Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Trần Yên Hoà – Đi Mỹ (Chương 11-20/41)

Chương 11

Thông cáo của Sở Ngoại Vụ Việt Nam được đăng trên hầu hết các báo, đại khái là:

“Được sự thoả thuận của chính phủ Mỹ và chính quyền Việt Nam, những người thuộc diện học tập cải tạo theo lệnh tập trung trên ba năm, sẽ được cho tái định cư tại Mỹ, hồ sơ được thu nhận từ ngày...…”"

Từ phải qua: Trần Quang Hùng, Trần Yên Hòa, Trần Thế Phong

Tin tức loan ra như một quả bom napal nổ toé lửa. Quả bom này có sức công phá hàng trăm ngàn gia đình. Đó là những gia đình có cha, chồng hay con, nguyên là sĩ quan hoặc công chức chế độ cũ, đã theo lệnh tập trung học tập cải tạo của chính quyền mới, trên ba năm, được thả về. Họ xôn xao vì họ sắp được ra đi khỏi đất nước, một đất nước được gọi là quê hương, nhưng ai cũng muốn bỏ đi.

Nguyệt dọn hàng từ lúc sáu giờ sáng. Hàng ở đây là xe bán bánh mì lề đường. Xe bánh mì đặt ở góc con hẽm xứ Nghĩa Hoà, nơi Phục thuê nhà, một căn phòng bề ngang ba mét bề dài sáu mét, cho vợ con tá túc.

Từ khi Phục đem Nguyệt và hai đứa nhỏ về thành phố, Nguyệt đã bỏ cây cuốc, cái xẻng, con dao, cái rựa, lại vùng kinh tế mới. Bỏ hết những nổi nhọc nhằn của tháng ngày làm rẫy.

Bây giờ về thành phố với những lo toan mới, những khó khăn mới. Thấy một mình Phục chạy xe làm sao đủ để trả tiền thuê nhà,tiền ăn, tiền học, tiền sách vở cho hai đứa con. Lại nữa, người công an khu vực vẫn thường đi kiểm soát hộ khẩu nửa khuya, vẫn thường hăm doạ tống khứ gia đình nàng ra khỏi thành phố, biết vậy, nên nàng vẫn phải lén lút đút lót cho anh ta, khi thì mấy bao thuốc lá ba số, khi thì năm ngàn, mười ngàn, để anh ta uống cà phê hay về đưa cho vợ, tùy ý. Như vậy anh ta mới lơ cho gia đình sống yên ổn mà làm ăn.

Mới đầu thì Nguyệt cũng lúng túng lắm. Nàng phải ra đứng gần một xe bánh mì ở ngã ba ông Tạ, để nhìn cách thức họ dọn hàng, bán hàng. Bỏ mấy buổi như vậy, Nguyệt bắt chước làm theo, nàng đi mua vật liệu ở mấy quán giò chả, các quán bán thức ăn khô, mua bánh mì ở lò. Rồi mọi chuyện cũng qua từng ngày, từng bữa.

Ngày đầu bán đâu mươi ổ bánh, chưa lấy lại vốn, bánh mì dư đem về cả gia đình cùng ăn. Cũng mươi, mười lăm ngày như thế mới có khách quen, mới kiếm lời được chút đỉnh.

Sáng hôm nay, Nguyệt thức dậy dọn hàng thì Phục cũng đã đi rồi. Phục thường dậy rất sớm, đạp xe đạp xuống nhà Chức, gởi xe đạp ở đó rồi lên xe xích lô chạy ra ngồi ở quán cà phê lề đường, uống một ly đen. Những lúc như vậy Phục thấy lòng mình tỉnh táo trở lại, anh thấy mình được khoẻ thêm lên, như được uống một thang thuốc trợ lực.

Nguyệt lu bu với xe bánh mì, hai đứa con thức dậy, lo vệ sinh cá nhân, rồi mỗi đứa lấy một ổ bánh mì mà Nguyệt đã làm sẳn để trên bàn, ăn sáng. Chúng tự động bận áo quần, xách cặp đi học. Con nhà nghèo, nên cuộc sống dạy cho chúng mọi sự tự lập.

Nguyệt đang lu bu làm hai ổ bánh mì thịt nguội cho hai người thanh niên chạy Honda dừng lại mua, thì Phục từ đằng xa chạy xe lại. Anh dừng xích lô tại góc hẻm rồi đi đến bên Nguyệt, vẻ mừng vui hiện lên trên mặt. Nguyệt đang lấy thịt bỏ vào ổ bánh mì, vừa cười vừa nói với Phục:

– Anh hôm nay trúng mánh hay sao mà mặt mày tươi rói vậy, chắc lượm được bóp tiền của khách để quên trên xe chứ gì?”

Phục vò tóc cười toát miệng:

– Có chuyện vui lắm, vui hơn thế nữa kia. Em bán xong lại anh nói cái này, có tin vui cho em đây.”

Nguyệt cũng vui lây với cái vui của chồng. Nàng thấy từ ngày Phục trở về từ trại cải tạo, anh không lúc nào có niềm vui. Sự trở về của anh kèm theo với bổn phận kiếm ăn cho gia đình. Tất cả quay tròn suốt ngày, suốt tháng, suốt năm. Anh đã bỏ quên đàng sau tháng ngày lính tráng cũ. Anh trở thành một người nông dân chính hiệu, hút thuốc rê, thuốc lào, uống rượu đế, bia lên men. Đó là niềm vui của anh suốt sáu năm nay. Không bao giờ anh nở nụ cười tươi vui như hôm nay. Chắc là có chuyện gì vui lắm.

Nguyệt lấy tiền xong hai ổ bánh mì của khách, nàng quày quả đến chỗ xích lô của Phục đang đậu, giọng nàng xăng xái, vui đùa:

– Lượm được tiền rơi đâu đưa cho em, em về mua tập sách cho con.”

– Tin này còn hay hơn lượm tiền rơi nữa. Em biết không, ngày hôm nay, báo chí cả nước đăng tin, ai là sĩ quan công chức chế độ cũ, đi học tập trên 3 năm, sẽ được cho đi định cư ở Mỹ, báo đây này, em đọc đi.”

Phục lấy ra từ dưới nệm xe tờ báo Công An thành phố. Nguyệt chăm chỉ đọc, một lúc, nàng trả lại tờ báo cho Phục:

– Tin này em mới nghe đây, như vậy diện mình được làm hồ sơ hả anh?.”

Phục hiu hiu tự đắc:

– Chứ còn gì nữa, giới hạn là cải tạo ba năm, mà anh những hơn bốn năm, làm sao lọt sổ được.”

Nguyệt cũng cười thật tươi, nàng đang mở cờ trong bụng:

– Như vậy thì vui quá, anh đi hỏi thêm về việc làm hồ sơ đi.”

– Ừ, anh sẽ hỏi, hay chiều về trả xe cho Chức anh sẽ hỏi nó. Thằng này là tay săn tin, tin gì nó cũng biết trước. Thôi anh đi đây, chiều về có gì mới anh báo cho em.”

– Anh không về nhà ăn cơm hả?”

– Thôi, để anh chạy kiếm mấy đồng bạc, chứ từ sáng tới giờ mới đạp có một cuốc.”

– Dạ, anh đi đi. Em lại bán hàng đây.”

Phục lên xe, anh bây giờ là cu ly xe thực sự rồi. Quần xà lỏn màu cứt ngựa, áo may ô xám, mũ rộng vành, dép râu. Anh đã lột xác thành công nhân lao động chân tay chính cống.<

Nguyệt trở lại xe bánh mì, nàng ngồi lên chiếc ghế vuông mà hàng ngày nàng vẫn ngồi bán. Hôm nay, nghe tin Phục báo, nàng thấy lòng mình nhẹ tênh, như mình sắp bay bỗng đến một nơi nào đó xa xăm lắm vậy.

Đi Mỹ! Đi Mỹ! Xứ sở thần tiên đó có một hấp lực vô cùng mạnh mẽ. Nó sẽ đổi đời cho biết bao nhiêu con người, bao nhiêu thân phận đang sống chui rúc, bầm dập, không bao giờ ngóc đầu lên nổi. Nguyệt cũng vậy, từ một cô giáo, nàng trở thành một người nông dân, suốt ngày làm bạn với cái cày, cái cuốc. Đi kinh tế mới, công an Dậu đã làm nàng tởm lợm bao nhiêu. May mà nàng đã có chút “miếng” thủ thân, đã cho anh chàng công an kia một bài học, chứ không thì bây giờ biết ra sao. Những người đàn bà ở kinh tế mơi có chút sắc đẹp đều là những con mồi cho đám cán bộ, công an hay đám chạy xe be nhiều tiền lắm bạc. Nào Tâm, nào Kim Anh, nào Phương Nam. Những người chồng cải tạo đã trở về, biết sự việc của vợ mình, họ lẵng lặng bỏ đi.

Bây giờ, thời gian trước mắt với nàng là cả một hành trình mới mẻ nữa.

Chương 12

Buổi chiều Sài Gòn trời đã bớt nắng, dù cái nóng vẫn còn hầm hập xông xối xả vào mặt, vào mắt, vào miệng mọi người. Xe cộ chạy ùn ùn bên ngoài lộ chính.

Ngồi trong quán lẩu dê có bốn người, Chức, Ngàn, Phục và Thiệu. Bữa nhậu sau hơn chín, mười năm, có người mười một, mười hai năm mới gặp lại nhau. Mới đó mà đã lâu quá, thời gian trôi lẹ thiệt.

Bây giờ, gặp lại, người nào cũng tả tơi như cái mền rách. Chức và Phục thì đạp xích lô, Ngàn và Thiệu thì bỏ mối hàng xe đạp. Như vậy họ đã có một nghề để kiếm ăn, chẳng cần nhân danh Lao Động Là Vinh Quang, họ cũng tất tả tìm việc làm và làm việc chí cốt, đói thì đầu gối phải bò, câu nói từ ngàn xưa lúc nào cũng đúng.

“Bộ tứ Phục, Chức, Thiệu, Ngàn hẹn nhau mấy lần rồi nhưng mỗi người một công chuyện nên chưa gặp nhau được. Hôm nay coi như lần đầu tiên họ đoàn tụ. Tất cả là bạn tù cải tạo, mà đã qua lò cải tạo rồi thì ai cũng thấm mùi, thấm đòn, thấm gian nan khổ ải. Nếu có sự nhân quả, kiếp sau, diêm vương, chín cửa ngục, thì đó là cửa ngục thứ chín họ đã trải. Đúng y chan, không sai chạy vào đâu hết.

Quán lẩu dê ở khu Phú Nhuận là quán bình dân, thụt vào sâu trong hẽm. Mới năm giờ chiều mà khách nhậu đã ngồi gần đầy các dãy bàn nhựa màu đỏ. Những cái bàn hình vuông nhỏ, bốn cái ghế cũng bằng nhựa, thấp lè tè.

Thiệu lên tiếng trước, ra chiều thông thạo:

– Ở đây có đủ loại món nhậu bằng thịt dê, vú dê nướng, có cả rượu huyết dê hay rượu ngọc dương. Các loại rượu này uống vô là bừng bốc sung độ ngay. Các bạn muốn gì kêu nấy.”

Phục đưa ra ý kiến:

– Mình chơi hai món trước là vú dê nướng và thịt dê luộc đi. Tôi đạp xe nhiều nên xin uống rượu ngọc dương cho lên gân cốt.”

Tiếng Ngàn góp ý:

– Tôi thì các bạn thế nào tôi theo thế đó, thằng này không ngán ai cả, chơi tới bến luôn, cùng lắm say xỉn thì có hai thằng “dân biểu” bạn tôi chở về nhà.”

Chức bây giờ mới lên tiếng:

– Các bạn sung độ thì còn có chỗ xả, chứ tôi độc thân côi cút một mình chỉ còn có nước chơi chị năm.”

Mọi người cùng cười, Ngàn cướp lời:

– Tau cũng như mày chứ có hơn gì đâu.”

Thiệu kêu món nhậu theo ý Ngàn kèm thêm một lít rượu ngọc dương.

Người phục vụ đem ra một đĩa thịt dê luộc, một đĩa vú dê nướng còn đang bốc khói, một lít đế ngọc dương, một cái ly nhỏ, một sô nước đá để “chữa lửa”. Thiệu là đàn anh nên anh coi như chủ xị, anh vừa rót rượu ra ly, vừa lên tiếng:

– Tôi dù sao cũng lớn tuổi hơn các anh nên tôi xin phép được uống trước ly nầy, chúng ta uống xoay vòng, không ai được làm rào cản, ly này tôi mừng cho chúng ta còn sống, còn được gặp nhau ngày hôm nay.”

Thiệu đưa ly rượu lên miệng ực một cái ngọt xớt.

Thiệu rót ly thứ hai, đưa cho Chức, rồi cho Phục, cho Ngàn. Có rượu, có thịt dê ngon, khiến ai cũng bừng bốc.

Chức cầm ly rượu của vòng thứ ba lên, để kề môi, nhưng chưa uống. Chức nói:

– Hạnh ngộ, thực là hạnh ngộ. Mười lăm năm rồi từ ngày đứt phim, từ ngày tôi khăn gói lên đường học tập, tưởng bỏ thân ở xó rừng, bờ bụi nào. Nào ngờ bây giờ anh em mình được gặp nhau. Thôi đừng nói đến ngày tháng cũ nữa, còn gặp nhau là vui rồi, hãy nói chuyện tương lai đi.”

Ngàn phát ngôn:<

– Tụi mình, đứa nhẹ thì bốn năm như thằng Phục, đứa vừa thì sáu năm như tôi, thằng Chức, tám năm như anh Thiệu, còn một số đang đếm lịch dài dài. Tôi với anh Thiệu giống nhau, vợ con tan đàn sẽ nghé, không buồn sao được.”

Phục lúc này mới lên tiếng:

– Mình hôm nay uống rượu là mừng đoàn tụ mà, đừng nói chuyện không vui. Chẳng có chuyện gì buồn cả. Mất vợ chưa chắc chuyện đã buồn, biết đâu mày sẽ lấy một em thơm hơn, đẹp hơn, trẻ hơn thì sao?”

Xoay vòng thế mà đã năm ly, mặt người nào người nấy cũng đỏ gay. Phục xoay câu chuyện qua đề tài xuất cảnh:

– Thôi, tôi xin nghe lời anh Thiệu. Bỏ hết chuyện cũ, chuyện gia đình. Mình nói chuyện mới, như báo chí đã đăng thông cáo về chương trình HO. Anh em đã nộp hồ sơ hết chưa?”

Chức mau miệng:

– Tôi độc thân nên khoẻ re, anh chị tôi bên Mỹ đã bảo lãnh tôi mấy năm rồi, bây giờ tôi làm hồ sơ chỉ bổ túc thêm thôi, có thể Mỹ sẽ chuyển tôi qua diện HO để anh tôi khỏi tốn một khoản tiền trợ cấp.”

Ngàn tiếp lời:

– Tôi thật là rầu hết biết, ở tạm trú không ra tạm trú, mình đã cho thằng công an khu vực ăn tràn họng ra, đến khi ra phường nhờ nó ký giấy tạm trú, nó nói chẳng biết mình là ai.”

Phục than thở:

– Tôi cũng vậy chứ có khác gì ông, tôi ở kinh tế mới về, tạm trú ở phường hẳn hoi, cho công an ăn dài dài, khi mình ra phường làm hồ sơ nó lại bảo mình về kinh tế mới ký giấy, thế mới rầu. Thế nào tôi cũng phải về lại trên đó một chuyến.”

Phần Thiệu thì thê thảm hơn:

– Tôi về vợ tôi bỏ đi đâu tôi cũng không biết, thế mà khi nộp hồ sơ, trên phường bảo tôi phải kiếm vợ về cùng đi, không có vợ phường không chịu ký, không biết kiếm ở đâu bây giờ, bả bặt vô âm tín, bóng chim tăm cá biết đâu mà tìm.”

Ngàn pha tro cho vui câu chuyện:<

– Tìm em như thể tìm chim, em bay biển bắc anh tìm biển đông, sao anh không nhờ đàn em dưới quyền của ty cảnh sát đi tìm dùm cho, hở ông thiếu tá.”

Chức bấm vai Ngàn:

– Ở đây tai vách mạch rừng, đừng nói lang bang, nguy hiểm.”

Cái bấm vai của Chức làm Ngàn tỉnh cơn mê, trong cơn chuếnh choáng anh đã quên đi là anh đang ở trong một đất nước, mà một sơ hở nhỏ trong lời nói cũng bị kết tội là phản động và đủ mọi thứ tội khác, từ nhẹ đến nặng, khi đã nâng lên hàng quan điểm, thì chuyện con kiến cũng sẽ biến thành con voi.

“Bộ tứ” trông ra ai cũng lao đao về chuyện đơn từ, hồ sơ. Cái quan trong nhất là cái hộ khẩu thường trú. Những người đi cải tạo trở về đều không được cho ở thành phố, dù trước đây họ từ thành phố theo lệnh của uỷ ban quân quản mà đi trình diện. Chính quyền đã lý luận một cách chắc như bắp là thành phố quá đông người, cần phải dãn dân, chỉ những vùng thôn quê hay vùng kinh tế mới, ở đó mới chính là môi trường để họ đem sức ra lao động sản xuất của cải vật chất. Nói đúng ra, thì họ phải đi đày, đày biệt xứ cho hết kiếp, mới xứng với tội ác của họ đã gây ra.

Trở về lại thành phố khi các vùng kinh tế mới không thể nào sản xuất ra được cái ăn. Nhưng thành phố vẫn không cho họ nhập lại hộ khẩu nơi họ từ đó đã ra đi. Cho nên sự việc này là một khó khăn quá lớn.

Thiệu đã say, anh ngất ngưỡng nói, bắt đầu coi trời bằng vung:

– Mẹ kiếp nó chớ, tau không khai được ở thành phố tau về Long An, nơi tau sinh ra và lớn lên, coi thử bọn nó nói thế nào. Đồ chó má, cho bọn nó ăn tràn họng ra, khi chúng nó quay mặt lại với mình là chúng quay mặt, không nhân nghĩa gì đâu.”

Chức là người còn tỉnh hơn hết trong bốn người, Chức lấy lòng Thiệu:

– Đừng nói lớn anh Thiệu, không lợi đâu, bọn chó săn lúc nào cũng lởn vởn ở đây, nhất là mấy quán rượu như thế này.”

Câu nhắc nhỡ của Chức làm ba người như tỉnh rượu. Họ nhớ lại những đêm nằm trong conec lạnh lẽo, bị cùm chân cùm tay vì “ăn teng” báo lên những chuyện không đâu vào đâu, đã làm họ khổ sở thế nào. Bây giờ có tức lên chửi đổng, cũng chỉ sướng cái miệng một chút mà mang họa vào thân.

Quán nhậu về đêm càng rộn ràng khách đến nhậu nhẹt. Tiếng la hét, tiếng chửi thề, tiếng nói cười vang động cả một khu vườn. Xã hội chỉ còn là hơi men, hơi men cho quên đi những tháng ngày cực nhục trước mắt.

Nhưng “bộ tứ” còn có một hy vọng lớn, đó là sự ra đi. Thoát khỏi cái hàng rào vô hình chụp xuống quanh đời họ suốt bao nhiêu năm nay.

Chương 13

Thời đại đã tạo nên những cái nghề lạ lẫm.

Khi chương trình con lai được giới truyền thông công bố trên đài phát thanh, báo chí, mọi người bàn tán xôn xao. Hình như hàng triệu người Việt Nam đang sinh sống tại chính đất nước có bốn ngàn năm văn hiến này đều muốn được thoát ra khỏi đất nước mình đã sinh ra và lớn lên. Những ngày trước đó, chưa có chương trình con lai, ai có tiền, vàng, thì tìm mọi cách vượt biên, dù biết vượt biên là đối diện với muôn ngàn hiểm nguy, có thể bỏ cả sinh mạng ngoài biển khơi hay trong rừng rậm.

Đến khi có chương trình con lai – những đứa con lai – có cha là những người Mỹ đã đến Việt Nam trong những năm tháng còn chiến tranh, đã “ngủ” với một người đàn bà nào đó để sinh ra đứa con, thì đứa con đó sẽ được đi định cư tại Mỹ, kèm theo người mẹ, người cha sau, cùng những người anh em cùng mẹ khác cha sống chung hộ khẩu.

Những đứa con lai Mỹ đang sống cù bơ cù bất ở một xó xỉnh nào đó trên đất nước, sẽ được đổi đời. Nhưng chương trình nào cũng có lổ hổng cho những tay chạy áp phe làm ăn, làm giấy tờ giả ghép hồ sơ cho những người không có dây mơ rễ má gì đến đứa con lai. Làm nên là anh, chị, em, hay vợ, chồng với nó, giấy tờ cũng có đóng dấu đỏ của công an hay của toà án. Mọi chuyện được mua bằng tiền.

Con lai một thời lạc loài trên chính đất nước nó sinh ra. Người mẹ thường là những người đàn bà một thời là me Mỹ, là vũ nữ, gái điếm, gái bao, hay những cô gái nhà quê nghèo khổ đi làm ở các sở Mỹ, bị Mỹ dụ dỗ nên có bầu. Sinh con ra họ bị người đời khinh rẻ kèm theo thân phận đứa con cũng buồn thảm như thế. Chúng sống chui rúc ở những xó xỉnh. Nay, có chương trình vớt tụi nó đi Mỹ, tự nhiên cái giá nó lên cao.

Có người muốn đi cả gia đình thì tìm mua một đứa con lai nào đó vô thừa nhận về làm con, rồi sẽ thiết lập hồ sơ giống y như thiệt. Có người chỉ đi một mình thì tìm mối manh ghép mình vào làm anh hay em hay chị cùng mẹ khác cha với đứa con lai. Tình huống rất nhiều, nghĩa là làm sao khi phỏng vấn, phái đoàn Mỹ thấy hợp lý, đồng ý cho đi là mọi việc hoàn tất.

Bắc là tay chạy cò chuyên nghiệp trong những mối manh như vậy.

Xuất thân từ một con hẽm sâu ở đường Điện Biên Phủ. Bắc lớn lên trôi nổi lềnh khềnh theo những dề lục bình, dề rác rưởi chung quanh cầu Thị Nghè. Chồng chết sau khi đi ở tù về, Bắc khốn khổ lao đao, ả ra bến xe miền Đông tham gia cùng đám cò bán vé chợ đen.

Phải thức dậy nửa khuya để ra bến xe ngồi dành chỗ. Mới đầu chỉ có thế. Ai muốn mua vé sớm thì thế chỗ của ả, cho ả tiền công dành chỗ năm trăm đồng. Mỗi ngày dành được khoảng năm chỗ, kiếm được hai ngàn rưởi, ăn cơm bụi và uống trà đá là hết. Dần dần, nghề dạy nghề, ả thông minh, biết luồng lách, ả mua biếu cho những người bán vé xe, mỗi người, khi thì ổ bánh mì nóng, khi thì ly cà phê đá sữa, khi cao hơn là bao thuốc lá xa mít, họ sẽ ưu tiên bán cho ả năm, mười vé xe đi đường xa. Có số vé này, Bắc đứng ra ngoài lộ, tay ngoắc miệng mời những hành khách muốn đi Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Pleiku, Kontum, Ban Mê Thuột, mua vé đi ngay không chen lấn, đợi chờ, cho dù có đắc hơn vài ngàn bạc. Từ đó, cũng vài năm sau, ả tiến lên một bước, áp phe thẳng với trưởng ban vé xe đò liên tỉnh, ả thầu bán vé đường dài cho khách.

Khi đã có tiền rủng rỉnh trong túi, ả giao du thân mật với đám công an, cán bộ. Cán bộ công an phường, quận, công an huyện, xã, ấp, ở mấy tỉnh ven thành phố như Đồng Nai, Sông Bé. Con người có tiền tự nhiên đầu óc lộ ra thông minh dĩnh ngộ. Ả bắt mối với với đám này để làm giấy tờ giả cho những thanh niên ở miền trung, tây nguyên về sống ở Sài Gòn. Cái giấy tạm vắng, tạm trú,

chứng minh nhân dân, khai sinh, giá thú, ả đều làm được cả. Ả chạy tiền cho các cán bộ xã, huyện, ký tên đóng dấu. Muốn giấy cũ có cũ, giấy mới có mới, cũng có dấu đỏ, dấu nổi, y chan như của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trước năm bảy lăm.

Đường công danh sự nghiệp của ả bước lên một bước tiếp theo, là ả quay sang làm hồ sơ con lai, ghép vào các hộ chính thức, cho ăn theo. Ả bắt đầu ăn đậm và phất lên theo những dịch vụ này.

Con đường làm ăn của ả tiến theo xã hội công nghiệp hoá. Ả hốt trọn gói chứ không làm cò con, mối manh lẻ tẻ nữa. Ả tạo một đường dây khoảng năm, sáu tay chân thân tín cộng tác với ả. Đó là những người đi mua con lai.

Những người cộng tác cũng có những tay chân của họ. Họ có bổn phận lùng sục ở các nơi thôn quê hẻo lánh, những vỉa hè có bọn đánh giày, bọn sống vất va vất vưởng, đầu đường xó chợ, ở các bãi rác, cống rãnh, các lều chợ. Ở đâu mà các có con lai sinh sống thì đám này sẽ móc ra, dụ khị, cho tiền bạc, mua chuộc, hứa hẹn làm giấy tờ không công cho đi Mỹ. Đứa con lai sẽ mừng hết lớn vì chúng không tốn một đồng xu cắc bạc nào, mà còn được nhận thêm tiền nữa. Với hồ sơ này, Bắc sẽ bán cho một gia đình nào đó nhiều tiền lắm bạc muốn xuất cảnh. Hồ sơ được sửa soạn lại, đứa con lai sẽ có một gia đình đề huề, có cha, có mẹ, có anh, chị em với đủ cả với giấy tờ hợp pháp.

Qua mùa con lai, ả ngấp nghé ở giai cấp tỉ phú trong xã hội Việt Nam.

Bây giờ đến mùa H.O. Ả mừng rơn trong bụng, ả sẽ tiếp tục hốt hụi, ả sẽ có mối nhiều hơn vì số sĩ quan hoặc công chức đi học tập cải tạo trở về rất đông. Nhất là các vùng quê, ả chấm ở đó, vì những vùng này chuyện giấy tờ còn khó khăn, chính quyền địa phương có đầu óc xôi thịt, cửa quyền. Muốn giấy tờ suôn sẽ phải bỏ tiền ra đút lót cho cán bộ xã ấp, mà những người đi cải tạo về thì trơ xương, lấy tiền đâu mà đút lót.

Nhân dịp này ả bỏ tiền ra, bỏ con tép bắt con tôm Những người cải tạo trở về ngu ngơ, sợ sệt. Chế độ cải tạo khắc nghiệt đã làm cho họ như những con chim sợ cành cây cong. Ả đứng ra như một mạnh thường quân, nói là giúp đỡ, nhưng thật ra ả ăn từ ruột già đến ruột non những người cải tạo.

Bắc quyết chí hốt hụi dài dài, con đường trước mặt của ả là kiếm tiền và chồng, rồi cùng đi sống ở ngoại quốc. Tiền thì ả vô đều đều, nhưng chồng thì ả thấy khó khăn quá. Người đàn ông nào đến với ả cũng nhìn vào cái hầu bao của ả, mới đầu thì nói yêu thương say đắm, nhưng khi làm cho ả say mê thì tìm cách moi tiền. Cũng đúng thôi. Chuyện đời rất công bình. Với cái thân hình khẳng khiu, đôi mắt kẻ chì đen lơ láo, khuôn mặt choắt, khoảng da thịt mềm nhão của người đàn bà qua nhiều tay đàn ông, thì cái giá ả phải trả là đúng. Ả thường nói đến cái giá, cái giấy khai sinh này ả làm giả cho, giá là một chỉ vàng, cái hộ khẩu kia giá một cây, cái tạm trú nọ giá năm trăm ngàn.

Thì bù lại, gã đàn ông kia ngủ với ả hai đêm, ả phải trả giá một triệu. Đó là luật, có hưởng có chi, có ăn có chịu.

°

Sài Gòn những ngày nắng.

Nắng chói chan những ngày tháng bảy, tháng tám. Nắng tháng tám, rám trái bưởi. Bắc và Gia đáp tàu đi miền Trung. Đó là vùng đồng khô cỏ cháy.

Bắc trở về quê ả, với cái háo hức của người con gái mười tám hai mươi, dù tuổi ả đã hơn bốn mươi. Bắc háo hức bởi vì có hai lý do. Một là ả sẽ bỏ tiền ra mua hàng loạt Giấy Ra Trại của những người đi cải tạo về với giá rẻ mạt, vì những lý do này hay lý do khác, họ không đi Mỹ. Ả sẽ lấy những Giấy Ra Trại đó thực hiện những hồ sơ ghép cho những người muốn đi. Đây là phi vụ hốt bạc triệu mà ả đã thành công sau những phi vụ con lai. Hai là ả sẽ giới thiệu Gia với gia đình, Gia là chồng chưa cưới của ả. Ả đang thực hiện ý đồ cướp Gia khỏi tay người vợ hiền lành, chân chất của Gia, dù phép đạo không cho phép cảnh giựt chồng người khác, nhưng ả bất chấp. Mỗi lần ả thực hiện những phi vụ phi pháp, ả thường đến nhà thờ để cầu xin Chúa và Đức Mẹ tha thứ cho. Ả thấy yên tâm trong bụng, vẫn nghĩ Thiên Chúa lòng lành vô cùng, sẽ tha thứ cho ả.

Trở về miền Trung, Bắc đặt đại bản doanh tại khách sạn Phú Hữu. Bắc không muốn về sống cùng những người em vì ở đó sẽ cónhiều người đến thăm, sẽ lộ những ý đồ của ả. Khách sạn ả thuê một trăm rưởi ngàn một ngày một đêm, ả nhắn mấy người em trong gia đình đến chơi với ả và dắt mối cho ả những người bán Giấy Ra Trại.

Tắm rửa xong, Gia nói với Bắc:

– Em bây giờ thống nhất đi, Giấy Ra Trại hợp pháp, cải tạo trên ba năm, em hứa mua một cây rưởi, bây giờ có thay đổi gì không?”

Gia là người đàn ông thật thà chân chất, anh là sĩ quan cải tạo về, gia đình cùng cực, đói khổ, anh chạy xích lô. Một hôm có thằng con lai nhờ anh chở đến nhà Bắc để làm hồ sơ. Bắc thấy Gia đẹp trai, có phong độ liền mồi chài ngay. Trước tiên là Bắc dùng tiền câu Gia, Gia nghĩ cũng chỉ là “qua truông” trong những ngày cùng khổ, thế mà Bắc bu Gia riết, “câu” Gia uống rượu say, dẫn vô buồng tự cởi áo quần mình ra, nằm trên mình Gia khơi gợi dục tình. Gia trong thế mơ hồ của men rượu nên sa ngã, như chuyện tình Lan và Điệp trong tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan. Qua đêm đó, Gia lo sợ tránh xa, Bắc thấy vậy biết Gia muốn xa lánh mình, ả càng bao quanh Gia bằng những phi vụ làm ăn, khiến Gia bối rối. Gia cứ nghĩ đơn giản, chuyện qua đường, nhưng Bắc thì cố bắt xác Gia vào vòng cương tỏa.

Bắc đã tắm xong, ả xức loại nước hoa gì mà nghe nồng nặc cả người khiến Gia phải lấy lo dầu gió xanh xoa vào mủi, miệng cho đở lợm giọng.

Gia nhắc khéo:

– Về đây là nhà quê, em phải ăn mặc và trang điểm vừa phải thôi, xức nước hoa nồng quá tự nhiên làm người khác khó chịu.”

Nhưng với trình độ Bắc, Bắc cứ nghĩ đó là cái cao sang, trưởng giả, quý phái, đài các.

– Anh chỉ là anh nhà quê không hơn không kém, nước hoa em xài cả bạc triệu.”

Gia nghe Bắc nói cũng nóng mặt, nhưng thôi, hãy nín thở, anh im lặng.

Bắc nói tiếp:

– Chuyện giá cả thì anh khỏi lo, mọi chuyện để em quyết định. Mìnhra giá cao cho họ hám tiền, thấy có ăn nên chạy kiếm mốicho mình, đến khi có hàng, mình tùy cơ ứng biến, nếu nhiều “hàng”

mình sẽ chê ỏng chê eo, bớt giá xuống, có gì mà lo. Bây giờ em định giá là hai chỉ một Giấy Ra Trại, ai bán thì mua còn không thì thôi.”

Câu nói của Bắc là Gia chưng hửng. Anh còn non nớt quá trong chợ đời đầy biến động này. Từ nhỏ lớn lên anh đã hấp thụ cái thực thà hồn hậu của cha anh, của mẹ anh, là lấy chữ tín, chữ nhân, chữ nghĩa, làm đầu. Những ngày anh là sĩ quan trong quân đội quốc gia, anh chẳng bao giờ ăn của lính một đồng bạc cắc, chưa bao giờ anh hớt tay trên những món bở như lính ma, lính kiểng, xăng dầu, gạo thóc. Bây giờ đối diện với sự trái khuấy, lường lọc như thế này, tự nhiên lòng anh bừng lên những mặc cảm tôi lỗi.

Anh chống chọi lại:

– Sao em làm thế, ở Sài Gòn mình đã ra giá cho những người bán Giấy Ra Trại là một cây rưởi, mà bây giờ em muốn bắt chẹt, mua của họ hai chỉ là sao? Làm ăn như vậy là thất đức, là mất chữ tín.”

Nghe Gia nói vậy, Bắc trở nên nổi nóng. Với anh chàng cù lần này ả phải đánh phủ đầu:

– Anh thì biết cái gì mà ý kiến, mọi việc để em lo, quân tử Tàu như anh không sống nổi với xã hội này đâu.”

Thật là Gia đã quân tử Tàu, anh chưa quen với môi trường lừa lọc, chưa quen với mánh mung. Anh vẫn còn cái liêm sỉ của một sĩ quan. Trên bước đường trở về với môi trường mới, anh tập tểnh như đứa trẻ lẩm chẩm tập đi, nay gặp Bắc, con quỷ cái muốn bôi đen con người anh, tâm hồn anh. Anh đành im lặng với ý niệm, nín thở qua sông. Anh nghĩ thầm trong bụng:

– Với con mẹ này chỉ một nước chuồn, đánh bài chuồn là tốt nhất.

Anh im lặng với toan tính của mình.

Buổi chiều xuống bên ngoài vùng quận lỵ, có hai người tấp vào khách sạn. Bắc gọi điện thoại hẹn hai người một. Ả muốn vậy vì gặp riêng lẻ dễ làm eo làm sách với họ hơn. Bây giờ cán dao đã nằm trong tay ả, ả có quyền chém ai thì chém. Ả mĩm cười đắc ý bên cạnh Gia đang rầu thúi ruột thúi gan, chỉ biết thở dài nhè nhẹ.

Có tiếng gỏ cửa phòng. Bắc ra ngồi ghế xa lông của căn phòng khách sạn. Bắc nói:

– Mời vào.”

Hai người đàn ông đầu đội mũ lưởi trai, dáng kham khổ, bước vào, khúm núm:

– Thưa cô, tôi muốn gặp cô Bắc.”

Bắc làm ra vẽ đon đã chào mời:

– Chào hai anh. Tôi là Bắc đây.

Rồi Bắc quay sang chỉ Gia:

– Đây là anh Gia, chồng tôi, hai anh đến theo lời giới thiệu của Hảo, em tôi, phải không?”

Hai người đàn ông vẫn cầm cái mũ trên tay:

– Dạ, tôi đến theo lời chị Hảo giới thiệu.”

Bắc vào đề ngay:

– Các anh đã biết là tôi ra đây để mua Giấy Ra Trại, các anh có Giấy Ra Trại muốn bán phải không?”

Người đàn ông nhỏ thó, gải gải tai, rồi móc trong túi áo ra một tờ giấy đã cũ:

– Thưa cô, đây là cái Giấy Ra Trại của tôi, tôi đi học tập gần năm năm mới được về, bây giờ có chương trình đi Mỹ, nhưng tôi nghèo quá không có tiền để làm hồ sơ, với lại tôi còn mẹ già nay ốm mai đau, nên không thể đi được, nhờ có cô Hảo chỉ bảo, biết cô cần mua nên tôi muốn bán để kiếm tí đỉnh tiền về chi phí cho gia đình.”

Bắc cầm cái Giấy Ra Trại bèo nhèo trong tay, ả nheo nheo đôi mắt dưới cặp kính trắng gọng vàng, ả muốn mình là nhà thông thái nên ả mua đôi kính gọng vàng gần hai triệu để loè thiên hạ. Dù biết đây là Giấy Ra Trại thực, có hiệu lực để làm hồ sơ, nhưng ả vẫn chê:

– Giấy này bị rách, có nhiều chỗ mờ chữ, nếu dùng giấy này, khi phái đoàn Mỹ phỏng vấn dễ cho là giấy giả lắm. Vậy anh bán bao nhiêu?”

Dáng người đàn ông co rúm lại:

– Thưa cô, đây là giấy thật mà, tại nhà tôi không chỗ để nên cứ gấp lên gấp xuống bị nhoè chữ thôi, chứ có gì cô.”

Bắc nhắc lại:

– Vậy anh bán bao nhiêu?”

– Thì cô Hảo đã nói rồi, một Giấy Ra Trại đủ thời hạn là một cây rưởi.”

Bắc xạc ngang:

– Nói là nói cho các Giấy Ra Trai còn chữ rõ ràng, thời hạn cải tạo bảy, tám năm. Chứ Giấy Ra Trại của anh bị rách, thời gian cải tạo chưa được năm năm thì làm sao có giá đó được. Tôi mua về cũng bán lại cho người ta thôi, giấy này nhiều khi làm hồ sơ cho người ta, bị bác là tôi mất cả chì lẫn chài. Thấy anh nghe lời của Hảo đem đến đây, tôi lấy cho anh hai chỉ.”

Người đàn ông mặt nhợt nhạt:

– Hai chỉ, sao lại hai chỉ, cô Hảo nói một cây rưởi mà.”

– Thì tôi đã nói với anh rồi, nếu anh bán giá hai chỉ thì tôi lấy, còn không thì thôi, tôi mua không được đâu.”

Đó là cái thắt nút của Bắc để ép giá. Bị cải tạo bốn năm năm, Giấy Ra Trại đúng quy cách, mua hai chỉ vàng để làm hồ sơ cho người khác, Bắc thu mấy chục cây dễ dàng. Nhưng bắt chẹt được đến đâu, nàng có lợi đến đó.

Bắc quay sang người đàn ông ngồi kế bên:

– Còn anh có Giấy Ra Trại không?”

Người đàn ông kia vội móc túi:

– Có đây cô.”

Bắc cũng cầm tờ giấy hơi nhàu một tí, chê liền:

– Cái giấy này cũng vậy, cũng hai chỉ thôi, nếu được tôi lấy, không thì thôi.”

Đến nước đường cùng, hai người đàn ông không bán thì cũng chỉ để cái Giấy Ra Trại này trên giàn bếp, chứ hoàn cảnh hai người không đi được.

Một người nói:

– Thôi cô lấy thì lấy, tôi đem về cũng chẳng làm gì với tờ giấy này.”

Bắc bảo Gia vào bóp nàng lấy ra bốn chỉ vàng, loại vàng xấu, không đủ tuổi, đưa cho hai người đàn ông, mỗi người hai chỉ. Khi hai người đàn ông ra khỏi cửa, Bắc liền ôm choàng lấy Gia, hun chùn chụt trên má, trên cổ, ả tru tréo lên:

Anh thấy chưa, nếu em không chê ỏng chê eo đâu mà thu được giá này, để anh coi, từ giờ tới tối, em sẽ thu cũng năm sáu tờ “Giấy

Ra Trại” theo giá này nữa, có thể hạ hơn, anh mở mắt ra mà xem nhé.”

Gia nghe lòng mình dội lên một niềm thương cảm cho hai người đàn ông nhà quê kia, họ cũng là những chiến hữu của anh. Có thể họ ở trong thành phần cán bộ xã ấp hay nghĩa quân, cảnh sát. Đã bị tù tội bốn, năm năm, đã từng ăn bo bo, củ mì, từng đói khát, cơ khổ như anh. Thế mà bây giờ Bắc đã lợi dụng hoàn cảnh của họ mà mua rẻ đến mạt hạng. Anh nhũ thầm, chuyến này về mình sẽ

chuồn, sống với con quỷ cái này chỉ có nước đẻ con không có lỗ đít.

Những người đến sau cũng với cái mững chê đủ điều, đến tối thì Bắc đã thu được khoảng sáu cái Giấy Ra Trại với giá một chỉ rưởi một cái. Như vậy, chuyến về Trung của ả và Gia, ả đã vô mánh rất đậm.

Chương 14

Phục chuẩn bị đi về vùng kinh tế mới, nơi gia đình anh đã khai hộ khẩu, để đến công an xã chứng cái giấy tạm vắng. Đó là lệnh của công an phường nơi anh cư ngụ cho anh biết thế. Có giấy tạm vắng anh mới xin tạm trú dài hạn ở đây được. Mà có giấy tạm trú dài hạn thì mới có thể làm những bước tiếp theo, như làm đơn xin xuất cảnh chẳng hạn.

Anh ngó đi ngó lại trong căn phòng nhỏ anh thuê cho Nguyệt và hai con ở. Căn phòng chật, không có giường, tất cả vợ chồng con cái đều trải chiếu dưới sàn xi măng mà nằm, mà ngủ. Cái lò nấu bằng dầu hôi, nồi, niêu, son, chảo để trên kệ, choáng một khoảng rộng của căn phòng. Không có một cái gì có giá trị để bán. Hai đứa con ngồi học, viết, cũng trên nền ximăng, khi muốn viết chúng phải nằm dài xuống sát nền nhà.

Gom hết tiền để dành của Nguyệt bán bánh mì và tiền chạy xe của Phục đâu được khoảng trên dưới năm trăm ngàn. Nguyệt đi mua hai tuýp thuốc ba số năm, hai lít rượu đế Gò Đen loại hảo hạng để biếu ông Chánh, trưởng công an, và Dậu, phó công an. Vẫn biết Dậu khuynh loát mọi quyền hành nhưng ít ra anh cũng không giám qua mặt ông Chánh. Còn thêm Tốt, người công an khu vực nữa, nhưng Tốt thì anh nghĩ, chỉ cho hắn nhậu một bữa cũng được rồi.

Trước khi Phục lên đường, Nguyệt dặn dò tỉ mỉ về chuyện cho quà:

– Anh lên trên đó, nhớ tìm đến nhà từng người để biếu quà. Ông Chánh, một chai rượu và một trăm rưởi ngàn, ông Dậu một chai rượu và hai trăm ngàn. Như vậy cũng mất tiêu năm trăm ngàn tiền vợ chồng mình để dành từ nửa năm nay.”

– Thì muốn được chuyện phải vậy thôi chứ biết làm sao.”

Đó là câu nói vuốt đuôi của Phục cho vợ đừng buồn. Mà Nguyệt cũng chẳng có gì buồn vì nàng đã sống với chế độ này cũng mười lăm năm rồi. Mọi chuyện giấy tờ, cư trú, đi đường, đều được tính bằng tiền. Nói đúng ra, con người hùng hục đi làm kiếm ra tiền để chi cho người có chức có quyền ăn, để cho mình được một cái quyền duy nhất là ở yên, sống yên, mà thôi.

Từ ngày có thông báo về việc xuất cảnh, Phục lo việc đơn từ ngay. Nhưng anh đang đứng trước một tảng băng to bè, choáng trước mặt, đó là làm hồ sơ thì phải có dấu chứng của chính quyền địa phương, mà nơi này thì anh chỉ là tạm trú ngắn hạn.

Khi anh mới về thành phố làm ăn. Anh ra phường xin tạm trú. Người công an cầm cái đơn anh hỏi trổng:

– Anh ở đâu về?”

Anh trả lời:

– Kinh tế mới Bình Minh”.

Người công an hỏi tiếp:

– Sao không ở trển mà về?”

– Dạ thưa anh, làm không ra ăn, vợ con nheo nhóc quá nên phải về”

– Không có lý do chính đáng.”

Cái đơn dược trả lại cho anh với lời phê không cho tạm trú.

Anh về nhà buồn bã, than thở với người chủ nhà thuê, người chủ mách mối:

– Nó đòi ăn đó, anh mua cho tôi túp thuốc ba số, tôi lo cho.”

Phục làm theo, anh đưa tiền cho người chủ nhà và lá đơn. Hôm sau anh chạy xe về, người chủ nhà cầm cái giấy có mộc đỏ chót ra đưa anh. Anh mùng hết lớn.

Rồi Nguyệt và hai đứa con về theo anh, anh cũng tốn cả trăm ngàn mới ghép được vào đơn tạm trú.

Đến bây giờ làm đơn xuất cảnh, anh đem đơn ra phường xin con dấu, thì người công an phán một câu xanh rờn:

– Cái này anh phải về chỗ anh khai hộ khẩu, xin cái giấy tạm vắng ở đây mới chứng được.”<

Phục lủi thủi xách tờ đơn về. Đem chuyện nói với người chủ cho thuê phòng, đưa người chủ một trăm ngàn, người chủ đem ra phường, nhưng hôm sau lại đem trở về, bảo với anh:

– Chuyện này họ nói phải có giấy tạm vắng, thôi anh chịu khó đi về trên đó một lần cho xong.”

Nói thế nhưng người chủ không trả lại anh một trăm ngàn, có lẽ đã cho công an, đưa cho công an ăn, làm sao đòi lại.

Phục về bàn với Nguyệt. Cuối cùng thì quyết định anh phải về lại kinh tế mới chứng giấy mới được. Vợ chồng vét cạn hết số tiền gom góp từ bấy lâu nay cũng chỉ được trên dưới năm trăm ngàn. Anh đi mà sao thấy mình giống như Kinh Kha ngày xưa, mang con trủy thủ vào nước Tần đầy bất trắc. Dù chuyện chứng giấy và gặp lại mấy khuôn mặt công an cũng chỉ là chuyện thường. Có lẽ anh bị kìm kẹp lâu ngày nên anh luôn luôn bị mặc cảm của kẻ bị trị.

Chuyến xe đò từ bến xe miền Đông tiến thẳng trên đường quốc lộ mười ba, hướng Thủ Dầu Một mà tiến tới. Ngồi trên xe đầy những hành khách buôn chuyến, tiếng ồn ào chuyện vãn chói tai mà Phục chẳng chú ý đến ai, anh chỉ lầm rầm khấn vái cho chuyến đi suôn sẽ, vì con đường thực hiện hồ sơ xuất cảnh của anh đang ở trước mặt, với biết bao nhiêu khê, khó khăn. Mà đoạn đường này là đoạn đường đầu tiên anh phải bước qua, phải được thông suốt, nếu nó bị bít lại, tất cả sẽ bị bít luôn.

Vùng đất hứa mà anh mơ tưởng được với tới, vẫn đang ở tít tắp đằng xa, trong bóng đêm dài ngoằn. Anh đang đứng bên này đại dương, chỉ muốn bay lên vút qua không gian, đến đó, mà rất tiếc, anh không có cánh, chỉ có cái thân trần trụi.

Chuyến về khu kinh tế mới, nơi mà gia đình Phục đã sống một thời gian khá dài, đã có kết quả. Ông Chánh rồi Dậu đã nhận tiền, quà của anh. Ông Chánh nói:

– Từ ngày gia đình anh về thành phố, nơi đây trở nên buồn hơn. Anh thấy đó, trụ lại đây có bao nhiêu người đâu, chỉ còn lại là thứ trôi sông lạc chợ, đến đó rồi đi đó. Trường hợp các anh đi cải tạo về được Mỹ đón đi, cũng là một tin mừng chung. Anh đi, đừng quên bọn tôi là được.”

Phục dạ, dạ, vâng, vâng rồi vội vàng rút lui.

Đến nhà Dậu, Dậu tỏ ra vui vẻ.

– Anh quà cáp làm gì cho mất công, tốn kém. Chúng ta sống với nhau vì cái tình. Các anh được đi Mỹ chúng tôi cũng vui, đi qua đó làm ăn khá giả rồi trở về xây dựng đất nước.”

Dậu nói như những cán bộ cốt cán, nói theo đường lối chính sách của nhà nước rặt ròng.

Dậu ký tờ giấy tạm vắng dài hạn, đóng con dấu đỏ lên chữ ký ngoằn ngoèo. Phục thở phào nhẹ nhỏm, nhưng anh lại nghĩ, nếu không có hai trăm ngàn, cả ông Chánh và Dậu có vui vẻ ký giấy cho mình không? Chỉ có Tốt, người công an khu vực, vẫn xuề xòa. Chỉ mấy xị rượu đế là Tốt cầm bút đề nghị thuận, chuyển lên công an xã xét.

Sau đó, cả Dậu, cả Tốt, ai cũng đề nghị Phục làm anh em kết nghĩa

Phục trở về thành phố với tin vui vì chuyến đi kết quả, nhưng trong lòng anh vẫn ưu tư vô hạn. Trước mắt còn biết bao nhiêu chuyện phải làm, bao nhiêu cửa ải phải bước qua, mà mỗi cửa ải là mỗi tiền. Vợ chồng anh đã vét cạn những đồng tiền cuối cùng dành dụm. Không biết những bước tới sẽ xoay xở ra sao đây.

Trước tiên là phải đem hồ sơ ra công an phường xác nhận là gia đình anh đang tạm trú dài hạn tại địa phương. Cửa ngõ này là cửa ngõ đầu tiên, cần có tiền mới qua lọt, ít ra cũng năm trăm ngàn, giá bằng một chỉ vàng. Mà bây giờ thì anh chỉ còn cái thân cày lếch trên chiếc xích lô. Còn Nguyệt với cái xe bánh mì, ngoài cái xe, vốn liếng bỏ vào đó chỉ đáng giá một trăm ngàn đồng. Hàng ngày Nguyệt kiếm thêm được mười mấy ngàn, đủ tiền chợ cho cả gia đình.

Anh chưa biết đâu để xoay xở ra năm trăm nghìn.

Chương 15

Phục đạp xe qua đường bà Huyện Thanh Quan. Nhiều lần qua con đường này anh đều tránh cái nơi mà người đàn bà có tên Hạnh Nhân đứng đợi xe trong những tháng trước. Anh đã thất hứa, không đến đón người đàn bà như lời yêu cầu. Có lẽ trong trí nhớ anh vừa nhận ra đó là một người cùng quê. Anh đã muốn lánh mặt tất cả, không muốn ai nhận ra mình đang hành nghề xích lô. Đó cũng là một thái độ sống hay một tự ái vặt còn sót lại trong anh.

Đã mấy tháng qua, anh đã tránh đi con đường, nơi có thể gặp người đàn bà đó. Không riêng gì với Hạnh Nhân mà với những người khác anh thấy quen quen là anh lẫn đi, tìm con đường khác mà chạy. Nhưng dĩ nhiên, nghề chạy xích lô là nghề dân biểu, hành khách muốn đi nơi nào mình đi nơi đó thôi, khi chạm mặt với người anh thấy quen đâu đó, anh thường đạp thật nhanh và lấy mũ che sụp khuôn mặt lại.

Đó là những ngày tháng trước, cái sĩ diện trong anh cũng mất dần đi vì hiện thực cuộc sống. Cuộc sống đọa đày anh, biến anh thành người cu li và anh đã trở thành người cu li xe chính hiệu. Dù nó có được ngụy trang, được dùng bằng một danh từ nghe có vẻ rất nhân bản, là “công nhân xích lô” đi nữa, thì trong đời sống, cu li và công nhân, cùng một công việc như nhau, là oằn người ra mà đạp xe chở khách. Thì sá gì đâu mà phải sĩ diện.<

Xã hội mới đã biến biết bao nhiêu trí thức, nguyên là giáo sư, kỹ thuật gia, luật gia, nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu…xuống đường làm thợ sửa xe đạp, sửa xe gắn máy hay phu xích lô, phu ba gát. Chuyện đó là chuyện thường tình. Trong một xã hội trắng đen chưa rõ, thì một sĩ quan cải tạo trở về, làm một công việc như anh có gì mà phải che dấu, lấp liếm.

Từ đó, anh an nhiên tự tại, thấy mình tự nhiên hơn trong công việc, anh đạp xe thẳng người, không né tránh ai, gặp người quen thì nói cười ha hả, hỏi chuyện người này, hỏi chuyện người kia, nên anh biết được tin tức của nhiều người bạn, người quen, mà tháng năm qua, ở trong lò cải tạo, anh đã bặt tin.

Và đúng Hạnh Nhân là con người đó, đúng là người con gái của đồng quê ngày nọ. Qua nhiều nguồn tin, anh biết Hạnh Nhân nay đã thay hình đổi xác, nàng vượt lên trên, trở thành giai cấp thượng lưu, trưởng giả.

Nhưng đối với Phục, anh chỉ đứng xa mà nhìn, mọi chuyện đều không dính dáng đến anh, đến chuyện anh đang làm là chạy xe kiếm cơm, cũng như cố gắng chạy vạy để có tiền làm hồ sơ xuất cảnh.

Nhưng cuộc đời có những cái trái khuáy không ai ngờ. Có người lý giải đó là định mệnh. Mỗi bước chân ta bước là một định mệnh, như bước chân người lính ngoài chiến trường, bước chân dẫm lên mìn bẩy làm xương tan thịt nát. Mới nói đó, cười đùa vui đó, mà một mảnh đạn xuyên qua tim, liền ngã quỵ ngay, không trăng trối. Đúng là định mệnh. Như hôm nay, trên chiếc xe cà tàng Phục rong rong trên đường bà huyện Thanh Quan lại gặp Hạnh Nhân lần thứ hai.

Người đàn bà đứng bên lề đường ngoắc xe mà anh thì đang đạp xe tới. Đáng lẽ ra, như trước đây, anh sẽ lắc đầu và nói xe có mối. Nhưng bây giờ thì anh cũng chai lì quá chuyện gặp người quen, nên anh dừng xe lại.

Hạnh Nhân vừa từ nhà một người bạn đi ra, nàng không đi xe dream riêng của mình mà muốn đi xích lô, đó là ý thích rẻ tiền, ngồi trên xích lô qua các ngã đường, nàng thấy như mình bồng bềnh trên chiếc du thuyền tưởng tượng, vượt đại dương để đến một xứ sở xa xôi trong mộng tưởng.

Chiếc xích lô ngưng lại, Hạnh Nhân trố mắt:

– Ủa, anh tháng trước đã chở tôi phải không?”

Phục trả lời nhẹ nhàng:

– Tôi đây, trước đây tôi đành thất hứa với chị vì giờ đó tôi có vài chuyện phải làm nên không đến đón chị được.”

Hạnh Nhân nói:

– Không có gì đâu anh, nếu tiện thì anh đón còn không thì thôi, tôi nhờ người khác. Anh dạo này khoẻ chứ?”

– Thì chị thấy đó, làm nghề này không khoẻ thì làm sao làm nổi.”

Hai người tự trong thâm tâm đã biết nhau, biết cả dấu tích, biết cả dĩ vãng, nhưng không ai muốn lộ ra trước, người này muốn giữ kẻ với người kia, họ chỉ là khách quen trong công việc di chuyển.

– Anh cho tôi lên khu thương mại quận mười.”

– Chỗ hôm trước hả chị?”

– Dạ, chỗ hôm trước.”

Hạnh Nhân bước lên xe, nàng bận cặp đồ bộ màu xanh đọt lá chuối non, loại áo sát nách nên mỗi khi nàng cử động, cánh tay dơ lên cao, để lộ ra cả một vùng lông nách đen rậm. Dù không cố nhìn, nhưng sự vật hiện ra trước mắt nên anh phải thấy, thấy rồi nên Phục lại nghĩ bậy bạ, mấy người đàn bà rậm lông là dâm tận mạng. Suy nghĩ rồi anh cười một mình.

Trong suốt cuốc xe, đi một khoảng xa mà hai người không nói với nhau một lời nào nữa, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng. Hạnh Nhân thì đã nhận dạng ra người đạp xích lô là Phục, anh chàng cùng quê mình cũng mấy mươi năm. Thuở đó, tuổi mới lớn, nàng đã nhìn người con trai học trên nàng mấy lớp bằng con mắt nễ phục lẫn thương yêu. Tình yêu tuổi học trò là mộng mơ, là hoa bướm.

Tuổi mới lớn, mang thân phận là một học sinh nghèo từ quê lên tỉnh, nàng chấp chới trong những mơ mộng si tình một chiều, đơn lẻ. Hình ảnh Phục là hình ảnh đã in trong tâm trí nàng như một hình ảnh của thi ca, của văn học, cách xa nàng hàng vạn dặm. Ngày Phục đi Sài Gòn học, nàng đứng bên giếng nước của ngôi nhà trọ học trông theo. Nhìn chiếc xe đò tách bến chở Phục đi, nàng nghe lòng mình nghẹn ngào một nổi đau thương không thể tả. Mối tình đó là mối tình đơn phương. Phục như cánh chim đang bay mãi miết trong vòm trời cao rộng.<

Phục theo học ở đại học rồi đi lính. Đôi mắt nàng dõi theo mãi. Nhưng rồi hình bóng đó cũng khuất xa khỏi tầm tay với, nàng buông lỏng mình theo những mối tình khác, những người con trai khác, rồi cũng không đi đến đâu, cho đến ngày gặp Trường.

Bây giờ, nàng đã giàu có, đã toại nguyện trong lòng những giấc mơ thời nhỏ dại. Từ con gái trở thành đàn bà, trở thành chủ nhân nhiều ngôi nhà rộng, chủ nhân nhiều sạp hàng bán đồ đắc giá, nàng muốn hoá thân mình vào trong giới trưởng giả, giới thượng lưu, nhưng cuối cùng, nhìn lại, ai cũng như đang cười khúc khích dè bĩu với sự hóa thân trút bỏ tấm thân trần trụi, quê kệch của nàng. Sự hóa thân đâu phải dễ, con vịt muốn hoá thành con thiên nga chắc là phải chờ đến kiếp sau.

Cho nên Hạnh Nhân cố lấy tiền bạc, của cải vật chất của mình đã có, để che lấp đi những thua sút, những nhỏ bé của mình. Nàng đi xem tranh ở các cuộc triễn lãm của các hoạ sĩ nổi tiếng, tham dự những buổi ra mắt sách của các nhà văn, đi dự những buổi hoà nhạc của các nhạc sĩ lừng danh. Nhưng cuối cùng những điều đó cũng không nâng cao nàng lên thêm được chút nào, nên nàng vẫn mơ ước về một quảng đời ấu thơ xưa cũ, vô tư, nhí nhảnh, tung tăng trong sân trường trung học.

Hạnh Nhân làm ra bộ như chợt nhớ ra điều gì, nàng quay lại hỏi Phục.

– Anh ở miền Trung phải không?”

– Vâng, sao chị biết, đoán giọng nói à?”

– Không, đoán giọng nói chỉ là một phần, tôi còn biết anh nhiều hơn nữa.”

Phục biết có lúc phải đối diện với sự quen biết này, nhưng anh cũng giả tảng:

– Tôi bây giờ chả còn nhớ được ai, lâu quá rồi trí nhớ tôi cũng cùn đi.”

Hạnh Nhân xoè con bài tẩy ra:

– Anh có phải là anh Phục không? Anh Phục thời học đệ nhất ở trường trung học tỉnh lỵ.”

– Sao chị nhớ hay vậy. Đúng, tôi là Phục.”

Hạnh Nhân đổi cách xưng hô:

– Anh Phục, anh không nhớ em sao?”

Nhớ em! cái giọng thật ngọt ngào như tiếng ríu rít của chim làm Phục thấy lòng mình như được vuốt ve, nâng niu, chìu chuộng. Có thể mười mấy năm trước đây khi anh là một sinh viên, một sĩ quan tại chức, anh đã nghe được giọng nói đó nhẹ nhàng, âu yếm như thế. Nhưng đời anh đã trải qua những nghiệt ngã của số phận, trong tù bị các vệ binh, quản giáo chữi rủa, hành hạ, hạch sách, trở về cuộc sống đời thường thì bị công an theo dõi hàng ngày. Vùi đầu vào rẫy bái không nhìn được ánh sáng của cuộc sống nên anh trở nên chấp chới, cứ thấy mình như bị bóng đè, có cựa quậy bao nhiêu cũng không thể thoát ra được.

Câu nói dịu dàng đó khiến Phục thấy mình còn ít ra được một người nhớ đến, dù trong thâm tâm anh vẫn cố dấu mình.

– Tôi nhớ chị rồi, tôi biết chị bây giờ thành công lắm.”

– Thành công gì anh, cuộc đời chỉ là phù du, bèo bọt thôi. Có được cuộc sống bình an là vui rồi.”

Đó là một cách nói, một cách hạ mình xuống để rồi nâng mình lên, đó là một thủ thuật trong cách giao tiếp mà Hạnh Nhân đã học trong những năm tháng nàng trôi nỗi ở chợ đời đầy cay đắng.

Nàng nói tiếp:

– Em nghe và biết anh cải tạo trở về, mong gặp anh mà không thể gặp được, lần trước anh chở em, em cũng ngờ ngợ rồi, nhưng anh thay đổi quá, khiến em cũng cứ nghĩ là không phải anh. Lần này gặp anh, biết chắc là anh rồi, em mừng lắm.”

– Tôi gặp lại chị tôi cũng mừng, vì mình cùng quê mà, tha hương ngộ cố tri.”

– Anh đừng kêu em bằng chị, em nhỏ hơn anh, em như em gái anh vậy, cứ gọi em là em đi.”

– Nếu Hạnh Nhân cho phép.”

Hạnh Nhân hạ giọng xuống thật thấp:

– Sao anh không tìm nghề khác làm, nghề đạp xích lô cực lắm.”

Phục kể lễ hoàn cảnh mình, lời có vẻ thân mật hơn:

– Thì cũng hoàn cảnh cả thôi, anh đi cải tạo về, đâu ở được thành phố, phải lên kinh tế mới với bà xã, ở trên đó làm không đủ ăn nên dắt díu vợ con về lại Sài Gòn. Về đây không vốn liếng, biết nghề gì mà làm, ngoài chuyện đạp xích lô.”

Hạnh Nhân tỏ vẽ mủi lòng:

– Em cũng biết nhiều người cải tạo về làm nghề này, nhưng nghề này là bán sức lao động, bán mồ hôi đó anh, nếu có nghề khác khoẻ hơn, anh làm cũng tiện hơn.”

Phục giọng cảm động:

– Anh làm nghề này riết thấy cũng quen đi, bây giờ không muốn bon chen gì nữa.”

Hạnh Nhân khuyến khích:

– Nhưng anh phải cố gắng vươn lên chứ, đâu thể sống đời bằng nghề xích lô.”

Rồi nàng hỏi dò chừng:

– Nghe nói các người học tập cải tạo trên ba năm được làm hồ sơ đi Mỹ, anh có nằm trong thành phần đó không?”

– Có, nhưng làm giấy tờ tốn kém quá nên anh phải để từ từ. Đến đâu, qua cửa ngõ nào cũng phải tốn tiền, anh chán nản quá.”

Đó là lời tâm sự thật lòng, anh không có ý nghĩ ta thán, để cho Hạnh Nhân cám cảnh, chuyện anh tâm sự như một sự bùng phát của ngọn lửa, bị o ép dưới than tro, khi có ngọn gió thổi qua thì bùng lên thành đám cháy.

Hạnh Nhân hơi ngỡ ngàng, nàng không biết Phục nói ra, than vãn, có ý nghĩa nhờ vã nàng không? Cái nghề nghiệp và cuộc sống suốt mấy mươi năm lăn lộn trong trường đời nhiều cạm bẫy cùng gian trá này, khiến nàng nhìn mọi chuyện bằng cái nhìn đề phòng, dè dặt, nghi ngờ.

Phục giựt mình vì câu nói tâm sự của mình đã thốt ra, vì nghĩ rằng, đó là lời bộc bạch tâm sự với một người quen cũ, nhưng anh nhìn gương mặt Hạnh Nhân hơi cau lại, đôi mắt kẻ chì đậm cong cong, anh hiểu Hạnh Nhân đã hiểu sai câu nói của anh.

Phục tiếp lời:

– Nói vậy thôi chứ cái gì cũng qua, cũng xong thôi.”

Xe chạy vào con đường nhựa nhỏ, gần đến khu thương mại. Hạnh Nhân ngỏ ý:

– Lần trước anh không đến đón em đi chợ, bây giờ anh có thay đổi ý kiến không, nhà em tuốt trên Phú Nhuận, nếu anh rãnh đến đón em mỗi sáng, em nhờ anh được không?”

Lần trước, anh dè chừng thật sự, bây giờ thì sự thật đã dàn ra trước mắt, đây là một việc làm kiếm tiền, sao anh lại từ chối.

Phục trả lời:

– Thôi được, mỗi sáng anh sẽ tới nhà em rước em đi.”

Hạnh Nhân cười rạng rỡ:

– Anh hứa chắc nghe anh Phục, mai em đợi anh đó, lúc chín giờ sáng nhe.”

Xe ngừng lại trước sạp hàng.

Nàng lấy trong xách tay ra trả tiền kèm theo một tờ danh thiếp. Quay lại phía sau đưa cho Phục rồi nói:

– Đây là địa chỉ nhà em ở Phú Nhuận, mai anh tới nhé, em đợi.”

Hạnh Nhân bước xuống khỏi xe, nàng vẫy tay chào rồi nói thêm:

– Đừng thất hẹn như lần trước nữa nghe.”

Cái vẫy tay khiến nàng đưa cánh tay lên cao, lại lộ ra chùm lông nách dày, đen và rậm. Đạp xe đi, Phục lại cười thầm với suy nghĩ trong bụng. Hấp dẫn quá!

Chùm lông nách đã ám ảnh anh trong suốt chặng đường đạp xe chạy long rong tìm khách. Anh cũng loé lên những tư tưởng ham muốn, muốn áp mặt vào nơi chốn rậm rịt đó.

Chương 16

Buổi sáng Phục dậy sớm, anh định đạp xe xuống Chức sớm hơn thường ngày để kéo Chức ra ngoài quán cà phê vỉa hè ngồi tán dốc. Bây giờ chương trình HO đang là cao trào. Đi đâu, gặp ai, gia đình có liên quan đến đám cải tạo trở về đều bàn tán rôm rả về chuyện ra đi. Hồ sơ đến đâu rồi, còn nằm ở quận hay đã lên Nguyễn Du? Nguyễn Trãi?.

Nguyễn Du là con đường Nguyễn Du, có toà nhà ở đầu đường là Sở Xuất Nhập Cảnh, là nơi tiếp nhận hồ sơ HO từ quận gởi lên. Hồ sơ ai được nơi đây kêu lên bổ túc là đã được nửa đoạn đường.

Nguyễn Trãi cũng là đường Nguyễn Trãi, cũng có một toà nhà của công an, chuyên làm dịch vụ xuất cảnh. Muốn hồ sơ được chuyển sớm thì đến đây, có những đường giây chuyên môn lo dịch vụ này.

Đây là những nơi công khai mà chính quyền đã đặt trụ sở để tiếp nhận hồ sơ.

Có nhiều người muốn mình đi sớm hơn thì ra Hà Nội “chạy”, sẽ tốn kém nhiều hơn, nghĩa là sẽ chi khoảng chục triệu để được ”đôn” số thứ tự, nghĩa là nếu anh làm hồ sơ trong thời điểm đó là HO.20 chẳng hạn, có tiền chạy cho công an có thẩm quyền bằng những đường dây kín, thì anh có thể được đôn lên HO 14, 15. Ai cũng muốn ra đi sớm, ai cũng không tin nhà nước này. Dù tốn chục triệu mà được đi sớm thì vẫn hơn. Biết đâu có gì thay đổi thì sao?.

Phục thì nằm chịu chết một chỗ. Anh luay huay kiếm đủ năm trăm ngàn để ra công an phường chứng giấy mà không tìm đâu ra.

Nguyệt là người đàn bà chịu đựng thế kia, mà cũng còn than thở rồi thúc dục Phục:

– Anh chạy mượn đâu đó thử coi, chứ chẳng lẽ chịu chết sao, anh cố gắng mượn bạn bè, bà con.”

– Chạy đâu ra mà chạy, bạn bè anh toàn dân đi cải tạo về, còn bà con ai nhìn mình cũng ngoãnh mặt. Sao em không viết thư nhờ Hải.”

– Thất lạc địa chỉ Hải từ một năm nay rồi anh không biết sao, nó nói nó chuyển đi tiểu bang khác, rồi lấy vợ, từ đó đến nay biệt vô âm tín.”

Hai vợ chồng sinh ra lục đục vì chuyện không đào đâu ra tiền để chạy hồ sơ. Phục cứ đem tập hồ sơ của mình ra săm soi, nhìn, đọc, từ cái giấy ra trại, cái giấy tạm vắng, cái đơn xin xuất cảnh rồi lại cất vô, như người cháu đích tôn của gia đình săm soi cuốn gia phả giòng họ mấy mươi đời vậy.

Bạn bè xôn xao làm đơn, khiến anh càng nóng ruột thêm. Gặp, ai cũng hỏi: Hồ sơ mày đến đâu rồi? Câu hỏi làm anh quýnh quáng, rồi nói lấp liếm câu trả lời, tau đang làm. Nhưng trong lòng anh là cả một trận chiến bùng nổ, làm đầu óc anh cứ rối tung cả lên.

Buổi tối về ngủ, hai vợ chồng xây mặt váo vách. Nguyệt thở dài, anh cũng thở dài. Hai người đều tứ cố vô thân, bà con thân sơ đều ở quê. Xã hội này, cuộc sống này, thôn quê cũng như thành phố đều như nhau, có ai dư dã đâu mà giúp cho anh tiền bạc. Phục nhẩm tính, nếu tính từ khởi đầu, từ lúc mua tập hồ sơ xuất cảnh về, đến khi khi xong xuôi phỏng vấn, không tính tiền ăn uống chi phí trong gia đình, cũng phải tốn ít nhất là năm triệu đồng, một món tiền quá lớn đối với anh lúc này, biết xoay xở thế nào đây?.

Phục thấy thương vợ con quá đổi. Nguyệt đã bỏ tuổi xuân của nàng để lo cho chồng, cho con. Nàng có thể cắn răng chịu đựng, đổ mồ hôi sôi nước mắt, để làm việc. Cực khổ không sợ, khó khăn không nản lòng, nhưng bảo nàng mở miệng đi mượn hay đi vay tiền của những người thân, người sơ, nàng không thể làm được. Cho nên, cứ cái vòng lẩn quẩn, Phục đổ tội cho Nguyệt rồi Nguyệt đổ tội cho Phục, hai bên im lặng “vô tuyến” suốt mấy tuần nay.

Khi Phục thức thì Nguyệt đã dậy từ lâu, nàng đem cái lò nấu ra ngoài chái hiên hâm lại mấy món thức ăn còn lại hôm qua. Phục dắt xe đạp ra cửa, nói trổng không:

– Hôm nay phải đi sớm gặp thằng Chức một chút.”

Không đợi Nguyệt trả lời, anh lên xe đi thẳng.

Thành phố bắt đầu một ngày mới, người xe chạy tấp nập trên đường, mới hơn năm giờ sáng mà đã rộn ràng, ồn ào tiếng động.

Chiếc xe đạp lóc cóc chậm rãi bò trên đường. Thời điểm này, xe gắn máy Nhật, Hàn quốc bắt đầu được nhập cảng vào Việt Nam, Cúp 78, DD nữ hoàng, Angel, Dream 2. Ăn khách và sang trong nhất là Dream 2, sản xuất và lắp ráp tại Nhật. Những cán bộ, nhất là công an, hải quan, có chức, có quyền, có tiền, những người có thân nhân ở nước ngoài gởi đô la về, họ đều sắm chiếc xe láng cóng. Chiếc xe nói hộ họ sự giàu sang. Trong công việc làm ăn cũng vậy, chiếc xe thể hiện cho mọi người thấy giá trị của người có xe. Với Phục, những chuyện đó là những chuyện bên ngoài cuộc sống anh, cái mà anh chăm chú là làm sao có được tiền để chạy hồ sơ xuất cảnh.

Phục đánh thức Chức bằng những cái đập cửa. Chức thường ngủ ở phòng ngoài, anh đạp xe về khuya, muốn giữ im lặng cho cha mẹ ngủ, anh trải chiếu trên nền nhà dưới lầu mà ngủ, để tiện buổi sáng mở cửa cho Phục lấy xe luôn.

Hôm nay Phục đến sớm hơn cả nửa tiếng, nên Chức còn vùi đầu trong chăn.

– Chức ơi, dậy đi”

Nghe tiếng gọi cửa, Chức mở mắt ra và nghĩ ngay, sao hôm nay Phục đến sớm vậy. Nghĩ vậy nhưng Chức cũng ngồi dậy, lệch xệch đôi dép ra mở cửa cho bạn.

– Sao hôm nay đi làm sớm thế ông?”

– Thì tau xuống sớm kêu mày ra uống cà phê.”

– Uống thì uống, mày chạy xe ra trước, tau rửa mặt ra sau.”

Phục dựng xe đạp vào tường nhà, rồi anh dắt chiếc xích lô ra, anh đạp đến quán cà phê đầu hẽm.

Phục kêu một ly đen, một bao thuốc Đà Lạt, ngồi nhâm nhi ngụm cà phê đầu tiên trong ngày, anh thấy mình tỉnh lại.

Buổi sáng sớm nào, anh cũng uống một ly cà phê và hút một điếu thuốc, nó như một thông lệ, không có tự nhiên lòng anh buồn bã vô cùng.

Nghĩ bây giờ Nguyệt cũng bắt đầu một ngày mới, bắt đầu đẩy xe bánh mì ra đầu hẻm và làm công việc của nàng. Anh thấy thương vợ quá, suốt những ngày về làm vợ anh, Nguyệt chưa có một ngày sung sướng, hạnh phúc thật sự.

Phục chạnh nghĩ đến Hạnh Nhân, hàng ngày anh vẫn đạp xe đón Hạnh Nhân đi chợ. Tình thân có khá hơn, nhưng anh vẫn cố giữ một khoảng cách giới hạn vừa phải. Biết là Hạnh Nhân có cảm tình với anh, thương anh, anh lờ mờ hiểu thế với một trực giác không giải thích, bởi cách nhìn, ngôn ngữ, cử chỉ, với anh, Hạnh Nhân có một cái như là âu yếm, vỗ về, nhưng anh đã giữ lại ở một khoảng cách cần thiết.

Nhiều lúc túng thế quá, anh cũng muốn mở miệng nhờ Hạnh Nhân giúp đỡ cho mượn số tiền để làm đơn xuất cảnh, nhưng mỗi khi mở miệng ra, quai hàm anh như bị dính chặc lại, anh không nói được, không thể bày tỏ ý định của mình, nên mọi chuyện cũng không đâu vào đâu.

Chức đi ra vơi gương mặt vẫn còn ngái ngủ. Chức ngồi xuống chiếc ghế đối diện Phục. Phục vẫn câu hỏi cũ, thường ngày:

– Có tin tức gì mới không?”

Chức không trả lời câu hỏi của Phục, mà hỏi lại Phục:

– Hồ sơ mày đến đâu rồi, chạy ra tiền chưa?”

– Vẫn dậm chân tại chỗ. Thôi để đó, lo cày kiếm tiền cái đã, được giai đoạn nào hay giai đoạn đó.”

Trong đám bạn, Phục chỉ tâm sự với Chức những khó khăn của mình, mà Chức cũng bó tay, có thương nhau cũng chỉ ngồi nhìn.

Chức rít một hơi thuốc rồi nói:

– Mấy thằng bạn hồi ở Suối Máu với mình như thằng Thự, thằng Chiến đã được giấy phỏng vấn rồi đó, tụi nó chuyển từ ODP sang HO nên lẹ, mình mong mình cũng được sớm thì tốt quá.”

Phục muốn tâm sự với Chức chuyện Hạnh Nhân, anh muốn dò ý bạn coi thử sự việc này có tác hại gì đến gia đình hoặc làm Nguyệt buồn không? Anh biết trong mọi tình huống làm sức mẻ hạnh phúc gia đình, thường xảy ra là do chuyện tiền bạc hay ngoại tình của chồng hoặc vợ.

Khi Chức trầm ngâm rít thuốc và nhìn làn khói trắng lơ đãng bay vòng vòng trên không trung, thì Phục đằng hắng một cái rồi chậm rãi nói:

– Chức này, tau có một chuyện muốn hỏi ý mày, để mày góp ý với tau, cho tau cái quyết định.”

– Chuyện gì vậy? Mày nói đi, để tau làm quân sư quạt mo cho.”

– Nghĩa là tau có quen với một người đàn bà, người cùng quê. Hồi trước, khi còn đi học, rất có cảm tình với tau, nay gặp lại, tau chở mối cho bả đi bán hàng. Bả giàu lắm, mày nghĩ tau có nên nhờ bả giúp cho tau mượn tiền chạy dịch vụ xuất cảnh không?”

Chức nói không suy nghĩ:

– Nên lắm chớ, mày mượn rồi sau này mày trả lại, chớ có gạt đâu mà sợ, dĩ nhiên mình phải mang ơn.”

– Tau định nói với bả mà mỗi khi bắt đầu tau khớp quá, nhưng nay mày góp ý thế, để tau hỏi thử coi.”

– Khớp gì, vì chuyện lớn cho nên mày phải can đảm lên, tau nghĩ cũng chẳng có gì đâu, nếu bả có lòng giúp mày thì bả sẽ cho mượn, sông có khúc người có lúc, có dịp nào đó mày sẽ trả ơn lại.”

Lời góp ý của Chức làm Phục lên tinh thần, anh dự tính hôm nay đến chở Hạnh Nhân đi chợ thì anh sẽ cố gắng mở miệng, nói thì dễ nhưng mỗi khi mở miệng thật khó khăn.

Chức dặn dò:

– Đây là một việc rất tế nhị, mày đừng cho vợ mày biết, nếu biết, cô ta sẽ nghĩ xấu cho mày đó.”

– Tau sẽ làm theo ý mày.”

Phục đội nón lên, anh kêu chủ quán trả tiền cà phê thuốc lá, rồi nói với Chức:

– Thôi tau dọt, chạy sớm kiếm tí đỉnh, mày ngồi ngó thiên hạ đi nghe.”

– Ừ, thôi mày dọt đi, có kết quả chiều nhớ về báo cáo.”

Chương 17

Phục chạy xe ra đường. Hàng ngày anh vẫn thường chạy rong rong kiếm hai ba cuốc dằn túi, rồi đến khoảng chín giờ, anh mới chạy đến nhà Hạnh Nhân đón nàng. Công việc có vẻ suôn sẻ từ mấy tháng nay.

Phục đạp xe đến chợ Hoà Hưng thì có khách. Khách là người đàn bà có gương mặt xinh đẹp, mắt lớn, môi tô son đỏ, hàm răng trắng đều. Khách ngoắc xe rồi leo lên ngay, không trả giá.

Phục đành hỏi:

– Chị về đâu?”

“Cho tôi về xuống chỗ cầu Điện Biên Phủ.”

Nghe giọng nói, Phục biết người đàn bà này cũng người miền ngoài. Anh hỏi cho qua chuyện:

– Nhà chị dười đó hả?”

– Không, tôi xuống nhà người quen nhờ làm cái giấy.”

– Giấy gì vậy chị?”

Người đàn bà quay lại nhìn anh như quan sát, có lẽ thấy anh ăn mặc tồi tàn, đúng là phu phen thứ thiệt, nên nàng lên tiếng:

– Có người giới thiệu xuống dưới này làm cái giấy Chứng Minh Nhân Dân đó mà.”

Phục muốn giới thiệu mình cho người đàn bà yên tâm, anh nói:

– Tôi là sĩ quan chế độ cũ đi tù cải tạo về, chị đừng lo. Mà sao làm giấy chứng minh nhân dân không đem lên công an mà làm.”

Người đàn bà nhìn anh một lần nữa, như đánh giá lời nói của anh vừa rồi đúng hay sai, rồi mới trả lời:

– Thì làm giấy giả đó mà, làm giấy để ghép hồ sơ xin xuất cảnh.”

Người đàn bà hỏi lại Phục:

– Anh đi cải tạo về hả, mấy năm vậy?”

– Dạ, cải tạo hơn bốn năm đó chị.”

– Vậy có chương trình HO, anh đã làm đơn chưa?”

– Đang làm chị à, mà giấy tờ sao thấy khó khăn quá.”

– Khó khăn gì anh?”

– Thì chuyện tiền nong, tui tôi không có tiền để chứng giấy, chạy dịch vụ.”

– À, công an bây giờ qua cửa ngõ nào cũng ăn, phải có tiền mới được.”

Người đàn bà phân trần thêm:

– Như tôi đây này, đi vượt biên mấy lần mà không được, tù lên tù xuống. Bây giờ phải tìm cách khác mà đi, có ông già ở ngoài quê, đi cải tạo về mà không có tiền làm dịch vụ nên tôi “mua” ổng, làm hồ sơ tôi là vợ ổng, ổng đem theo hai đứa con, tôi một đứa.”

– Hồ sơ xong chưa chị?”

– Cũng gần xong, cón mấy cái giấy nữa nên tôi mới xuống dưới này nhờ làm đây chứ.”

Phục nói thầm trong bụng: “Thì ra thế, người ta có tiền đang kiếm cách “chạy” để đi hà rầm ra đó, còn mình đúng trong diện HO, mà không có tiền đành bó tay, chán ơi là chán.”

Nghĩ vậy, nhưng anh cũng nói vơi người đàn bà:

– Thế thì tốt quá rồi.”“

– Cũng mong vậy thôi, nhưng cũng chầm chày may rủi anh ơi, mấy người Mỹ phỏng vấn cũng kỳ cục lắm, có người dễ thì cho qua, còn người khó thì họ hỏi đủ thứ, mình nói không suôn thì bị loại ngay.”

Giọng của người đàn bà đúng là giọng quê của Phục, anh tự nhiên thấy thích thú, anh hỏi lại:

– Chị người miền ngoài phải không?”

– Đúng rồi, tôi ở ngoài đó. Sao anh biết hay vây?”

– Nghe giọng chị nói thì biết, tôi cũng quê ngoài đó mà.”

– Anh là anh Phục phải không?”

– Đúng rồi, hồi trước tôi là lính của sư đoàn…”

– Tôi biết anh, anh khỏi cần giới thiệu. Nhìn anh là tôi nhớ ngay, dù anh bây giờ khác xưa nhiều lắm.”

– Chị là chị Tiên Phước, phải không?”

– Anh cũng nhớ ra tôi à?”

– Mới nhìn chị tôi cũng ngờ ngợ, nhưng nhìn kỹ tôi biết đúng chị là Tiên Phước, chị vẫn còn đẹp lắm.”

– Đẹp gì anh, chạy ăn gần chết, chồng bỏ, mình tôi phải lo nuôi con, chạy ăn bở hơi tai.”

– Nhưng mà chị có tiền mới chạy hồ sơ được chứ.”

– Thì cũng như đánh bài, tôi vét hết vốn liếng để đánh canh bài chót này.”

Phước thở dài. Phục nhớ ngày xưa, cô bé…nhưng thôi, chuyện đã qua xa quá.

Tiên Phước hỏi anh:

– Anh bây giờ sống ra sao?”

– Thì chạy xe nuôi vợ con. Còn chị?”

– Mở quán bia ôm.”

– Thật à?”

– Thật chứ, nghề này đang hốt tiền mà.”

Xe đã chạy qua cầu Phan Thanh Giản, Tiên Phước nói:

– Anh chạy vào hẻm trước mặt, chút xíu nữa thì tới.”

Đến nơi, anh dừng xe, Phước trả tiền cao hơn giá anh mong đợi.

Phước đổi cách xưng hô và rũ rê:

– Khi nào rãnh anh tới quán em chơi, quán Bụi Hồng ở đường Tô Hiến Thành, chắc anh chạy xe qua lại đường đó anh biết chứ gì, quán có nhiều em thơm hết sẩy.”

Phục nói:

– Tới thăm chị thì được, chứ kiếm em thì cho tôi xin.”

Tiên Phước cười:

– Nói vui với anh thôi, thôi em đi nhé.”

Phục quay đầu xe chạy lại trên con đường cũ, anh nhìn đồng hồ, đã gần mười giờ, cuốc xe chạy xa quá. Phục tất tả đạp về hướng nhà Hạnh Nhân, thêm ba mươi phút nữa, mười giờ ba mươi mới đến nơi. Anh bấm chuông, không có Hạnh Nhân. Người giúp việc mở cửa, nhìn anh rồi nói:

– Cô đợi chú lâu quá nên cô đi rồi.”

Thường thường, Hạnh Nhân đợi Phục khoảng mười, mười lăm phút, vì biết Phục đang kẹt cuốc xe, nhưng hôm nay đợi trên ba mươi phút, nàng vì có chuyện gấp, với lại nàng cũng giận Phục nữa, nên nàng kêu xe khác.

Phục quay ra xe, lên xe đạp thẳng, thế là không có gì để về báo cáo cho thằng Chức chiều nay đây. Phục thở dài đánh sượt.

Chương 18

Đêm tối với Ngàn là những đêm khổ hạnh. Anh sống một mình trên cái «chuồng cu» thuê ở đường Huỳnh Văn Bánh. Căn nhà lầu ba tầng, trên chót vót ở tầng thứ ba, người chủ làm một cái sân thượng, phía sau làm một cái gác gỗ nhỏ. Để lâu ngày không ai săn sóc, chùi rửa, lau quét, nên cái «chuồng cu» này bụi bặm bám lên một lớp dày. Người chủ thấy bất tiện nên đăng báo cho thuê với giá rẻ. Ngàn chộp được mẫu rao vặt trên tờ báo, anh tất tả đạp xe tới, leo lên ba tầng lầu, lên hai bậc thang nữa mới tới cái «chuồng cu». Người chủ sợ anh chê, liền nói ngay:

– Nếu anh ở được, cứ ở cho vui. Tôi chỉ lấy anh chút đỉnh tượng trưng.”

Người chủ không đoán nổi ý Ngàn khi thấy anh trầm ngâm. Anh trầm ngâm là vì anh thích chí quá. Ở đây là một thế giới riêng biệt, có thể ngắm sao trời và hưởng không khí trong lành. Anh có thể đứng giữa trời không mà đọc thơ ông ổng, không ai bị phiền hà, hoặc anh có thể hát những bài tình ca vang động một góc trời. Giọng của anh, nếu có người nghe, chắc có nhiều người phẩn nộ.

Người chủ lấy tượng trưng anh mỗi tháng một trăm ngàn đồng. Thế là anh đã định cư trên cái chuồng cu này gần mười năm từ ngày anh ra trại. Mười năm, anh đi về lầm lủi. Cất chiếc xe mobilette cà tàng trong một xó xỉnh, rồi anh bước lên tám bậc cầu thang. Có lúc say bét nhè, anh leo lên tám bậc cầu thang, mất gần một tiếng đồng hồ.

Anh sống một mình, làm một mình, ăn một mình. Ngơ ngơ, ngác ngác. Những cơn gió lạnh làm xước hồn anh, rách tươm thân thể anh thành từng mảng lớn.

Hôm qua, anh đem cái đơn xuất cảnh lên công an phường. Người công an phụ trách hỏi:

– Sao anh đi xuất cảnh một mình?”

– Tôi có một mình, tôi đi một mình, chứ anh biểu tôi đi với ai nữa.”

– Theo lý lịch anh, tôi biết anh có gia đình.”

– Nhưng tôi đi cải tạo về không còn gì nữa.”

Người công an cười:

– Đó là anh nói với ai khác kia, chứ với cơ quan công an cái gì cũng phải có chứng minh, có giấy tờ. Bây giờ tôi chỉ căn cứ vào giấy tờ thôi. Tôi có một yêu cầu, anh có vợ con, anh hãy làm giấy tờ cho vợ con anh đi cùng. Nếu anh đã ly hôn, anh phải có giấy ly hôn.”

Ngàn bộc bạch:

– Thưa anh, tôi đi cải tạo về, vợ có người tình khác, chúng tôi không sống chung nữa, vợ tôi không chấp nhận tôi, làm sao tôi nói được.”

– Đó là phần của anh, anh muốn hồ sơ hợp lệ chỉ có nước vậy thôi. Thôi anh về đi, khi nào hợp lệ hãy đến đây tôi ký chuyển cho anh.”

Ngàn đành đem hồ sơ về.

Bây giờ anh phải làm thế nào đây? Về năn nỉ Nga cùng đứng chung hồ sơ với anh và mấy đứa con nữa. Nga, vợ anh, bây giờ thế nào? Hầu như suốt gần mấy năm nay anh không gặp Nga. Nga bận buôn bán làm ăn, Nga không đoái hoài gì tới anh nữa, thế mà bây giờ anh phải về năn nỉ Nga sao? Anh thấy mình bất lực và như đang đi trên một con đường cụt.

Những buổi chiều đi bỏ hàng, gặp Thiệu, anh coi như mình bắt gặp vàng, vì hai người có hoàn cảnh giống nhau. Giấy tờ Thiệu cũng gặp muôn vàn khó khăn, không tạm trú, không địa chỉ, Thiệu tấp về quê ở Long An. Người chú còn có lòng cho Thiệu tạm trú, những người công an biết Thiệu từ nhỏ đã ở đây, còn căn nhà tự đường. Chỉ có một điều, người vợ không biết trôi dạt về đâu, mà hồ sơ, còn hôn thú, còn con cái, nên công an bắt Thiệu đi tìm vợ về.

Dù cùng bỏ hàng trên một con đường, nhưng Thiệu và Ngàn, cả tháng nay không gặp nhau. May mắn lắm, họ gặp nhau thì rũ nhau nhậu. Chuyện hồ sơ bế tắc nên hai người muốn quên, nhậu vào là quên hết, nhưng sáng mai thức dậy nghe đau nhừ người, mở mắt ra thấy chập choạng một màu vàng choé.

Ngàn tấp xe vào sạp của Nương, Nương chuẩn bị dọn hàng về, cô hỏi:

– Sao hôm nay anh đến trễ vậy?”

– Thì cũng bỏ hàng loanh quanh ở đây, bây giờ mới tới.”

– Thì anh lúc nào cũng đến em sau rót, người ta lựa hết hàng tốt.”

– Đâu có được, hàng ai đặt thì để cho người đó chứ, phần em anh đem đến đủ đây này.”

Anh lấy hàng cho Nương, cô gái bận chiếc áo màu xanh trông dễ thương chi lạ. Ngàn chợt nhớ đến bản nhạc của Đoàn Chuẩn-Từ Linh, Tà Áo Xanh, khi nào em đến với anh xin đừng quên chiếc áo xanh, em ơi, có hoa nào không tàn……

Nương chợt hỏi:

– Hồ sơ đi Mỹ anh làm đến đâu rồi?”

– Thì vẫn vậy, công an bảo khai tên bà vợ và mấy đứa con cùng theo, anh thấy khó quá, chẳng lẽ bây giờ về năn nỉ bả, đã mấy năm không gặp nhau.”

Giọng anh có một cái gì đó chua chát, thấm đậm buồn tủi cùng cực.

Nương nói nửa đùa nửa thực:

– Không năn nỉ bả được thì năn nỉ em, em làm vợ anh được không?”

Ngàn vẫn nghĩ Nương hay đùa với anh, nhưng bây giờ, câu nói của Nương, tự nhiên làm anh cảm động, anh hỏi lại:

– Thật không Nương?”

– Em nói thật đó, nếu anh làm hôn thú với em, cưới em, dẫn em đi Mỹ thì em đồng ý.”

Như vậy có một điều kiện, Nương chỉ đồng ý khi anh làm hôn thú với Nương và dẫn Nương đi Mỹ, còn không, thì không được. Như vậy thì đâu có tình yêu?

Anh hỏi lại trong ý nghĩ bất chợt đến:

– Không có tình yêu sao?”

Nương cười cười:

– Em nói chơi vậy thôi, anh đừng buồn em, anh về đi tìm vợ đi. Chắc chị ấy đợi anh đó, người đàn bà nào biết mình được đi Mỹ mà không ham, nhất là anh biết xin lổi và năn nỉ chỉ.”

Ngàn nghe lòng mình nhẹ tênh, không cảm xúc, hầu như anh chưa bao giờ đi đến đích với một cuộc tình nào, anh sống cô đơn là phải.

Ngàn đứng dậy:

– Thôi anh về đây. Anh nghe lời em, sẽ cố gắng đi tìm vợ về.”

Buổi chiều bên ngoài xuống hiu hắt.

Chương 19

Tiên Phước bước lên con đường đất đỏ. Nhà của Bắc ở tuốt trong hẻm sâu. Căn nhà có khu vườn rộng, Bắc đã mua nhiều lô đất ở chỗ khác, nhưng chỗ ở này, ả vẫn giữ, như chứng tỏ với người đời, ả vẫn còn nghèo, còn cặm cụi với đời, vẫn còn lương thiện. Đó là ván cờ cao mà Bắc đã học ở những cán bộ mà ả quen biết. Các cán bộ đi xe đạp, ở căn nhà xập xệ cấp bốn do cơ quan cấp, ăn xôi buổi sáng đi làm. Trong lúc đó, ở một nơi khác, họ có những căn biệt thự, những xe con, những nơi này, thường là vợ con họ đứng tên, còn họ, đúng là người vô sản chân chính, phục vụ nhân dân như một cống hiến.

Căn nhà im vắng, Tiên Phước bước vào sân, đi trên những tấm gạch được lót phía dưới nền sân đất. Con chó nghe tiếng chân sủa lên ông ổng. Bắc nói vọng ra:

– Ai đó.”

– Tôi đây.”

Bắc nghĩ, một người đàn bà đến nhờ ả làm giấy tờ, ả nói vọng ra:

– Cửa không khóa, mời vào.”

Phước đẩy nhẹ cánh cửa, bên trong là phòng khách nhỏ, có một bộ salon đã cũ, Bắc ngồi trên cái ghế cao, nhìn người đàn bà, rồi nói giọng ngạc nhiên:

– Ủa, chị Tiên Phước, sao chị biết nhà em mà đến đây?”

Phước ngồi xuống ghế:

– Thì nghe người ta giới thiệu, biết là Bắc nên chị mới ghé.”

– Ai giới thiệu vậy chị?”

– Anh Gia chứ ai.”

– Thế à, thằng chả……”

Bắc định tố khổ Gia những câu nặng nề nhất, như là tay sở khanh, đĩ đực, điếm thúi…nhưng Bắc dằn được cơn giận. Từ ngày trở về từ miền Trung, Gia trốn biệt ả, Gia đã thấm ngón nghề của ả, nên chỉ bằng cách là đánh bài chuồn. Ả điên tiết, ả hung hăng đi tìm Gia, nhắn đàn em đến nhà Gia, nhưng cuối cùng ả nhận lấy ê chề cực nhục, là Gia ghê tởm ả, ghê tởm công việc làm ăn của ả. Ả biết dù có tìm được Gia, ả cũng chẳng níu kéo được gì. Trong bất cứ cuộc tình nào, có thể ghét, có thể không yêu, nhưng không thể khinh nhau được. Gia đã tởm lợm cái ngón nghề, cách làm ăn thất đức của ả nên Gia chuồn. Điều đó cho ả một bài học để đời, một nổi đắng cay nhục nhã, khi ả đã giới thiệu với tất cả người quen, đây anh Gia, chồng sắp cưới của em…

– Anh Gia à, ảnh bây giờ ra sao?”

– Thì ảnh vẫn buôn bán xầm xài.”

Gia mới ra khỏi cuộc đời ả có hai tháng mà ả thấy như đã rất xa, xa quá. Ả yêu Gia, nhưng ả không từ bỏ được “ngón nghề” ăn “hớt” người ta quá lố. Giữa Gia và ngón nghề, ả chọn ngón nghề, còn người đàn ông, ả sẽ kiếm một người đàn ông khác, cùng có ngón nghề như ả.

Tiên Phước một thời là vợ Trợ, anh của Tầm. Tầm thuở ấy là bồ của Bắc, thuở Bắc mười tám đôi mươi.…

Chuyện đó là chuyện ngày xưa, bây giờ chỉ còn sự quen biết cũ.

– Chị tìm em có chuyện gì không?”

– Thì làm cái giấy, chị muốn làm cái Chứng Minh Nhân Dân, ở ngoài quê, cho hợp với địa chỉ ông xã.”

– Ông xã chị ở đâu?”

– Ngoài quê mình, như em biết đó, chuyện này là ghép, ổng cải tạo về không có tiền làm hồ sơ, chị về mua ổng, ổng chịu, hồ sơ xong xuôi hết rồi, chỉ còn cái Chứng Minh.”

– Được, để em làm cho chị, giá một triệu đó chị.”

– Sao nhiều vậy, em giúp chị, bớt cho chị được không?”

– Không được đâu chị, vì chị khai ở quê nên phải khắc dấu mới, cả dấu nổi cũng mới nên phải chi nhiều.

– Thôi được, em cứ làm cho chị, sao cho giống nhe.”

-“Chị đừng lo, cho em chi tiết, ngày tháng năm sinh, quê quán, hộ khẩu thường trú. Chị nhớ đưa cho em một tấm hình để em chụp lại.”

– Có đây, chị đã chuẩn bị đầy đủ.”

Hợp đồng chỉ có thế, bằng miệng, rồi tiền trao cháo múc là xong.

Tiên Phước ra về, lòng thấy vui vui. Dù sao, cũng xong một chuyện. Trong thời gian tới, khi hồ sơ đã xong, nàng sẽ trở về quê, phải leo lên những ngọn đồi, quê ông Tiến để báo cho ông biết công việc đã xong và sẽ sống cùng ông một thời gian để che mắt thiên hạ. Nàng sẽ làm vợ, hay chứng tỏ là vợ, đối với ông. Nàng nghĩ đến căn chòi ông ở cùng hai đứa con trai.

°

Ông Tiến đã làm căn chòi sống riêng biệt dưới chân núi Lớn. Ông chăn mấy con bò, khai mấy công đất, nuôi bầy gà, đàn vịt. Một hôm, Phước đến, căn chòi sực mùi nước hoa thơm ngát. Phước đem bia, chả, nem, một con gà quay từ thành phố lên. Phước kêu ông bằng tiếng anh ngọt xớt. Phước đem bánh, kẹo, quần áo cho hai đứa con ông, đem cả quần tây, áo sơ mi cho ông và một đôi giày còn mới. Phước bận cặp đồ bộ bằng xoa trắng, mỏng dính, để lộ cái su cheng đen ngời ngời, cái quần lót có tí teo ôm sát bờ mông tròn căn thiếu phụ.

Ông hỏi:

– Cô là ai? Ở đâu tới đây vậy?”

– Em là Phước, Tiên Phước, em từ Sài Gòn về. Nghe nói anh ở đây một mình, nên em đến.”

– Ai nói?”

– Thì thiên hạ chứ ai, dưới phố nói anh đi cải tạo về, chán đời, nên bỏ lên núi sống với hai con. Em thấy thương nên đến.”

– Sao cô thương tui?”

– Thì thương anh cô độc.”

Trong mắt Tiên Phước ánh lên một chút tinh nghịch. Nàng cố gắng không cười thành tiếng. Ông Tiến cảm động, vì ông trở về sau năm năm tập trung cải tạo. Vợ ông đã chết vì cơn sốt rét đã đánh bật bà ngã qụy, trong lúc ông đang chăn bò ở trại tù Tiên Lãnh. Ông về, tìm ra mộ thắp cho bà nén hương, làm con gà cúng bà, rồi ông dắt hai đứa con ra đây sống. Từ dao đó đến nay, ông không tiếp xúc, giáp mặt với một ai, ngoài những lúc công an kêu ông lên xã làm việc hay cần phải mua gạo, mắm muối dưới xóm.

Bây giờ có một người đàn bà hương sắc, ở phố thị tìm đến với ông. Ông cảm thấy lòng ông chợt chao đi như những cọng cỏ bông lau rung rinh trước cơn gió, trong buổi chiều tắt nắng. Khuôn mặt người đàn bà đỏ hồng, tóc uốn cong lòa xòa thả xuống hai bờ vai, môi tô son đỏ, hàm răng xinh xắn. Hồi còn tại chức, là đoàn trưởng cán bộ xây dựng nông thôn, ông cũng trải qua nhưng người con gái, nhưng họ quê mùa, mồ hôi rin rít, tóc ngàn ngạt hơi hám lâu ngày không gội. Họ chỉ được cái thân thể tròn căng, săn cứng. Họ không có mùi thơm thành thị.

Bây giờ đối diện với người đàn bà phố thị này, ông đã sáu mươi, ông muốn an thân sống với hai đứa con cho hết đời, nhưng trong những đêm khuya, trong cái chòi vắng này, nghe tiếng gió rít qua khe núi, khiến ông thấy mình cô độc quá đổi. Nỗi thèm muốn đàn bà của ông trổi dậy, ông muốn bán cặp gà, cặp vịt, lấy tiền, bận áo quần đi xuống phố, chui vào quán bia ôm nào đó. Nhưng khi muốn thực hiện ý định, nhìn con đường hun hút. Ông đành dừng lại, nuốt nước bọt âm thầm.

Bây giờ có một người đàn bà bằng xương bằng thịt đến với ông, thương nổi cô đơn của ông. Người đàn bà có hàm răng trắng đều, má đỏ, môi hồng, đôi mắt đung đưa, cái nịt vú nhỏ để lòi ra những đường nét căn tròn, ông chớp chớp mắt cố ngó lơ, cho hình ảnh đó xa khỏi tầm nhìn. Nhưng lòng ông thì thấp thỏm.

Tiên Phước dọn đồ ăn trên cái bàn vuông. Cô chặt con gà thành từng miếng nhỏ bỏ trên cái dĩa lớn, bày nem, chả, các gia vị, trông bữa ăn rất ngon lành.

Tiên Phước nói:

– Mời anh lại ăn, kêu mấy đứa nhỏ, thằng Tuân, thằng Tuấn đâu, ngồi vô ăn đi con.”

Hai đứa nhỏ nghe Phước kêu, từ ngoài vườn chạy vô, đứng nhìn Phước, rồi nhìn qua ông Tiến, Tuân hỏi:

– Sao bữa ni ăn ngon vậy cha? Có tiệc hả?”

Ông Tiến trả lời:

– Ừ, có cô mua lên cho cha con mình, các con ngồi vô đi.”

Bóng tối xuống bên ngoài nhanh như sao xẹt. Mới sáng đó, quay qua quay lại nhìn thấy tối mù bao trùm. Phước rót bia vào hai ly, rồi mời ông Tiến:

– Anh uống đi, uống với em ly này, mừng hội ngộ.”

Ông Tiến nghe mùi thơm của bia mà trên mười lăm năm ông chưa được nhấm lại. Ông cầm ly bia lên tợp cạn.

Bia làm con người ta nóng máu, nóng rần rần, nóng râm rang. Hai đứa nhỏ tha hồ ăn, chúng gặm xương gà, ăn chả, nem, bánh mì phủ phê. Khi đứng lên cái bụng hai đứa chình ình. Ông Tiến gật gù cái đầu:

– Hai đứa ăn no, đi ngủ đi.”

Đó là câu nói hằng đêm ông nói với hai đứa con. Đêm ở đây quạnh hiu. Tối đến rất mau, ăn cơm xong là đi ngủ, ngọn đèn heo hắt cũng được tắt đi, hôm nay có khách, ngọn đèn còn leo lắt cháy.

Ông Tiến đã say, ông nhìn Tiên Phước dọn dẹp bàn ăn. Những lon bia trống trơn, đĩa thịt gà còn trơ xương, vài ổ bánh mì còn dở, nem chả cũng được dọn sạch. Tiên Phước như người vợ hiền, nàng lấy khăn giặt sạch đưa cho ông Tiến lau miệng, lau mặt. Nàng nấu cho ông bát nước chè xanh. Nàng phải đóng vai vợ hiền, cặm cụi, cần mẫn, chịu thương, chịu khó, quyết không được có một hành động bực dọc, khinh thường.

Căn nhà trống, lộng gió, Tiên Phước thấy nực nội, nàng muốn tắm, nàng hỏi ông Tiến:

– Anh chỉ em chỗ tắm.”

– Ngoài sàn nước đó, cứ ra đó mà tắm, trời tối thui như mực mài, không ai thấy đâu.”

Tiên Phước đem theo cái áo ngủ – là cái rốp bằng voan mỏng trắng tinh, nàng mặc cái áo ngủ này vào, có thần thánh cũng không qua được.

Tiên Phước nhìn bóng đêm đen dày, nàng cởi áo quần vắt lên cái sào, cầm gáo xối nước.

Tiếng nước xối áo ào làm rộn rã lòng ông Tiến, ông đưa mắt nhìn lên cái chỏng tre, hai đứa con đã ngủ, ông nhìn xuyên qua chái bếp, chập choạng trong bóng đêm một thân hình đàn bà lay động. Ông nuốt nước miếng. Mười lăm năm ông không có đụng chạm vào da thịt một người đàn bà nào, các thớ thịt ông, gân cốt ông, tưởng nó đã ngủ yên theo tuổi đời, nhưng nó vẫn còn rộn lêntừng hồi, từng chặp. Bây giờ, ông đối diện với nhan sắc này, cái xuân tình ông bỗng như sống lại.

Tiên Phước tắm bằng xà vông Dose làm da thịt nàng tỏa một mùi thơm nhẹ, quý phái. Nàng cố ý không bận đồ lót, chỉ choàng cái áo ngủ, nàng lung linh như sương khói trong bóng đêm huyền hoặc. Nàng lấy khăn lau tóc thật khô. Thân hình nàng mát và chứa chất một sinh lực nóng hôi hổi. Đã mấy tháng không có người đàn ông nào đụng đến, nàng thấy khơi dậy nỗi thèm muốn. Nàng lắc đầu để xua đi những hình bóng nhập nhòa. Những người đàn ông đã đi qua đời tôi. Những người đàn ông mang đầy nam tính, đam mê, rắn chắc và sạch sẽ. Nhưng họ đi qua không hứa hẹn gì. Bây giờ chuyện của nàng là phải “câu” ông Tiến, nàng đã chấm ông và quyết chí không để thoát. Con đường này như cái phao cuối cùng cứu vớt nàng thôi.

Ông Tiến ngồi trên giường, mắt đờ đẫn vì men bia đã ngấm. Men bia làm cho người ta say chếnh choáng nhưng không làm cho người uống gục xuống để quên hết mọi chuyện. Ông Tiến và Phước uống 5 lon 33, ông uống lúc nào cũng một trăm phần trăm, đủ số lượng để ông nhìn người đàn bà bằng con mắt hau háu, con mắt muốn lột trần truồng và vục mặt vào thân thể trắng ngần ấy. Ông thấy mình căn cứng, sung độ như hồi thanh niên. Bia làm ông thấy trước mặt, sau lưng, toàn là bóng sắc.

Phước “câu” độ. Nàng cũng cần thiết một thân thể đàn ông, nhưng thấy ông già ọp ẹp quá, ý tưởng nàng như thụt lùi lại, nàng cố dặn lòng, không được bỏ cuộc, cố gắng không hôn môi, nàng không tưởng tượng nổi đến cái miệng ám khói thuốc lá, thuốc lào của ông sẽ đặt vào môi nàng. Nàng cố gắng để không lợm giọng.

Vở diễn sẽ rất đạt, Phước nghĩ thế. Tiên Phước bước vào trong nhà, ngọn đèn leo lắt cháy ở góc buồng, ngọn lửa nhỏ, đỏ quạch. Ông Tiến nhìn Phước bước tới ngồi trên ghế, như người trong tranh bước ra. Ông nói, hay bia nói, hay thân thể sung mản của ông nói thay ông:

– Lại đây, ngồi xuồng giường với qua đi em.”

Dù cố gắng hết sức, nhưng ông chỉ nói được bấy nhiêu.

Phước bước lại đặt mông lên giường, cái chỏng tre kêu kĩu kịt. Nàng thầm thì, không được lùi bước, lùi bước là thất bại, phải thắng lợi, phải tiến chiếm mục tiêu.

Ông Tiến nhìn bầu vú căng tròn của Phước, ông lấy tay đở nhẹ. Phước nghe thảng thót, dù gì, cái rờ rẩm của một người đàn ông lạ, cũng làm nàng rộn lên. Mọi chuyện đều lạ, thân xác lạ, con người lạ – cả đàn ông hay đàn bà – ai cũng thích. Với Tiên Phước, những người đàn ông quen thuộc đã trải, nào Trung, Dân, hay Ngạc, đã bước qua đời nàng, quá quen thuộc, đến một lúc nào đó trở nên lạt nhách, đến nổi, không còn gây cho nàng cảm giác gì. Người đàn ông làm những động tác cổ điển, rồi trườn lên nàng như một con rắn, cựa quậy, dập dẫy, nhiều lần như vậy, nàng muốn hát lên một câu vọng cổ. Rồi người đàn ông rống lên phì phò, rồi tụt xuống khỏi người nàng, quay qua phía bên kia, ngủ ngáy. Chán không thể tưởng.

Nhưng bây giờ, hôm nay, tự nhiên nàng thấy mới lạ, ông già mà nàng đang “câu độ”, có một cái gì đó cuốn hút, như sự im lặng, mái tóc muối tiêu, giọng nói quê kệch ngây ngô, đôi cánh tay dài ngoằn. Ông đặt tay nhẹ lên bầu vú. Nàng thấy thân thể mình rung động. Ông lấy tay khươi khươi núm vú. Nàng rùng mình. Dù vậy, Phước vẫn còn tỉnh táo, nàng cầm tay ông Tiến giữ lại:

– Anh, anh coi em là con người nào đây?”

– Anh quí em lắm.”

– Thế thôi à?”

– Chứ em muốn gì?”

Tiên Phước vô đề:

– Em muốn làm vợ anh .”

Người đàn ông trố mắt:

– Em nói thật sao?”

– Thật mà, em muốn làm vợ anh, làm hôn thú với anh, em muốn săn sóc anh và chúng mình cùng đi Mỹ.”

– Đi Mỹ, làm sao đi Mỹ được?”

– Được chứ, anh đã học tập cải tạo trên ba năm mà.”

– Thế hả, anh bây giờ mới biết.”

Tiên Phước bụm miệng ông Tiến lại:

– Thôi, bỏ qua đi, để đó tính sau, còn dài ngày mà. Bây giờ em cho anh đó, anh nhận đi.”

Ông Tiến đã mê man, vì Tiên Phước bây giờ là hiện thân của Đắc Kỷ, hiện thân của Võ Tắc Thiên, hiện thân của Điêu Thuyền trong cổ sử, ông làm sao qua truông được với miếng mỡ ngon đang chờn vờn ở trước miệng mèo.

Ông quờ quạng trong lúc Tiên Phước nằm xuống chiếc giường với cái robe mỏng tanh, để lộ ra cả phần da thịt, cặp đùi thon dài, trắng lốp. Ông vục đầu vào thân thể ấy.

Nhưng đó là “nước nô”. Sau này Tiên Phước vẫn cười với lần đầu tiên ấy. Ông không giữ được lâu, không cầm cự được tới phút cuối cùng. Khi cái váy nàng bật lên, nàng trống hoang trống hoác. Ông nhập nhằng buông thả, rồi ông trợn mắt lên, thở phì phò.

Thế là Tiên Phước đã được. Những ngày sau đó nàng công khai sống với ông Tiến. Hai người đưa nhau đến Sở Tư Pháp tỉnh làm giấy hôn thú.

Và bây giờ, nàng đã có trong tay tập hồ sơ xuất cảnh đàng hoàng, chỉ trừ cái Chứng Minh Nhân Dân phải làm lại ở xã của ông Tiến. Tiên Phước trở về thành phố Sài Gòn đến nhờ Bắc. Công việc đã xong, Tiên Phước ra về với tấm lòng nhẹ nhỏm.

Chương 20

Buổi tối Sài Gòn xuống thật nhẹ nhàng. Sài Gòn vẫn là Sài Gòn hoa lệ của bao nhiêu năm nay. Dù chế độ chính trị có thay đổi, con người có thay đổi, nhưng Sài Gòn ban đêm vẫn nõn nường, xa hoa và đài các. Đường phố vẫn rập rờn ánh đèn xanh đỏ, người xe qua lại vẫn tấp nập ồn ào, áo quần son phấn xênh xang.

Nhưng nhìn sâu hơn một chút, bên góc ghế công viên, bên lề đường vẫn còn bao con người lầm lủi, sống vất vưởng vì không tìm ra được miếng ăn, không có một mái nhà. Họ sống lê lếch trong các lều chợ, dưới hàng hiên, trên bãi cỏ, họ đi ăn xin, đi bán vé số, đánh giày, lượm bọc nilông, trong lúc trên đường xe cộ vẫn rộn ràng. Xe hơi nhà của các cán bộ, quan chức nhà nước, xe gắn máy với phân khối lớn của các cậu ấm cô chiêu. Đủ loại. Đủ cở. Chạy rập ràng luồng lách trên phố đông nghịt người.

Phục ít chạy xe buổi tối, chỉ có khi nào Chức nghỉ, anh thấy để xe không uổng phí đi, nên anh chạy thêm. Chạy ban ngày rồi mà chạy thêm buổi tối nữa thật là “bở hơi tai”. Nhưng anh phải cố gắng.

Đã hai tháng trôi qua, hồ sơ vẫn nằm yên trong tủ. Hai tháng, mỗi tháng anh để dành một trăm rưởi, như vậy là anh vừa dư ba trăm. Còn một tháng nữa anh cố gắng để dành thêm hai trăm, để đủ năm trăm, anh sẽ ra phường nộp đơn, cái cửa ngõ đầu tiên phải mở, phải hanh thông, thì những cửa sau mới tiếp tục được.

Cho nên Phục cố ráng sức mà chạy xe thêm. Như hôm nay, buổi sáng, Chức nói:

– Buổi chiều tau có công chuyện, nghỉ chạy xe, mày muốn lấy xe chạy thêm thì chạy.”

Phục đồng ý ngay và mừng thầm trong bụng, ít ra buổi tối anh chạy thêm kiếm mấy chục ngàn nữa.

Xe chạy trên đường lên Hòa Hưng, đến đường Tô Hiến Thành. Phục phân vân không biết nên chạy thẳng hay quẹo đây. Anh chợt nghĩ, đường Cách Mạng Tháng Tám lên ngõ ông Tạ đông đúc người lắm, nên anh quẹo theo hướng đường Tô Hiến Thành để lên Chợ Lớn. Anh chạy lơn tơn, lơ ngơ ngó hai bên đường mà không có khách nào gọi xe.

Trong mấy lùm cây rậm ven đường, gần trường Đại Học Bách Khoa, mấy “chị em ta” đứng trong bóng đêm trông thật ủ rủ, buồn thảm, kiếp gái ăn sương thời đại nào, chế độ nào cũng buồn tẻ như vậy.

Phục đạp xe lên một chút nữa, quán Bụi Hồng nằm bên kia đường, lấp vào trong một góc khuất. Anh chợt nhớ đến Tiên Phước, người đàn bà cùng quê mà anh đã chở đi trên xe cách đây hai tháng. Anh nhớ cái dáng dấp thiếu phụ đầy lửa tình, dáng dấp mà ngày xưa, hồi còn đi học anh đã ngẩn ngơ. Cuộc đời biển dâu quá đổi, mới ngày nào người đàn bà đó là vợ một sĩ quan cấp tá, lên xe xuống ngựa, quần là áo lược. Qua cơn biến động đổi đời, nàng đã trở thành một con người khác, là chủ quán bia ôm, dưới tay nàng có hàng tá em út.

Nhưng dù thế nào, anh cũng nghĩ đến Tiên Phước bằng một hình ảnh đẹp của những ngày tháng cũ, anh mơ hồ thấy bên trong người đàn bà này có những u tình. Tự dưng, anh dừng xe lại và có ý muốn vào thăm.

Anh đưa xe lên lề. Quán Bụi Hồng buổi tối bắt đầu tấp nập, các em áo quần xênh xang, hở rốn, hở ngực, son phấn diêm dúa, đứng ra ngoài tay ngoắc miệng mời những khách đi qua đường.

Phục bước vào bên trong, căn phòng tối âm u, một số bàn đã có khách, họ đang uống rượu, cười nói nhã nhớt với các em. Những cảnh này, Phục chưa thấy bao giờ. Với một người chân chất như anh, anh chỉ biết làm ra đồng tiền bằng mồ hôi hoặc trí óc, nhưng anh cũng biết đây là nơi ăn chơi của những tay đàn ông có tiền.

Anh hỏi một cô tiếp viên:

– Cho tôi gặp cô Tiên Phước.”

Cô tiếp viên bận cái đầm ngắn đến háng, áo sát nách để một mảng ngực nhễ nhại, nhìn anh khắp lược, rồi hỏi lại anh:

– Cô Phước kêu chú lại chở cô đi công chuyện phải hông?”

Phục nhận đại cho qua chuyện:

– Ừ.”

– Chú đứng đó đợi đi, để tôi gọi cô.”

Phục nhìn quanh quất trong quán, cảnh trí gợi tình hết biết, bàn nhậu nào cũng có em út ngồi rót bia rượu, phục dịch cho khách, khách đã say, quờ quạng sờ mó, các em cười nói đã đớt. Phục nghĩ, mình chỉ cần một bàn nhậu như thế này là có thể đủ để làm giấy tờ.

Tiên Phước từ trong đi ra, nàng bận áo quần chỉnh tề như sắp đi đâu, nhìn thấy Phục, suy nghĩ một lúc lâu, nàng mới nói:

– Anh Phục, anh mà em cứ tưởng ai, anh tìm em có chuyện gì không?”

– Tìm thăm thôi.”

– Thế anh đi xe gì đến đây vậy?”

– Thì đang chạy xích lô, đi ngang qua đây, nhớ đến em, vào xem thử.”

Tiên Phước nói ngay:

– Thế thì sẳn anh chở em đi xuống chỗ hôm trước chút, em có chút việc.”

– Đi thì đi.”

Hai người ra xe, Phục dắt xích lô ra đường, đợi cho Tiên Phước leo lên ngồi yên chỗ, anh đạp đi, rồi hỏi:

– Xuống chỗ hôm trước là chỗ dưới cầu Điện Biên Phủ, phải không?”

– Đúng rồi, xuống nhà con Bắc.”

Phục chỉ chở Tiên Phước có một lần cách đây cũng hai tháng, xuống chỗ ấy, nơi mà Phước gọi là nhờ làm cái giấy Chứng Minh Nhân Dân. Phục cứ nghĩ đây là một mối làm ăn của đám công an, đường dây có thể làm mọi thứ giấy tờ, trong lòng anh vẫn đinh ninh thế. Nhưng nay Phước lại nói một cái tên khác.

Phục ngạc nhiên hỏi lại:

– Bắc là ai vậy?”

– Thì nó là người chuyên môn làm giấy tờ giả, làm cò mối lái con lai, HO.”

Rồi Tiên Phước nói thêm:

– Em vừa về quê vô tuần này, em mua được cái Giấy Ra Trại của một ông cải tạo, ổng không đi nên bán, con Bắc dặn có đem xuống cho nó mua”

– Mua làm gì?”

– Anh này khờ, nó mua làm cho người khác đi, hốt bạc chớ làm chi.”

Phục thẩn thờ suy nghĩ, anh cũng ở vào dạng trên, không có tiền làm giấy tờ là một lao đao, khổ ải. Ở thành phố đã thế, huống hồ gì ở nhà quê, cơm hàng bữa ăn chưa no, lấy đâu ra mấy triệu đồng để làm giấy tờ, lại còn qua biết bao nhiêu cửa ải. Nhưng dầu sao, Phục vẫn tâm niệm với mình, phải đi, phải thoát khỏi ở đây. Ở đây, thì cái ách trên vai anh sẽ gánh suốt đời, dù chậm bao lâu anh cũng phải đi.

Phục hỏi lại Tiên Phước:

– Một cái Giấy Ra Trại giá bao nhiêu?”

– Con Bắc dặn em một cây rưởi.”

– Em mua bao nhiêu?”

– Em phải lặn lội lên vùng núi cao, đi mất hai ngày trời, em mua một cây.”

– Thế cũng được.”

Hai người im lặng. Phục nghĩ đến những người bạn của mình, đã bị mấy năm tập trung, nay ra tù có dịp đi Mỹ mà không đi được, bán cái Giấy Ra Trại chỉ có cây vàng. Sao cuộc đời đánh đổi rẻ thế kia.

Còn Tiên Phước, nàng nghĩ đến những ngày vất vã đã qua, những ngày về sống với ông Tiến, làm người vợ hờ trên danh nghĩa, để tìm đường đi. Cuộc sống bon chen quá làm nàng mệt mõi, mệt mõi cũng phải gắng sức để đi đến chặng cuối. Chặng cuối là chặng nào nàng cũng chưa hiểu được, chưa biết được, có thể là đến Mỹ, hay sẽ là ngày nàng nằm xuống, nhắm mắt lìa đời.

Quanh đi quẫn lại, cuộc đời là gì, như bây giờ, nàng là chủ quán bia ôm, Phục là phu xích lô, cuộc đời đã đổi thay quá mức, trong giấc mơ của thuở thiếu thời, chắc chẳng bao giờ có cảnh này. Nhưng thôi, cuộc sống, đã sống, là cam chịu.

Phục hỏi:

– Tiên Phước mới ở quê vô?”

– Dạ, em về ngoài đó hai tuần.”

– Vui hông?”

– Vui gì anh, quê mình xơ rơ xác rác, ai cũng nghèo, thấy mà thương.”

– Em có qua ngôi trường cũ không?”

– Có chứ anh, nhưng trường đã đổi tên rồi.”

Phục nhớ đến ngôi trường ấy, ngôi trường tuổi thơ anh đã học, Tiên Phước đã học. Con đường ấy, “con đường tình sử” của học trò tỉnh nhỏ, mỗi buổi chiều mùa đông có đàn sáo rừng đậu trên cây đa cổ thụ trước sân trường. Bây giờ trường đã đổi tên.

Nói đến ngôi trường, tự nhiên Tiên Phước thấy lòng mình dạt dào nhớ về những ngày tháng nữ sinh. Nàng yêu ai ngày đó, có phải là Phục không? Phục là xa vời, Phục là mộng tưởng. Người nam sinh đệ nhất ấy đã làm lòng nàng xao xuyến và nhiều cô nữ sinh xao xuyến. Bây giờ anh chỉ còn lại là một thân xác còm cõi, đạp xích lô kiếm ăn từng bữa. Nàng thấy lòng mình gợn lên những xót thương.

– Hồ sơ anh đến đâu rồi?”

Phục giật mình. Anh quay lại hiện tại, anh để dành hai tháng được ba trăm ngàn, hiện Nguyệt đang giữ, anh đang “cày” cố sức để kiếm thêm hai trăm nữa, cho đủ sở hụi năm trăm, để ra công an chứng giấy, con đường đi đến Nguyễn Du, Nguyễn Trãi vẫn còn xa hun hút, nói chi đến Mỹ

Anh kể lể:

– Chưa đến đâu hết em à, chưa qua được cửa ải công an phường, cái giá cho công an phường là năm trăm ngàn, mà anh mới chạy xe để dành được đâu hơn ba trăm.”

Tiên Phước thấy Phục thật lòng kể ra với mình như vậy là một bày tỏ nỗi lòng của những người thân thiết với nhau. Nàng biết Phục có lòng tự trọng nên phải chịu mọi thua thiệt. Nàng vỗ về và an ủi:

– Thôi ráng chịu đựng đi anh. Em nghĩ mọi chuyện cũng êm xuôi thôi, đoạn đường còn dài. Phường chứng xong, anh phải lên phòng xuất nhập cảnh của quận nộp, một thời gian sau mới chuyển lên Nguyễn Du, còn nhiều chặng nữa, anh phải kiên trì chờ đợi.”

Phục vẫn biết thế, đường “ra đi” của anh còn dài ngút mắt.

Bỗng Tiên Phước nói:

– Anh Phục nè, em thấy anh có nhiều bạn bè là sĩ quan đi cải tạo về, mà vì một hoàn cảnh nào đó, họ không đi được hay họ không muốn đi, anh giới thiệu cho em, em đến mua lại Giấy Ra Trại. Em sẽ chia hoa hồng cho anh, như vậy anh lại khoẻ, vừa có tiền để làm giấy tờ, đở đạp xe mệt xác mà kiếm không được bao nhiêu.”

Câu gợi ý của Tiên Phươc khiến Phục nghĩ đến Hoan, đến Nghĩa, đến Mân, những thằng bạn trở về từ trại cải tạo, bây giờ ở đâu trên Phước Long, Xuyên Mộc, Dầu Tiếng. Một lần gặp thằng Nghĩa ở Thị Nghè, nó không muốn ra đi, nó nói, “tau sẽ sống ở đây và chết ở đây, tau không yêu gì chế độ này, nhưng tau còn cha mẹ già và đám con nhỏ nhít quá”. Hay là mình giới thiệu nó cho Phước, ít ra nó cũng kiếm được một chút tiền khi bán cái Giấy Ra Trại của nó.

Phục trả lời:

– Để anh tính thử coi, cũng có mấy người bạn, đã học tập về mà không có tiền để làm hồ sơ.”

Tiên Phước chợp ngay cơ hội:

– Anh cố đi hỏi thử coi, khi nào được cho em biết ngay nhe. Bây giờ Giấy Ra Trại có giá lắm. Em nói luôn với anh, anh giới thiệu được cho em, cứ mỗi Giấy Ra Trại em mua được, phần hoa hồng của anh là 2 chỉ. Tánh em vốn sòng phẳng, dù bạn bè, anh em, em cũng sòng phẳng, mất lòng trước được lòng sau.”

– Được rồi, anh sẽ tìm và nếu được, anh báo cho em liền.”

Xe chạy vào hẽm nhà Bắc. Phục dừng xe. Bắc vừa bước xuống xe vừa nói:

– Anh đợi em ở đây đi, em vào khoảng nửa tiếng là em ra, anh neo xe lại chỗ kia nghỉ đi, chờ em chút nhé. Coi như đêm nay em bao xe anh mà.”

Phục trả lời:

– Được, em đi đi, anh đợi.”

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: