Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Phạm Ngọc Thái – 3 BÀI THƠ PHÊ PHÁN CỦA CHẾ LAN VIÊN

Trong lời giới thiệu tập sách “Chế Lan Viên – Thơ chọn lọc”, Nxb Văn học 2014 – Dương Phong, người tuyển chọn… khi nói về ba bài thơ này đã viết: –  “Ba thi phẩm nổi tiếng công bố muộn mằn của Chế Lan Viên – in trong Di cảo Chế Lan Viên – chính là:  “Ai ? Tôi!”  –  “Bánh vẽ”  –  “Trừ đi”… là những sự trở trăn, lật trái lại mặt sau của cuộc đời.”

Thực ra, nếu nói  “Đó là… những sự trở trăn, lật trái lại mặt sau của cuộc đời“, là Dương Phong đã lựa lời nói cho nhỏ nhẹ đi, tránh khâu kiểm duyệt, sợ không cho xuất bản. Theo tôi, xác đáng hơn thì phải nói: Ba thi phẩm đó đã… lật trái lại mặt sau của xã hội và chính trị – Người đã tự phê phán. Thậm chí tự lên án mình! Cả ba bài thơ đều nằm trong Di cảo. Khi còn sống Người đã không cho xuất bản, không dám công bố. Tôi xin phân tích từng bài một.

Trong bài “Ai? Tôi!” – Bài thơ viết vào những ngày sau khi nước nhà đã hoàn toàn giải phóng. Có lẽ một thực trạng xã hội đã tác động vào tâm can, tư tưởng, dầy vò làm ông đau đớn. Ông chạnh nghĩ về những hy sinh của những người lính trong cuộc chiến tranh xưa. Những bi thương mà dân tộc đã phải trả giá. Bắt đầu vào thơ… bằng sự phê phán chính mình, ông chỉ ra:

Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng

Chỉ một đêm, còn sống có 30

Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó?

Tôi! Tôi – người viết những câu thơ cổ võ

Ca tụng người không tiếc mạng mình

trong mọi cuộc xung phong

Cái nguyên nhân đó chỉ là sự tự vấn lương tâm. Người tự kết tội mình: Vì những câu thơ cổ võ của Người làm cho những người lính xung phong, nên mới để 2.000 người đi thì 1.970 người bỏ mạng không trở về. Nhưng tại sao Người nói vậy???

Ta vẫn biết thơ Chế Lan Viên là loại thơ bình luận. Thơ triết lý. Về phương diện nghệ thuật, nó có tính triết học cao. Tính tư tưởng trong thơ rất sâu sắc về ý nghĩa cuộc sống, cũng như sự phê phán xã hội và cuộc đời. Mỗi câu thơ ông đều hàm súc ý nghĩa ở bên trong. Thơ đọc càng sâu càng thấm thía. Về tính nhân văn, ông là một nhà thơ của nhân dân.

 Nhà thơ của nhân dân ấy từng viết những bài thơ nổi tiếng một thời, như: Sao chiến thắng, Người đi tìm hính của nước… Ông đã sáng tác cả một tập “Ánh sáng và phù sa” danh tiếng. Đầy hoài vọng với một tương lai huy hoàng của đất nước về ngày chiến thắng:

Xưa phù du mà nay đã phù sa

Xưa bay đi mà nay không trôi mất

Cho đến được… lúa vàng đất mật…

Anh đã mất gì? Đã mất bóng đêm.

Không tiếc lời ca ngợi lãnh tụ. Ca ngợi Đảng quang vinh:

Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc

“Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”

Hình của Đảng lồng trong hình của nước

(Người đi tìm hình của nước)

Hết lời ca ngợi chủ nghĩa. Tin vào ngọn cờ khi theo Đảng quang vinh:

                      Xanh biết mấy là trời xanh Tổ quốc

                      Khi tự do về chói ở trên đầu

                      ……

                      Cây cay đắng đã ra mùa quả ngọt

                      Người cay đắng đã chia phần hạnh phúc

                      Sao vàng bay theo liềm búa công nông

Thế mà giờ đây, những năm tháng sau chiến tranh, đất nước đã hoà bình. Một thực tế xã hội với bao nhiêu mảng đen về sự bất công, thiếu nhân quyền. Đầy rẫy những quan lại tham nhũng đủ kiểu, tiếp tay cho chính quyền địa phương chèn ép, chiếm đoạt cả đất đai của dân lành, đẩy họ vào sự cùng quẫn. Chính quyền như thế đâu có phải còn của dân? Cái băng rôn Nhà nước do dân, vì dân… âu cũng chỉ là khẩu hiệu? Tâm hồn ông bị đổ vỡ. Người đổ vỡ về Đảng chăng?… Người thất vọng về chủ nghĩa chăng?…  Người không nói. Nhưng rõ ràng đọc: “Ai?Tôi!”, lật mặt sau của những câu thơ ta thấy: Cái thần tượng về một Đảng mác-xít trong ông đã bị sụp đổ. Ông không còn niềm tin thật sự vào thể chế của ngày hôm nay nữa.

Nghĩ lại cuộc chiến xưa. Bao sinh mạng những người lính xung phong cho sự tốt đẹp của đất nước, hạnh phúc của dân tộc… lại như thế này sao? – mà chính thơ ông đã góp phần thúc giục họ xung phong. Hàng vạn, hàng vạn người lính chết cho một cuộc chiến… đã trở thành phi lý ư? Ông đau đớn mà thốt lên. Không, phải nói là ông đã thét lên khi viết những câu thơ:

Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó?

Tôi! Tôi – người viết những câu thơ cổ võ

Ca tụng người không tiếc mạng mình

trong mọi cuộc xung phong

Ở đây ta thấy một Chế Lan Viên quay ngược lại hoàn toàn, không còn phải là tâm hồn như khi Người đã viết “Ánh sáng và phù sa” nữa. Trái tim ông quằn quại. Sau đó Người lý giải về kết quả những câu thơ mà Người đã cổ võ những người lính xung phong đó: 2.000 người đi… thì 1.970 người bỏ mạng, chỉ 30 người sống sót. Để cuối cùng dân tộc được gì?… Tổ quốc được gì?… Thông qua một hiện thực cuộc sống, Người viết:

                      Một trong ba mươi người kia

                                               ở mặt trận về sau mười năm

                      Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ

                      Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ

                      Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!

                      Ai chịu trách nhiệm vậy?

                      Lại chính là tôi!

                      Người lính cần một câu giải đáp về đời

                      Tôi ú ớ

                     Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong

                      Mà tôi xấu hổ

                      Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay

                      Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ

                      Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười.

Ta đặt câu hỏi: Nếu sự hy sinh kia… cũng vì Tổ quốc, tại sao Người lại phải xấu hổ?… dẫu cho là chính thơ Người cũng đã cổ võ những người lính ấy xung phong chăng nữa. Vấn đề là ở chỗ, bật ra những câu thơ như thế, Trong thẳm sâu trái tim Người đã phải rên rỉ, đớn đau vì tình hình của đất nước hôm nay. Mặc dù ông chỉ giải nghĩa nguyên nhân làm ông xấu hổ, rằng:

                      Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay

                      Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ

Hay là:

                      Người lính cần một câu giải đáp về đời

                      Tôi ú ớ

Chỉ có thể giải thích rằng: mặc dù đất nước đã hoà bình nhưng tình hình xã hội lại ngày càng suy. Rền xiết trong ông một nỗi niềm u uẩn: về chế độ còn nhiều sự giả trá, bất công chăng? Thực tế một Nhà nước xã hội chủ nghĩa đâu có được tốt đẹp trong tâm hồn như ông hằng tâm niệm. Ông trăn trở… máu dân tộc đã đổ cho cuộc chiến ấy, chỉ để giành lại một chính thể phi lý này ư? Thế mà 1.970 người lính phải chết trong một đêm Mậu Thân – đấy mới chỉ là một cuộc xung phong. Nếu nói đến mọi cuộc xung phong thì phải hàng vạn, hàng vạn những người lính nữa đã phải chết… cho một cuộc sống với bao sự phi nghĩa như thế này?

Ta lật lại mặt kia của câu thơ: Nếu như sự xung phong của những người lính, là để giành lại độc lập, tự do cho một đất nước… có một xã hội công bằng, ấm no và hạnh phúc của dân tộc. Thì việc gì Người phải xấu hổ? Như Người từng viết:

                       Ôi Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt

                       Như cha mẹ ta, như vợ như chồng

                       Ôi Tổ quốc, nếu cần, ta chết

                       Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông…

                                                       (Sao chiến thắng)

Máu của dân tộc đã đổ. Cái chết của những người lính ngoài chiến trận, cho ngày hôm nay ra sao?

–  Vì một Đảng cộng sản quang vinh ư?…  Khi trung ương và chính phủ đầy những quan tham nhũng. Một xã hội tràn lan bao lớp quan lại địa phương cấu kết với quan trên chèn ép, ức hiếp dân lành. Chỗ nào cũng bất công. Chỉ chết những kẻ thấp cổ, bé họng – có oan trái mà không tiền, đi kiện cáo cũng chẳng ai thèm quan tâm.

–   Vì một Đảng cộng sản quang vinh ư?… Khi những “đầy tớ của dân” ấy thì giàu nứt đố, đổ vách. Có nguyên Tổng bí thư Đảng làm hai khoá cả chục năm. Đứng đầu của một Đảng cộng sản quang vinh – Thời ông ta còn đương nhiệm… thì Đảng yếu kém, xã hội tạp dịch bung bét, kinh tế quốc dân sa sút. Nếu không tham nhũng mà khi ông ta mãn nhiệm trở về, giàu như một đế vương? Nhà cửa, biệt thự nguy nga như cung vua phủ chúa, sàn lát đá hoa cương. Đạo lý chẳng khác gì những kẻ tha hoá? Cha thì đoạt lấy nhân tình, bồ bịch của con trai. Nhân cách rất rẻ tiền. Con gái với mẹ kế cũng bới móc, kiện cáo nhau vì giành giật tiền bạc của nả.

–   Một nhà nước, một chính thể chân chính của dân, do dân, vì dân ư? Ngay cuối tháng 3/2015 vừa qua, trong bài viết “Chả lẽ ông Chủ tịch thành phố Hà Nội không có lỗi gì trong vụ chặt cây”, đăng trên laokhoa.blogtiengviet.net – chính nhà thơ Trần Đăng Khoa đã lên tiếng cảnh báo những lãnh đạo Đảng và Nhà nước, rằng:

… Bởi chúng tôi chỉ là nhân dân. Nhân dân là mác là chông. Là sông là núi nhưng cũng không là gì… Vâng nhân dân là thế đấy. Khi có giặc thì chúng tôi là mác là chông, là sông là biển ngăn giặc, đánh giặc, rồi hy sinh thành hàng vạn, hàng triệu những nấm mồ vô danh ở Điện Biên, ở Thạch Hãn, ở Hoàng Sa, Trường Sa, ở Biển Đông, ở khắp mọi nơi trên đất nước này. Còn khi yên hàn, chúng tôi chẳng là gì cả.

Liên tưởng những năm qua – Ở ngoài biển đảo thì bọn Tàu khựa cướp biển, cướp đảo ta. Chúng hung hăng bắn giết những người dân đánh cá và chiến sĩ ta… đang phải ngày đêm canh giữ biển trời. Khắp nơi trong nước, nhất là ở các thành phố… nhân dân xuống đường biểu tình lên án giặc Tàu – Thì chính quyền lại đi trấn áp, bắt bớ. Rồi hăm dọa, tống giam cả các bloger yêu nước.

Ta trở lại với bài thơ của Chế Lan Viên: Trong thẳm sâu tâm linh của Người, điều làm cho Người xấu hổ – Như Người nói, bởi chính thơ Người đã kêu gọi những người lính kia… và họ đã phải chết đi trong những cuộc xung phong ấy?… cho tương lai của đất nước với một thể chế thiếu nhân đạo như hôm nay.

Tôi xin nói tiếp sang bài thơ “Bánh vẽ”.

                                                 BÁNH VẼ

                      Chưa cần cầm lên nếm,

                                                  anh đã biết là bánh vẽ

                      Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn

                      Cầm lên nhấm nháp.

                      Chả là nếu anh từ chối

                      Chúng sẽ bảo anh phá rối

                      Đêm vui

                      Bảo anh không còn có khả năng nhai

                      Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc…

                      Thế thì đâu còn dịp nhai thứ thiệt?

                      Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn

                      Như không có gì xảy ra hết

                      Và những người khác thấy anh ngồi,

                      Họ cũng ngồi thôi

                      Nhai ngồm ngoàm…

Chả cần phải khó nghĩ ta cũng hiểu ngay: Những “bánh vẽ” mà Chế Lan Viên nói ở đây thuộc các chủ trương, chính sách hay đường lối của Nhà nước, của Đảng. Có những thứ bánh vẽ chỉ gây tổn hại lớn nhỏ đối với nền kinh tế hay đời sống dân sinh, làm cho nhân dân đói khổ. Nhưng cũng có loại bánh vẽ thì lại làm… chết người. Có khi giết hàng nghìn, hàng vạn người lương thiện và vô tội.

Xin lược lại mấy cái bánh vẽ đã gây ra những tội ác kinh hoàng trong lịch sử của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chúng ta. Như cái bánh vẽ:

–   Về Cải cách ruộng đất của Đảng và chính phủ 1946-1957.

–   Sự kiện hay còn gọi là “vụ án nhân văn giai phẩm” 1955-1958.

  1. Sơ lược về thảm hoạ của cuộc Cải Cách Ruộng Đất.  

Cái bánh vẽ của Đảng Lao động VN (tức Đảng Cộng sản VN bây giờ) và Chính phủ nước VN Dân chủ Cộng hòa – Người ta gọi đó là “chiến dịch đấu tố thảm sát tàn bạo”. Nồi da xáo thịt kinh hoàng. Đồng bào, đồng loại thảm sát, tận diệt lẫn nhau. Những người cùng huyết thống trong gia đình bị tuyên truyền, cưỡng chế vu cáo ám hại nhau. Con đấu tố cha, vợ vu cáo chồng… là địa chủ cường hào, là phản động, là bóc lột. Giẫm đạp lên luân thường đạo lý. Người ta chưa biết thật chính xác về số người đã bị giết trong CCRĐ. Có nguồn tin thì nói khoảng 120.000 người bị giết, nhưng cũng có thông tin những người bị giết lên đến trên 170.000 người. Vậy chí ít cũng phải trên chục vạn người bị giết ở cuộc CCRĐ ấy. Trong đó, cứ 10 người đem ra kết án rồi bắn chết thì có 7 người bị vu oan.

Bao nhiêu người cách mạng – hy sinh cả một đời, hy sinh cả gia đình, cống hiến của cải cho kháng chiến… cuối cùng cũng bị đội cải cách của chính phủ qui tội, xử bắn rất tàn ác. Nói về những hành động giết chóc khủng khiếp thời kỳ ấy, thấy nổi trôi trên mạng mấy vần thơ của nhà thơ Tố Hữu – một ông quan cách mạng mà sau này lên tới chót đỉnh, uỷ viên trong Bộ chính trị của Đảng cộng sản, viết tuyên truyền trong thời ký CCRĐ. Thơ rằng:

                      Giết! Giết nữa bàn tay không phút nghỉ,

                      Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong

                      Cho Đảng bền lâu cùng rập bước tơ lòng

                      Thờ Mao Chủ tịch, thơ Sít-ta-lin bất diệt!

Chẳng hiểu có đúng vậy không? Nghe vần thơ, giọng thơ thì rất giống thơ Tố Hữu. Nếu đúng thế thì – Chao ôi!  Một ông quan cấp cao của Đảng cộng sản nhưng thơ khát máu quá!… mà lại là máu cùng đồng loại, giống nòi.

  1. Đôi nét về vụ nhân văn giai phẩm.

–   Là phong trào đấu tranh của những văn nghệ sĩ đòi dân chủ, tự do văn hoá và trong sáng tác văn học nghệ thuật.

–   Những văn nghệ sĩ trong Nhân văn giai phẩm tuyên bố: văn học nghệ thuật không để phục vụ cho chính trị, đó là quyền tự do sáng tác của họ. Với khẩu hiệu “trả lại văn nghệ cho văn nghệ sĩ”.

–   Họ phản đối sự chuyên chính của Đảng, đòi xoá bỏ sự đảng trị, độc đoán trên lĩnh vực văn hoá và sáng tác văn học nghệ thuật. Theo họ, chủ nghĩa cộng sản là không nhân văn, chà đạp con người. Họ chống sùng bái cá nhân. Phong trào nhân văn giai phẩm này đã bị Đảng và Nhà nước dùng bạo lực thanh trừng, bắt bớ, tù đầy. Hàng loạt các văn nghệ sĩ phải đi cải tạo, hoặc bị quản thúc, cấm sáng tác… kéo dài hàng chục năm. Trần Dần phẫn uất cứa cổ tự tử mà không chết. Từ một trào lưu đấu tranh đòi dân chủ, tự do trong văn học nghệ thuật – trở thành một vụ án “nhân văn giai phẩm”, đẩy thành một vụ án chính trị. Phong trào được khởi xướng 1955 và chính thức bị dập tắt tháng 6/1958. Đến khi được cởi trói cho văn nghệ sĩ thì nhiều người đầu đã bạc, kẻ thì bệnh hoạn ốm đau… nào bại liệt, tâm thần, hoặc chết trước khi được cởi trói. Như nhạc sĩ Văn Cao được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh một năm sau khi mất (1996). Tháng 2/2007 các nhà văn trong nhóm Nhân văn giai phẩm như Phùng quán, Trần Dần, Yến Lan, Lê đạt, Hoàng Cầm thì được tặng giải thưởng Nhà nước… vì đã có công trong sự nghiệp sáng tác văn học của nước nhà.

Chao ôi, mới thấy kiểu lãnh đạo của chế độ XHCN chúng ta, có khác gì bánh vẽ? Đúng là những thứ trò. Thậm chí những thứ trò và bánh vẽ ấy đầy giả tạo, lừa dân và vô nhân thất đức… “cởi ra rồi lại buộc vào như không”.

Xin quay trở lại với bài thơ “Bánh vẽ” của Chế Lan Viên. Tại sao một nhà thơ lớn của chúng ta cũng như bao văn nghệ sĩ khác, biết là “bánh vẽ” rồi… mà vẫn phải ngồi vào bàn, vẫn phải… ăn??? Như Người đã viết:

                      Chả là… nếu anh từ chối

                      Chúng sẽ bảo anh phá rối

                      …..

                      Và đưa anh ra khỏi bàn tiệc

Nghĩa là: nếu anh không ăn cái bánh vẽ của chúng, thì chúng sẽ “đánh”anh. Sẽ qui tội và sẽ… triệt anh. Cũng như “vụ án Nhân văn giai phẩm” vậy thôi.

Ngay như Nguyễn Khải – một nhà văn có danh tiếng và tầm vóc. Đương thời ông đã phải kìm nén, nhẫn nhịn biết bao sự nhiễu nhương của thể chế. Sự vô đạo của những kẻ điều hành xã hội – Ông có dám viết lên cái hiện thực ấy đâu? Đến khi mất, ông mới để lại một cuốn di cảo, tập tùy bút chính trị… gọi là “Đi tìm cái tôi đã mất”. Phê phán, phanh phui những cái mất tự do, dân chủ, chưa có nhân quyền của chế độ. Như người ta nói: Nguyễn Khải chết rồi mới dám nói thật.

Không phải chỉ Chế Lan Viên, Nguyễn Khải… mà cùng bao văn nghệ sĩ khác thời nay – Nếu muốn còn được cầm bút để viết. Nếu muốn còn được sống để hoạt động văn học nghệ thuật, thì phải chấp nhận ăn… “bánh vẽ”. Lương tri dẫu bị dằn vặt? Họ vẫn phải – như Chế Lan Viên đã viết:

                     Rốt cuộc anh lại phải ngồi vào bàn

                     Như không có gì xẩy ra hết

Và:

                     Nhai ngồm ngoàm…

Nếu anh không chịu ngồi vào bàn nhai cái bánh vẽ ấy? Nếu trái tim nhà văn bức bối mà không kìm nén được nữa, cố viết nó ra – thì sẽ bị… triệt ngay. Thí dụ như cuốn tiểu thuyết “Thời của thánh thần” của nhà văn Hoàng Minh Tường chẳng hạn?

Thời của thánh thần”, Nxb Hội nhà văn 2008 – Là một cuốn tiểu thuyết, một bức tranh tổng thể của xã hội. Nhà văn phục lại những hiện thực, … qua những số phận chìm nổi của một gia đình. Những trận đấu tố đầy chất bi hài. Những chiến dịch cưỡng bức nhuộm máu… để tái hiện lại sự đen tối của thời Cải cách ruộng đất. Vụ án Nhân văn giai phẩm… những người trí thức và văn nghệ sĩ bị nhà cầm quyền vùi dập, bắt tù đầy, khủng bố tư tưởng, bị vô hiệu hoá trở thành những cái bóng dặt dẹo. Rồi cuộc đấu tranh với xét lại hiện đại đến vấn đề Hoà hợp dân tộc?…  Các nhà bình luận nhận xét rằng: “Thời của thánh thần” là bi kịch của một gia đình thông qua tấn đại bi kịch của dân tộc. Đọc Thời của thánh thần phải rùng mình vì sự bất ổn của một xã hội, trong cơn bão loạn thời thế. Bạo lực được xây dựng trên những thứ triết lý không tưởng, vừa cuồng tín vừa tàn bạo.

Sách bị qui là bôi xấu chế độ. Mới phát hành được vài ngày thì bị Nhà nước ra sắc lệnh thu hồi. Nghe nói ngày 28/8/2008, chính nhà văn Hoàng Minh Tường đã phải đi tất cả các cửa hiệu gửi… để thu hồi sách.

Năm qua, nhà văn Đỗ Hoàng cũng một lần nữa lên tiếng vạch trần những hành động phi nhân nghĩa của ông Trưởng ban tư tưởng văn hoá trung ương một thời – Nguyễn Khoa Điềm, nguyên Uỷ viên Bộ chính trị của Đảng cộng sản. Khi còn đương chức đương quyền, ỷ thế vào bộ máy quyền lực của Đảng đã bóp nghẹt sự tự do dân chủ các văn nghệ sĩ và thẳng tay trấn áp những ai không chịu… “ăn bánh vẽ” của Đảng. Trong bài “Thơ vô lối Nguyễn Khoa Điềm” đăng trên trang vannghecuocsong.com – Nhà văn Đỗ Hoàng vạch rõ:

” Nguyễn Khoa Điềm – Ông trùm tư tưởng văn hoá của Đảng cộng sản Việt Nam, đứt gánh giữa chừng… phải về vườn – Thời còn Trưởng ban tư tưởng văn hoá, Nguyễn Khoa Điềm để lại nhiều tiếng không hay: Ông ta trù úm Hoàng Minh Chính, bắt nhà văn Dương Thu Hương, bôi nhọ Trần Độ, loại bỏ nhiều nhà bất đồng chính kiến, đàn áp những người đòi tự do dân chủ, cấm mạng, cấm internet, đốt thành tro bụi những tập sách Học phí trả bằng máu của Nguyễn Khắc Phục, Chuyên kể năm 2000 của Nguyễn Ngọc Tấn, Chúa trời ngủ gật của Nguyễn Dậu, Tâm sự người lính của Đỗ Hoàng, ngăn cản nhiều nhà văn tài năng vào Hội nhà văn Việt Nam… Ký duyệt nhiều dự án tiêu hàng triệu đô là tiền ngân sách, thuế dân đóng để phe nhóm hưởng lại quả nhưng hiệu quả không là bao như: Phim Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công, (phim bỏ kho) 1 triệu đô, phim Dòng sông phẳng lặng (phim bỏ kho)…” v.v.

Như thế có thể thấy rằng: cái bánh vẽ mà Đảng và Nhà nước XHCN của chúng ta vẫn liên tục vẽ ra suốt từ hồi CCRĐ đến giờ. Các văn nghệ sĩ muốn tồn tại bình yên thì đều phải… ăn. Như cách nói của Chế Lan Viên:

                      Và những người khác thấy anh ngồi,

                      Họ cũng ngồi thôi

                      Nhai ngồm ngoàm…

Nếu ai không “nhai ngồm ngoàm…” thì Đảng sẽ cho chính quyền đến… “hỏi thăm”? Sự tự do, dân chủ của chế độ ta vẫn chỉ là giả hiệu: như việc đàn áp, đe nẹt, bắt bớ những người biểu tình chống giặc Tàu. Những kẻ quá khích chỉ là số ít. Chủ yếu đó là dân tình và những trí thức yêu nước. Bóp nghẹt nhân quyền sống của con người qua việc trấn áp, giam hãm tù đầy các bloger yêu nước… dám nói lên sự thật.

Giờ tôi xin nói thêm ít lời về bài “Trừ đi”:

                      Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ

                      Có phải tôi viết đâu? Một nửa

                      Cái cần viết vào thơ, tôi đã giết đi rồi!

                      Giết một tiếng đau, giết một tiếng cười,

                      Giết một kỷ niệm, giết một ước mơ,

                      Tôi giết cái cánh sắp bay… trước khi tôi viết

                      Tôi giết bão táp ngoài khơi

                                               cho được yên ổn trên bờ

                      Và giết luôn mặt trời trên biển,

                      Giết mưa và giết luôn cả cỏ mọc trong mưa luôn thể

                      Cho nên câu thơ tôi gày còm như thế

                      Tôi viết bằng xương thôi, không có thịt của mình.

                      Và thơ này rơi đến tay anh

                      Anh bảo đấy là tôi?

                      Không phải!

                      Nhưng cũng chính là tôi – người có lỗi!

                      Đã giết đi bao nhiêu cái

                      Có khi không có tội như mình.

Đọc mấy câu thơ kết trong bài ‘Trừ đi” này, thấy tâm trạng Chế Lan Viên có khác gì Nguyễn Khải và một số văn nghệ sĩ?… chỉ dám viết một nửa sự thật – Còn một nửa thì phải viết theo sự cưỡng chế của… Đảng và chế độ – Người nói:

                      Thơ này rơi đến tay anh

                      Anh bảo đấy là tôi?

                      Không phải!

Người phủ nhận chăng? Không, để rồi cũng chính Người thừa nhận:

                     Nhưng cũng chính là tôi – người có lỗi!

Câu thơ viết thổ lộ như thế – để nói lên những xót xa trong lòng ông, trăn trở và đau đớn. Có thể nói đó là sự quằn quại, dầy vò lương tâm của những người cầm bút, những văn nghệ sĩ sống bằng lương tri. Những con người yêu đất nước và dân tộc – Nay chỉ vì thờ phụng cho một chính thể đã mọt ruỗng mà phải giết đi bao nhiêu cái tốt đẹp. Giết đi cả những tình cảm, lòng nhân ái và tư tưởng trong sáng. Cái tội ấy của nhà thơ, nhà văn… còn lớn hơn cả bao nhiêu thứ mà Người đã qui tội kia? Người – tức Chế Lan Viên đã bảo vậy:

                     Chính tôi đã giết đi bao nhiêu thứ

                     Có khi không có tội như mình!

Đấy, ông đã viết như thế đấy! Vậy “trừ đi” là trừ đi cái gì? Ông nói, sau này đọc thơ ông thì hãy trừ đi một nửa – Chỉ đúng một nửa thôi, còn lại là giả…

Có phải cái “giả” mà ông muốn nói ấy… có khi là cả những bài thơ mà ông đã từng ca ngợi chế độ, ca ngợi Đảng? Bởi vì: nếu ông phê phán Đảng, lên án chế độ, thì ông sẽ bị… “đánh”, bị triệt… như vụ án Nhân văn giai phẩm. Gia đình, vợ con sẽ khốn khổ, khốn nạn theo ông. Nghĩa là, nếu ông mà nói thật… thì Đảng và Nhà nước cũng lắm tội lắm chứ!?

Tôi xin dừng lại bài bình luận về ba bài thơ của Người ở đây.

*.

PHẠM NGỌC THÁI

Địa chỉ: 34 ngõ 194, phố Quán Thánh Hà Nội

ĐT: 0168 302 4194

Email: ngocthai1948@gmail.com

.

BẰNG VIỆT

PHÊ PHÁN XÃ HỘI BẰNG THƠ

*

Nheo mắt nhìn thế giới” – NXB Văn học 2008, là một tập thơ có tiếng vang và hay nhất của Bằng Việt. Trong lời giới thiệu tập thơ, Ông đã viết:

–  Thơ đối với tôi (tức tác giả) không chỉ là thơ mà còn là một thái độ sống. Đã là một thái độ sống, thì bút pháp thể hiện cốt sao nói được hết điều mình cần nói, cần tỏ thái độ…

Một đoạn khác cũng lời giới thiệu ấy, Ông còn nhấn mạnh:

–  “Nheo mắt nhìn thế giới” – đầu đề tập thơ này thoạt nghe có vẻ hơi kênh kiệu, thậm chí có phần xấc lược! Nhưng đọc kỹ các bạn sẽ thấy, thực ra là một thái độ, một tâm trạng khá kìm nén, đến mức có phần nhẫn nhịn, lặng lẽ chiêm nghiệm, đôi khi chua chát, ngậm ngùi…

Nhìn tổng thể tập thơ bắt nguồn từ một cách nhìn của một cõi lòng có phần u uẩn, dồn ứ cảm xúc mà tạo thành thi phẩm, mang tính phê phán xã hội sâu sắc. Vậy ta hãy xem, qua những bài thơ Bằng Việt đã phê phán xã hội thế nào? Xin mở đầu trang bình luận này bằng việc phân tích bài “Nhớ Trịnh”:

Có khi/  Một ngày ruổi rong, một ngày tất bật/  Cũng không làm xong một việc ra hồn!/  Có khi/ 

Cả tuần lao lung, cả tuần suy ngẫm/ Cũng không nhìn thấu bản thể mình!

Tôi nói về đoạn thơ giữa trước:

Ngày sống vội, tuần sống vội, năm sống vội/  Tuổi hoa niên, trung niên, kế tiếp tuổi già/  Chong chóng quay, rút cuộc được gì?/…

Được chuyển động – làm bù nhìn của gió…

Bằng Việt không chỉ là nhà thơ, mà còn thuộc hàng thủ lĩnh chính trị trong cơ quan tuyên huấn Đảng, Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thủ đô, phó Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật VN, đồng Chủ tịch Hội đồng thơ HNVVN. Có thể nói suốt cuộc đời Ông luôn tỏ ra trung thành, mẫn cán, phụng sự chế độ như một cái …”chong chóng quay” (như thơ đã viết). Vậy sao lại phải thốt lên:

Chong chóng quay, rút cuộc được gì?

Ông tự trả lời:

Được chuyển động – làm bù nhìn của gió…

Có nghĩa là, tất cả sự phụng sự không biết mệt mỏi ấy: Ngày sống vội, tuần sống vội, năm sống vội /-  Cả đến những bổng lộc, vinh quang mà Ông đã có (tôi xin nói về ý nghĩa của sự “vinh quang” này sau), cũng chỉ để làm…”một bù nhìn”! Nhưng là bù nhìn của ai?

bù nhìn của gió…

Đó chính là bộ máy nhà nước! Ta đọc tiếp những câu thơ dưới:

Và gió, quẩn quanh đầu sông, cuối bãi,

Cũng một kiểu bù nhìn của nóng lạnh, Âm-Dương

Khí trời thay đổi… lúc nóng, khi lạnh thì tạo thành gió – Vậy “gió” lại cũng chỉ là “một thứ bù nhìn”… của trời đất (tức Âm-Dương)! Hình tượng “Âm-Dương” tác giả sử dụng, chính là để chỉ về chế độ cũng chỉ như… “một thứ bù nhìn”  theo chủ nghĩa Marx hoang tưởng mà thôi! Nó vận hành như gà mắc tóc:

cứ quẩn quanh nơi đầu sông, cuối bãi

Đó là một bộ máy cổ hủ, thậm chí còn bị tha hoá… (ta sẽ xét ở các bài khác thì thấy ý nghĩa này rõ hơn: như bài “Ngô đồng”, “Người của thế kỷ trước”, hay “Ngôn ngữ và chính trị” v.v…). Để rồi tác giả kết luận:

Còn Âm-Dương có từ đâu, tồn tại tới đâu

Thì mở hết giác quan, ta vẫn là mù tịt!

Với kiến thức của một học giả, sự từng trải một đời người và chân dung của một văn nghệ sĩ có tầm vóc, mà Bằng Việt phải than:  mở hết các giác quan, ta vẫn là mù tịt!/ –  Ông hoài nghi, nói đúng ra là Ông không còn tin vào thể chế của chủ nghĩa Marx là đúng nữa? Ôi, nhưng đó lại chính là lý tưởng mà cả đời Ông cống hiến, để bây giờ sụp đổ thế ư? rồi tác giả buồn bã kết luận:

Rầu rĩ trở về câu thơ của Trịnh:

“Đêm thấy ta là thác đổ…”

Vậy ngày ơi, ta là gì?

Nghĩa là, hôm nay chỉ là đêm trường – Vậy ngày mai khi trời sáng lạn thì sao? Ông chợt thấy mình rồi sẽ chẳng là gì cả! Mai ngày khi thời thế đổi thay, chủ nghĩa Marx đã không còn, xã hội đi theo một hướng khác đúng đắn và hợp lý hơn!?   Nói một cách cụ thể: tên tuổi với niềm vinh quang mà Ông có hôm nay sẽ chỉ giả ảo nhất thời, nó giống như một “bóng ma” trong chốn quan trường, một thứ bù nhìn… của cái thế thời này! Lòng Bằng Việt tan nát, nên mới  nhắc đi nhắc lại mãi câu thơ:

“Đêm thấy ta là thác đổ…”

Có lẽ nào, chỉ thế thôi sao?

Tôi phân tích sang bài “Ngô đồng”:

Thất vọng với ngàn xưa hay thương xót ngô đồng /  Trót được tôn quá cao, đẩy mãi vào lịch sử/ 

Để đến nỗi hậu duệ giờ thoái hoá / Lưu luyến thưở vàng son xa lạ với đời thường!

Ngay vào câu thơ đầu ta đã thấy: Phải chăng như vua Ngô xưa, ngồi ở quá cao không nghe lời ai, có mắt như đui – để đến lúc cả thành trì bị đốt cháy mới chịu tỉnh ra? thì nước đã mất, nhà đã tan rồi! Đồng thời còn tồi tệ hơn, thất vọng và chua xót bởi cả đến lớp hậu duệ giờ cũng theo đó… mà bị đổ đốn và tha hoá. Tức là Ông thất vọng cho guồng máy nhà nước đương đại đó! Hình tượng “ngô đồng” mà Bằng Việt dùng trong bài thơ là để chỉ cho lớp quan chức chốn cung đình. Luận theo ý nghĩa thực tiễn thì ta thấy: từ trên cao nhà nước xuống đến dưới các cấp địa phương vẫn bao tệ nạn, tha hoá. Không ít vùng nông thôn Việt Nam ngày nay, chính quyền bạo hành, đè nén dân tình… lại hình thành các kiểu địa chủ phong kiến ngày xưa. Bằng Việt đã lên án, Ông chỉ trích sự xuống cấp về cả nhân cách, phẩm giá của những lớp “ngô đồng” ấy – giờ chỉ còn là:

Những chậu cảnh rẻ tiền, bầu cây thô tháp / Lá nhăn nhúm răng cưa, xoè rẻ quạt / 

Giống lai tạp bình dân, xa rời danh giá cũ / Chỉ khiến nguội tanh trí tưởng tượng ngàn đời! 

Đã cổ hủ, thoái hoá mà vẫn cố bám lấy quyền vị và những vàng son để hưởng lợi lộc, vinh hoa… thì tất yếu sẽ sinh ra ung nhọt trong xã hội. Xét ra cả nhiêù nước trên thế giới trên con đường tiến đến chủ nghĩa xã hội – Tầng lớp giai cấp vô sản trong guồng máy lãnh đạo nhà nước, từ giai cấp vô sản thuần tuý sẽ biến chất thành “Tầng lớp giai cấp vô sản hoá lưu manh”, hoặc “Tập đoàn giai cấp vô sản tham nhũng, lũng loạn…” ! Đó cũng là kết quả tất yếu để đến cuối thập kỷ 90, sang 1991 của thế kỷ XX, hàng loạt các nước XHCN ở Đông Âu bị sụp đổ. Hệ thống chủ nghĩa cộng sản tan rã  lan rộng trên phạm vi toàn thế giới. Ông than:

Ngô đồng ơi, ngô đồng / Có phải nhầm không đấy?

Giờ hoá hèn mọn vậy / Biết trách ai, ngô đồng?

Ta nói như thế không phải là thương xót cho những sự đổ vỡ ấy, mà để nhìn thấy sự hoang tưởng của chủ nghĩa Marx – khi Người đã vạch ra một viễn vọng của chủ nghĩa cộng sản? Viễn vọng cùng chủ nghĩa đó đã tan tành!

Tôi phân tích bài “Người của thế kỷ trước” – Nói về những gương mặt đặc trưng cho một chế độ của một thế kỷ đã đi qua, song những con người cổ hủ của thế kỷ đó vẫn tiến tới, cùng với lớp hậu duệ kế thừa trong guồng máy đương đại cũng bị thoái hoá (như đã phân tích ở bài trên): Để đến nỗi hậu duệ giờ thoái hoá/ – đang ngất ngưởng phán xét, điều hành xã hội ở thế kỷ mới này:

Anh đâu cần ai thương, anh bình giá mọi điều bằng cái nhìn khinh bạc / Anh đứng trên mọi điều để xét nét thời gian/

Nhưng có ích gì đâu! / Khi trên khuôn mặt anh đã in vết thẫm mầu…

Với những con người đã bất chấp cả điều hay, lẽ dở – Tức là khinh bạc cả quyền lợi cộng đồng, coi thường luân lý… để xét nét mà phán quyết! Thì đâu còn phải là người của nhân dân, của đất nước nữa? Đó chính là lớp quan lại đang dẫm đạp lên quyền lợi dân tộc mà chúng ta thấy không ít trong xã hội ngày nay. Nếu lớp quan lại  đó chiếm nhiều trong bộ máy nhà nước, thì tất dẫn đến lúc bọn họ sẽ bán cả nước để cầu vinh!? Như thơ Ông viết:

Anh đầy khôn ngoan, đầy so đo, đầy tránh né / Anh sống đến hôm nay, dương dương tự đắc /

Nhưng than ôi! / …Tôi ngồi uống với anh như uống cùng ảo ảnh / Uống cùng bao nhiêu khát vọng không thành?

đã tả trong bài “Nhớ Trịnh”.

Về bài “Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông” – Bài thơ chế nhạo những kẻ hợm hĩnh, đó là phường ngu dốt, kệch cỡm… lại luôn luôn lên mặt dậy dỗ, thuyết giáo cho đời. Tác giả không có ý bôi xấu hoặc chế giễu những người bị khuyết tật, như Ông viết:

Không phải ngọng bẩm sinh

Chúng đánh lưỡi, chúm môi… dần hoá ngọng.

“ngọng” cũng chỉ là biểu tượng tác giả dùng để ám chỉ lớp quan cách dởm đời. Đó chính là những thứ quan hay hống hách thường thấy nhan nhản thời nay, chúng như phường trưởng giả học làm sang. Có khác nào Tú Xương cũng đã từng giễu cợt những phường như thế ở thời xưa:

Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang / Đứa thì mua tước đứa mua quan /

Phen này ông quyết đi buôn lọng / Vừa chửi vừa rao cũng đắt hàng.

Đọc bài thơ của Bằng Việt ta thấy cả một sự nực cười và chua chát. Những loại quan ngọng đó càng tỏ ra oai vệ, càng lên cao giọng, ỷ quyền đe nạt mọi người, thì chúng lại càng “ngọng”, ngọng đặc quánh lại. Người đời bây giờ biết nhiều loại quan ngọng như thế lắm! Người ta không dại gì nói chuyện tử tế, đứng đắn với chúng, có khi lại mang vạ vào thân. Cho nên:

Người đời thừa hơi nói mãi chuyện khôn

Thì ngọng hùa nhau cùng dồn đến dại…

Có thể chúng sẽ đổ xô vào cấu xé, dẫm đạp lên cả những người dân yêu nước? Và nếu một khi luật pháp lại thuộc về những kẻ quan lại cầm quyền như thế, thì xã hội này đâu có còn là của nhân dân?

Tôi nói đến bài “Sự kiện tày đình” – Tác giả chỉ đi từ sự việc thay đi, đổi lại của pháp luật: Cấm đăng kí xe, xong rồi lại cũng pháp luật – cho đăng kí xe thoải mái! Nhưng đây cũng chỉ là một hiện tượng lấy ra làm minh chứng. Thực tế sự thay đổi pháp luật ở xã hội ta nó diễn ra tuỳ tiện tới mức, như Ông viết:

Mình tự trói tay mình, rồi lại tự cởi ra / Tự biểu quyết xong, lại tự chê mình phạm vào hiến pháp!

Khi quyết đáp, cũng viện đủ lý do quyết đáp / Khi huỷ đi lại cười trừ: “Chưa hợp lòng dân!”

Ông muốn chỉ trích sự méo mó, một sự ẩm ương đến nực cười của lớp quan chức nhà nước đương thời, những người làm ra pháp luật, cầm cương nẩy mực ở xã hội. “pháp luật” có khác nào thứ trò và những thứ trò đó cứ ngang nhiên diễn đi, diễn lại. Một bài thơ mang tính chất rất điển hình của thời thế hôm nay.

Giờ tôi phân tích về bài “Ngôn ngữ và chính trị” – Tác giả đứng trên bình diện của thời đại, thế giới mà phân tích nhân tình thế thái:

Tôi đến Vácsava khi Liên Xô đã đổ

Thấy tiếc toà nhà cao như trường Lômônôxốp

Kiến trúc thời Xtalin, giờ bỗng bị bỏ hoang!

Khi Liên Xô còn vững, nước Nga trở thành thành trì trung tâm của khối XHCN. Nhưng khi Liên Xô bị đổ rồi, thì than ôi!… đến cái tiếng Nga cũng không ai muốn dùng. Ngay cả người Nga lúc ra nước ngoài cũng không muốn sử dụng cái tiếng nói mẹ đẻ của họ nữa. Thứ ngôn ngữ của một dân tộc lớn như thế, mà nay cả thế giới khinh miệt nó. Ông đã phải than lên:

Ngôn ngữ tội tình gì?…/  Mà dâu bể khó lường, mà giậu đổ bìm leo?

Hay cũng nhiễm thói đời, như đồng tiền đen bạc/  Lúc thắng thế vung vinh, lúc tủi phận bọt bèo?!

Thế mới biết thế thời “Được làm vua, thua làm giặc” là vậy!

Sự sụp đổ của Liên Xô cùng hàng loạt các nước XHCN ở châu Âu – Nó báo hiệu sự tan vỡ của Chủ nghĩa Marx-Lenin! Một số lãnh thổ trong Liên bang Nga rơi vào cảnh nội chiến tương tàn, không biết khi nào mới hồi phục được như trước, lại trở về thời kỳ của “tư bản dã thú” đã qua từ hàng trăm năm trước. Marx hoang tưởng đã đành, mà ngay cả lãnh tụ Lê Nin cũng ngộ tưởng khi tuyên bố rằng: Những nước vừa ra khỏi ách thuộc địa như Việt Nam, Trung Quốc… ở châu Á, hay các nước nhược tiểu ở các châu lục khác trên thế giới, có thể tiến thẳng lên CNXH không cần qua TBCN (nghĩa là đốt cháy giai đoạn) – Khi đã có Liên bang Xô viết làm chỗ dựa. Thì chính Liên Xô lại đổ đầu tiên!

Như thế là sự ngộ tưởng của Lê Nin không chỉ trở thành một hệ quả đối với nhân dân Nga, đất nước Nga – mà còn kéo theo sự lầm lạc trên con đường đi tới của lịch sử các nước vừa giải phóng ra khỏi ách đô hộ của thực dân hay đế quốc? Nó sẽ dẫn đến sự thoái hoá của bộ máy nhà nước và xã hội đó!

Đứng trước thực tế ấy, Bằng Việt hoài nghi về Học thuyết Marx? Ông không còn lòng tin vào thể chế, dù cả đời Ông đã phụng sự cho thể chế ấy! Khi Ông nhận ra mình cũng chỉ là… “thứ bù nhìn” của một guồng máy bù nhìn, trong cái chủ nghĩa hoang tưởng kia mà thôi – như ở bài “Nhớ Trịnh”:

Chong chóng quay, rút cuộc được gì?

Được chuyển động – làm bù nhìn của gió,

Và gió, quẩn quanh đầu sông, cuối bãi,

Cũng một kiểu bù nhìn của nóng lạnh, Âm-Dương…

Giờ ta xem xét đến bài thơ “Nheo mắt nhìn thế giới” – mà ngay cái đầu đề của bài cũng được lấy để đặt tên cho cả tập thơ của Ông.

Bài thơ gồm có ba đoạn ngắn. Hai đoạn trên chỉ là sự tả: Ở trên máy bay với độ cao 3000m nhìn xuống – người thì như hạt bụi, các cao ốc như hộp diêm, rừng già như tóc rối. Còn trông ra cả vũ trụ kia… toàn mây trắng mây, như vẩy rồng, vẩy cá, một màu xanh da trời vô cùng, vô tận.

Thực ra Ông chỉ lấy đó làm hình tượng – Ý nói, ta hãy rút ra một tầm xa mà nhìn và suy xét cả thời đại mà xem?…Sau mỗi đoạn ấy tác giả đều bung ra một câu kết, thán rằng:

–  Kết đoạn 1/.  Nheo mắt biết buồn gì?

–  Kết đoạn 2/.  Nheo mắt biết vui gì?

Có nghĩa là: Khi đứng trên một tầm để bao quát cả xã hội cùng thế giới thì… chẳng biết nên vui hay buồn vì lẽ gì? Tức là lòng Ông hoang mang. Nhưng Ông hoang mang vì cái gì? Chính là “Thế sự”! Như đã phân tích: Ông không biết cả chủ nghĩa Marx cùng thế chế mà Ông đã suốt đời phụng sự đó, rồi sẽ đi về đâu? đến đâu?… Bài thơ mang ý nghĩa ẩn dụ – Lý tưởng cùng tình hình xã hội tác động lên tư tưởng, nhân sinh quan của Ông… nó trở nên mờ mịt. Ông thảng thốt cảm thấy đời Ông có thể sẽ trở thành vô nghĩa? Bởi thế ở đoạn thơ thứ 3, Ông viết với một tâm trạng nửa vời nhưng mang đầy sự phẫn chí:

Nheo mắt vì rợn ngợp / Nheo mắt vì bất cần / Có thể đầy phấn kích/ 

Có thể đầy phân vân / Hay nhuốm màu khinh bạc / hay chan hoà bao dung…

Để cuối cùng dồn nén vào một câu tổng quát: Nheo mắt nhìn thế giới/ –  Ông “rợn ngợp” trước bao sự kiện lớn thế giới đã đành, nhưng cũng vì cả những điên đảo, sự rối loạn của xã hội và thế thời đang bao phủ lên tâm hồn cùng nhỡn quan – mà Ông đã viết:

Có mở hết giác quan, ta vẫn là mù tịt!

Ông “bất cần” vì chán cái thời thế có quá nhiều sự đen bạc, giả tạo này! Tôi xin chép ra đây những vần thơ của Chế Lan Viên:

Lũ ta là con rối

Cho cuộc đời giật dây…

Phải chăng: Bởi Ông không muốn làm một con rối và thứ “bù nhìn” như thế nữa? Cái lý tưởng cùng chủ nghĩa suốt đời Ông theo đuổi bỗng trở thành bong bóng, vừa hoang tưởng lại vừa chìm trong sự tha hoá, nên tâm trạng mới: Có thể đầy phấn kích/  Có thể đầy phân vân/ –  Cũng không biết mình nên “khinh bạc” hay nên “độ lượng mà bao dung”? Với tâm trạng ấy, ở một bài thơ khác Bằng Việt tự thán:

Người đàn ông đã đến tuổi gàn

Đã đến tuổi không còn gì để mất

Mới hiểu được góc nhìn ngoài sự vật

Thấy rõ hình hài những thứ vô vi…

“những thứ vô vi” ở đây chính là sự vô nghĩa bao quanh cuộc đời, những “đạo nghĩa” tưởng như cao cả mà Ông tâm huyết, thì nay tất cả đã tan vỡ!… Rồi, cũng giống như nỗi lòng của Tú Xương ngày xưa, Ông tự vỗ an mình:

Ngủ đi! Ngủ đi…

“Ngủ quách sự đời thây kẻ thức” …

Ngủ đi!… Ngủ ư?… lại mất ngủ rồi!

Ông muốn ngủ đi để quên tất cả mà không ngủ được, bởi thế Ông… “bất cần”! Ông không muốn mở to mắt nhìn ra xã hội và thế giới nữa, nên ông:

“Nheo mắt nhìn thế giới”…

Đó là một thái độ phủ nhận và phủ nhận một chủ nghĩa hoang tưởng, cùng guồng máy  hiện hành của Bằng Việt.

Trang viết đã dài, tôi chỉ xin bình thêm một bài nữa: “Rượu của Nguyễn Cao Kỳ“, thuộc trong những bài thơ có tiếng tăm nhất của tập Nheo Mắt Nhìn Thế Giới này – Hơn 30 năm sau chiến tranh, Nguyễn Cao Kỳ từ Mỹ trở về Việt Nam thăm quê, có tặng cho vị thiếu tướng công an một chai rượu. Vị thiếu tướng mang ra cho anh em uống. Mọi người thì vui vẻ:

–  Ồ, rượu ngon thì cứ uống! Đâu cần cố chấp mãi chuyện xưa.

Nhưng một người thì nhất quyết: “không”!

Đấy, câu chuyện diễn tả lại chỉ có thế. Bài thơ đặt ra trước chúng ta một câu hỏi: Chiến tranh qua lâu rồi, trong chúng ta những người ở hai chiến tuyến, có nên giữ thái độ hận thù và mặc cảm nữa hay không? Một câu hỏi không phải dễ trả lời! Nhưng đọc lên ta thấy cũng phân vân? Không thể trách những người bỏ qua tất cả, cứ uống tràn, nhưng cũng không thể trách anh chàng đã nhất định không chịu uống kia! Và thế là:

Bữa rượu bỗng dưng trở thành đắng đót.

Nó khoáy vào một vết thương của cả hai bên, chưa sao lành lại được:

Vì sao không? Chẳng cố chấp quá ư!/  Cậu là lính phòng không, chúng tớ đều cựu chiến binh cả chứ!

Cũng bom đạn, cũng Trường Sơn, cũng vào sinh ra tử/  Sống đến hôm nay, đâu phải để hận thù!

Nhưng rượu dù ngon mà sao vẫn đắng? Thế đấy! Sự đời, chuyện đất nước, chuyện con người:

Có phải tự đáy lòng không vượt qua mặc cảm/  Không vượt qua nỗi buồn của cuộc chiến tranh xưa,

Không vượt qua chính mình, không vượt qua quá khứ/ Vết thương cũ còn đau khi gió chuyển sang mùa…

Thái độ của nhà thơ trung thành với hiện thực, tác giả giữ sự khách quan với ý nghĩ của các nhân vật trong việc mô tả. Ông chỉ đặt ra câu hỏi, chứ không có ý định phê phán ai, hay lên tiếng ủng hộ ai – Bởi vì, chính Bằng Việt cũng có trả lời được câu hỏi đó đâu?

Ông cũng uống, nhưng chẳng qua là muốn quên đi tất cả: cứ uống! Ông không thể trả lời được về cả cuộc chiến tranh xưa cùng những bối rối của hôm nay?

–  Ừ thì giải phóng xong rồi, nhưng để phụng thờ cái gì và… ” lý tưởng” gì đây? Chủ nghĩa Marx ư? Hoang tưởng! Thế thời này đâu còn phải là của dân tộc, của nước non?… Ta lại trở về với bài thơ Nhớ Trịnh – Và Ông thấy mình bỗng nhiên đã trở thành một “con rối”, một thứ bù nhìn quay như ‘chong chóng”… trong cái guồng máy có phần phi nhân nghĩa của đương đại này.

Bài thơ trăn trở trong đó một câu hỏi: Chúng ta đang ở đâu và… phải đi đến đâu đây?

Tôi đã được xem một bức tranh lớn nổi tiếng của danh hoạ Pháp Henri Paul Gauguin (1848-1903), có một cái tên rất dài, tôi nhớ đại để là: Chúng ta là ai? đang ở đâu? và sẽ đi đến đâu? – Nhân sinh quan chủ đạo của nhà thơ trong tập thơ này chính là ở câu hỏi đó! Hơn thế, về một phương diện nhất định… Bằng Việt đã phủ nhận chính cái thế thời mà chúng ta đang sống hôm nay!

Đến đây – Tôi xin tặng Bằng Việt đôi khúc thơ nhỏ, trích ra từ trong thiên sử thi gọi là: “Tiểu trường ca Thế Giới Tự Do – Phạm Ngọc Thái”, như sau:

Khúc 1 –   Năm xưa ta đã trải thảm đỏ cho Mỹ rút về nước

Nay ta lại trải thảm đỏ để Mỹ vào Việt Nam

Nếu Mỹ không mang bá mộng xâm lăng…

(Chuyện thời thế – Thế thời: Phải thế!).

Khúc 2 –   Thằng Tàu – ta cố tranh thủ kết đồng minh

Nhưng bản chất chúng là kẻ thù truyền kiếp của Việt Nam…

Ngàn năm trước đã thế!

Ngàn năm sau vẫn thế!

(Nếu một khi ta không đủ mạnh).

Nheo mắt nhìn thế giới” là một tập thơ mở – Nó mở cái gì? Nó mở ra một câu hỏi: Chúng ta là ai? đang ở đâu? và chúng ta sẽ đi đến đâu đây?

Bằng Việt đáng quí ạ:

Chúng ta đi về phía “Tượng thần tự do” – Nước Mỹ.

Việt Nam đi về phía “Tượng thần tự do” – Nước Mỹ.

“Tượng thần tự do” muôn năm!!!

*.

Hà Nội, tháng 11 năm 2011

PHẠM NGỌC THÁI

Địa chỉ: 34 ngõ 194, phố Quán Thánh, Hà Nội.

Điện thoại: 01683024194

Email: ngocthai1948@gmail.com

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: