lần này chị ra thăm chồng không còn bận rộn với cơm canh, xào nấu như lần trước.  Nếu không có đứa con đi theo, có lẽ chị không cần sửa soạn bữa ăn, mặc dù ở đây đã hơn một ngày.  Nàng kéo Vân-anh tới ngồi chungï.  Nàng mở lời:

            -“Chị và cháu ra đây lâu chưa?”

            Chị nhìn Thu và Vân-anh trong giây lát rồi trả lời:

            -“Tôi ra đây từ hôm qua khi hay tin nhà tôi mất.”

            Khi nhắc tới người yêu thương vừa qua đời, Thu thấy chị xúc động ôm chặt đứa con vào lòng.  Chị đưa tay thấm khô giòng lệ mà nàng cảm thấy có thể tuôn rơi không ngừng.  Thu an ủi:

            -“Chúng tôi chia buồn với chị.  Sinh ly tử biệt âu cũng là số mệnh.  Anh đã mất lâu chưa?”

            -“Nhà tôi mất đã mất tháng nay.”

            -“Sao chị hay tin trễ vậy?”

            -“Ðầu năm tôi và cháu nhỏ có ra thăm.  Lúc đầu tôi không được phép gặp mặt, vì nhà tôi vi phạm kỷ luật.   Cán bộ bảo tôi có thể để quà lại và ra về, trại sẽ chuyển qùa cho nhà tôi.  Tôi không rõ tình trạng nhà tôi như thế nào, nên năn nỉ xin được gặp mặt.  Tôi nói mãi cán bộ trại mới bằng lòng.  Họ bảo thông cảm trường hợp của tôi, lặn lội từ xa tới đây, nên cho gặp mặt nhà tôi 30 phút.

            Tôi lo lắng cho nhà tôi vô cùng.  Thanh-cẩm là trại cũ, nhà cửa thiếu vệ sinh, nhất là khu kỷ luật.  Tôi nghe tù hình sự kể lại mà thấy sợ.  Không hiểu trong hoàn cảnh đó làm sao các anh ấy sống nổi.  Ngày xưa người ta phản đối chuồng cọp ở Phú-quốc và Côn sơn là vô nhân đạo.  Thực ra chỉ nghe mà thôi.  Còn ở đây khổ gấp bao nhiêu lần nhưng có ai được tới đây mà biết.”

            -“Khi gặp anh chị thấy thế nào.  Anh có nói gì không?”

            -“Tôi đứng đợi nơi bậc tam cấp bước lên đường.  Từ xa tôi thấy nhà tôi đi tới.  Anh cải tạo phụ trách nhà thăm nuôi đẩy xe ba bánh theo sau.  Nhà tôi mặc bộ quần áo xanh  còn in nếp gấp.  Có lẽ anh vừa được phát trước giờ ra gặp thân nhân, như hai chị thấy ai cũng mặc quần áo cũ.

            Nhà tôi thật gầy, anh bước xuống bậc tam cấp mà không được vững.  Hai chân anh run rẩy sau mỗi bước đi.  Tôi lại gần đỡ anh.  Cán bộ chỉ chỗ cho nhà tôi và tôi ngồi ghế đối diện tại chiếc bàn lớn ở hàng hiên kia.  Cán bộ phụ trách nhà thăm nuôi ngồi ở đầu bàn quan sát và theo rõi hành động của chúng tôi.  Hai chị nghĩ làm sao tôi có thể hỏi được điều mình muốn biết.  Tôi ngậm đắng trong lòng khi hỏi nhà tôi:

            -“Anh bệnh đã lâu chưa.Trông anh ốm yếu quá.”

            Chỉ nói được bằng đó câu tôi đã nghẹn lời, không cầm được nước mắt.  Thấy tôi buồn quá, nhà tôi cất giọng nhát gừng thều thào như không còn hơi sức nói:

            -“Em đừng khóc, anh có bệnh tật gì đâu.  Anh khỏe mà. Em đừng quá lo cho anh mà sinh bệnh.  Ở đây thuốc men đầy đủ.  Nếu tiện em gửi cho anh một ít thuốc bổ đa sinh tố và nhất là thuốc đau dạ dầy.  Dạo này bệnh cũ của anh lại tái phát.

            Quả thật khi đó lòng tôi buồn quá.  Tôi tự đặt câu hỏi, tại sao nhà tôi phải nói dối những điều mà thoáng nhìn ai cũng biết.  Bảo không bệnh sao người lại gầy ốm như cây sậy.  Nhà tôi còn bảo gửi thuốc đau dạ dầy vì bệnh cũ tái phát.  Tôi lại càng ngạc nhiên vì trước kia anh có mắc bệnh này đâu mà bảo tái phát.  Bệnh này có thực hay chỉ là bệnh giả.”

            Vân-anh góp lời:

            -“Hay vì đói quá mà phải nói khác đi, như những bức thư các anh “cải tạo” gửi về nhà xin đồ tiếp tế.  Vì thư từ  của tù nhân bị trại kiểm duyệt trước khi gửi.”

            -“Vâng, tôi cũng nghĩ như chị.  Lúc này lòng tôi buồn vô cùng.  Nước mắt không làm vơi được nỗi lo âu trong lòng.  Tôi có cảm giác đôi lúc như muốn xỉu, vì không chịu đựng nổi hình ảnh trước mắt.

            Gương mặt nhà tôi xanh xao, hai gò má gồ cao khiến hai hốc mắt trũng sâu.  Mái tóc có quá nhiều sợi bạc ở tuổi của anh.   Tôi có cảm tưởng nếu không có lần vải che ngoài, người chồng yêu thương ngồi trước mặt tôi chỉ còn là bộ xương biết cử động.  Chỉ một thời gian ngắn không gặp mà anh đã thay đổi hẳn so với lần thăm nuôi trước.”

            Thu hỏi chị:

            -“Anh có nói  thêm gì nữa không?”

            -“Nhà tôi vốn vui tính, gặp người lạ cũng dễ làm quen nhanh, mà hôm đó anh im lìm mệt mỏi.  Từ ánh mắt đến cử chỉ nói lên sự buồn nản, như không còn một chút hy vọng  ở tương lai.  Nhìn anh tôi đủ rõ hình phạt kỷ luật ở đây thật ghê sợ.  Nó làm tiêu hao dần sinh lực, làm mỏi mòn cả tham vọng sống.

            Thỉnh thoảng nhà tôi xoa hai tay, cử động hai vai như bị mỏi lâu ngày.  Co duỗi hai chân như bị tê bại sau nhiều tháng cùm xích.  Nhũng món ăn nhà tôi thích nhất cũng không đụng đũa tới.  Nhiều lần tôi dục anh ăn một chút cho ấm lòng, nhưng anh nói anh không đói mà chỉ muốn nói chuyện với mẹ con tôi.”

            -“Chị thấy anh có gì lạ không?”

            -“Khi đó lòng tôi rối bời, nhưng cũng nhận ra anh muốn nói một điều gì nhưng lại thôi, vì người cán bộ luôn nhìn anh quan sát từng cử chỉ.  Ba mươi phút trôi qua thật nhanh.  Cán bộ nhắc chừng chúng tôi đã hết giờ gặp mặt.   Tôi đến gần nắm tay nhà tôi, chỉ thấy hai cánh tay gầy trơ xương, không còn là đôi tay đầy sinh lực mà tôi đã từng nép mình nương tựa.  Nhà tôi dang tay ôm tôi như thói quen trước đây, nhưng nửa chừng ngừng lại, như anh chợt nhớ tới hình phạt kỷ luật mỗi khi vi phạm.  Tôi dìu anh ra tận bậc tam cấp bước lên đường.  Tay anh run rẩy, nước mắt quanh tròng.  Tôi hiểu nỗi lòng của anh, cũng như anh nhìn thấy sự đau khổ của tôi.  Tôi bật khóc lớn, vì không còn gì ngăn cản tôi được nữa.  Tôi ôm chặt lấy anh, con tôi cũng ôm lấy bố.  Bàn tay anh nới lỏng dần.  Tôi nói với theo: -‘Anh ráng giữ sức khỏe nhé.  Việc nhà anh đừng lo.  Em sẽ ra thăm anh luôn.’

            Nhà tôi quay lại mỉm cười.  Tôi chỉ thấy ở anh một nụ cười héo hắt, thể hiện niềm hạnh phúc đang tan vỡ.  Anh dơ tay vẫy mẹ con tôi.  Có ngờ đâu lần gặp mặt đó là lần gặp cuối cùng.”

            Thu tiếp lời:

            -“Tôi không rõ nhiều về sinh hoạt trong trại, nhưng nghe mấy anh hình sự  cho hay hình phạt kỷ luật ở đây ghê sợ lắm.  Nhất là vì thù hận, họ coi mạng sống con người không có một chút giá trị nào.”

            -“Vâng, vào lần thăm nhà tôi vừa rồi, tôi biết anh đang bị kỷ luật.  Tôi có hỏi mấy anh hình sự mới biết, tùy theo mức độ vi phạm kỷ luật mà tù nhân được hưởng chế độ cùm xích.  Cùm chân rất khổ, vì vòng sắt ôm cổ chân được xâu vào một thanh sắt nên tù nhân khó xoay trở.”

            Thu thật xúc động khi nghe kể về đời sống của người bị kỷ luật.  Nàng góp lời:

            -“Trong hoàn cảnh kỷ luật như thế, nếu thực phẩm không đủ chất bổ dưỡng thực khó mà giữ không bệnh tật đau ốm.”

            -“Ngay như người cải tạo bình thường cũng đã khó mà giữ được sức khỏe không suy giảm huống hồ bị kỷ luật.  Vì không phải đi lao-động nên phần ăn cũng giảm.  Nhà nước quan niệm không đổ mồ hôi nên không cần ăn nhiều như người lao động.  Vào ngày ăn bắp hạt luộc với muối, để giết thời gian và cũng để kéo dài bữa ăn, anh em trong phòng kỷ luật có thú vui nằm đếm từng hạt bắp mỗi khi ăn.  Một bữa ăn đong chưa đầy miệng chén đá, ít hơn người đi lao động hai muỗng ăn cơm.  Số nguời trong khu kỷ luật đa phần từ trại Quyết-tiến chuyển về, có người đã ở gần hai năm, từ ngày tới trại này.”

            Thu giật mình khi nghe thấy hai chữ Quyết-tiến.  Hành động của họ như thế nào mà phải chịu kỷ luật lâu đến thế.  Nếu không gặp chồng chiều nay chắc nàng sẽ lo sợ vô cùng.  Nàng tiếp lời:

            -“Trại có thông báo cho chị hay tin anh mất không?”

            -“Họ đâu có cho hay.  Tôi được bạn đi thăm nuôi về cho biết là nghe tin nhà tôi mất.  Hôm qua khi tới đây, tôi có hỏi cán bộ trại về tình trạng nhà tôi, họ nói nhà tôi bị đau mà chết.  Họ khuyên tôi về vì mọi việc đã xong xuôi.  Tôi đòi thăm mộ nhà tôi, mãi đến chiều hôm qua họ mới cho đi.”

            -“Anh nằm ở nghĩa trang gần đây?”

            -“Quả thật khi nhìn thấy nấm mồ của nhà tôi, tôi không tưởng tượng được chế độ này quan niệm về con người như thế nào.  Trước khi tới đây, tôi những tưởng dù gì đối với người đã chết, thì hận thù đến mấy cũng xóa bỏ.  Vì một chút tình đồng bào cũng được mồ yên mả đẹp.  Nhưng điều tôi mong đợi đã xụp đổ.  Nhà tôi được chôn trong khu rừng cỏ tranh.  Ngôi mộ chỉ là đống đất cao hơn mặt vườn, trên cắm miếng gỗ ghi tên nét chữ viết vội vàng.”

            -“Ðó là điều thật thương tâm khi họ coi thường thân xác người đã chết.  Nhưng tàn nhẫn hơn nữa, họ đang đầy ải, bạc đãi những người đang sống.  Chị có biết thêm gì về cái chết của anh không?”

            -“Tôi nghĩ ở trại này ai cũng biết, che dấu mãi làm sao được.  Ðành là họ có quyền, muốn giết ai thì giết, nhưng còn mấy chữ  “nhân đạo, khoan hồng” thì có nghĩa gì đây.  Chiều hôm qua khi cán bộ trở về, tôi có hỏi người hình sự đi cùng, hắn cho hay vì bị đối xử tàn nhẫn nên nhà tôi và bốn người nữa đã vượt ngục.”

            -“Thật tội nghiệp, các anh ấy vì quá uất ức nên vượt ngục.  Nhưng với chính sách ăn để cầm hơi, để kéo dài sự sống ngày một tàn lụn, trong khi chân bị cùm xích, thử hỏi lấy sức đâu vượt qua khỏi mấy vòng tường cao.”

            -“Vâng, chị nói đúng.  Mặc dầu các anh chọn một đêm không trăng, vượt qua được các trở ngại trong khu kỷ luật là đã vất vả lắm rồi, nên khi ra đến vòng tường trại thì trời gần sáng.  Nhà tôi và một người nữa yếu quá không thoát ra khỏi vòng tường cao. Mấy người ra khỏi vòng tường trại không thể đi tiếp, đành nằm trong bụi rậm bên bờ sông đợi trời tối.  Chẳng may một dân làng ở bên kia bờ sông nhìn thấy nên báo cán bộ trại hay.”

            Vân-anh gật đầu góp ý:

            -“Ðây là một ưu điểm của chế độ.  Như các chị thấy, khi đưa các anh ấy ra miền Bắc là có ý tách rời liên hệ với gia đình.  Các anh trở thành một thứ con tin nằm trong tay nhà nước, nên mọi gia đình người “cải tạo” không dám vọng động.  Các trại “cải tạo” tại miền Bắc thường đặt tại các vùng núi rừng hiểm trở, xa nơi dân cư đông đúc.  Tù nhân phải phát hoang làm rẫy để tự nuôi sống.  Các anh hoàn toàn xa lạ với địa phương mình ở.  Hơn nữa với chính sách thưởng công, vài ký gạo hay dăm cân thóc đã khuyến khích người dân khi đời sống quá thiếu thốn.”

            Chị Vân tiếp lời:

            -“Sở dĩ đám hình sự  được biết vì có báo động cả trại ngoài khi có tù trốn trại.  Khi các anh ra khỏi chỗ trốn, đám cán bộ nhào tới, kẻ đấm người đá cho đến khi gục ngã vì không còn sức chịu đựng trước những đòn đánh hận thù.  Anh Tiếp bị đánh chết tại chỗ, những người còn lại trong đó có LM. Nguyễn-hữu-Lễ, Ðại tá Trịnh-Tiếu, anh Nguyễn-sĩ-Thuyên thì thừa sống thiếu chết.  Họ được mang trở lại khu kỷ luật, không có lấy một mảnh vải che thân.  Còn nhà tôi, sau trận đòn bầm dập thân thể, đã bị bỏ đói và qua đời sau một tuần lễ, trong khi chân  vẫn còn cùm xích.”

            Vân-anh góp lời:

            -“Vậy bao giờ chị và cháu trở về miền Nam?”

            -“Cán bộ trại dục tôi rời đây sớm, lấy cớ nhà thăm nuôi chật hẹp, không đủ chỗ cho gia đình đến thăm.  Nhưng tôi hiểu họ không muốn cho mẹ con tôi ở đây.  Vì tiếng khóc và giải khăn xô tôi mang sẽ khích động thân nhân anh em “cải tạo”.  Như một chứng cớ đối nghịch, làm sáng tỏ chính-sách “khoan hồng, nhân đạo”, đã từng nêu cao như một nghĩa cử tốt đẹp đối với người đồng loại.”

            Thu chua xót thở dài nói:

            -“Quả thực, những hình ảnh xẩy ra hàng ngày càng làm chúng ta không quên được câu nói: ‘không nghe những gì cộng-sản nói, hãy nhìn những gì cộng-sản làm’.  Tôi thông cảm niềm đau của chị, vì chúng ta đang mất dần tình yêu thương.”

            -“Vâng, tôi vẫn muốn nán lại vài ngày, được nhìn nấm đất vùi nông thân xác nhà tôi.  Mặc dù tôi hiểu mọi thứ đã trở thành vô ích.  Nhà tôi đã yên phận, còn đời sống mẹ con tôi sẽ ra sao đây, khi hy vọng chờ đợi của chúng tôi không còn.  Liệu hình ảnh đau thương này, có phai mờ trong tâm trí trong trắng của các con tôi không. . .” _ Chị im lặng trong giây lát rồi tiếp_ “Từ nẫy đến giờ nghe chuyện của tôi làm hai chị buồn lây.”

            Vân-anh nói:

            -“Không hẳn như vậy.  Cảnh ngộ của chúng ta có khác, nhưng nỗi buồn của chúng mình vẫn chỉ là một.”

            -“Hai chị có thường ra thăm các anh ấy không?”

            Thu trả lời chị:

            -“Lần này chúng tôi ra Bắc là lần đầu.  Cách đây năm năm tôi có gặp nhà tôi một lần ở trại Gia-rai Long-khánh.”

            -“Các anh ở đây đã bao lâu mà bây giờ các chị mới ra thăm?”

            -“Tôi vừa được người bạn cho biết tin nhà tôi chuyển về đây, nên tôi vội ra thăm.”

            -“Chị đã gặp anh chưa?”

            -“Tôi có gặp nhà tôi lúc buổi chiều khi anh lao động bên đường.  Tôi thấy cán bộ gọi nhà tôi lại, không hiểu có chuyện gì không may xẩy ra cho nhà tôi không?”

            -“Bình thường đó là một vi phạm kỷ luật của trại, mà sự phán xử lại tùy hứng của nguời cán bộ trực tiếp.  Họ từng nói là nguời đại diện pháp luật nhà nước, nên trọn quyền quyết định.  Dù sao, hy vọng anh không gặp trở ngại nào.  Tôi nghĩ họ thông cảm vì vợ chồng lâu ngày không gặp mà khắt khe.

            Ðã khuya rồi hai chị nên đi nghỉ.  Mấy ngày tầu xe mất ngủ đã mệt lắm rồi.  Hai chị nhớ ghép màn cho kỹ, ở đây rất nhiều muỗi rệp.”

            Mọi người đã vào giường, còn lại một mình Thu đi lại trong sân.  Trăng sáng nên bầu trời trông thật cao.  Từng cụm mây bay ngang che mờ ánh trăng.  Nàng thu mình nơi ghế ngồi.  Hơi lạnh đẫm sương thấm sâu vào da qua lần áo mỏng.  Ánh trăng thật dịu, nhuộm xám những ngọn cây phía xa xa.

            Nàng biết là mình sẽ trằn trọc đêm nay, tâm tư nàng vẫn bị ám ảnh bởi những câu chuyện vừa nghe.  Quả thật lòng nàng đang lo sợ những không may xẩy đến.  Con người vốn bất lực trước cái chết, nhưng ở đây người ta bất lực cả với sự sống, lẫn lộn khổ đau với lo âu.  Sự sống con người nằm trong tay kẻ khác, nó thật mong manh giữa lòng thù hận.

            Nàng thương chồng nhiều quá.  Thu tự hỏi giờ này anh làm gì. Có yên giấc sau giờ lao động mệt nhọc, hay vẫn trằn trọc xúc động về buổi gặp mặt ngày mai.  Tâm tư nàng bấn loạn.

            Trời về khuya càng lạnh.  Sương đêm đã thấm ướt bờ vai, Thu trở vào phòng.  Ngọn đèn điện chiếu sáng căn nhà về đêm.  Vân-anh ngủ thật ngon.  Bên ngoài màn muỗi vỗ cánh như đàn ong vỡ tổ.

                                                                        *

  18.

            Tiếng gà gáy sang canh làm Thu thức giấc.  Nàng cảm thấy dễ chịu hơn, mặc dù giấc ngủ không trọn vì pha trộn những ác mộng.

            Trời còn sớm, nhưng Thu vẫn muốn trở dậy để sửa soạn bữa ăn sáng nay.  Ðã lâu nàng không có dịp ngồi ăn chung với chồng.  Nàng nhẩm tính những món ăn sẽ làm. Theo những người đi thăm nuôi cho hay, ngoài sở thích còn phải đạt yêu cầu.  Với cái đói hành hạ hàng ngày, người tù cải tạo cần lượng hơn phẩm.  Câu nói cửa miệng: no nhất thời đói muôn thuở, đã trở thành châm ngôn diễn tả đời sống tù nhân trong trại “cải tạo”.                                                                         19(Google: Tháng 4-1975)

            Thu đã đọc những đoạn thư của anh em “cải tạo” gửi về.   Lá thư như một thực đơn, gồm những thứ rẻ tiền mà ít gia đình nào dùng trước đây.  Có lẽ người tù “cải tạo” thấu hiểu hoàn cảnh ở nhà, đồng tiền phân bạc ở giai đoạn gạo châu củi quế, cực nhọc lắm mới kiếm ra.  Hơn nữa trong đời sống hiện tại, chỉ cầu no chứ không cầu ngon.  Họ cần những thứ để chống đói.

            Thu nấu xong nồi cà-ri, nàng bỏ thêm vào hai chục trứng vịt luộc.  Một nồi canh miến gà.  Một nồi cơm lớn, đủ cho mười người ăn no, nắm thành năm nắm.  Luộc lại mấy chiếc bánh chưng nàng mua ở bến xe Thanh-hóa.  Thu nghĩ chắc bánh cũng không có gì đặc sắc, nhưng có thêm thức ăn vẫn hơn.

            Trời đã sáng, nhưng sương đêm vẫn phủ mờ cảnh vật một mầu trắng đục.  Thu có cảm tưởng như mình lọt vào thung lũng đọng sương.  Không gian hoàn toàn yên lặng, ngoại trừ tiếng gà gáy sáng quanh đây.

            Vừa ra khỏi bếp, Thu gặp anh “cải tạo” phụ trách nhà thăm nuôi.

            -“Chào chị, hôm qua anh cho tôi hay có chị ra thăm, chị cần gì cho tôi biết.  Mấy ngày tầu mệt mỏi, đêm hôm qua chị  có lạ chỗ không?”

            -“Cám ơn anh, mấy ngày trên tầu quả có mệt vì chỗ ngồi chật chội, nhất là phải thức để coi chừng mấy túi quà.  Khi đến đây chúng tôi chỉ thèm một giấc ngủ ngon, nhưng đêm qua lại khó ngủ.  Vừa chợp mắt gà đã gáy sáng.”

            -“Tâm lý chung đó chị, chúng tôi ở trong trại cũng thế.  Khi biết có thân nhân tới thăm, dù già hay trẻ, đêm đó không ai có thể ngủ được.  Ði lại trong phòng không biết bao nhiêu lượt.  Sợ đi lại nhiều làm phiền các bạn cần giấc ngủ để ngày mai có sức lao động.  Nhưng vừa nằm xuống lại muốn trở dậy, hút thuốc liên miên.”

            -“Gia đình anh ra thăm thường chứ?”

            -“Nhà tôi và cháu lớn có ra thăm tháng vừa rồi.   Nói chị đừng cười, ngoài điểm được gặp mặt gia đình để biết chuyện nhà, chúng tôi còn cần một chút quà, dù chỉ là gói quà nhỏ gửi qua đường bưu điện.  Chúng tôi chẳng khác nào đứa trẻ mong mẹ về chợ.  Thân thể chúng tôi chóng suy nhược vì theo “chính sách ăn để không chết ngay”, nên mong có chút quà để kéo dài sự sống.  Thêm vào đó, về phương diện tâm lý, chúng tôi có niềm vui là không bị bỏ quên.”

            -“Mấy năm vừa qua chúng tôi cũng rất thiếu hụt thực phẩm, không rõ ở trong trại các anh có bị ảnh hưởng không?”

            -“Vâng, năm 1977 là năm đói nhất.  Khi chúng tôi mới ra đây nhiều vùng còn hoang vu.  Chúng tôi phải phá rừng làm rẫy, trồng cấy hoa mầu để tự nuôi sống.  Nhiều khi đói qúa, chúng tôi gặp thứ gì ăn thứ đó, chỉ cốt nhét cho chặt dạ dầy.  Chị ra thăm anh mừng lắm”

            -“Tôi mới nhận được tin nhà tôi ở đây nên vội ra thăm, vì đã lâu không gặp.  Tôi không rõ nhà tôi cần  gì nên chỉ mang những thứ thường dùng.”

            -“Chúng tôi hiểu gia đình ra thăm rất khó khăn, của một đồng công một nén.  Mọi thứ đối với chúng tôi đều qúy.”

            -“Anh có gặp nhà tôi thường không?”

            -“Chúng tôi ở khác phòng, nên chỉ gặp nhau sau giờ lao động.  Chúng tôi luôn mong ngày Tết, vừa có dịp nghỉ ngơi và qua lại các phòng thăm bạn.”

            -“Khi tới đây tôi nghe nói cán bộ trại để ý tới số anh em từ trại Quyết-tiến chuyển về, nên tôi rất lo cho nhà tôi.”

            -“Vâng, các anh khổ hơn chúng tôi nhiều.  Các anh không có cả tự-do tối thiểu của một người tù cải tạo.  Khi tới đây, 48 người các anh được ở riêng một phòng.  Thông thường chúng tôi hỏi thăm các anh em ở trại khác tới, nhưng lần này trại cấm liên hệ.  Anh em trong trại thường gọi các anh là “đại đội trừng giới”.  Ðội các anh  có nhiều người đi kỷ luật nhất.

            -“Nghe anh nói tôi mới biết sự khổ cực mà anh em Quyết-tiến phải chịu đựng.”

            -“Các anh nói thời gian đầu khi tới trại này là hạnh phúc nhất vì được nằm chỗ rộng, muốn ngủ hay thức tùy ý, không phải đi lao động, ngày hai bữa cơm bưng nước rót, tối ngủ có lính canh. . . Sau đó tôi mới hiểu, các anh đã trải qua nhiều gian nan nguy hiểm, có sợ cũng thế thôi.  Trong cái chết tìm ra con đường sống, trong cùng cực  tìm thấy niềm vui.”

            -“Hôm qua tôi gặp nhà tôi  khi anh đào hố cá nhân bên đường.  Chúng tôi chưa kịp nói câu nào đã nghe tiếng quát gọi tên nhà tôi.  Không hiểu có gì xẩy ra không?”

            -“Người gọi anh là cán bộ quản giáo, hắn kỷ luật nhất trại.  Chị yên tâm, vì anh đã được phép gặp gia đình.”

            -“Anh thấy sức khỏe nhà tôi ra sao.  Không hiểu anh có bệnh gì không?”

            -“Sức khỏe của anh hiện giờ đã khá rất nhiều.  Khi mới tới trại, chúng tôi nghĩ các anh là những bộ xương biết đi.  Nhìn các anh chúng tôi biết các anh vừa trải qua một nơi kinh hoàng nhất.  Tù nhân luôn bị ám ảnh mình sẽ không còn cơ hội trở về với gia đình.  Và cuộc sống sẽ trở lên vô nghĩa khi không còn hy vọng ở tương lai.”

            -“Chiều hôm qua tôi thấy các đội lao động về, người nào người nấy gầy ốm tong teo.”

            -“Ðời sống chúng tôi bao giờ cũng vậy, cái đói luôn theo đuổi mặc dù đất trồng khai phá nhiều hơn những năm trước, hoa mầu thu hoạch gấp bội.”

            -“Không phải chỉ riêng các anh ở đây, đời sống người dân cũng nằm trong chính sách xiết cuống họng, tóm dạ dầy.”

            -“Trong tình trạng hiện tại, thời gian sẽ làm chúng tôi kiệt sức.”

            -“Thực ra khi thấy các anh, chúng tôi cũng đoán hiểu được phần nào về sinh hoạt đời sống ở trại “cải tạo”.  Nhưng với phần ăn thiếu dinh dưỡng, cái đói gậm nhấm  cơ thể trong lúc lao động lại quá cực nhọc, mà các anh giữ được mạng sống kể cũng là một điều kỳ lạ.”

            -“Vâng, không sớm thì muộn cuộc đời chúng tôi sẽ tàn lụn.  Cái chết chỉ còn chờ thời gian.  Họ không bắn bỏ chúng tôi từ giây phút đầu, thì chúng tôi cũng chết một ngày không xa.  Cái đói hành hạ chúng tôi từng giây phút,  là một cực hình  ghê sợ hơn bất cứ hình phạt nào khác.”

            -“Chúng tôi biết như thế nhưng không làm sao được.  Trong hoàn cảnh xã hội đổi thay mà sức chúng tôi chỉ có hạn.   Ðối với những gia đình giầu, có của ăn của để, thì việc tiếp tế cho thân nhân cũng không mấy khó khăn.  Nhưng thử hỏi còn đuợc bao nhiêu người, vì với chính sách “biến miền Nam tiến nhanh bằng miền Bắc Xã-hội Chủ-nghĩa”, đã đồng hóa họ với lớp người vô sản.

            Còn thành phần trước đây hàng tháng nhìn vào đồng lương của chồng, chúng tôi chỉ biết săn sóc chồng con.  Thành thử công việc bươi chải kiếm sống đã là những khó khăn cho chúng tôi ở buổi giao thời.”

            -“Trong tù lòng dạ chúng tôi cũng đau xót, nhưng không làm sao được, chúng tôi bất lực trước hoàn cảnh bi đát của gia đình.”

            -“Hoàn cảnh của chồng con là mối thương tâm của chúng tôi.  Chúng tôi muốn chu toàn cho chồng nhu cầu tối thiểu mà không được.  Chúng tôi đã cố gắng  chắt bóp, dành dụm và chỉ được như thế thôi.  Mong các anh thông cảm.”

            Anh “cải tạo” nhìn ra đường rồi tiếp:

            -“Sắp tới giờ cán bộ tới.  Cần gì chị cho tôi hay.”

            -“Rất cám ơn anh.”

                                                                           *

     19.

            Những tia nắng đầu ngày xóa dần màn sương phủ mờ ngọn cây, chỉ còn lại những hạt nước long lanh đọng trên thềm cỏ dại.

            Thu ra khỏi bếp lửa, hơi nóng làm ửng hồng nét mặt của nàng.  Gió ban mai mát rượi như mang hơi lạnh của sương đêm.  Nàng xúc động và xót thương, khi nghe câu chuyện kể những gì xẩy đến cho chồng vào lúc bặt tin anh.  Nàng quay lại khi nghe tiếng Vân-Anh, Thu hỏi bạn:

            -“Vân-Anh sửa soạn vào bếp chưa?”

            -“Không có gì nhiều, mà còn lâu mới tới giờ gặp mặt, mình thủng thẳng làm cũng kịp.”

            Thu để bạn lo công việc, còn nàng ra phía sau nhà, tới        20(Nguồn Google: Thăm nuôi)                                          chum nước kê dưới gốc mận cạnh ao đào, múc nước vào thau.  Nàng cong hai bàn tay vốc nước lên mặt.  Nước thật mát như thấm sâu vào da, làm vơi đi sự mệt mỏi vì nhiều đêm thiếu ngủ.  Thu rửa mặt thật kỹ, như muốn xóa hết nét ưu tư trên khuôn mặt đăm chiêu của nàng.  Thu lấy chiếc gương soi nhỏ, cầm lược chải lại mái tóc.  Phải, nàng muốn làm đẹp trước mặt chồng.  Nàng nhè nhẹ chải mái tóc uốn cong ôm sát phía sau, để lộ chiếc gáy thon nhỏ, phủ mờ những sợi tóc măng mềm mại.

            Nàng nhớ khi mới lấy chồng, anh vẫn thích kiểu tóc tém, hai bên uốn hơi dợn sóng bồng bềnh.  Anh góp ý mình nên để đường ngôi bên, rẽ tóc phía trước.  Khuôn mặt sẽ đẹp hơn, càng lộ vẻ duyên dáng thông minh, nó hợp với nét mặt hơi tây phương của nàng.

            Khi đó nàng nói đùa với chồng, mái tóc cắt ngắn như đàn ông, nhìn từ phía sau khi hai người đi với nhau, giống như hai đứa con trai.  Thu đã ngắm mình trong gương nhiều lần, và nhận ra chồng nàng có lý.  Nàng trông trẻ hơn với mái tóc này, một vẻ đẹp hiền dịu điểm nhẹ một chút kiêu sa.  Từ đó nàng luôn giữ kiểu tóc tém.  Lúc này tóc có hơi dài và thiếu vẻ bóng bẩy vì thời gian cực nhọc vừa qua.  Nhưng nàng muốn chồng thấy, nàng vẫn là con người ngày trước, còn giữ được những nét mà chồng nàng yêu thương.

            Anh vẫn khen mình có mái tóc đẹp.  Sợi tóc mềm như tơ.  Những sợi tóc mai phủ xuống đôi má mịn hồng càng làm khuôn mặt nàng duyên dáng.  Anh làm mình cảm động khi bảo ‘tóc em như ướp hương thơm mùi lúa Tám, một mùi thơm mát nhẹ nhàng.’   Sau này Thu mới hiểu, khi nghe câu hát của người miền Nam ‘. . . vợ chồng quen hơi’, nói lên tính thắm thiết của tình nghĩa vợ chồng.

            Nghĩ đến hoàn cảnh những người đàn bà như nàng.  Ðang có một đời sống sung sướng, không phải lo âu việc gì, bỗng chốc thời thế thay đổi, như vừa trải qua một cơn ác mộng.  Ðẩy nàng vào một cuộc sống quá cực nhọc, nhiều chông gai.  Nàng luôn cầu xin ơn trên giúp nàng vượt qua những khó khăn, để vươn lên như ngày hôm nay.  Nàng hãnh diện với chồng vì giữ được lòng chung thủy.

            Thu trở vào sân, trên con đường phía trước nhà thăm nuôi, từng đội lao động đi qua hướng về phía núi rừng ở tận cuối con đường.  Lại bắt đầu một ngày gian khổ cho người “tù cải tạo”.

            Thu kiểm lại những thứ mang cho chồng.  Nàng để gọn vào hai bao lớn, còn mấy món ăn vừa làm để riêng trong túi xách tay.   Nàng nhìn qua thấy Liên đang đứng nơi giường nằm. Thu mỉm cười dơ tay đáp lại câu chào của Liên.  Cũng như nàng, Liên kiểm lại những thứ mang theo.

            Cán bộ phụ trách nhà thăm nuôi cho hay 10 phút nữa Liên sẽ gặp thân nhân.  Liên cám ơn hắn, và trở vào xách nững túi quà ra ngoài hiên, sát cửa ra vào.  Vẫn y phục mầu đen như ngày hôm qua, khiến Liên có vẻ đẹp thật dịu dàng kín đáo, nổi bật làn da trắng mịn màng.

            Liên ra đón bạn nơi bậc tam cấp bước lên đường, vẻ hân hoan lộ trên nét mặt rạng rỡ vui tươi.  Hai người vào bàn, ngồi đối diện trước sự chứng kiến của cán bộ thăm nuôi ngồi nơi đầu bàn phía trong.

            Từ chỗ giường Thu ngồi nhìn ra, chỉ thấy những nụ cười pha trộn những giòng nước mắt.  Ðột nhiên Liên đứng dậy, quay về phía cán bộ trình bầy.  Hai người đã quen nhau từ lâu, chưa chính thức là vợ chồng, nhưng đã yêu thương tình sâu nghĩa nặng.  Liên xin được tỏ bầy với người mình yêu thương, trước sự chứng kiến của cán bộ.

            Người cán bộ trẻ ngạc nhiên.  Ðây là lần đầu tiên trong đời, hắn gặp một người con gái trẻ đẹp hết lòng yêu thương, chờ đợi một người tù chưa biềt ngày về.  Tuy vậy hắn vẫn chấp nhận lời yêu cầu của Liên.

            Liên rời chỗ mình ngồi, vòng quanh chiếc bàn tới  bên Tuấn.  Liên nắm chặt tay Tuấn như cố tìm một chút hơi ấm đã thiếu vắng từ lâu.  Liên đeo nhẫn cho bạn, cô nói: “Em yêu thương anh vô cùng, trong suốt cuộc đời này em chỉ yêu anh, một mình anh thôi. . .”  Giọng nói của Liên nức nở, pha trộn nhiều nước mắt đau thương hơn là âm thanh hân hoan của một ngày vui.

            Chỉ một câu nói giản dị, ngắn gọn như đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần của những người đi trước.  Nhưng ở đây , trong hoàn cảnh này, đã diễn tả tình yêu thương mãnh liệt.  Có lẽ Liên đã suy nghĩ trong bốn năm yêu thương và hơn năm năm chờ đợi.  Một quyết định đã ràng buộc cuộc đời Liên vào sự đợi chờ vô vọng.

            Thu ra cửa nhìn theo.  Liên đang tiễn bạn ra tận cuối sân.  Qua bậc tam cấp bước lên đường Tuấn còn quay lại vẫy chào.  Liên bước nhanh lên mấy bậc tam cấp, lặng nhìn người yêu xa dần.  Dáng Liên thon nhỏ, chiếc khăn tay nơi miệng như muốn giữ cho tiếng khóc không thoát ra ngoài, mà âm thanh chỉ còn là tiếng nấc nghẹn đau thương.

            Thu xúc động khi nhìn cảnh tượng trước mắt.  Có phải đó là một trong hàng trăm ngàn trường hợp đang xẩy ra trên mảnh đất khốn khổ này không.  Và cái chết đang  gậm nhấm những thân xác tàn tạ của người “tù cải tạo”, sống lây lất trên khắp các nẻo đường rừng núi âm u như ở đây không.  Liệu đến bao giờ mới chấm dứt được cảnh chia ly đau khổ này, hay sẽ còn tiếp diễn mãi mãi.

            Cán bộ nhắc Thu sắp đến giờ nàng gặp mặt chồng.  Nàng nhớ lời  hắn nhắc nhở khi nàng tới đây: “Anh ấy cần an tâm để cải tạo, chị không nên nói những gì không cần thiết”.  Nàng thừa biết đó là lời răn chừng.  Những câu nói của nàng sẽ ảnh huởng tới thời gian gặp mặt.  Nàng nghĩ chắc chồng nàng cũng được nhắc nhở trước khi ra đây.

            Thu xắp xếp các thứ gọn gàng để không mất thì giờ tìm kiếm.  Nàng buộc kỹ hai bao quà.  Một túi xách đựng thức ăn và mấy nắm cơm gạo trắng, hơi ấm còn phảng phất hương thơm của lúa mới.  Túi xách tay khá nặng không kể hai bao lớn.  Hy vọng anh có xe ba bánh chở quà vào trại.  Nếu phải gánh như Tuấn liệu anh có gánh nổi không.

            Thu xem lại mấy lá thư các con viết cho bố, tấm hình đứa con trai lớn chụp ở bờ biển Thái-lan.  Nếu cán bộ có kiểm soát thì cũng khó phân biệt, vì cảnh biển nào thu nhỏ trông cũng giống nhau.  Nhưng anh sẽ hiểu khi đọc chữ “Chantaburi TL” ghi mờ bằng bút chì ở mặt sau tấm hình.

            Thu sửa lại mái tóc, thấm khô những giọt mồ hôi còn vương trên trán, thoáng hiện những nét bồn chồn như buổi gặp mặt lần đầu bao nhiêu năm về trước.  Ðứng bên cửa ra vào, nàng nhìn trọn con đường đất nhỏ dần mất hút vào lối rẽ.  Khu gia đình cán bộ nhộn nhịp.  Một số anh ‘cải tạo’ đang lợp lại mái tranh của mấy căn cuối dẫy.  Các em nhỏ đang nhẩy nhót nơi sân trước ở đầu kia dẫy nhà.  Phía trên đó là nhà giữ trẻ, im lìm sau hàng dậu thấp.

            Hình dáng chồng nàng vừa hiện ra nơi lối rẽ.  Thân hình anh cao, gầy đang bước nhanh.  Có lẽ anh cũng bồn chồn vì nóng lòng gặp mặt.  Chính nàng cũng muốn con đuờng này ngắn lại, năm năm rồi còn gì.  Thời gian đằng đẵng trôi qua, đã để lại trong lòng nàng hằn sâu niềm thương nhớ.  Lòng nàng nao nao với những  niềm vui.

            Thu ra sát bậc tam cấp bên đường đứng đợi.  Mặt trời đã lên cao, ánh nắng đan mây biến mất, khung cảnh trước mắt nàng chói lòa.  Con đường đất rực nắng, không có lấy một bóng cây, trừ những mảnh dậu lấp xấp bên đường.

            Anh hôm nay tươi tắn hơn, có lẽ vì bộ quần áo trại được giặt sạch sẽ.  Nhờ vậy mà che lấp bớt tấm thân tiều tụy như nàng gặp ngày hôm qua. Tóc anh cắt ngắn nên khuôn mặt thật hốc hác.  Anh gầy đi rất nhiều.  Nàng nhớ câu chuyện kể, các bạn đã ví anh như con trâu già góp vui trong ba ngày Tết.

            Anh bước nhanh xuống bậc tam cấp.  Nàng nghe thấy tiếng “Em” anh gọi, nhưng hình bóng anh bị xóa nhòa sau màn lệ mỏng.  Nàng không cầm được nước mắt.  Những xót thương ở đâu kéo về đầy ắp lòng nàng.  Thu vừa nghe lại âm thanh ngắn gọn nhưng thật ấm dịu.

            Thu nắm chặt tay chồng, một tay vòng sau lưng anh.  Cánh tay anh thật gầy, nếu không nhờ tay áo che đi, chắc  chẳng khác nào que củi.  Bàn tay anh chai cứng khô nhám.  Nghe bạn anh kể đó là hậu quả của thời gian lao động trên trại Quyết-tiến, các anh phải dùng tay nhổ đám cỏ tranh cao ngang đầu gối.  Bàn tay anh đã chẩy máu sau nhiều ngày lao động, còn lưu lại những vết nứt nẻ, chai cứng.

            Những đốt xương sống gồ lên cao.  Nàng có thể đếm được những dẻ xương sườn.  Bụng anh thắt lại như một túi da bèo nhèo.  Thu và chồng ngồi vào ghế đối diện, sát đầu bàn phía sân.  Nàng muốn ngồi càng xa càng tốt đầu bàn phía bên kia, nơi cán bộ thăm nuôi ngồi quan sát.  Anh lên tiếng hỏi:

            -“Mấy ngày trên tầu chắc em mệt lắm phải không?  Ðêm hôm qua em có ngon giấc không?”

            -“Mấy đêm trên tầu em có chợp mắt đôi chút.  Chúng em phải thay nhau canh chừng đồ mang theo.  Tới đây tối hôm qua lại khó ngủ.  Trằn trọc cả đêm mong trời mau sáng.”

            -“Em gầy nhiều lắm đấy.  Em còn đi bán hàng như thư viết cho anh không?”

            -“Em đã nghỉ bán  gần hai năm.  Bây giờ em đi dậy học tư .  Anh có khỏe không,  trông anh gầy ốm rất nhiều.”

            -“Anh khỏe, không có bệnh tật gì cả, em yên tâm.  Bố mẹ và me thế nào, các cụ có khỏe không em.  Còn hai em vẫn đi làm như thường chứ.  Lâu lắm anh chưa gặp các con, chúng có ngoan không em?”

            Thu nhìn chồng thầm nghĩ, tính anh vẫn vậy, luôn luôn chịu đựng.  Không bao giờ anh muốn người khác phải lo lắng vì mình.

            -“Bố mẹ và me mỗi tuổi một già yếu.  Các cụ mong anh sớm trở về.  Me luôn tụng kinh niệm Phật, cầu xin cho anh được an lành.  Còn mẹ, mỗi lần nhắc tới anh mẹ lại khóc.  Niềm xót thương ray rứt khiến mẹ không cầm được giòng lệ.”

            -“Anh thương mẹ rất nhiều.  Cả cuộc đời mẹ khổ cực vì chồng con  mà không bao giờ  than van.  Anh hối tiếc là khi cha mẹ về già anh không có mặt ở nhà.”

            Thu đưa cho chồng bao thư của các con, tấm hình mấy mẹ con chụp ở chùa Vĩnh-nghiêm vào dịp Tết vừa qua. Hình và thư của đứa con lớn gửi về cho bố.

            -“Khi em đi các con có viết thư thăm anh.  Chúng nhắc tới bố luôn và mong bố sớm trở về với chúng.  Kèm theo đây là hình của Ti.  Ít tháng trước con có theo bạn đi Nha-trang, nó thích vùng biển nên vẫn còn ở đó.”

            Anh đưa xấp thư và hình cho cán bộ kiểm soát.  Hắn xem qua rồi trả lại cho phép anh giữ.  Anh nhìn tấm hình đen trắng mấy mẹ con chụp chung, rồi đến tấm hình mầu đứa con lớn chụp nơi bờ đá đang nhìn ra biển khơi.  Anh lật xem mặt sau tấm hình và lướt nhanh thư  nó viết cho anh.

            -“Các con chóng lớn quá.  Mấy năm không gặp mà chúng khác hẳn lúc anh  ra đi.  Nhìn các con, anh biết em  cực nhọc như thế nào.  Vừa lo lắng cho đời sống, lại còn dậy dỗ chúng lên người.  Anh rất cám ơn em.  Anh thiếu bổn phận với em và các con rất nhiều.  Còn Ti đã đi chơi lâu chưa em?”

            Thu nhìn nét mặt hân hoan của chồng khi đọc thư và xem mặt sau tấm hình của đứa con trai lớn.  Anh đã nhận ra ý nghĩa của dòng chữ ghi phía sau.

            -“Ðáng lẽ em phải hỏi ý anh trước khi cho con đi, nhưng thư em gửi cho anh về địa chỉ trại Quyết-tiến không thấy trả lời.  Em ngần ngừ mãi, mà con lại đòi đi quá nên em tự quyết định.  Anh có buồn em không?”

            -“Trái lại, anh rất vui em ạ.  Chúng mình vẫn có một ước vọng là mong các con trở thành người hữu dụng, chúng có một tương lai tốt đẹp.  Còn các con nhỏ ra sao, chúng có chăm ngoan không em?”

            -“Cũng may có ông nội một bên kèm cặp nên chúng rất chăm ngoan, có giấy khen mỗi tháng.  Em rất mừng đi dậy trở lại, vì có nhiều thì giờ ở nhà với các con.  Chúng ăn ngủ đúng giờ hơn là hồi em đi buôn, sức khỏe các con tốt hơn trước.  Em vẫn kèm các con học mỗi tối, và cho các con học thêm đàn, chúng chăm chỉ tập luyện hàng ngày.”

            Thu nhìn chồng thoáng gặp đôi mắt anh vụt sáng, môi mỉm cuời.  Nàng nhớ anh thường nói khi hai người mới có đứa con đầu lòng:  “. . . khi các con còn nhỏ, phải hướng dẫn và giúp chúng có một cái gì để say mê.  Chúng sẽ dựa vào sự say mê mà vươn lên trong đời sống. . .”  Nàng đã làm theo ý đó, nhất là khi anh vắng nhà còn nàng lại buôn bán ngược xuôi.  Âm nhạc là phương tiện giải trí, giúp tinh thần các con  thảnh thơi trong sáng, mà cũng cầm giữ chúng ở nhà sau giờ học.

            -“Em là người mẹ hiền, hiểu biết và yêu thương các con vô cùng.  Em hy sinh cá nhân em cho các con, đã làm được việc mà ít người làm được.  Em có thường viết thư cho Ti không?”

            -“Em nhớ con nhiều lắm nên viết thư cho nó luôn.  Lần nào cũng vậy, thư em gửi có kèm theo thư các con nhỏ viết cho anh chúng.  Em hy vọng đọc thư gia đình con sẽ vui hơn và đỡ nhớ nhà.”

            -“Anh biết em thương nhớ con, vì từ nhỏ cái gì mẹ cũng lo cho.  Tuy vậy em cũng đừng quá lo lắng về con.  Ðây là dịp tốt để nó tập quen tinh thần tự lập, và sau này lớn lên nó không bỡ ngỡ rụt rè.  Nó biết giá trị đời sống mà không phung phí tuổi xanh.  Nó sẽ có tham vọng  và biết phải tận dụng khả năng của mình để vươn lên.”

            -“Trước khi cho con đi em cũng suy nghĩ rất nhiều.  Ðể con đi một mình ở tuổi quá nhỏ em thực không yên tâm.  Nếu có chuyện gì xẩy ra cho con thì em sống làm sao đây, có phải lương tâm em sẽ bị dầy vò suốt đời.  Cũng may con đi với mấy đứa học trò chỗ em dậy học.  Chúng lớn tuổi hơn con nhiều và yêu thương con như em chúng.  Nhất là em không thể cầm lòng khi con nói nó ao ước đi biển, vì vậy em chiều nó mà cho đi.”

            -“Em quyết định như thế là phải, anh ở nhà cũng hành động như em.  Ðây là món quà quý giá nhất mà em mang đến cho anh.  Còn em dậy học có vất vả lắm không?”

            -“Như anh biết, em thích nghề dậy học.  Em tìm được nguồn vui bên  đám trẻ, điều mà em không có được vào mấy năm về trước, nhất là thời gian đi buôn đầu tắt mặt tối.  Chính em cũng không nghĩ tới thân em, chỉ mong kiếm đủ sống cho các con.  Ấy thế mà chẳng bao giờ đủ, lại thiếu bổn phận săn sóc chúng.  Vì vậy em rất mừng khi trở lại nghề cũ.”

            -“Em dậy nhiều giờ không.  Em dậy tại nhà hay đi dậy từng nhà?”

            -“Em dậy từng nhóm, và tùy theo số trẻ của mỗi gia đình.  Có khi chúng học chung một trình độ, mỗi lớp sáu bẩy đứa.  Nhiều gia đình đám trẻ học khác lớp nhau, việc giảng dậy sẽ có một chút vất vả hơn.  Em đến dậy từng nhà, xen kẽ ba buổi một tuần.  Em được rảnh ngày chủ nhật ở nhà lo cho các con.”

            -“Anh biết em thích nghề dậy học từ khi mới ra trường, nhưng em cũng phải lo cho sức khỏe của mình.  Em là người thầy tận tâm, thường mang hết tinh thần ra giảng dậy.  Nhưng có điều nghề “bán cháo phổi” là nghề hao tổn tâm trí rất nhiều.”

            Thu mỉm cười.  Nàng e lệ như khi còn nhỏ bị mẹ bắt gặp được điều bí mật.

            -“Không ai hiểu em bằng anh.  Mỗi khi dậy học em không tiếc gì công sức.  Em quan tâm đến khả năng mỗi đứa, coi chúng như con cháu mình, nên em có bổn phận giúp chúng tiến bộ.  Trách nhiệm của người thầy nặng nề vô cùng, phải hướng dẫn cho chúng không những chỉ về môn học, mà còn cả mặt tinh thần, làm căn bản cho chúng tiến lên sau này.”

            Nàng thấy chồng mỉm cười, anh nháy mắt tiếp lời:

            -“Anh có nói sai đâu.  Ðối với em nghề dậy học đã là một nghiệp dĩ.  Em chỉ thấy vui khi có nó thôi.  Còn các con nhỏ ở nhà, khi em ra thăm anh liệu chúng có tự lo  được không?”

            -“Trước khi đi, em đã lo liệu cho các con ở nhà đầy đủ.  Hơn nữa có ông bà nội, bà ngoại và các cô ở nhà coi chừng nên em cũng yên tâm.  Tuy các con còn nhỏ, nhưng trong suốt thời gian em đi buôn, các con đã biết tự lo lấy, đứa lớn coi chừng đứa bé.  Dù không có em ở nhà cũng không đến nỗi nào.  Huống chi em đi có một tuần, và lúc này các con đang nghỉ hè.”

            Thu thấy chồng tự nhiên im lặng, niềm hân hoan vừa rồi vụt biến mất.  Ðôi mắt anh trở lên xa xăm, thoáng chút thẫn thờ như lạc vào vùng kỷ niệm hay tới chốn lo âu.  Anh chợt nói:

            -“Anh thương nhớ em và các con nhiều lắm.  Em và các con là nguồn hy vọng của anh, đã an ủi anh trong những năm qua. . . .”

            Tiếng anh nghẹn lại, như niềm đau thương đang dâng lên.  Rèm mi anh lấp lánh như giọt nước vương trong ánh nắng.  Thu thông cảm với chồng khi anh nói câu này.  Ðối với những người “tù cải tạo” như anh, liệu có còn gì là của mình nữa không.  Nàng xót xa cho chồng như chính lòng mình cũng không cầm được giòng lệ.  Thu cất tiếng nghẹn ngào:

            -“Em và các con luôn nhớ đến anh.  Mẹ con em mong anh sớm trở về. . . .”

            Nàng ngừng lại như cố nuốt trôi niềm cay đắng, rồi tiếp lời:

            “. . . Bây giờ các con lớn rồi.  Vi ra vẻ chị hai, mới ít tuổi đã biết lo toan việc nhà.  Con có nhiệt tâm giúp đỡ mọi người.  Khi em vắng nhà cơm nước tự tay nó.  Cũng may các con ngoan, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, vì vậy em yên tâm.  Từ ngày về đây anh có khỏe hơn không?”

            -“Anh lấy lại sức khỏe rất nhiều, khí hậu vùng này ấm hơn nơi anh ở trước.  Gần giòng sông Mã, cảnh trí thay đổi anh rất thoải mái.  Khi ở trại Quyết-tiến vì yếu chịu lạnh nên anh đau ốm luôn.”

             Mải nói chuyện, Thu quên bẵng đi từ sáng đến giờ anh chưa có chút gì vào bụng, nàng hỏi chồng:

            -“Chắc anh đã đói.  Ðể em mang vài món ăn nóng anh dùng một chút cho ấm bụng nhé.”

            Nàng đứng dậy, nhưng anh vội giữ lại.

            -“Anh không đói đâu, anh cần nói chuyện với em nhiều hơn.  Ðã lâu anh không có dịp gần em như hôm nay.”

            -“Anh biết không, nhiều khi em không biết anh ở đâu mà tìm.  Vì bẵng đi một thời gian thật lâu mới lại có tin anh.  Khi anh còn ở miền Nam, mỗi lúc bặt tin anh em cố công đi tìm.  Dù sao trong đó em vẫn quen thuộc đường đi nước bước, nhưng khi hay tin anh chuyển ra Bắc em đành chịu.  Thư em viết không thấy anh trả lời.  Không hiểu anh có nhận được không.  Và khi nhận được tin mới hay anh không còn ở chỗ cũ.  Em lo lắng cho anh rất nhiều, không hiểu việc gì xẩy đến cho anh,”

            -“Anh hiểu em lo lắng cho anh.  Nhiều lúc anh muốn viết thư về nhà nhưng không có điều kiện.  Anh cũng nóng ruột muốn biết tin nhà, có gì trở ngại trong cuộc sống của em không.  Mặc dù trong hoàn cảnh hiện tại , anh không thể làm gì cho em và các con được nữa.”

            -“Em và các con luôn nhớ đến anh, nên mong nhận được tin anh.  Anh vốn là trụ cột, là mái che của mẹ con em.  Em và các con  cần anh lắm biết không.”

            -“Anh hiểu ý em, nhưng em cũng phải lo cho em nữa chứ.  Các con cần em rất nhiều, vì em là nơi nương tựa của chúng.  Anh biết đời sống có nhiều khó khăn, em lo cho các con đầy đủ đã cố gắng lắm rồi.”

            -“Anh yên tâm, em chu toàn mọi việc.  Em luôn cố gắng dậy dỗ các con như khi anh ở nhà.  Em chỉ còn quan tâm về anh thôi.”

            -“Em không nên quá lo lắng cho anh mà có hại cho sức khỏe.  Ðường xá ra đây rất vất vả, hơn nữa các con còn nhỏ dại, chúng cần có em luôn luôn bên chúng.  Khi có điều kiện, em gửi quà cho anh qua đường bưu-điện là đủ.  Anh mong thư của em và các con, vì đó là nguồn an ủi quý nhất đối với anh.  Em ra thăm anh có ai đi cùng  không?”

            -“Em đi chung với Vân-Anh.  Anh nhớ Vân-Anh bạn học cũ của em không.  Chúng mình đã tới nhà anh chị ấy ở đường Lý-thái-Tổ.”

            -“Anh có nhớ.  Anh có gặp anh ấy, nhưng khác phòng nên ít có dịp nói chuyện.  Chị Vân-Anh và các cháu ra sao.  Cụ thân sinh ra chị ấy có khỏe không?”

            -“Tuần trước em có lại thăm.  Bác già đi nhiều.  Bác có hỏi thăm anh.  Còn hai cháu rất ngoan, chúng giống bố như đúc.”

            Cán bộ nhìn đồng hồ, nhắc chừng vợ chồng Thu đã hết giờ thăm.  Nàng xin cán bộ cho chồng nàng ở lại thêm ít phút nữa mà không được.  Nàng nói với chồng:

            -“Anh đợi em một lát, để em mang các thứ ra.  Nhưng anh mang quà vào trại bằng cách nào?”

            -“Anh gánh đuợc, em đừng lo.”

            -“Em nghe nói các anh được dùng xe ba bánh chở quà vào trại mà?”

            -“Bây giờ đang mùa thâu hoạch nên không có dư xe.  Khi có thân nhân tới thăm, ai cũng phải gánh quà vào trại.”

            Vân-Anh đi tới bên Thu:

            -“Chào anh, anh có khỏe không, anh có gặp nhà tôi thường không?”

            -“Cám ơn chị, tôi vẫn thường.  Tôi và anh gặp nhau luôn, dạo này anh trông khỏe hơn trước.  Bác gái có khỏe không, còn hai cháu ngoan chứ?”

            -“Má tôi gìa đi nhiều nhưng cụ dạo này khá, không đau vặt như trước.  Cụ hỏi thăm anh luôn.  Còn hai cháu của tôi ngoan.”

            -“Chắc anh sắp ra, chị cho tôi gửi lời thăm sức khỏe  bác.  Chúc chị trên đường về bình an.”

            Thu giúp chồng xách bao quà lên khỏi bậc tam cấp.  Nàng buộc hai bao lớn vào hai đầu đòn tre, còn túi xách đựng thức ăn anh sẽ phải xách tay.  Nàng nắm chặt tay chồng như không muốn rời xa.  Cán bộ đứng dưới sân nhắc:

            -“Anh Kim về thôi.  Ðã đến giờ nhập trại rồi.”

            Thu thấy chồng nắm chặt tay mình, anh nói:

            -“Em giữ sức khỏe nhé.  Trên đường về em hãy cẩn thận tầu xe.  Các con cần em lắm đấy.  Anh có lời kính thăm sức khỏe bố mẹ và me.  Anh gửi lời thăm các anh chị em và các cháu.  Bảo các con anh nhớ chúng nhiều lắm, anh sẽ viết thư cho các con sau.  Anh biết em thương anh nên đi thăm, nhưng cực cho em quá.  Khi có điều kiện, gửi quà cho anh qua bưu điện là đủ.  Hãy giữ lại cho em và các con khi cần.”

            -“Anh giữ sức khỏe nghe anh.  Em và các con mong anh sớm trở về.  Ráng chịu đựng anh nhé.”

            Thu thấy bàn tay chồng nới lỏng dần, rồi đột nhiên anh lại nắm chặt tay nàng.  Có phải trong lòng anh lúc này cũng không muốn xa rời người mình yêu thương.  Thu chợt bật tiếng khóc nức nở, nàng cảm thấy lòng mình như quặn thắt, như trống trải.  Những lời chia tay thật ngắn ngủi, mà tiếc thương đọng lại thật nhiều.

            Thu giúp chồng để gánh lên vai.  Hai bao qùa chĩu nặng kéo oằn hai đầu đòn tre.  Anh xốc lại gánh cho cân bằng.  Bước chân của anh hơi run.  Nàng biết gánh quá nặng đối với sức của anh.

            -“Liệu anh có gánh nổi không, đừng quá sức nghe anh.  Hay để em giúp anh xách vào trại?”

            -“Không được phép đâu.  Anh gánh nổi mà.  Em hãy cẩn thận trên đường về.  Anh vào trại nghe em.”

            Quang gánh lên vai, tay trái xách túi thức ăn, anh đưa tay kia nắm chặt tay Thu lần nữa.  Chiếc đòn gánh lắc lư hai đầu khi không có tay giữ.  Nàng vội giữ một bên túi để đòn gánh nằm yên trên vai chồng.  Ðôi mắt anh đang thấm ướt, đôi môi anh rung rung khi nói “anh yêu em.”

            Bước chân anh xa nàng dần.  Gánh nặng trên vai anh dần dần chĩu xuống.  Có phải chiếc đòn tre không chịu nổi sức nặng hai đầu, hay vai anh đang chùn xuống.  Dáng anh đi hơi lảo đảo.  Thu thấy chồng quay lại nhiều lần tay để vào môi. . . Như anh đang nhờ gió gửi cho nàng nụ hôn ấm áp, hay chỉ là những cử chỉ muốn níu kéo chút hạnh phúc chợt đến trong khoảnh khắc, mà đã chờ đợi suốt năm năm.

            Mới đi được năm chục bước, Thu thấy chồng để gánh xuống nghỉ.  Anh quay lại đưa tay vẫy khi thấy nàng còn đứng trên đường.  Thu định chạy lại giúp chồng, nhưng đằng kia anh đã quẩy gánh lên vai cất bước.

            Khi thấy chồng gánh, Thu mới hay thời gian vừa qua chồng nàng lao động cực khổ như thế nào.  Cả cuộc đời anh trước kia chưa có lần nào gồng gánh như bây giờ.  Nghe bạn anh kể lại, vào tháng hè nắng cháy, đội anh được khoán phải tưới xong mấy mẫu bắp cải trong ngày.  Anh và mấy bạn tù được ghi nhận là “khỏe hơn” mấy người già yếu bệnh tật trong đội, đã nhận lãnh công việc gánh nước từ giòng sông Mã lên vuờn.  Mặt sông ở dưới thấp, cách mặt vườn hơn ba mươi thước.  Các anh vai gánh hai thùng nước đầy, chạy trên con đường dốc từ mặt sông lên vườn.  Cát trôi dưới chân làm đôi gánh thêm nặng, quãng đường vì vậy dài thêm.

            Có phải được huấn luyện “cải tạo lao động” như thế nên bây giờ anh đã biết gánh.  Nhưng sức lực của anh sẽ tiêu hao dần với tháng ngày “học tập”.  Rồi đến một lúc nào đó liệu anh còn đủ sức để cất bước nữa không.  Thu ái ngại nhìn theo chồng cho đến khi anh mất hút vào lối rẽ.

            Mặt trời đã lên cao.  Ánh nắng gay gắt hâm nóng cả vạn vật.  Thu nhìn lại con đường mình đang đứng, phía sau lưng nàng đưa tới vùng núi rừng xa thẳm.  Phía trước là khu cơ quan, chiếc cột cờ bằng thân tre đơn độc, vượt lên khỏi những mái ngói rêu mốc loang lổ, nằm lấp xấp giữa vùng cỏ rậm.  Bên trái nàng là sân vận động khô vàng dưới ánh mặt trời.  Một số anh em “cải tạo” đang tháo phần tranh cũ của mấy căn cuối dẫy khu gia đình cán bộ.  Kẻ trên mái người dưới sân nhộn nhịp.  Từng lúc họ ngừng tay nhìn qua nhà thăm nuôi, chứng kiến cảnh xum họp rồi chia tay.

            Thu chợt nghe tiếng sáo miệng lập lại nhạc điệu “người yêu tôi đâu” trong phim bác-sĩ Zivago, nổi lên từ phía mái tranh.  Có lẽ anh đang chờ đợi người yêu thương chưa kịp tới, âm thanh nghe như  tang thương đứt đoạn trong lòng.   Và chính  lòng nàng lúc này cũng tan nát, như ký thác vào khúc nhạc buồn, đã diễn tả giây phút buồn tủi chia ly:

            “… Sao thời gian không ngừng trôi, để tiếc thương vương trên môi, và mắt hoen lệ rơi…”

            Phải, mối sầu đắng dâng lên, đang vò thắt trái tim cô đơn trống trải của nàng.  Con đường dài thăm thẳm, vẫn là con đường đất nhỏ ở giữa nơi núi rừng hoang vắng, xa hẳn xã hội bên ngoài, sao vương lại lòng nàng những hờn tủi tiếc thương.  Liệu con đường này có hẹn cho nàng một lần trở lại.

            Thu chợt buông tiếng thở dài, nàng cảm nhận một sự mất mát.  Hạnh phúc bỗng vuột khỏi tay nàng như một lần trở về tay không.

            Trở lại nhà thăm nuôi Thu thấy bạn đang đứng đợi chồng.  Vân-Anh nói:

            -“Thu vào nghỉ đi, trông bạn mệt mỏi lắm đấy.”

            -“Vâng.  Tôi sẽ ra chào anh sau, chúc bạn vui nhé.”

            Thu thẫn thờ bước vào nhà.  Nàng không giữ được  giòng nước mắt, với những tiếng nấc nghẹn đau thương. Trong nhà thật vắng.  Vợ con của nguời chồng tử nạn đã ra đi từ sáng sớm.        Chắc hai mẹ con chị ra thăm mộ người thân yêu lần chót.  Thảm cảnh của người tử nạn vẫn còn ám ảnh nàng.  Nhớ đến chồng, nếu anh ở vào trường hợp này thì mẹ con nàng sẽ ra sao đây.  Kiếp người thật mong manh, lúc còn khi mất quá dễ dàng đơn giản.  Thu lắc đầu, như cố sua đuổi hình ảnh đen tối vừa thoáng hiện.

            Còn Liên đã chia tay nàng sau khi từ giã người yêu.  Nàng cảm thương cho số phận hẩm hiu của người con gái này.  Không hiểu cuộc đời của Liên sau này ra sao.  Hay cũng như nàng, như bao nhiêu người vợ người yêu khác, khó hẹn một câu trả lời.

            Lòng nàng thật buồn, những tiếc thương vẫn làm nàng thổn thức.  Thu đã trải qua hành trình ba ngày trên tầu và một đêm ở đây.  Vượt qua hơn một ngàn cây số đường dài vất vả mà chỉ được nhìn mặt chồng hơn một giờ ngắn ngủi.  Thu nhớ mấy câu thơ, mà đến giờ phút này nàng mới thấy thấm thía.  Ý thơ diễn tả đúng tâm tư của nàng:

            “ Trùng phùng hẹn ước, trong giây khắc,

              Ðôi ngả chia tay, mấy dặm trường”

              Giọt lệ chưa khô, hoen mầu mắt

              Môi hồng phai sắc, nhuốm đau thương. . . .

            Phải, lòng nàng đang buồn tủi, tan nát trước những bất hạnh của một kiếp người vì thù hận.  Tâm trạng đau thương không phải chỉ có ở nơi đây, mà trải dài từ miền núi rừng hoang vắng đến vùng đô thị đông người.  Thu cảm thấy thất vọng những gì đang xẩy ra.  Niềm hân hoan hy vọng của mấy ngày trước vụt tan biến. Tâm tư nàng xót xa niềm nuối tiếc, mọi thứ như vuột khỏi tay nàng.

            Khi Thu đứng dậy mặt trời đã đứng bóng, các toán “cải tạo” đang về trại.  Mỗi lần đi ngang qua nhà thăm nuôi, bằng ấy cặp mắt quay nhìn mong gặp mặt người thân.   Vẫn quần áo tả tơi, mặt xạm nắng, thân hình gầy ốm, cất bước mệt mỏi như một khúc phim quay không dứt.  Không hiểu họ sẽ kéo dài sự sống được bao lâu nữa.  Hay những khối óc thông minh, những tay nghề siêu việt thay vì được xử dụng giúp đời, xây dựng lại đất nước sau bao nhiêu năm chiến tranh đổ vỡ.  Ðã bị một chút thành kiến giai cấp, hay vì quyền lợi của tập đoàn lãnh đạo mà bị hủy diệt, gục ngã nơi rừng núi hoang vu.  Nàng cảm thấy sự bất lực của con người, không phải trước quyền lực vạn năng của Thượng đế, mà là trước cái vô nhân của bạo quyền.

            Vân-Anh đang mang dần những bao quà ra cửa, Thu tới phụ bạn xách ra ngoài.  Nàng chào chồng bạn.

            -“Chào anh, anh vẫn thường chứ?”

            -“Cám ơn chị tôi vẫn thường.  Hôm qua gặp anh cho hay chị ra thăm.  Nghe nhà tôi nói về cháu lớn, tôi có lời chúc mừng anh chị.  Chúc chị đi đường bình an.”

            -“Cám ơn anh.  Các anh nhớ giữ sức khỏe.”

            Thu đứng lại trên thềm nhà, còn Vân-Anh đưa chồng qua mấy bậc tam cấp bước lên đường.  Nhìn thấy chồng bạn nàng không còn ngạc nhiên nữa.  Hình hài những người “tù cải tạo” đều giống nhau, bất kể tại miền Nam hay miền Bắc, vẫn chỉ là những thân xác đang tàn lụn. Nàng không tưởng tượng được sự thay đổi quá nhanh nơi chồng bạn, chỉ sau mấy năm “học tập cải tạo” con người đã biến dạng.  Nàng tội nghiệp vì họ còn quá trẻ.  Mới có với nhau hai đứa con nhỏ, thời gian yêu thương chưa được bao lâu đã phải chia tay.

            Vân-Anh trở lại sân vẫn chưa dứt được tiếng nức nở, nghẹn ngào, hai mắt đỏ hoe.  Thu thông cảm với bạn, vì chính nàng cũng vừa sống trong cảnh chia tay đầy nước mắt.  Nàng hỏi bạn:

            -“Vân-Anh định bao giờ mình rời đây.  Bây giờ cũng đã trưa rồi?”

            -“Thu có định ăn một chút trước khi đi không?”

            -“Bạn có đói không, còn mình không muốn ăn gì cả, vì có nuốt cũng không vô.  Nếu Vân-Anh không đói chúng ta nên đi sớm, gặp đâu ăn đó.”

            -“Thu tính như vậy tiện hơn, mình cũng muốn đi sớm.  Ở lại cũng chẳng được gặp mặt mà chỉ làm chúng mình buồn thêm.”

            Thu cầm giỏ xách xem lại những thứ mang theo, bộ quần áo giặt chiều hôm qua vừa kịp khô, chiếc áo len ngắn tay. . . Hành trang thật nhẹ nhàng, không giống khi đi tay xách nách mang.  Nhìn qua bạn, Vân-Anh cũng vừa thu xếp xong.  Cũng như nàng chỉ có một xách tay nhỏ.

                                                            *

2120.

            Thu và Vân Anh ra khỏi nhà thăm nuôi, con đường đất phía trước vắng tanh.  Khu gia đình cán bộ bên kia đường không còn tiếng động, lúc này đang vào giờ nghỉ trưa.   Còn quá sớm nên chưa có gia đình nào tới thăm nuôi.  Chuyến xe chở khách tới đây cũng phải xế chiều.

            Qua khỏi khu gia đình cán bộ, rồi nhà giữ trẻ.  Gần tới chỗ rẽ, không hẹn hai người cùng nhìn lại.  Nhà thăm nuôi  nhỏ bé, ẩn sau những bụi chuối trồng quanh nhà trông thật hiu quạnh.

            Tới chỗ rẽ, con đường thoải dốc nằm sát chân tường trại.  Bên phải là rừng lim, tàng cây rậm rạp che khuất ánh mặt trời, khiến khung cảnh núi rừng thêm âm u.

            Thu quay sang nói với bạn:

            -“Vân-Anh thấy không, chúng ta đã thấy tận mắt cách đối xử của nhà nước đối với người “cải tạo” miền Nam như thế nào. Miền Bắc có hàng trăm trại, ngay tại Thanh-hóa cũng có mấy nơi.  Hết Lam-sơn, Thanh-phong, đến Vườn Cam rồi Thanh-cẩm.  Ngày trước nổi tiếng miền Bắc có Ðầm đùn, Lý-bá-Sơ.  Còn bây giờ trại nào cũng chung chính sách đó, chưa kể trại Quyết-tiến là vùng đất chết của người tù cải tạo.”

            Vân-Anh gật đầu:

            -“Miền Bắc còn nhiều nơi khác nữa, rải rác khắp vùng rừng núi.  Chỉ cần một dẫy nhà tranh cũng trở thành nơi nhốt tù.  Rừng sâu núi cao đã là hàng rào thiên nhiên cầm giữ người “cải tạo”.  Những nơi này có bao giờ để cho các cơ quan thiện nguyện hay báo chí quốc tế tới thăm đâu, có khi nó không có tên trong danh sách công khai.  Thu có nghe nói tới trại Hà-tây không, ở đó sướng lắm thì phải.”

            -“Cái đó cũng dễ hiểu thôi.  Vì nằm sát Hà-nội, nên là một trại trình diễn về cách đối xử nhân đạo của nhà nước đối với tù cải tạo miền Nam.  Trại có ít người, đa phần là những nhân vật tên tuổi của miền Nam trước đây, nên được hưởng quy chế đặc biệt.  Người ta gọi “trại cải tạo là địa ngục trần gian”, thì anh em “tù cải tạo” bảo Hà-tây là “thiên đường nơi hạ giới”.

            -“Như vậy trại Thanh-cẩm ở loại nào?”

            Thu ngao ngán thở dài:

            -“Dù không bì được với trại Quyết-tiến, trại Thanh-cẩm vẫn còn âm vang cũ.  Mặc dù mang tên mới để mọi người không bị ám ảnh bởi thành tích cũ, nhưng ếch nào chẳng là thịt, vì vậy kỷ luật vẫn kinh người.”

            -“Thu thử nghĩ xem, chỉ nghe qua một vài chuyện kể ở nơi đây, mình không hiểu tại sao các anh “cải tạo” có thể kéo dài sự sống đến ngày hôm nay.  Hai năm trời đâu phải là ngắn, họ phải sống ở một nơi dài rộng bằng mấy bước chân, trong bóng tối ngày cũng như đêm, có được nhìn thấy ánh mặt trời đâu.  Không kể phải ngủ chung với những ống tre đựng đồ phế thải của thân thể, trong khi chân bị cùm xích.  Liệu Côn sơn  Phú-quốc có bì được với nơi này không?”

            -“Vân-Anh nói đúng đó.  Trước ngày 30/4, có hội đoàn phản đối về sinh-hoạt đời sống tù nhân miền Bắc bị bắt trên chiến trường miền Nam.  Nào là ăn uống không đủ chất dinh dưỡng, chỗ ở không thoáng khí. . . .”

            Vân Anh góp lời:

            -“Ấy là chính quyền miền Nam đã cho tù ăn ngày ba bữa, với chất ngọt chất béo đầy đủ.  Bởi thế trước ngày 30/4/75 có một câu nói: “nhất tù, nhì quân khuyển, thứ ba mới tới nhân viên an ninh trại”.  Nghe có vẻ tiếu lâm nhưng lại là một sự thật.  Còn đời sống những người tù miền Nam trong các “trại cải tạo” của cộng-sản ra sao, thử hỏi có ai là người để ý tới.”

            -“Vân-Anh thấy không, đúng là cảnh “dậu đổ bìm leo”, chung quy chỉ đám dân đen là khổ.  Mình nghĩ miền Nam khi đó như chiếc áo, hết thành phần này đến thành phần khác dành giật, khiến chiếc áo tả tơi làm nhiều mảnh.  Họ đòi hỏi quyền lợi đè đầu cưỡi cổ người dân, chia chác mấy ghế đại diện.  Khi cộng-sản chiếm trọn miền Nam mới lòi ra là một thứ công cụ.”

            Hai người trở lên yên lặng, như uất ức đã làm nghẹn lời.  Qua khỏi vòng tường trại, cánh rừng lim phía bên phải bị đẩy ra xa, khung trời mở rộng.  Con đường đất như con trăn khổng lồ đang trườn mình trên sườn đồi.  Khi tới gần đỉnh dốc, chỗ ngọn núi xẻ đôi, phía trước chỉ thấy màn mây trắng xóa, con đường đất đổi chiều đổ dốc về sườn núi bên kia.  Từ trên đỉnh dốc nhìn lại, khu trại nằm trong vòng tuờng cao mầu xám lợt, hiện ra như một ốc đảo hoang vắng đơn độc,  trông thật  nhỏ bé giữa khung cảnh rừng núi trùng điệp hùng vĩ.  Phía xa xa nơi làng Ngọc, ngọn núi cao ngất, mây trắng đã che mất phần đỉnh, sương khói bao quanh, phủ mờ mầu xanh của cây rừng.

            Con đường đất vươn lên cao, khiến giòng sông Mã nằêm sâu dưới chân núi.  Giờ này nước thủy triều đang lên, vẫn một mầu nâu đục.  Mặt nước bắt đầu lan dần vào cồn bãi bên kia bờ sông, chẳng bao lâu mặt sông sẽ trải rộng lấn vào bìa làng, bao trùm cả một vùng đồng cỏ.  Khu làng  nhô lên khỏi mặt nước như một cù lao.   Và khi buổi chiều tắt nắng, nước ồ ạt kéo về, giòng sông Mã chẩy nhanh như bóng ngựa.

            Khi tới khu trồng sắn, Vân-Anh bỗng nói:

            -“Thu nhớ không, chiều hôm qua chúng mình tới chỗ này có gặp một số đông  dân làng quần áo nhiều mầu, lưng mang gùi đang mót sắn.  Sao hôm nay không thấy họ?”

            Thu quay qua bạn:

            -“Nghe người đánh xe trâu cho hay họ là dân huyện Cẩm-thủy, cách đây hơn mười cây số, vì thiếu thực phẩm nên tới các trại cải tạo miền Nam để mót sắn.  Thường thường họ lấy được nhiều, vì các anh “cải tạo” để lại cho họ một phần.”

            -“Hôm nay mình đi trở ra thấy con đường như gần hơn.  Bạn đã nhìn thấy trại hình sự ở phía xa chưa?”

            -“Tuy nhìn thấy nhưng cũng còn xa lắm.”

            Rừng tre đang ở phía trước.  Thu nhớ sắp tới con suối băng qua đường.  Giờ này chắc nước chưa sâu, vì hôm qua tới trễ hơn mà mực nước mới cao ngang đầu gối.

            Khi tới con suối, nước mới ngang bắp chân, trong vắt mát rượi.  Thu bảo bạn:

            -“Ngồi nghỉ một lát đi Vân-Anh, cũng sắp tới trạm xe ngừng, chúng ta còn dư thì giờ.  Nước suối mát lắm.”

            Vân-Anh theo bạn dừng chân.  Thu xắn cao quần đi lại giữa giòng suối.  Nước suối thật mát giữa buổi trưa nóng bức. Thu ngồi trên tảng đá trồi lên giữa giòng suối, cúi người vốc nước rửa mặt, thả hai chân khỏa trên mặt nuớc.  Làn nước mát làm nàng dễ chịu.

            Thu rời tảng đá bước lên bờ, vuốt thẳng hai ống quần.  Hai người tiếp tục đi theo con đường đất nằm giữa khu rừng tre dầy đặc.  Tới trạm xe Thu bảo bạn:

            -“Mình đứng đây đợi sẽ không có vé lên xe, vì họ bán vé ở trạm trót.  Vân-anh ở đây đợi, khi xe từ Thanh-hóa xuống tôi sẽ theo xe lên trạm mua xé.  Khi xe trở lại bạn lên xe thì tốt hơn.”

            Vân-Anh gật đầu:

            -“Bạn lo cho tôi nhé.  Tự nhiên mình cảm thấy hơi chóng mặt, người yếu đi như  không bước nổi nữa.”

            -“Vân-Anh ngồi nghỉ đi, mặt bạn hơi xanh đấy, xoa một chút dầu gió sẽ thấy dễ chịu hơn.”

            Xe Thanh-hóa tới ngừng trước trạm.  Ðợi những người xuống xong Thu mới lên xe.  Trong xe chật ních, không có lấy một chỗ trống, nàng phải đứng trên bậc lên xuống phía cuối xe.  Hai tay Thu bám chặt vào cánh cửa đã cắt bỏ nửa phần trên.

            Tới trạm, Thu mua hai vé đi Thanh-hóa.  Lúc trở ra xe, những người có vé đã lên trước.  Nàng lại phải đứng cuối xe như lúc lên đây.

            Khi tới nơi Vân-Anh đứng đợi, Thu kéo bạn lên đứng chung với mình ở bậc xe lên xuống phía ngoài cánh cửa.  Cũng may đường xấu nên xe không chạy nhanh.  Nhưng mỗi lần xe chạy qua những ổ gà, hai người phải bám chặt vào cửa xe để không bị hất xuống đường.  Những khi xe rẽ trái hay phải, hai người cũng dạt qua dạt lại.  Và lúc xe vòng quanh chân đồi hay lên dốc cao, Thu có cảm tưởng nàng đang đánh đu ngoài cánh cửa.

            Tới Thanh-hóa trời còn sớm, vì mãi tám giờ tối tầu mới khởi hành, Thu rủ bạn đi thăm mấy con phố gần ga.  Hai bên đường san sát những căn nhà liền vách, vẫn mái ngói tường xây.  Có lẽ đã lâu ngày không tu sửa đổi mới nên cũ kỹ và hư hỏng.  Ít  xe có động cơ qua lại, đa phần là xe đạp.  Thu quay qua Vân-Anh:

            -“Vân-Anh nhớ không, khi còn đi học mình đã đọc sách nói về thành phố du lịch này, và hằng ao ước tới thăm nơi đây.  Nghe nói trước ngày di cư thành phố này tuy nhỏ nhưng đẹp và sạch vô cùng.  Từ con đường này tới ngã tư phía trước rẽ tay phải là hướng ra biển.  Một vùng biển còn giữ được nhiều nét thiên nhiên.”

            -“Mình cũng như Thu, trước khi di cư vào Nam vì còn nhỏ nên chẳng được đi đâu xa.  Mình có theo bố mẹ đi Hạ-long, Ðồ sơn nhưng cũng chưa đủ lớn để thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên.  Mình chỉ biết Sầm Sơn qua chuyện kể.  Không ngờ giờ phút này mình đang ở sát bên, nhưng rất tiếc không có thì giờ để thăm viếng.”

            -“Mình cũng không nhớ rõ tại sao vùng biển này mang tên Sầm Sơn, nhưng âm thanh cho mình cảm nghĩ đó là một nơi hoang sơ kỳ bí.  Sầm Sơn không giống Vũng Tầu hay Nha-Trang, những nơi có nhiều dấu tích do bàn tay con người góp phần xây dựng.”

            -“Nghĩ mà tiếc.  Thu thấy không,  điều mình ao ước từ lâu mà giờ phút này cũng không thực hiện được dù trong tầm tay với.  Mình vốn thích biển, nên nghe kể đã nôn nóng.  Còn gì vui bằng, cách biển cả cây số đã nghe thấy tiếng sóng gầm.”

            -“Mình cũng thích biển như Vân-Anh.   Nhưng nét đặc biệt của vùng biển này là sự yên lặng, lác đác những căn biệt thự xinh xinh ẩn mình trong rừng phi lao.  Các con đường trải nhựa sạch bóng, vì được gió biển thổi sạch những rác rến rải rác trên mặt đường.”

            -“Có một điểm mà ở nơi đây khác với các vùng biển khác là, đứng trên đường nhìn ra biển, mép nước còn khá xa, chỉ thấy thềm cát thoải dốc bao la.  Không giống như Vũng Tầu, các dan hàng nằm sát bãi tắm, khiến cảnh biển như thu hẹp lại.”

            Thu tiếp lời:

            -“Nghe chồng mình kể lại, anh đến đây trước ngày di cư  vào Nam.  Anh thường ra biển vào buổi sáng sớm, nhìn những trái thông còn nguyên cánh nhọn, theo gió thổi từng đàn lăn trên thềm cát mịn.  Từ thềm cát này phải đi một khoảng xa mới tới biển.  Ôm sát bờ nước là những tảng đá lớn tròn trịa như những viên sỏi không lồ, nằm xếp lớp với nhau nhẵn bóng một mầu vàng nâu.”

            Giọng Vân-Anh bỗnhg trở lên tiếc nuối:

            -“Nói như vậy, nhưng trước mắt chúng ta, thành phố này có phải là thành phố ngày xưa, với tâm tư người dân thuở trước.  Hay cảnh cũ đã thay đổi, mà với tâm tư của chúng ta bây giờ, khi đứng trước cảnh biển bao la, khung cảnh thơ mộng, liệu có tìm thấy nguồn vui trong lòng.”

            -“Vân-anh nói đúng đấy.  Khi di cư vào Nam mình còn nhỏ nên không nhớ nhiều về miền Bắc.  Mình chưa có kỷ niệm riêng tư, ngoại trừ một ít hình ảnh về Hà-nội và quê hương Sơn Tây của mình.  Bây giờ đứng trước khung cảnh này,  chắc làng quê mình cũng không còn như xưa.”

            Hai người trở lại ga xe lửa khi trời vừa tối. Những quán nước nhỏ nhộn nhịp với khách đợi tầu. . . .

                                                   *

    21.

            Thu tựa sát vào vách tầu.  Nàng xoay người trên khung ghế gỗ mong tìm một vị thế thoải mái.  Nàng muốn duỗi thẳng hai chân, vuôn vai cho đỡ mỏi, nhưng chỗ ngồi quá chật hẹp.  Còn phía dưới chân, nơi gầm chiếc bàn nhỏ giữa hai hàng ghế, hai người ngồi đối diện đã để đầy đồ.

            Thu như một lực sĩ chạy nước rút, cơ thể rã rời khi về tới đích.  Sau mấy ngày đường ăn ngủ thất thường, sức lực như tiêu tan, còn tâm hồn trống trải mất mát.   Nhìn qua Vân-Anh, nàng hỏi bạn:                                                                      22(Đèo Hải Vân)

            -“Vân-Anh có mệt không, ngủ một chút cho khỏe.  Trông bạn mệt mỏi lắm đấy, còn mình cơ thể cũng rã rời.”

            Vân-Anh nhìn Thu gật đầu:

            -“Mình cũng vậy, mặc dù đêm hôm qua đã ngủ được một giấc, nhưng đầu óc vẫn nặng nề, chân tay như đi mượn.  Còn Thu chắc mệt lắm, vì bạn ngủ rất  ít.”

            -“Mình giống như người quá bữa, bụng đói mà nuốt không vô, muốn ngủ mà đôi mắt khô cứng.  Lúc đi nôn nóng bao nhiêu, khi về lòng mình buồn bấy nhiêu.”

            -“Thu thấy không, trước khi gặp mặt mình dự tính nhiều điều muốn nói, nhưng khi gặp lại khó mở lời.”

            -“Chẳng riêng gì Vân-Anh.  Không phải vì thời gian gặp mặt quá ngắn ngủi, hay vì có mặt người cán bộ luôn luôn theo rõi, mà phần lớn vì hình ảnh chúng ta nhận được quá đột ngột, khiến mình xúc động ngỡ ngàng.”

            -“Mình cũng có ý nghĩ như bạn.  Mình có cảm tưởng người chồng trước mặt, chỉ sau mấy năm “học tập cải tạo”, đã khác hẳn với con người ngày trước.  Hoàn cảnh sống đã thay đổi hình dáng con người, liệu những đầy ải này có ảnh hưởng tới tinh thần hay không.”

            -“Cũng may sáng hôm nay Vân-Anh mới gặp mặt, tương đối quần áo anh ấy đã chỉnh tề, sạch sẽ.  Còn tôi gặp nhà tôi hôm qua, khi anh đang lao động bên đường.  Có phải xúc động vì lâu ngày không gặp, hay sức khỏe đã quá suy nhuợc, nên hố sâu ngang thắt lưng mà anh phải nhẩy hai lần mới thoát lên miệng hố.   Chiếc áo xanh trại phát xé ngắn tay đã bạc mầu, lưng và vai vá bằng mảnh vải kẻ ô vuông mà tôi đưa cho anh vào lần thăm năm năm về trước.  Mình không cầm được nước mắt.”

            -“Mình cũng xúc động như Thu.  Trong lòng mình như mang một niềm đau bất tận.  Khi miền Nam mất vào tay cộng sản là chúng ta mất tất cả.  Nhưng có điều mình luôn nhớ lời tuyên bố của nhà nước hứa hẹn sau ngày chiếm trọn miền Nam: “vì tình ruột thịt, nghĩa đồng bào đã khoan hồng. . . .”

            -“Mình nghĩ vì lâu ngày không gặp, niềm yêu thương làm mình xúc động mà mất đi nhận xét chính xác.  Nhưng đến sáng hôm nay, khi nắm bàn tay chai cứng, cánh tay khẳng khiu, vai trơ xương lòng mình càng chua xót.  Giọng nói của anh cũng khác lạ, thều thào như người vừa dứt cơn bệnh nặng, vì hàm răng rụng quá nhiều.  Mình tự hỏi, ở hoàn cảnh này liệu anh còn sống được bao lâu nữa.”

            -“Mình cũng băn khoăn như Thu trước những lời hứa hẹn.  Nhà nước  đề cao “lá lành đùm lá rách, máu chẩy ruột mềm” như một nghĩa cử, mặc dù chỉ là sự khoan hồng cho người cùng nòi giống trở thành thù địch sau một lần xâm lăng.  Sau bao nhiêu năm thi hành chính sách khoan hồng, hưởng sự giáo dục bằng đường lối lao động, chúng ta chỉ thấy thân nhân mình chết dần mòn trong các trại cải tạo.”

            -“Nhiều người cũng có nhận xét như Vân-anh, chúng ta vẫn thắc mắc trước những nghịch lý.  Nào là “khoan hồng nhân đạo”, nào là “tình nghĩa đồng bào ruột thịt” được điểm tô bằng danh từ “chính nghĩa”.  Mình  không hiểu thế nào là “công đạo” khi cưỡng chiếm của cải vật chất của người miền Nam.  Khi bắt tù đầy hàng triệu người miền Nam trong các trại “tập trung cải tạo”.  Ðấy có phải là “lòng nhân đạo” đã được nêu cao, hay chỉ là một thứ “chính nghĩa” của bạo quyền.”

            Vân-Anh buồn bã:

            -“Phải, chúng ta đang được hưởng thành quả của chính sách “khoan hồng nhân đạo” của nhà nước Xã-hội Chủ-nghĩa.  Và trong lòng chúng ta đang mang một vết thương tủi nhục hận thù trước cảnh nhà tan cửa nát vì hai chữ chính nghĩa.”

            Thu nghe bạn thở dài như đang cố nén niềm tủi hận.  Nhìn nét mặt Vân-Anh thật buồn, nàng hỏi bạn:

            -“Có chuyện gì mà trông Vân-Anh buồn thế?”

            -“Tuần trước gặp bạn mình vui quá.  Chúng mình có  nhiều chuyện để nói trong suốt thời gian không gặp, thành thử chưa nói Thu biết về ý định vượt biên của mình.  Lần này ra thăm, mình đã cho chồng mình hay là sẽ cho các cháu theo gia đình đi vượt biên.”

            Thu vội hỏi:

            -“Phản ứng của anh ấy thế nào.  Bạn nghĩ kỹ chưa?”

            -“Dự tính này có từ lâu, gia đình mình đã sửa soạn đâu vào đấy.  Thực khó mở lời từ biệt với người mình yêu thương.  Mình thấy tội nghiệp cho chồng, vì vợ con là nguồn yêu thương an ủi duy nhất của anh.  Nhiều khi mình muốn dứt khoát dẹp bỏ ý định ra đi vì nghĩ đến anh ấy.

            Cuộc đời chúng mình đã muộn màng mặc dầu chúng ta còn rất trẻ.  Nhưng còn các con mình, chúng có tương lai của chúng.  Dưới một chế độ mang đầy tính hận thù này, thì năm mười năm nữa chúng sẽ ra sao.  Hay chúng sẽ được giáo dục hận thù cả với người sinh thành ra chúng.”

            -“Mình cũng có ý nghĩ như Vân-anh.  Nghĩ tới tương lai các con, lòng mình càng chua xót.”

            -“Thực ra mình luôn ở trong tình trạng đứng giữa ngã ba đường, một bên là chồng một đằng là con.  Mình mong đợi ý kiến của anh ấy sẽ là quyết định sau cùng, để mình chọn lựa ra đi hay ở lại.”

            Thu vội ngắt lời bạn:

            -“Anh ấy đồng ý với quyết định của Vân-Anh?”

            -“Vâng, chồng mình đồng ý để mình đưa các cháu ra đi, và còn nhắc đừng lo lắng quá nhiều cho anh ấy, hãy lưu tâm dậy dỗ các con lên người.  Anh không nói một lời cản lại, cũng không hỏi ai là người sẽ lo cho anh ấy sau khi mẹ con mình ra đi.  Mình càng chua xót khi nhìn nét mặt thật buồn của anh.   Lúc đó lòng mình cũng dấy lên niềm đau xót với viễn ảnh đen tối, nếu một mai không còn gặp lại chồng mình, có phải mình sẽ hối hận suốt đời không.”

            Thu im lặng, nàng cảm nhận nỗi đau thương nơi bạn, cũng như hành động của chồng Vân-Anh.  Anh không muốn mình là một gánh nặng cho gia đình, có mặc cảm thừa thãi như một loài tầm gửi.  Cuộc sống không ngày mai của người “tù cải tạo” còn gì để hứa hẹn, đã buộc anh phải chấp nhận mọi hoàn cảnh xẩy đến.

            Thu nắm tay bạn:

            -“Mình biết Vân-Anh rất khó xử.”

            -“Mình đã mất nhiều đêm không ngủ, đã suy nghĩ kỹ về chuyến ra đi này.  Nhiều lúc tự hỏi, có phải mình  chạy trốn nền “Hòa bình” ở nơi đây không.  Có phải mình  chối bỏ sự “Tự-do” mà chế độ  này “ban” cho không.  Tại sao những người còn ở lại trên giải đất thân yêu này vẫn hăm hở tìm cách ra đi, coi như mảnh đất quê hương không còn là nơi dung thân của họ.  Mặc dù họ hiểu rằng, nơi mà họ tới được gọi là vùng đất hứa, vẫn cho họ mặc cảm tạm bợ, tha phương.”

            Thu cảm thấy lòng mình chua xót trước suy tư của Vân Anh, nàng tiếp lời:

            -“Mối lo của mình trước cảnh “con không cha như nhà không nóc”, nhìn đám trẻ lớn lên trong hoàn cảnh này mà thương.  Liệu chúng có được sự bình lặng trong tâm hồn để vươn lên trong đời sống, hay sẽ bị gò bó bởi giáo điều độc hại mà mai một tài năng.”

            -“Thu thấy không, nhiều lúc thấy những việc xẩy ra trong đời sống hiện tại, mình  nhớ đến chuyện xưa.  Trước ngày bị xâm chiếm, người miền Nam đã “trót” được hưởng một đời sống “Tự-do Dân chủ”.  Dù đời sống đó chưa hoàn toàn, nhưng người dân còn cảm thấy mình được sống với đầy đủ quyền sống của con người.  Còn bây giờ, dưới chế độ này, chúng mình không biết tương lai đi về đâu.  Tại sao chúng ta phải chấp nhận sự hy sinh to lớn như thế này.  Một cuộc sống chồng một nơi con một nẻo.”

            Thu cảm thấy buồn lây khi nhìn những giọt lệ đang lăn dài trên má bạn.  Như chính lòng nàng lúc này, niềm tủi nhục uất nghẹn trào dâng.  Nàng nắm tay bạn, những mong chia sẻ nỗi lo âu thống khổ.

            -“Vân-Anh thấy đó, sau lần cháu lớn ra đi mình đâm sợ cảnh vượt biên.  Nguời tổ chức mong thâu được nhiều tiền.  Tầu thuyền đã nhỏ lại cũ, máy móc sửa chữa nhiều lần, lại ham chở nhiều người.  Mức an toàn rất thấp, ấy là chưa kể những nguy hiểm dọc đường.  Bạn phải xem xét cẩn thận mới được.”

            -“Lần đi này do anh mình tổ chức, sửa soạn đã lâu, mọi thứ hoàn toàn thuận lợi.  Những người đi chuyến này là thân nhân gia đình mình.  Vì thương mình là con út, lại gặp cảnh không may nên mọi người nán đợi quyết định của mình là khởi hành.  Thu có ý định cho các cháu đi không.  Thuyền còn dư nhiều chỗ lắm.  Sang đó mình giúp nhau sống, chắc cũng không gặp khó khăn.”

            -“Cám ơn Vân-Anh đã nghĩ tới mình và các cháu.  Mình đã nghĩ tới điều này khi cháu lớn ra đi.  Mình quyết định không đi vì không nỡ để anh ấy ở lại một mình, mặc dù hy vọng xum họp thật mong manh.  Nhiều lúc mình cũng có ý nghĩ như Vân-Anh, chúng mình hãy hy sinh tình riêng cho các con.  Nhưng ra đi trong lúc này mình chưa sửa soạn tinh thần.  Dù sao cũng cám ơn bạn đã nghĩ tới mình.”

            Ðã nhiều lần Thu được bạn rủ đi vượt biên.  Ngay sau khi đứa con lớn ra đi, chủ tầu chỗ nàng dậy học đã giúp nàng nhiều cơ hội, nàng vẫn từ chối. Không phải vì sợ hãi những bất trắc trong chuyến đi, mà lòng nàng không muốn rời xa chồng, mặc dù khi đó bặt tin anh, biết anh còn sống hay đã chết.  Nàng vẫn muốn chờ đợi, vẫn mong có ngày gặp mặt.  Còn bây giờ ra đi, có khác gì hai phương trời cách biệt, liệu còn gặp lại nữa không.

                                                                       *

     22.

            Sông Bến Hải hiện ra lờ mờ trong bóng đêm.  Con tầu đã lọt vào lòng cầu Hiền-lương. Thu nhớ đến bài hát về con sông này.  Lời ca như tiếng khóc chia tay của kẻ ra đi và người ở lại.  Và chính lúc này âm hưởng của bản nhạc gieo vào lòng nàng nỗi buồn thấm thía.  Giòng sông này đã trở thành lằn ranh chia cắt, ngăn cách tình cảm huynh đệ bằng ý-thức.  Ðã biến nửa phần kia của một quốc gia trở thành thù địch.

            Sau chiến dịch mang tên “Bác”, người dân hai              23(Cầu Hiền Lương sông Bến Hải)                                                        miền chờ đón một hình ảnh thống nhất.  Nhưng thực                                                                     ra chỉ mới thống nhất về phương diện địa dư, mà lợi điểm là người miền Bắc không còn phải hy sinh mạng sống con em mình khi đánh phá miền Nam.  Còn người miền Nam phải chấp nhận một hoàn cảnh đắng cay hơn là khi quốc gia còn chia cắt.  Thật mỉa mai khi đọc bài thơ, mà ý thơ như một “bài ca vinh quang” cho ngày “đại thắng”:

            “. . . . . .

            Bảo Ðộc-lập, cứ cho là Ðộc-lập

            Thống-nhất rồi sao lại mất Tự-do

            Cha đi tù, đàn con dại bơ vơ

            Người vợ trẻ cuộc đời đành dang dở

            Bảo huyết thống ông cha cần phải giữ

            Gốc gia đình sao nỡ bắt chia ly

            . . . . . . “

            Thử hỏi người miền Nam có tội tình gì khi họ hết lòng bảo vệ mảnh đất mà họ yêu thương, bảo vệ đời sống Tự-do mà họ lựa chọn.  Sau ngày thống-nhất, nhà nước cho họ đặc ân bữa rau bữa cháo tại vùng kinh-tế mới.  Ðược sống xa gia đình tại các trại cải tạo ở vùng rừng núi miền Nam, hay phát vãng nơi rừng thiêng nước độc tại miền Bắc.

            Nhiều lúc nàng tự hỏi, tại sao lại gây ra cuộc nội chiến, để hàng nhiều triệu người kể cả cầm súng lẫn tay không phải hy sinh.  Và sau khi chiếm trọn miền Nam, hàng triệu người phải tù đầy, gia đình ly tán.

            Nhà nước có quyền gì bắt người khác phải chết.  Hàng trăm ngàn người bỏ thân nơi biển cả hay vùng biên giới, vì đã “bỏ phiếu bằng chân” .  Liệu đó có phải là giá của một nền “Tự-do”, một quốc gia “thống-nhất” mà dân tộc này phải trả.

            Thu nhớ tới Liên, người con gái với lòng yêu thương tha thiết đã vô vọng đợi chờ.  Chị Vân, người đàn bà để tang chồng khi còn rất trẻ với đàn con dại.  Và còn rất nhiều trường hợp đau thương khác nữa.  Họ phải sống thế nào trong một xã hội có quá nhiều thay đổi.

            Còn những người dân nghèo mà nàng gặp ở ga Thanh-hóa, họ đã hy sinh  cả người lẫn của cho một ảo vọng “nêu danh anh hùng” để được những gì.  Thu không thấy ở họ một chút hận thù, mà chỉ lộ ra lòng quý mến thân thương của một dân tộc vốn giầu tình cảm.  Họ cũng chẳng quan tâm tới “ba giòng thác cách mạng” hay “chủ thuyết Mac-Lê bách thắng”, vì hàng ngày phải đương đầu với kẻ thù là “giặc đói, giặc rét” mà chính sách ưu việt của chế độ này mang đến cho họ.

            Hay đám dân nghèo huyện Cẩm-thủy, đi bộ gần hai chục cây số tới trại tù cải tạo Thanh-cẩm, nhặt mót những củ sắn mà anh em “cải tạo” miền Nam để lại cho họ.

            Rồi đến người nữ cán bộ trại Thanh-cẩm, vì lòng yêu nước chống thực dân đô hộ, mấy đời hy sinh cho cách mạng, đã bỏ đời sống sung túc tại quê hương Lai châu để có cuộc sống hẩm hiu nơi góc rừng Bái Thượng.  Sau nhiều năm quốc gia thống nhất, cô vẫn ao ước có được một ngày ấm no hạnh-phúc.

            Thu xót xa nghĩ đến chồng, liệu nàng còn cơ hội gặp lại nữa không, được chung sống hạnh-phúc như trước khi  thống nhất không.

            Vân-Anh cựa mình kéo Thu trở về thực tại, nàng hỏi bạn:

            -“Vân-Anh ngủ được chút nào không.  Có thấy khỏe hơn không?”

            -“Mình vừa chợp mắt đã nằm mơ thấy những chuyện đâu đâu. Giấc ngủ vì vậy mà chập chờn.”

            -“Tại bạn suy nghĩ nhiều đấy thôi.  Mọi việc rồi sẽ đâu vào đấy.  Cùng tắc biến phải không?”

            -“Thu biết không, từ lúc rời trại Thanh-cẩm đến giờ, mình luôn luôn bị ám ảnh bởi những điều đã nói với chồng mình.  Ðành là chuyện gì cũng phải biến, nhưng chuyện này quá quan trọng.  Mình là người quyết định, phải chấp nhận hậu quả nên hay không do quyết định của mình.”

            -“Ðành là khó khi quyết định một việc hệ trọng.  Nhưng Vân-Anh đã suy nghĩ, cân nhắc thì quyết định không hẳn là sai lầm.  Chúng ta ít nhiều cũng phải hy sinh về mặt này hay mặt khác.”

            -“Nhiều lúc để tự an ủi và trấn an tinh thần đang rối loạn, mình cũng nghĩ như Thu, trăm điều cũng chỉ vì tương lai các con.  Anh ấy thông cảm và khuyến khích quyết định của mình.”

            -“Nếu anh ấy cũng tán đồng quyết định của Vân-Anh, mình nghĩ bạn cũng không nên quá lo lắng.”

            -“Nhiều lúc không phải để than thân trách phận, mình cũng đã đặt câu hỏi tại sao chúng ta lại rơi vào hoàn cảnh khó xử này?”

            -“Vân-Anh thấy đó, chúng mình cùng mang một tâm tư, có chung một cảnh ngộ.  Cuộc sống mỗi ngày thêm nặng nề ngột ngạt.  Mình không hiểu nổi chủ trương chính sách của chế độ này sẽ đưa dân tộc đi về đâu.”

            -“Ðấy là mối ưu tư và cũng là lý do mình cho các cháu ra đi.  Sau nhiều năm thống-nhất, nhà nước vẫn cố gắng hâm nóng thành tích chiến thắng miền Nam.  Thử hỏi có người miền Nam nào mà không tủi hận về niềm đau của mình, như vết thương đang rỉ máu.”

            Thu tiếp lời bạn:

            -“Thay vì sau khi thống nhất, phải hàn gắn những đau khổ do một cuộc chiến phi lý gây lên, xóa bỏ thù hận để kiến thiết xây dựng quốc gia xứ sở, người ta lại “ban” cho đám dân nghèo khổ này một nền “Tự-do đóng khung.”   Thay vì đoàn kết dân tộc họ lại đào sâu  hố chia rẽ, để lộ dã tâm của những kẻ xâm lăng.  Thử hỏi có người dân nào còn thật lòng chung lưng đấu cật.”

            -“Thu thấy không, đó là điều thê thảm nhất mà chúng ta phải gánh chịu.  Người ta đã tô son điểm phấn cho hành động “giải phóng dân tộc”, được nêu cao như một “chính nghĩa”.  Nhưng sau khi thống nhất họ đã chôn vùi chính nghĩa, cướp bóc tài sản của người miền Nam, biến “giải phóng” thành một cuộc “xâm lăng”.  Và vào giờ phút này, chúng ta mới nhìn rõ mặt trái của lòng “nhân đạo khoan hồng” đối với người “tù cải tạo” miền Nam.  Có phải vì hận thù, hay nhắm mục tiêu thống trị mà hủy diệt tương lai dân tộc.”

                                                                        *

23.

            Con tầu vượt qua bao nhiêu địa danh đã một thời dẫy đầy máu lửa.  Một Quảng-trị đổ vỡ tan hoang rồi đến Huế điêu tàn.  Từ Tết Mậu Thân  đến mùa hè đỏ lửa, người ta thắt giải khăn xô cho những vùng đất, mà hàng nhiều ngàn người dân vô tội đã gục ngã trong mồ chôn tập thể như ở Ðập Ðá đến Phú Cam rồi Nam- giao. . .  Những tiếng kêu khóc thảm thiết của các bà mẹ, những người vợ trẻ và đám trẻ thơ trước hình hài chết không toàn vẹn thân thể của người thân.  Tiếng gào thét của các nạn nhân bị hành quyết vang dội khắp miền Trung trong những năm khói lửa.

             Những hình ảnh đó luôn ám ảnh tinh thần người miền Nam, đã khắc sâu mối hận khó quên.   Nguời cộng sản dựa vào hai chữ “chính nghĩa” để bắt người dân vô tội phải chết.  Ðó có phải vì tham vọng bá quyền hay cũng chỉ là một thứ tay sai cho một loại thực dân mới.                                                          24 (Dựng Cờ:  Quang Trị 1972)

            Người dân hai miền có nhận xét, Ðảng và nhà nước đạt thắng lợi lớn sau trận chiến “đại thắng mùa xuân”, vì nhuộm đỏ được giang sơn từ Bắc vào Nam, nhưng phần thảm bại lại dành cho dân tộc khốn khổ này.

            Trong suốt chiều dài lịch sử giữ nước, dù dưới ách đô hộ của ngoại bang, dân tộc chúng ta luôn hòa hợp, chung lưng đấu cật chống ngoại xâm, giang sơn một mối.  Có chăng chỉ là sự ngăn cách giữa người dân với nhà nước cộng sản.  Ðảng và nhà nước lầm tưởng “sự thống-nhất sẽ phá vỡ ý tưởng ngăn cách.  Sự sống chung là đầu mối của hòa giải để hòa hợp.”  Nhưng tiếc thay vẫn chính sách cũ, nhà nước buộc người dân phải sống trong khuôn khổ, phải theo đúng đường lối nhà nước đã vạch sẵn.  Mọi cố gắng đã trở thành vô ích, và người dân ngày càng xa chính quyền.

            Mỗi khi nghĩ tới đời sống người dân dưới chế độ hiện tại thường làm Thu lo sợ.   Một đời sống luôn luôn bất ổn vì bạo lực.  Vẫn còn cảnh bắt người tù đầy mà không cần xét xử.  Vì luật pháp chỉ là những điều lệ bảo vệ hành động của người cầm quyền.  Nàng thông cảm với Vân-Anh đã hy sinh tình riêng cho các con ra đi.  Vì ít nhiều lòng người mẹ cũng được an ủi khi thấy tương lai các con không tàn lụn.

            Tầu ngừng lại ở ga Thừa-thiên khi trời chưa sáng.  Sương đêm phủ trùm những ngọn đèn vàng trên các cột điện cao.  Sân ga leo lét các ngọn đèn dầu của các gánh bán rong.  Thu hỏi bạn:

            -“Vân-Anh có xuống dưới ga không.  Tầu ngừng ở đây cả giờ.  Xuống dưới một chút cho khỏe.  Ngồi bó gối mãi chân muốn tê luôn.”

            -“Mình cũng muốn xuống ga một lát.  Ðến đây chợt nhớ món nem nướng, vừa nghĩ tới đã thấy thèm.”

            Nghe bạn nhắc, nàng cũng thấy nhớ hương vị thơm ngon của mùi thịt nướng, vị ngọt bùi của nước chấm, mà trước đây mỗi lần ghé miền Trung nàng không thể bỏ qua.

            Thu quay qua Vân-Anh:

            -“Nghe bạn nói làm tôi cũng muốn ăn.  Mình nhận ra một điều là mỗi vùng có một món ăn riêng biệt, mang sắc thái hương vị khác với nơi khác.”

            -“Phải nói miền Trung có món nem nướng là nổi danh nhất. ”

            -“Vân-anh biết không, với món nem nướng Huế mình có rất nhiều kỷ niệm.  Mình thích ăn món này khi còn học trung học.  Mỗi tối khi trời về khuya, đường phố đã bớt đông người, mình lại nghe tiếng rao hàng âm điệu miền Trung cao vút.  Chắc bà bán hàng biết mình thích ăn, nên mỗi lần đi qua cửa, tiếng bà rao to hơn và dừng lại lâu hơn.

              Mình đã nghiện món ăn bà làm và cả giọng nói ngọt lịm, quyến rũ của bà.  Tuy có tuổi mà trông bà còn đẹp lắm, vẻ đẹp hiền hậu của một bà mẹ luôn yêu thương đùm bọc đàn con cháu mình.  Bà cũng mến mình, vì vậy mỗi lần mua hàng phần của mình trông có vẻ nhiều hơn, chăm sóc kỹ càng hơn.”

            Vẫn hình ảnh quen thuộc, một quang gánh đơn sơ.  Thu và Vân-anh ngồi xuống chiếc ghế nhỏ do bà hàng đưa ra.  Nàng gọi hai phần nem nướng.  Dưới ánh đèn dầu, nàng nhìn rõ mặt bà bán hàng, cũng trạc tuổi nàng.  Thu ngỏ lời:

            -“Bà bán ở đây lâu chưa?”

            -“Tôi đi bán đã mấy năm.  Hai bà chắc ở trong Nam, có thường ra đây không?”

            Giọng nói xứ Huế thật êm dịu. Mặc dù đời sống vất vả, nhưng gương mặt vẫn giữ được nét đẹp.  Hai bàn tay búp măng thon dài, mà cuộc sống cực nhọc đã lấy đi làn da mịn màng.

            -“Ðã lâu tôi không ra ngoài này, nhà tôi và chồng chị bạn đây đang “cải tạo” ở ngoài Bắc nên chúng tôi ra thăm.”

            -“Hai bà ở Sài-gon hay tỉnh nào trong Nam.  Các ông nhà đã ra Bắc lâu chưa?”

            -“Chúng tôi ở Sài-gon.  Nhà tôi ra Bắùc đã hơn bốn năm.  Còn bà, nhà ở gần đây không, có đông các cháu không?”

            -“Nhà tôi cũng ở gần đây, tôi có bốn cháu, chúng còn nhỏ cả.  Nhà tôi đi “cải tạo” từ năm 75, hiện giờ đang ở trại Bến-thủy.”

            -“Trước kia bà có vào trong Nam?”

            -“Truớc ngày miền Nam mất tôi cũng ở Sài-gon.  Sau khi nhà tôi đi học tập, đời sống trở lên khó khăn, nên tôi đưa các cháu về sống với ngoại.  Tôi làm nghề này để kiếm sống nuôi các cháu qua ngày.”

            -“Trại Bến-thủy cũng gần đây, chắc bà đi thăm ông nhà thường chứ?”

            -“Mặc dầu ở gần, nhưng sáu tháng tôi mới đi thăm được một lần.”

            -“Sáu tháng đi thăm một lần là quý lắm rồi, chúng tôi ở xa quá, nên chỉ mong một năm cố đi thăm một lần.”

            -“Mang tiếng là đi thăm nuôi, nhưng cũng chỉ có mục đích cho các cháu gặp mặt bố chúng, để con không quên mặt cha.  Ðời sống bây giờ thật khó khăn, mỗi lần đi thăm phải dành dụm chắt bóp một thời gian mới tạm đủ.  Nhìn thấy các anh ấy thực khổ tâm, lao động quá cực nhọc mà ăn uống lại không no đủ.  Muốn mang nhiều quà một chút thì con cái ở nhà lại thiếu thốn, còn mang ít thì không đành lòng.  Tiền kiếm được lại có hạn.  Nhiều lúc tôi không biết làm sao cho chu toàn.”

            -“Chúng ta cùng chung cảnh ngộ, bà không nói chúng tôi cũng hiểu những khó khăn của chúng mình.”

            -“Tôi xa Sài-gon đã lâu, đời sống trong đó có khá không?”

            -“Ở đâu quen đó, bây giờ chỗ nào cũng giống nhau.  Thành phần mới có quyền thế nên sống xa hoa, còn chúng tôi làm từ sáng đến tối vẫn không đủ ăn.  Tôi có năm cháu, chúng còn nhỏ nên không đỡ đần được bao nhiêu.”

            -“Hai ông đang ở trại nào.”

            Vân-Anh đỡ lời:

            -“Các anh ấy đang ở trại Thanh-cẩm Thanh-hóa.”

            -“Hai bà đi thăm thường không?”

            Thu nói:

            -“Nhà tôi di chuyển luôn nên không ở trại nào lâu.  Ðã năm năm tôi chưa gặp mặt.  Từ ngày nhà tôi ra miền Bắc, đây là lần đầu tôi đi thăm.”

            -“Xin lỗi hai bà, mải nói chuyện món ăn đã nguội, để tôi làm nóng lại.  Trời lạnh mà món ăn không nóng sẽ mất ngon.”

            Thu nhâm nhi món thịt nướng lâu ngày chưa ăn, hương vị thật thơm ngon.  Thiếu nước chấm đặc biệt này dù thịt ướp có ngon mấy, vị cũng kém hơn.

            -“Bà làm món này ngon thật, ăn mãi không chán.  Tôi thích ăn món này từ hồi còn đi học.”

            -“Bà quá khen, tôi học món này của mẹ tôi, làm lâu ngày nên quen tay.  Thực ra tôi học nghề chưa đến nơi đến chốn.  Mẹ tôi làm ngon hơn tôi rất nhiều.  Tôi cố gắng học nhưng không làm sao bằng. . . .”

            Thu và Vân-Anh từ giã bà hàng nem nướng, nàng quay hỏi bạn:

            -“Vân-Anh có định mua gì ở đây không?”

            -“Trời còn tối quá, khó mà tìm đúng thứ mình thích.  Bạn định mua gì?”

            -“Mình định mua ít kẹo mạch nha, kẹo gương và mè xửng về cho các cháu.  Ðể đến ga tới mua cũng được.”

                                                                            *

                                                                                                                                                                             2524.

            Thu thức giấc thì trời đã sáng, con tầu đang trên đèo Hải-vân.  Từ trên cao nhìn xuống, phía dưới là quốc lộ 1 chạy song song với con tầu.  Con đường thật vắng, thỉnh thoảng mới thấy chiếc xe hơi nhỏ.

            Gió lạnh lùa vào xe, nàng cảm thấy tâm hồn lâng lâng bay bổng.  Dẫy Trường Sơn hiện ra mờ ảo trong khói sương.  Quốc lộ 1 mất hút sau rừng cây, trả lại nét hoang sơ cho cảnh sắc thiên nhiên.

            Tầu xa dần vùng núi núi cao đến gần các                                                                                              thành phố ven biển.  Khung cảnh mỗi nơi mang một sắc thái riêng biệt, trải rộng từ Bắc vào Nam.  Từ vùng núi non hùng vĩ đến những cánh đồng lúa bạt ngàn, mà suốt cuộc đời chưa chắc nàng đã có cơ hội đi khắp nơi, để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của quê hương.

            Con tầu mải miết chạy, xuyên qua tỉnh Bình-định, địa đầu của Vùng II cũ, rồi tới tỉnh Phú-yên, Khánh-hòa… Con tầu thét lên từng hồi còi dài, tiến dần vào thành phố Nha-trang nắng ấm.  Khung cảnh thật quen thuộc như  nàng mới rời khỏi đây, thành phố đã cho nàng nhiều kỷ niệm tuổi xanh.

            Gió thổi nhẹ như mang theo vị mặn của đại duơng.  Ngồi đây mà Thu có cảm tưởng mình nhìn thấy thành phố vùng biển này một cách thật rõ ràng.  Nàng nhớ từng góc phố, từng công viên, từ con đường rợp bóng đến khu phố sầm uất.  Những con đường trải nhựa bốc khói duới nắng hè đến Cầu đá hòn Chồng. . . Hình ảnh dĩ vãng hiện ra như ngày nào.

            Thu rời miền Bắc vào Nam khi chia đôi đất nước.   Thành phố vùng biển này là nơi đầu tiên nàng tới.  Nàng lớn lên ở đây, khung cảnh trở thành thân thương.  Thu nhớ đến mái trường học xinh xinh không xa nhà nàng bao nhiêu, đến ngôi nhà thờ ở đầu kia con đường với hàng me xanh tươi.  Thu thích ngôi nhà thờ này vô cùng.  Nàng thường tới quỳ dưới chân tượng Ðức Mẹ cầu xin che chở.  Hết ngày này đến tháng khác, thời gian nối tiếp trôi qua, nàng vẫn một lòng tin tưởng.

            Sau này, nhiều lúc tự hỏi tại sao nàng có thể ngoan đạo đến như thế ở tuổi còn nhỏ.  Nàng nhận ra rằng,  chính nhờ những lời giảng dậy, những gương sáng trong kinh sách, đã hướng dẫn và định hướng cuộc đời đạo đức của nàng sau này.

            Còn ở vào thời gian đó, tâm hồn trong trắng của nàng với những khắc khoải của tuổi xanh, mà sự chia cắt quê hương khiến gia đình ly tán, đã nẩy sinh trong tâm tư nàng những mâu thuẫn về cuộc đời.  Nàng tìm tới Ðức Mẹ, mong nhận được sự bao dung che chở.  Một nơi nàng có thể tâm sự để tìm sự yên ổn cho tâm hồn.

            Ðối với Thu, vùng biển này thật đẹp, càng ở lâu càng nặng tình yêu thương quyến luyến.  Nàng đã say ngắm mặt trời ửng hồng nhô lên từ mặt biển phẳng lặng, khi sương đêm còn phủ mờ cảnh vật.  Từng đợt sóng nhỏ xô vào bờ phủ lên thềm cát mịn chưa có dấu chân trần thế.

             Mặt trời lên cao dần, xóa tan màn sương, trải lớp ánh hồng lấp lánh trên mặt sóng.  Cảnh biển như một bức tranh mầu sắc lộng lẫy.  Mặt đất lấn ra biển, hai dải đất như đôi tay dang rộng ôm lấy đại dương vào lòng.  Mặt biển mênh mông, sóng nước dâng cao phủ trùm đường chân trời.  Và khi mặt trời đứng bóng, in thẫm những bóng dừa trên thềm cát nóng bỏng.

            Những buổi chiều nhạt nắng, nước thủy triều dâng cao, tràn vào bãi cát, khiến mặt biển rộng thêm.  Sóng đã nhồi cao, từng lớp xô nhau phủ đầy những bọt trắng xóa, vỡ tan khi chồm lên bờ cát.

            Khi mặt trời chìm hẳn ở phía sau lưng nàng, ánh nắng nhạt dần trả lại cho bóng tối sự yên tĩnh hưu quạnh.  Chỉ còn tiếng gió thì thầm với sóng biển.

            Thu lớn lên ở đây.  Kỷ niệm tuổi thơ của nàng gói trọn trong giang sơn nhỏ bé này.  Nhớ lại các bạn thân năm nào, với danh hiệu “ngũ long công chúa”.  Bây giờ mỗi người mỗi ngả.  Ngọc, Trường, Ngắm nay đang ở đâu, có may mắn đến được vùng đất hứa.  Còn lại Tuyết với nàng cùng chung cảnh ngộ, đang sống lây lất trên mảnh đất quê hương.

            Tầu đã qua Tháp Chàm, một vùng đất nhỏ hoang sơ.

 Con tầu mải miết chạy.  Thu nhớ đến chồng, liệu anh có còn cơ hội trở về với mẹ con nàng không.  Cầm lá thư anh gửi bạn mang về mấy ngày trước đây, không biết nàng đọc đã bao nhiêu lần, đã thuộc lòng từng đoạn.  Lá thư nếp gấp đã mềm, nét chữ nhiều đoạn đã nhòe vì pha trộn nước mắt của nàng.  Nhưng Thu vẫn còn muốn đọc:                                               26(Tháp Chàm Mỹ Sơn: Xây dựng đầu Thế kỷ 19)

            “. . . Mỗi tối sau một ngày lao động cực nhọc, nằm nhắm mắt cảnh cũ lại hiện ra.  Anh nhớ đến kỷ niệm của chúng mình có với nhau từ hồi mới gặp, khi em còn là cô học trò nho nhỏ xinh xinh, đã nổi tiếng một thời tuyệt sắc.  Anh yêu em và cũng say mê em từ đó.  Người ta bảo đó là duyên số, hữu duyên thiên lý phải không em.  Anh may mắn gặp em và có em trong cuộc đời.  Từ đó anh dừng bước giang hồ vì đã gặp được người trong mộng.

            “Rồi chúng mình sống với nhau, có những đứa con ngoan ra đời.  Em đã săn sóc dậy dỗ chúng và lo cả cho anh nữa.  Anh có cảm tưởng em không nghĩ  đến em, đã hy sinh cho cha con anh nhiều quá.

            “Em đã mang đến cho anh một cuộc sống bình dị nhưng tràn đầy yêu thương, không khí ấm cúng của mái ấm gia đình mà anh hằng mong đợi.  Như  cánh chim cần tổ  ấm để qua những mùa đông lạnh của đời mình.  Ðến lúc đó anh mới hiểu được câu “cơm của vợ ngon hơn cơm của mẹ”.  Em  săn sóc anh, biết ý thích của anh, như đã trộn tình yêu thương trong mỗi bữa ăn hàng ngày.”

            “Em đã theo anh đến bất cứ nơi nào anh phải tới, dù nơi đó an toàn hay bất ổn.  Từ đô thị đông người đến vùng Cao nguyên hẻo lánh, chúng mình vẫn cảm thấy nơi đó là nhà, là tổ ấm yêu thương.

            “Em đã chia xẻ với anh những giây phút hạnh phúc hay lo âu trong thời binh biến, cả cay đắng lẫn ngọt bùi của cuộc sống thăng trầm. Em biết không, em là nguồn yêu thương hạnh phúc của anh.  Ðối với anh em đã là tất cả, từ ngày xưa, bây giờ và cho đến mãi sau này.

            “Với các con, anh nhớ từng khuôn mặt, cái dáng riêng biệt của mỗi đứa.  Ti có vẻ nghiêm trang, thích những gì đặc biệt.  Anh còn nhớ con say sưa nhìn hai con kiến càng, bắt từ cây mận trước nhà, đánh nhau.  Con biết là nếu không có đôi râu, đôi kiến sẽ không phân biệt được là bạn hay thù.

            “Còn Vi thì hiền ơi là hiền.  Cô khóc đến đỏ hai mắt khi có ai trêu.  Con ít nói, tính tình giống em ở chỗ tốt bụng, hay giúp đỡ mọi người.

            “Ðến Mi lùn thì lại khác.  Con thường trầm tư như mải mê suy nghĩ.  Từ bé con đã có tính nhàn hạ, luôn vui vẻ hòa nhã.  Con giống mẹ ở chỗ hay mỉm cuời, để lộ lúm đồng tiền tròn quay trên má.  Con thích đọc nên khi vừa buông đũa đã thấy tay cầm sách.

            “Cô Tư đen khác hẳn các chị.  Con luôn vui vẻ nhẩy múa ca hát.  Anh rất thương con, vì khi con ra đời em bị đau nên không được nếm hương vị của sữa mẹ.

            “Ðến Út chuột của anh, con sinh ra vào mùa hè đỏ lửa, nên anh thương nó rất nhiều.  Út ít phải không em.  Ngay từ bé con đã quấn lấy mẹ, muốn mẹ là của riêng nó.  Em còn nhớ chứ, khi con mới sáu tháng mình đưa đi cắt tóc.  Cu cậu chưa ngồi vững trên miếng gỗ bắc ngang qua hai tay ghế, mình trần trông tròn quay.  Mỗi lần bác thợ áp chiếc tông-đơ lạnh ngắt vào gáy, cu cậu lại chùn người xuống tránh né mà không khóc.

            “Con lớn lên rất vui tính, đã tập hát những bài nhạc vui vào dịp Tết.  Anh còn nhớ như  in, khi con đứng lên trước mặt mọi người giới thiệu bản nhạc mình ca.  Lúc đó con chưa đầy ba tuổi em nhỉ.

            “Khi miền Nam mất, các con chịu chung sự thăng trầm của bố mẹ, chúng đã phải chia xẻ cảnh tang thương của gia đình.  Rồi anh bị bắt đi “cải tạo”, để mẹ con em ở lại, trút trọn gánh nặng cho em phải mang.  Và khi mấy mẹ con em lên thăm anh ở trại Gia-rai Long-khánh, sau hơn một năm bặt tin anh phải không em.  Khi hết giờ gặp mặt, lòng anh thật chua xót.  Và lúc anh trở vào đến khung cổng trại, chợt nghe tiếng con khóc gọi phía sau.  Anh quay lại thấy con đứng bơ vơ giữa đường, miệng gào to đòi bố.  Nó vừa được bốn tuổi.  Chưa bao giờ lòng anh thấy buồn như lúc đó, như vừa đánh mất một thứ gì thật quý báu trong đời.  Bước qua khung cổng trại, lằn ranh của hai thế giới, anh biết là đã để lại phía sau tình yêu thương mà anh bị buộc phải tách rời.

            “Tiếng gào khóc của út cứ ám ảnh anh mãi.  Anh vẫn lo lắng cho tình cảm của nó.  Liệu tinh thần của con có bình lặng thảnh thơi, hay phần nào bị vẩn đục vì những hình ảnh đau thương mà người thân của nó đang gánh chịu.

            “Anh ôm ấp những kỷ niệm, những hình ảnh yêu thương của em và các con trong những năm xa nhà, như ánh lửa cuối đường để anh nhắm tới mà hy vọng.

            “Cuộc đời anh trôi nổi từ đó.  Anh đã nếm trải những giây phút đau thương của một kiếp người.  Nhiều khi anh nghĩ, hay tại phần số mỗi người sinh ra một khác, phải chịu  những khổ ải đắng cay trong cuộc sống chìm nổi của mình.  Anh đã bám víu vào hình ảnh yêu thương của gia đình, mà đôi lúc những áp bức, cực hình vô nhân đạo đã làm lòng bất khuất của anh vùng dậy.  Anh đã chịu đựng những tủi hận và nghĩ tới mệnh số con người mà an ủi.

            “Nhiều lúc anh thấy số kiếp thật mong manh.  Anh đã trải qua những giây phút tuyệt vọng, thân xác rũ liệt trong phòng tối, hơi thở như muốn đứt đoạn, khó hy vọng tồn tại.  Anh có cảm giác thân xác nhẹ tênh như muốn thoát khỏi vòng tục lụy, xa lánh cái nghiệt ngã của cuộc đời.

            “Nhưng chính vào giờ phút đó, anh nhớ đến em và các con. Tinh thần anh chợt tỉnh táo sáng suốt, nhủ thầm là mình không thể ra đi một cách yên lặng, đơn giản.  Anh vẫn còn muốn sống.  Bản năng sinh tồn vùng dậy, hâm nóng thân xác giá lạnh của anh.  Chưa bao giờ anh chùn bước sờn lòng trước những bạo lực, cực hình.  Kể cả lúc anh nhắm mắt chờ đợi một lần ân huệ khi thái dương chạm vào nòng thép lạnh.  Nhưng vào giờ phút này, anh bỗng thấy mình yếu đuối.  Anh cầu xin ơn trên.  Anh mong còn sống để trở về với người thân yêu…”

            Thu để rơi giọt lệ xót thương trên trang thư của chồng.  Giọt lệ từ đáy tim đang tan nát của nàng.  Nàng nắm chặt lá thư trong tay nhủ thầm, liệu đây có phải là kỷ vật sau cùng của năm tháng yêu thương.

            Thu thoát khỏi những ám ảnh đen tối khi Vân-Anh nắm chặt tay, nàng cảm nhận một phần an ủi nơi bạn.

            Vân-Anh lên tiếng:

            -“Thu buồn lắm phải không.  Số kiếp chúng mình như vậy.  Có phải chúng ta đang là “gái thời bình”.  Nhiều khi mình cũng không biết tính toán ra sao, đành để mặc cho số kiếp đưa đẩy, vì chúng mình phải sống.”

            -“Mình luôn mong đợi một ngày xum họp, nhưng giờ phút này mỗi lúc một xa.  Mình bị ám ảnh bởi những hành động hận thù.  Liệu có gì bảo đảm cho những ngày sắp tới.”

            -“Cũng như Thu, mình  có nhiều  suy nghĩ, không biết cuộc đời mình sẽ đi về đâu.  Như trường hợp chị họ của mình.  Chắc Thu biết chị Lâm chứ?”

            -“Chị Lâm con bác Hai phải không.  Nhưng chị làm sao?”

            -“Sau khi chị đi thăm anh ấy về người như xác không hồn.  Gặp chị mình  hỏi:

            “Chị đi thăm anh có khỏe không?”

            Chị mình bật khóc trả lời:

            “Anh mất rồi em ạ”

            Mình xửng xốt khi nghe tin.  Giây lát sau mình mới hỏi  tiếp khi thấy chị binh tĩnh trở lại:

            “Anh chết làm sao hả chị?”

            Chị Lâm nói:

            “Như em biết, anh biệt tăm từ ngày đi “cải tạo”.  Chị không biết tìm anh ở đâu.  Cách đây ít lâu chị mới hay tin anh ở trại Nam-hà ngoài miền Bắc.  Khi chị tìm đến nơi thì quá trễ, anh đã qua đời.”

            Mình càng thắc mắc khi nghe chị nói, nên hỏi tiếp:

            “Chị đã hỏi cẩn thận chưa.  Mà tại sao anh chết?”

            Chi Lâm vừa khóc vừa nói:

            “Trại xác nhận như thế.  Họ bảo anh bị bệnh mà qua đời.  Chị vào trại B, vùng Thung danh, là nơi giam và anh  cũng qua đời ở đó.  Chị được biết đó là một trại kỷ luật nổi tiếng miền Bắc.  Chị tìm tới chỗ chôn, hỏi một anh “cải tạo” để nhờ tìm mộ anh của em, nhưng anh trả lời: “năm ngoái tôi còn biết mộ của anh ở đâu, nhưng bây giờ thì không nhận ra được nữa. . . .”

            Chị Lâm chợt im lặng trong giây lát, như đè nén niềm cay đắng, rồi tiếp:

            “Chị buồn quá.  Thương xót thân phận bạc phước của anh, khi chết nấm mồ cũng tan hoang.  Mà chị cũng tủi cho số phận hẩm hiu chủa chị.”

            Mình nóng lòng hỏi chị:

            “Chị có đi tìm mộ anh không.  Mà đã tìm kỹ chưa?”

            Chị vừa khóc vừa trả lời:

            “Chị có đi tìm nhưng không làm sao phân biệt được.  Các miếng gỗ ghi tên trên mộ đã không còn.  Các nấm mồ chỗ cao chỗ trũng trong một khu rừng hoang, cỏ mọc um tùm.  Sau cùng không biết làm sao hơn, chị đành làm theo lời anh cải tạo: “Chị không tìm ra mộ của anh đâu, đến tôi cũng không còn nhận ra.  Thôi, chị cứ đứng đây, hướng về các ngôi mộ mà khấn, thể nào trong đó cũng có anh ấy. . . ”

            -“Mình thương chị Lâm quá.  Ðến giây phút đó mình mới thấy thấm thía và cảm thông sự mất mát trong lòng chị.”

            Thu tiếp lời:

            -“Khi mình nghe nhắc lại câu nói của một cán bộ trại Nam-hà đối với anh em “cải tạo” miền Nam: ‘Sinh mạng các anh chỉ bằng tờ giấy học trò’, mình vẫn chưa hiểu được hết ý câu nói.  Nhưng bây giờ mình đã nhận ra, sinh mạng tù nhân trong các trại cải tạo thật rẻ.  Chỉ cần một lời báo cáo đơn giản trên trang giấy học trò, thì một kiếp người đã bị xóa bỏ như một vật thể vô giá trị.”

            -“Như Thu biết, sau khi cộng-sản chiếm được miền Nam, một thắc mắc được đặt ra, là cộng-sản Hà Nội phải có hành động thế nào để chinh phục được nhân tâm người miền Nam.  Mà sự chinh phục phải bằng tình yêu thương dân tộc.  Nhưng cho đến nay, người dân cả nước đã hoàn toàn thất vọng trước chính sách thù hận của nhà nước.”

            Thu thở dài tiếp lời bạn:

            -“Ðiều mà người dân mong đợi sau khi thống-nhất đất nước là sự đoàn kết dân tộc.  Nhưng cộng-sản miền Bắc đã theo con đường tàn bạo.  Dựa vào danh nghĩa giải phóng dân tộc để chiếm đọat miền Nam, buộc người miền Nam phải sống trong tủi nhục.  Ðảng và nhà nước Cộng-sản đã không thể mang lại một nền hòa bình toàn vẹn mà dân tộc chúng ta kỳ vọng, sau khi đổ quá nhiều máu và gánh chịu lắm đau thương.”

            -“Mình có chung suy nghĩ như Thu.  Nghĩ đến đời sống của người đàn bà như chúng mình, đến thế hệ trẻ tương lai, đã có nhiều dấu hỏi.  Tại sao mang danh là “chế độ của giai cấp bị áp bức” lại đầy ải bóc lột những người nghèo khó nhất.  Ðã đưa dân tộc vốn nghèo khó này đến một cuộc sống cực khổ hơn.”

            -“Mình cũng tự hỏi, tại sao chế độ này lại phá bỏ những cái đang tốt đẹp để đổi lấy một hoàn cảnh tồi tệ.  Người ta dẹp bỏ ý-thức dân chủ đã có trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, để đạt tới hình thức lệ thuộc ngoại bang.”

            -“Thu nghĩ xem, thiếu gì các quốc gia mang danh là dân chủ cũng có những hành động độc tài.  Nhưng ở những nơi đó, dù mang tiếng độc tài, người dân vẫn được hưởng sự  tự-do mà con người phải có.”                           27Saigon:  Hòn Ngọc Viễn Đông

            Thu góp lời với vẻ thất vọng:                                            

            -“Phải, quyền tự-do là thứ không thể thiếu trong đời sống con người.  Nhưng dưới chế độ “anh hùng” này chúng ta được hưởng những gì hay chỉ có bạo lực.”

            -“Niềm đau của mình càng thôi thúc, khi nghĩ tới cuộc chiến tang thương của dân tộc.  Hàng nhiều triệu người, cả cầm súng lẫn tay không, phải chết  oan uổng cho mục đích không tưởng.  Lớp người lãnh đạo có nghĩ đến ước vọng của người dân không, đến quyền sống con nguời của dân tộc này không.  Hay họ hiểu ý nghĩa “dân vi quý” để chỉ những nguời trong tầng lớp lãnh đạo như họ.  Còn đám dân nghèo đói này, không phải là thứ “dân vi quý”, để được hưởng quyền lợi bù đắp những hy sinh đã bỏ ra.”

            -“Vân Anh thấy đó, mình không hiểu tại sao những người lãnh đạo của chế độ này vẫn bị ràng buộc trong chủ thuyết lỗi thời.  Họ có hiểu chủ nghĩa và chế độ là những thứ do con người đặt ra, nó chỉ tồn tại khi mang lại lợi ích cho đời sống toàn dân.”

            -“Có một điểm mà người dân nào, dù miền Bắc hay miền Nam cũng nhận ra, vì quyền lợi đang hưởng thụ khiến chính quyền ngày càng xa dân.  Mà trong lịch sử dựng nước của dân tộc chúng ta, có chính quyền nào tồn tại khi đi ngược lại nguyện vọng của người dân.  Không hiểu chế độ này sẽ đứng vững được bao lâu nữa.”

            Hai người trở lên im lặng, như niềm đau hằn sâu trong cuộc sống đang trỗi dậy.  Những lo lắng về tương lai mỗi lúc thêm khắc khoải. . . .

            Con tầu cố nuốt nhanh quãng đường còn lại.  Từng cánh rừng, ruộng bắp đến những cánh đồng lúa thi nhau lướt nhanh về phía sau.  Phía trước mặt là thành phố Phan-thiết rồi Bình-tuy.  Thu nhớ đến chồng đang ở phía sau cách xa nàng cả ngàn cây số.  Nàng tự hỏi, số phận chồng nàng sẽ ra sao. Liệu có phải đây là lần gặp sau cùng, và cuộc đời nàng sẽ thế nào khi phải đơn độc phấn đấu trong một xã hội bất ổn.

            Trước khi đi lòng nàng thật háo hức, mong mỏi được gặp chồng và nhìn lại quê hương miền Bắc sau hơn hai mươi năm xa cách.  Tình lưu luyến với mảnh đất nàng ra đời vẫn còn dào dạt trong lòng.  Nhưng khi đến nơi nàng thật buồn, cũng không hẳn nơi đây đang giam giữ người thân yêu của nàng, chia ly tình cảm gắn bó của gia đình nàng.  Nhưng không hiểu sao, chen lẫn giữa tình yêu quê hương tha thiết vẫn vương vấn những lo âu bất ổn, đã không gợi cho nàng thứ tình cảm yêu dấu thuở xưa.

            Thu nhớ đến các con, không hiểu giờ này chúng đang làm gì, có an toàn khi nàng xa nhà không.  Xa chúng mới một tuần mà tưởng chừng đã lâu không gặp.  Lòng nàng đang phân vân, như đứng giữa hai ngả đường, một bên là chồng một ngả là con.  Tâm hồn nàng đang chơi vơi xa lạ, lạc lõng tại chính nơi quê hương yêu dấu của nàng.

            Qua khỏi Bình-tuy, chỉ còn một quãng đường ngắn nữa là tới Gia-rai Long-khánh.  Rồi Biên-hòa, tỉnh ven đô của thành phố Sài-gon.  Con tầu đang đưa nàng trở về thành phố “mới mang tên Bác”, đã một thời vang bóng là “Hòn Ngọc Viễn Ðông”.

                                                                                                Trần-nhật-Kim

                                                                                   Washington DC, Mùa Ðông 1988

                                                                                          ***

                                              Lời Bạt

Anh Kim,

            Tôi đã đọc xong bản thảo tác phẩm “Vùng lầy nước mắt” của anh.  Hôm nay tôi xin được nêu ra một vài nhận xét về công trình văn học mà anh đã mất nhiều tâm huyết tạo dựng.

            Nhận xét chung, nội dung tác phẩm của anh rất xác thực, đáp ứng nhu cầu hiểu biết những gì xẩy ra cho những người đàn bà có chồng con đi “học tập cải tạo”.  Họ là những phụ nữ đã nhẫn nhục chịu đựng, nuốt trọn nỗi đau thương và niềm tủi nhục để cố gắng vươn lên, làm tròn bổn phận làm mẹ và làm vợ.  Trước bao nhiêu phồn hoa cám dỗ và quyền uy đe dọa người đức phụ trong truyền thống Việt-nam vẫn đứng vững, không gì lay chuyển nổi.  Họ chỉ khóc cho số phận hẩm hiu, cho tương lai đen tối.  Những dòng huyết lệ đó đã chảy từng ngày, từng tháng, từng năm, chảy mãi và đọng lại thành “Vùng lầy nước mắt”.

            Ðiểm đặc biệt trong tác phẩm của anh là đã nói lên sự hy sinh cao cả của những người mẹ, người vợ Việt-nam trong giai đoạn đen tối nhất của lịch sử dân tộc.  Một điều ít có dịp được đề cập tới từ trước đến nay.

            Truyện của anh là một diễn tiến liên tục những thảm cảnh và những nỗi đau khổ âm thầm của người phụ nữ sau ngày 30 tháng 4 đen tối.  Nhiều đoạn làm cho người đọc xúc động và rưng rưng nước mắt, xót thương cho một kiếp người.

            Từ trang đầu tới trang cuối, anh viết với một văn cách giản dị, trong sáng, không tìm những cấu trúc cầu kỳ.  Ðó là ưu điểm dễ gây cảm tình với độc giả.

                                                                                          Hà-Bỉnh-Trung

                                                                               Springfield, Mùa Ðông 1999

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: