Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Hàn Mặc Tử, những nỗi uất hận!

            Trong số các thi sĩ tiền chiến, có quan hệ với Huế nhiều nhất là Hàn Mạc Tử, mặc dù, trong “Bàn Thành Tứ Hữu”, (bốn thi hữu ở thành Đồ Bàn – tên cũ của Bình Định), gồm Quách Tấn, Chế Lan Viên, Yến Lan (tác giả bài thơ nổi tiếng “Bến Mi-Lăng”) thì không người nào sinh sống ở Huế lâu dài. Xuân Diệu, người mà nhiều người lầm tưởng có sinh hoạt ở Huế lâu dài nhất thì lại không phải. Ông quê ở Hà Tĩnh lớn lên ở Qui Nhơn. Người học hành ở Huế lâu năm, sau nầy lại tham gia trong “phái đoàn 3 người Việt Minh” đến Huế để nhận ấn kiếm vua Bảo Đai thoái vị, chính là Huy Cận.

            Hàn Mặc Tử, tên là Nguyễn Trọng Trí, quê ở Quảng Bình, nhưng lớn lên ở Qui Nhơn, chỉ học ở Huế một thời gian ngắn tại trường Pellerin, sau nầy có tên là trường Bình Linh, là người, theo người ta tưởng, có quan hệ với Huế lâu dài, chỉ là người có thơ viết về Huế mà thôi.

            Thật vậy, bài thơ “Đây Thôn Vĩ” làm cho người ta tưởng lầm như thế:

                        Đây thôn Vĩ

                        Sao anh không về chơi thôn Vĩ,

                        Nhìn nắng hang cau nắng mới lên.

                        Vườn ai mát quá xanh như ngọc,

                        Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

                        Gió theo lối gió mây đường mây,

            Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay.

                        Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,

                        Có chở trăng về kịp tối nay?

                        Mơ khách đường xa, khách dường xa,

                        Áo em trắng quá nhìn không ra

                        Ở đây sương khói mờ nhân ảnh.

                        Ai biết tình ai có đậm đà.

            Bài thơ nầy từng được phổ nhạc. Có người cho rằng toàn bài thơ không hay, nhưng theo tôi, trong bài thơ nầy, Hàn Mặc Tử có mấy câu hay lắm. Tự nhiên, trong thơ ông, đột khởi vài câu, vài ý thơ thật hay, nâng cao giá trị toàn bài thơ.

Chẳng hạn như, trong bài thơ nói trên, đột nhiên tác giả hỏi:

“Thuyền ai đậu bến song trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay?”

Đây là ý thơ rất mới và rất lạ. Trong thơ ông, và cả văn của ông nữa, có nhiều trăng. “Chơi giữa mùa trăng” là một thí dụ. Trong bài thơ nói trên thì có “sông trăng”, và… “bến trăng”. Dĩ nhiên, sông đã trăng thì bến cũng có trăng. Và thuyền thì “chở trăng”. Trong thi ca, trước nay, không ai nói “thuyền chở trăng”. Cũng lạ đấy, sông thì lớn, thuyền trên sông thì nhỏ. Thuyền nào chở hết trăng về “đổ” trên sông cho ông?

            Trong ánh trăng sáng vằng vặc và lung linh đó, Hàn Mặc Tử  viết:“Áo em trắng quá nhìn không ra” là phải. Phải là cái áo màu thì người ta mới dễ thấy. Áo tím chẳng hạn. Đàn bà con gái Huế, có hai mầu áo rất “thịnh”. Áo trắng cho học trò, những cô còn trẻ, và áo tím (tím Huế – “tím than”, tím của Tử Cấm Thành) cho người đã có gia đình hay lớn tuổi hơn.

            Đó là những ý hay trong bài thơ nầy.

            Ông có một bài thơ khác nói về Huế nữa, đúng hơn là về một cô gái Huế, một người có thực chứ không tưởng tượng; Cô Hoàng Thi K.C., sau nầy là giáo sư nữ công Trường Đồng Khánh. Năm 1968, sau Tết Mậu Thân, tôi nhập cũ, không biết cô còn dạy ở đó nữa hay không?!

Vội vàng chi lắm!
Vội vàng chi lắm nhạn lưng mây
Chầm chậm cho mình giữ chút đây
Về đến Thần Kinh khoan nghỉ đã
Ghé miền Gia Hội tỏ tình ngay
Suốt năm canh mộng hồn mê mỏi
Chỉ một lòng son muốn giải bày
Này nhạn! Ta còn quên chút nữa
Con tim non nớt tặng nàng đây.

            Ai ở Gia Hội vậy?

            Là cô Hoàng Thị K.C. hay Thương Thương?!

                        Đêm qua trong mộng gặp Thương Thương

                        Má đỏ au lên đẹp lạ thường.

Bàn tay mềm mại nên duyên quá

Tà áo lung linh dàu tợ sương!

            Hoàng Thị K.C, là em gái thi sĩ Hoàng Diệp, một bạn thơ của Hàn Mặc Tử. Hoàng Diệp giới thiệu em mình cho nhà thơ bị bệnh phung. Đó cũng chỉ một cách an ủi mà thôi bởi vì bấy giờ bệnh của Hàn Mặc Tử đã nặng rồi, đâu còn hy vọng gì sống còn vì cái bệnh nan y ấy mà nói chuyện yêu đương, vợ chồng…

            Người thứ hai là Thương Thương, tên thật là Quỳnh Tiên, con ông Trần Thanh Đạt, anh trai Trần Thanh Mại và Trần Thanh Địch. Hình như Hàn Mặc Tử có gặp Thương Thương một lần, khi nhà thơ từ Saigon ra Huế. Khi ấy Thương Thương mới 12 tuổi. Khi “cô em đã lớn”, biết đến thơ văn và tình yêu, ngưỡng mộ nhà thơ tài hoa, thì nhà thơ sắp nhập vô trại cùi Qui Hòa. Tình cảnh cũng như cô Hoàng Thị K.C. vậy thôi!

            Dù vậy, Hàn Mặc Tử vẫ yêu và hy vọng:

                        Em là Trần Thương Thương

                        Anh là Hàn Mặc Tử.

Không phải cách âm dương

Còn có khi hội ngộ”.

            Hai người, Quách Tấn và Trần Thanh Mại, đều có giữ nhiều bài thơ của Hàn Mặc Tử, khi ông Hàn viết xong gửi cho hai người ấy. Vì vậy, sau khi Hàn Mặc Tử qua đời, có sự tranh chấp về tác quyền thơ của Hàn Mặc Tử. Không rõ việc thưa kiện được thua như thế nào, nhưng những bài thơ Hàn Mặc Tử gởi cho Quách Tấn, ông ta vẫn giữ. Đến khi Tây lại xâm lăng nước ta một lần nữa, sau Thế Giới Chiến Tranh Thứ hai, thì các bài thơ của Hàn Mặc Tử do Quách Tấn giữ đều bị cháy cả, vì nhà ông ở Nha Trang, bị Tây đốt cháy rụi. Ông Quách Tấn vẫn tự cho mình có lỗi với nhà thơ bạn ông và với văn học, vì ông đã không bảo tồn được những di cảo của Hàn.

            Với Hoàng Thị K.C. cũng như với Thương Thương và Mai Đình, Hàn Mặc Tử thường tỏ tình yêu thương và không oán trách gì. Nhưng với Mộng Cầm thì khác.

            Bài thơ sau đây, Hàn Mặc Tử bày tỏ lòng cám với Mai Đình, sau khi Mai Đình bỏ Saigon, ra Qui Hòa, sống với nhà thơ trong cái chòi tranh bên bờ biển, để chăm sóc cho ông:

                        Thắm thiết
Cười cho lắm cho dầm dề nước mắt
Chết ruột gan mà ngoài mặt như không.
Anh nhìn Mai chua xót cả tấm lòng
Không biết nói làm sao cho da diết!

Trắng như tinh và rất nên thanh bạch
Cốt cách đều rất mực đồng trinh
Mai của anh, chiều phong vận xinh xinh.
Say một nửa và thơm một nửa.

Bay chới với điệu quỳnh dao hương múa
Mê cầm trăng trong một tối xa hoa.
Nâng âm thanh trên những ngón tay ngà
Giây phút ấy rượu say, trời lảo đảo.
Thêm nóng mặt, ân tình thôi gượng gạo
Sững lòng đi trong một tối tân hôn.
Đây Mai Đình, tiên nữ ở Vu Sơn
Đem mộng xuống gieo vào muôn sóng mắt,
Nàng! Ôm nàng! Hai tay ta ghì chặt
Cả bài thơ êm mát lạ lùng thay!
Ta là người uống muôn hận sầu cay
Nàng là mật của muôn tuần trăng mật.
Ôi khoái trá thấm dần vô thể chất
Hồn trong sương, ảnh hưởng đến mê tơi!
Quý như vàng, trọng như ngọc trên đời
Mai! Mai! Mai! Là Nguyệt Nga tái thế.
Tình rất nặng và nghĩa đầy lượng bể,
Tôi ôm nàng, muốn cắn chết nàng đi!
Bao não nùng sầu hậ n trong mêly
Anh thấy rõ rằng anh đang trơ trọi.
Em xa quá, biết làm sao nhắn với?
Anh đưa lòng cho tới huyệt lòng em!
Mai! Ôi Mai, là em vẫn còn nguyên,
Hay đã chết như tình anh đã chết?

Tuy Hàn Mặc Tử nói như thế, nhưng ông ta không yêu Mai Đình bằng yêu Mộng Cầm. Vì vậy, Mai Đình mới viết bài thơ sau đây, để “phân bì” (tình yêu) với Mộng Cầm:

Phân bì Mộng Cầm

Mộng Cầm hỡi! Nàng là tiên rớt xuống
Hay là vì tinh tú giáng trần gian?
Diễm phúc thay! Sung sướng biết bao vàn
Đầy đủ quá, nàng thương chăng kẻ thiếu?
Tôi là kẻ thiếu nhiều và thiếu mãi
Đã ra người hành khất bấy lâu nay
Mà người đời toàn ban vị đắng cay

            Theo ông Nguyễn Quảng Thành, hiện cư ngụ ở Boston, người gọi Mai Đình bằng cô, thì  Mai Đình, trước tình yêu Hàn Mặc Tử dành cho Mộng Càm còn rất say đắm, nên cảm thấy “chán”, không muốn ở với Hàn Mặc Tử nữa, bỏ về nhà ở Khánh Hội (Saigon cũ).

            Nếu độc giả đọc bài thơ “Phan Thiết! Phan Thiết!” sẽ thấy Mộng Cầm là người Hàn Mặc Tử yêu nhất, và cũng oán hận nhiều nhất:

Phan Thiết! Phan Thiết!

Nhớ khi xưa ta là chim Phượng Hoàng
Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất
Bay từ Dao Ly đến trời Đâu Suất;
Và lùa theo không biết mấy là hương
Lúc đằng vân gặp ánh sáng chận đường
Chạm tiếng nhạc, va nhằm thơ thiên cổ
Ta lôi đình thấy trăng sao liền mổ
Sao tan tành rơi xuống vũng chiêm bao
Trăng tan tành rơi xuống một cù lao
Hóa đài điện đã rất nên tráng lệ
Ở ngôi cao, ngước mắt ra ngoài bể
Phong lưu ghê, sang trọng chẳng vừa chi
Ta mê man như tới chốn Phượng Trì
Ở mãi đấy không về Thiên cung nữa.

Nhưng phép lạ có một vì tiên nữ
Hao hao như nường nguyệt cõi Đào Nguyên
Ta đắm mê trong ánh sáng trần duyên
Và van lạy xin cô nường kết ngãi
Mỉa mai thay cho phượng hoàng si dại
Là ta đây đương ở kiếp muôn chim
Trở lại trời tu luyện với muôn đêm
Hớp tinh khí lâu năm thành chánh quả
Ta trở nên như ngọc đàng kim mã
Rất hào hoa rất phong vận: Người Thơ
Ta là trai khí huyết ước ao mơ
Người thục nữ sanh giữa thời vô thượng
Rồi ngây dại nhờ thất tinh chỉ hướng
Ta la thang tìm tới chốn Lầu Trăng
Lầu ¤ng Hoàng, người thiên hạ đồn vang
Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết
Ôi trời ôi! là Phan Thiết! Phan Thiết
Mà tang thương còn lại mảnh trăng rơi
Ta đến nơi Nường ấy vắng lâu rồi
Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ
Trăng vàng ngọc, trăng ân tình, chưa phỉ!
Ta nhìn trăng, khôn xiết ngậm ngùi trăng
Ta vãi vung thơ lên tận sông Hằng,
Thơ phép tắc bỗng kêu rên thống thiết
Hỡi Phan Thiết! Phan Thiết!
Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu
Mi là nơi ta sầu hận ngất ngư.

Qua thơ của ông Hàn, người ta thấy ông có bốn người ông yêu, và ai nữa thì tôi khng biết. Ông yêu người ta, còn người ta có yêu lại ông ta hay không thì không chắc. Bốn người yêu đó, kể theo thứ tự thời gian, có thể là: Mộng Cầm, trước nhất; Ba người sau là: Mai Đình, Hoàng Thị K.C. và Thương Thương thì không biết chắc ai trước ai sau.

Hàn Mặc Tử yêu Mộng Cầm khi ông cò ở Saigon, rồi đi chơi với Mộng Cầm ở “Lầu ông Hoàng”. “Lầu ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang.” (Xem phụ lục 1).

Mộng Cầm là dân Phan Thiết, một nhà thơ nữ, yêu Hàn Mặc Tử, ban đầu chỉ qua thơ văn. Người ta thường nói “Địa linh nhân kiệt”. Nếu kể về mặt nghệ thuật, Phan Thiết cũng là nơi nhân kiệt đấy. Xứ nầy “sản xuất” nhiều nghệ sĩ: Nhật Trường (TTT), Anh Khoa, Thanh Thúy (hình như bà nầy gốc Huế), đều là “Dân Phan Thiết” cả đấy. Thậm chí, nhà thơ Huyền Chi, tác giả bài thơ “Thuyền Viễn Xứ”, Phạm Duy phổ nhạc, gốc Bắc, sau nầy cũng định cư ở Phan Thiết. Bà Huỳnh Khanh, nữ diễn viên điện ảnh đầu tiên của làng phim ảnh Việt Nam, vợ của ông Phạm Ngọc Thìn, có thời làm Thị Trưởng Phan Thiết, là ông bà nhạc gia của nhạc sĩ Hoàng Nguyên. Thiếu Tá Trần Minh Hải, nguyên xã trưởng xã phát triển Phan Thiết, là thi sĩ Cao Châu, bạn tù của tôi ở trại Xuân Lộc, chính là người cho xây “Đoạn Tình Kiều” ở thị xã nầy.

Hàn Mặc Tử tự ví mình như Lý Bạch, một “trích tiên” vậy. Khi xưa Hàn cũng ở trên Thiên Đình, rồi vì môt lý đo nào đó, ông bị đọa xuống trần gian, làm một nhà thơ, như Lý Bạch vậy. Và rồi ông ta yêu Mộng Cầm, như Lý Bạch với Dương quí Phi? Hai người du ngoạn ở “Lầu Ông Hoàng”, một đêm trăng nào đó. Xong rồi, ông bị bệnh phung.

Khoảng năm 1957, nhân dịp ngày sinh hay ngày tử gì đó của Hàn, “Hội Văn hóa Thành phố Huế, tổ chức lễ “tưởng niệm nhà thơ”. Dĩ nhiên có nhiều người lên diễn thuyết, trong số đó, có hai người bạn cũ của ông Hàn là thi sĩ Quách Tấn với thi sĩ Hoàng Diệp.

Quách Tấn kể:

Không để cho Hàn ở chung trong nhà được, sợ truyền nhiễm, gia đình nhà thơ dựng cho ông môt căn chòi bên bờ biển Qui Hòa, cách Qui Nhơn không xa, để ông ở riêng. Khi Quách Tấn đến thăm Hàn tại căn chòi lá nói trên, Hàn Mặc Tử đọc (hay diễn ngâm?) bài thơ “Phan Thiết! Phan Thiết!” cho Quách Tấn nghe. Đến đoạn cuối: “Ôi trời ơi là Phan Thiết! Phan Thiết! Mi là nơi ta sầu hận…” thì giọng ông Hàn như nghẹn đi vì uất hận! Cái uất nghẹn đó cho người ta thấy Hàn Mặc Tử hận Mộng Cầm như thế nào!

Người ta cũng kể, Hàn Mặc Tử, sau đêm “đi chơi” ở Lầu Ông Hoàng với Mộng Cầm về thì mắc bệnh phung.

Tại sao?

Ông chú họ tôi, một người trong nhóm “theo cụ Ngô” khi cụ còn “lê gót nơi quê người” (theo lời ca đầu tiên của Nguyễn Hiền trong bài hát “Suy tôn Ngô Tổng Thống”), là một nhân vật không lạ gì trong giới văn học Huế, có lần đang ăn cơm, ông nói với chúng tôi (chúng tôi là kể thêm Huỳnh Hữu Tuệ và Huỳnh Hữu Ủy): Tụi bây có bồ đừng chơi bời tầm bậy. Trên mồ trên mả người ta dễ bị phung!”

Có phải đó là trường hợp Hàn Mặc Tử với Mộng Cầm. Quách Tấn kể: Đêm họ đi chơi “Lầu Ông Hoàng”,  trên đường về thị gặp mưa. Cơn mưa biển lớn lắm. Hai người vào núp trong một nhà mồ ở trong nghĩa địa. Rồi việc gì xảy ra nên Hàn Mặc Tử bị bệnh phung, như lời ông chú họ tôi nói ở trên, cũng là theo quan điểm y học dân gian của người Việt ta?!

            Bị mắc bệnh phung, và thêm lý do gì nữa mà Mộng Cầm phụ tình ông Hàn, khiến ông phải uất hận. Hay vì sướng thì sướng chung, mà bệnh thì riêng một mình ông Hàn gánh chịu?! Việc nầy, y học dân gian không chứng minh bằng khoa học được, nên đành chịu vậy!

            Trong bài thơ “Lang Thang”, Hàn Mặc Tử viết:

Trời hỡi nhờ ai cho khỏi đói?
Gió trăng có sẵn làm sao ăn?
Làm sao giết được người trong mộng?
Để trả thù duyên kiếp phũ phàng?

            Hai chữ “khỏi đói” trong bài thơ là viết theo nghĩa đen. Bấy giờ, ở trong cái chòi tranh nói trên, Hàn Mặc Tử đói thật, nghĩa là thiếu ăn hay không có cái ăn. Thi sĩ thì không giàu. Giàu khó làm thi sĩ. Dĩ nhiên, không nghe ai nói Hàn Mặc Tử giàu. Gia đình Hàn Mặc Tử có thể thuộc hàng khá giả chứ không giàu. Vả lại, khi ông Hàn bị bệnh phung thì ông bố cũng đã qua đời. Vì vậy, theo lời kể của Quách Tấn, khi ông đang làm “công chức” ở Đà Lạt, thường gởi tiền về giúp đỡ nhà thơ bị bệnh phung. Căn chòi của Hàn Mặc Tử ở bờ biển Qui Hòa, bị mưa gió làm thủng nát nhiều chỗ, không sửa sang được, ông Hàn kiếm mấy tấm bìa chèn vô.

            Cứ tình hình như thế, “Đói là mối hận thứ hai” trong đời của một nhà thơ thiên tài.

            “Hồn tôi đây thiên hạ bỏ đìu hiu” là một câu thơ trong bài “Trình Bày” của Huy Cận, nhưng mỗi khi đọc câu thơ nầy, hay khi giảng về “Thơ mới” trong những năm tôi còn cầm cục phấn đứng trước bảng đen, tôi thường lẫn lộn giữa Huy Cận và Hàn Mặc Tử về nỗi cô đơn của các nhà thơ, và cả Hàn Mặc Tử nữa, trước sự hững hờ của thiên hạ với các nhà thơ thiên tài. Xưa thì phải kể Trần Tử Ngang với “thiên địa chi du du”, hoặc “Lau lách đìu hiu” của Bạch Cư Dị trên bến Tầm Dương.

            Hình như sự “Cô Liêu” của Hàn Mặc Tử kinh khiếp hơn:

Ai đi lẳng lặng trên làn nước,
Với lại ai ngồi khít cạnh tôi?
Mà sao ngậm kín thơ đầy miệng
Không nói không rằng nín cả hơi?

Chao ôi! Ghê quá trong tư tưởng,
Một vũng cô liêu cũ vạn đời!
Chao ôi ghê quá! Chao ghê quá!
Cảm thấy hồn tôi ớn lạnh rồi!

            Chữ “ai” ở đây cứ như là ma vậy! Một mình trên bãi biển Qui Hòa, không có “ai” với ông Hàn cả. Tiếng sóng vỗ vào bờ cát làm cho ông tưởng như tiếng chân ai đang đi vậy! Và ông lại tưởng tượng như có “ai” đó, một người nào đó ở bên cạnh ông, một người mà ông đã từng yêu, Mộng Cầm hay Mai Đình? Rồi cũng chẳng có ai cả! Người đó không nói, không đọc thơ mà chỉ “ngậm cứng thơ đầy miệng”. Hàn Mặc Tử lẫn lộn giữa người và ma hay chăng?!

Tất cả những điều đó, tạo nên những ý tưởng kinh hoàng trong trí ông. Tư tưởng, hay cảm tưởng đó chính là sự cô liêu của hoàn cảnh ông đang sống, cô đơn trên bãi biển, và cả một nỗi cô liêu trong cuộc đời.

            Có lần tôi tranh cãi với một người bạn đồng nghiệp về chữ “Vũng” hay “Bãi” trong câu “Một vũng cô liêu cũ vạn đời”. “Bãi” nói về chiều rộng, như bãi cát chẳng hạn. “Vũng” nói về chiều sâu. Ngồi một mình bên bờ biển, về chiều rộng (horizontal), có thể Hàn Mặc Tử đã thấy rõ, nhưng ông thấy nỗi cô liêu ấy, không chỉ ở chiều rộng mà cả ở cả chiều cao (vertical).  Thành thử, trong bài thơ nầy, Hàn Mặc Tử cảm nhận nỗi cô liêu của ông ở cả hai chiều: Chiều rộng và chiều cao. Nỗi cô liêu ở cả hai chiều như thế khiến Hàn Mặc Tử phải than “Chao ôi ghê quá, ôi ghê quá!”

            Nỗi cô liêu của ông là “cũ vạn đời” có nghĩa là không có gì mới đâu! Trần Tư Ngang, Bạch Cư Dị ngày xưa đã thế, và Huy Cận hay Hàn Mặc Tử người đời nay vẫn thế!

            Thi sĩ là người mơ mộng. Do đó, hơn ai hết, họ là những người thường lẫn lộn  giữa mộng thực. Thực là đời thực, mộng là những gì chỉ ở trong tâm tưởng mà thôi.

            Xưa có anh tiều phu, một hôm vào rừng lấy củi. Tình cờ anh hạ được một con nai. Anh tự bảo, phải đi đốn củi đã, giấu con nai ở đây, chờ khi chiều tới, trên đường về, sẽ đem nai về luôn. Đến khi chiều về, anh quên mất con nai. Đêm nằm bên vợ, anh mới sực nhớ đã bỏ quên con nai trong rừng. Hôm sau, khi vào rừng, không thấy con nai đâu cả, anh ta cứ nghĩ nằm mơ, không phải thực anh đã hạ một con nai. Hôm sau nữa, lại vào rừng, tình cờ lại tìm thấy con nai, anh lại cho là thực.

            Con người cứ lẫn lộn giữa thực và mộng, giữ mộng và thực, quả thực anh thợ rừng không phải là thi sĩ, mà tâm hồn là một t âm hồn thi sĩ, như Hàn Mặc Tử vậy.

            “Làm sao giết người trong mộng?” Người ta hiểu “người trong mộng” đó là Mộng Cầm. Mộng Cầm là con người thực, là con người đã phụ rẩy Han Mặc Tử. Nếu Hàn Mặc Tử không phải là thi sĩ, một người “thực tế” như người Âu Mỹ, thì anh ta đã ra tòa rồi, khi muốn “giết người” (trong mộng). Tuy gọi là (Mộng) Cầm, nhưng Mộng Cầm là người thực, có phải là “người trong mộng đâu!”

            Cứ lẫn lộn giữa mộng và thực thì người ta không được cái gì cả. Không được người tình nên “hận tình”. Đói, không có ăn, hận người đời đã bỏ quên mình. Và hận “Cô liêu” (trên bãi biển), là mối hận ngàn đời của thi nhân. Huy Cận đã từng than như vậy: “Chiều ơi hãy xuống thăm ta với, Thiên hạ lìa xa đời trống không!”

            Ba mối hận, một đời người ngắn ngủi (1), quá đủ cho một thiên tài.

hoànglonghải

(viết để tặng Nguyễn Thị Vân, mới gặp lại sau 45 năm xa cách, chúng ta đâu còn thấy cô liêu nữa, và cũng chẳng hận ai!)

(Phụ lục 1)

Vào năm 1911, Công tước De Montpensier qua Việt Nam du lịch và săn bắn. Nhận thấy phong cảnh tại những ngọn đồi xung quanh Phan Thiết rất hữu tình, nên ông đã mua lại mảnh đất rộng 536m2, cách Tháp Po Sah Inư 100 m về hướng nam đê xây dựng biệt thự.

Tòa biệt thự được khởi công xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 với quy mô 13 phòng rộng cùng nhiều tiện nghi phụ trợ, như máy phát điện đặt dưới tầng hầm, bể chứa nước có thể dùng đủ cả năm. Khi xây xong, biệt thự được xem là công trình hiện đại nhất Bình Thuận lúc bấy giờ. Tên gọi Lầu Ông Hoàng xuất phát từ cách gọi dân dã của người dân về sự sang trọng của vị công tước người Pháp cư ngụ ở đây. Lầu Ông Hoàng có một vị trí đẹp, cao 105 m so với mặt nước biển, cách trung tâm Thành phố Phan Thiết 7 km nằm trên khu vực đồi Bài Nài.

Tháng 7 năm 1917, Công tước De Montpensier bán lại biệt thự cho một chủ khách sạn người Pháp tên là Prasetts. Sau này, vua Bảo Đại mới mua lại nó. Sau khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam năm 1945, quân Pháp đã xây dựng một hệ thống đồn bót với nhiều lô cốt để canh giữ toàn vùng Phan Thiết. Lầu Ông Hoàng trở thành nơi diễn ra nhiều trận đánh ác liệt. Kể từ đó trở đi, Lầu ông Hoàng không còn được ai chăm nom và dần trở nên xuống cấp, hoang phế.

(Theo Wiki)

(1)-Hàn Mặc Tử qua đời ở bệnh viện phung Qui Hòa ngày 11 tháng 11 năm 1940, khi ông mới 28 tuổi)

(Phụ lục 2):

            Trong buổi “Tưởng niệm Hàn Mặc Tử” do Hội Văn hóa thành phố Huế tổ chức năm 1957 như tôi nói ở trên, có nhiều diễn giả lên nói chuyện thơ của Hàn Mặc Tử. Hội nầy do linh mục Cao Văn Luận làm chủ tịch. Các vị diễn giả, ngoài Quách Tấn và Hoàng Diệp, còn có Giáo sư Lê Hữu Mục (thầy giáo của tôi) và ông Võ Long Tê. Hai ông nầy lên diễn đàn giới thiệu bài thơ “Ave Maria” của Hàn. “Maria linh hồn tôi ớn lạnh, Run như run thần tử thấy long nhan.”

            Hai ông giáo sư nầy ca ngợi cái gì hay trong bài thơ nầy tôi không nhớ, nhưng các ông ấy đã dẫn dắt rằng đạo Thiên Chúa là đạo của mọi người. Con người, cuối cùng, như Hàn chẳng hạn, cũng phải về với Chúa Giê-Su.

            Sau khi đi nghe diễn thuyết về, ông chú họ, như tôi nói ở trên hỏi chuyện tôi đi nghe cái gì người ta nói trong buổi diễn thuyết ấy. Tôi kể lại hết những gì tôi đã nghe, nhưng sau khi nói về hai diễn giả Lê Hữu Mục và Võ long Tê. (Ông Tê lúc đó là giáo sư Pháp Văn của Huỳnh Hữu Tuệ ở trường Nguyễn Tri Phương), ông chú tôi bảo: Mấy ông nầy chỉ lợi dụng cái chết của người ta để truyền đạo, bắt giò Cậu Cẩn! Tôi không nghĩ rằng ông chú tôi nói sai.

Trước đây ít lâu, trong một buổi họp đảng Cần Lao của Chi bộ Thành phố Huế, có người đề nghị ông chú tôi bổ đi làm quận trưởng, một quận nào đó, nhưng ông phải “rửa tội” mới được cái chức đó.

            Kể chuyện được đề cử làm quận trưởng xong, ông chú tôi nói: “Tao theo cụ Ngô là để chống Tây. Tây “mắt xong mũi lõ”. Chúa Giê Su cũng như thế, tao thờ Chúa Giê Su sao được.”

            Tình hình chính trị hồi bấy giờ là như thế, phía đạo Thiên Chúa dựa vào thế lực anh em nhà Ngô để bành trướng đạo của họ, như trước kia, họ từng dựa vào thế lực của Thực dân Pháp vậy.

            Hôm đó, tôi có nhắc lại một câu thơ trong bài “Ave Maria” để hỏi ông chú tôi: “Ave Maria mà lại viết “Chiếu rọi khắp ba ngàn thế giới.” Ba ngàn thế giới là tư tưởng của đạo Phật, sao nó lại xuất hiện ở đây.

            Té ra, dù có thờ lại Chúa Giê Su thì tâm hồn Hàn Mặc Tử vẫn là tâm hồn của một người Việt Nam. Một người Việt Nam thì có văn hóa Việt Nam, mà trong văn hóa Việt Nam, mang nặng dấu vết của Phật giáo không phải là ít vậy. Khi người Việt Nam nói một câu gì đó, một câu tục ngữ chảng hạn, nhiều khi người ta không biết rằng mình đã nói một câu mang tính cách giáo lý nhà Phật.

Lòng ta sầu thảm hơn mùa lạnh,
Hơn hết u buồn của nước mây,
Của những tình duyên thương lỡ dở,
Của lời rên siết gió heo may.

Cho ta nhận lấy không đềm đáp,
Ơn trọng thiên liêng xuống bởi trời,
Bằng tiếng kêu gài say chếnh choáng,
Bằng tim, bằng phổi nóng như sôi.

Và sóng buồn dâng ngập cả hồn,
Lan tràn đến bến mộng tân hôn.
Khóe cười nức nở nơi đầu miệng,
Là nghĩa, trời ơi, nghĩa héo hon.

Cô liêu

Gió lùa ánh sáng vô trong bãi
Trăng ngậm đầy sông, chảy láng lai
Buồm trắng phất phơ như cuốnglá
Lòng tôi bát ngát rộng bằng hai.

Tôi ngồi dưới bến đợi nường Mơ,
Tiếng rú ban đêm rạn bóng mờ,
Tiếng rú hồn tôi xô vỡ sóng,
Rung tầng không khí bạt vi lô.

Ai đi lẳng lặng trên làn nước,
Với lại ai ngồi khít cạnh tôi ?
Mà sao ngậm kín thơ đầy miệng
Không nói không rằng nín cả hơi ?

Chao ôi! Ghê quá trong tư tưởng,
Một vũng cô liêu cũ vạn đời!
Chao ôi ghê quá! Chao ghê quá!
Cảm thấy hồn tôi ớn lạnh rồi!

Lang thang


Lãng tử ơi! mi là tiên hành khất,
May không chết lạnh trước lầu mỹ nhân.
Ta đi tìm mộng tầm xuân,
Gặp vua nhà Nguyễn bay trên mây.
Rượu nắng uống vào thì say.
Áo ta rách rưới trời không vá,
Mà bốn mùa trăng mặc vải trăng
Không ai chết cả sao lòng buồn như tang?
Cho tôi mua trọn hàm răng.
Hàm răng ngà ngọc, hàm răng đa tình,
Một chắc ta lại với mình.
Có ai vô đó mà mình hồ ngươi?
Lãng tử ơi, mi là tiên hành khất,
Nay không hộc máu chết rồi còn đâu?

Trời hỡi nhờ ai cho khỏi đói?
Gió trăng có sẵn làm sao ăn?
Làm sao giết được người trong mộng?
Để trả thù duyên kiếp phũ phàng?

(Xuân Như Ý)

Ra đời

Hàn Mặc Tử


Cả trời bỗng nổi lên muôn điệu nhạc
Rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác
Rất phương phi, trên hết cả anh hoa
Xuân ra đời
Điềm ngọc ấm như ngà
Thơ có tuổi và chiêm bao có tích
Và tâm tư có một điều rất thích
Không nói ra vì sợ bớt say sưa
– Chàng ơi, chàng ơi, sự lạ đêm qua
Mùa xuân tới mà không ai biết cả.

Biển hồn ta


Máu tim ta tuôn ra làm bể cả
Mà sóng lòng rồn rập như mây trôi
Sóng lòng ta tràn lan ngoài xứ lạ
Dâng cao lên, cao tột tới trên trời.

Ôi ta đã mửa ra từng búng huyết
Khi say sưa với lượn sóng triền miên
Khi nhận lấy trong thâm tâm cay nghiệt
Giọng hờn đau trăm vạn nỗi niềm riêng.

Ta muốn níu hồn ai đương hiển hiện
Trong lòng và đang tắm máu sông ta
Ta muốn vớt ai ra ngoài sóng điện
Để nhìn xem sắc mặt với làn da.

Ôi ngông cuồng! Ôi rồ dại, rồ dại!
Ta đi thuyền trên mặt nước lòng ta
Ôi ngông cuồng, ôi rồ dại, rồ dại
Ta cắm thuyền chính giữa vũng hồn ta.

Hồn là ai


Hồn là ai là ai? Tôi không biết
Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi
Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười
Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng
Tôi chết giả và no nê vô vạn
Cười như điên, sặc sụa cả mùi trăng
Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng
Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến
Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên
Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm
Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực
Hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức
Rồi bay lên cho tới một hành tinh
Cùng ngả nghiêng lăn lộn giữa muôn hình
Để gào thét một hơi cho rởn ốc
Cả thiên đường trần gian và địa ngục

Hồn là ai? Là ai! Tôi không hay
Dẫn hồn đi ròng rã một đêm nay
Hồn mệt lả mà tôi thì chết giấc

Nhớ Trường Xuyên
Trường Xuyên ơi! Trường Xuyên ơi!
Viết chẳng nên câu nói nghẹn lời
Mây nước bao la tình lẳng lặng
Gió sương mờ mịt nhớ chơi vơi
Tương tư mộng thấy năm canh mộng
Luyến ái trời vương bốn phía trời
Đây nhớ đây thương mình tệ quá
Có ai khắng khít lại quên ai.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: