Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Trần Yên Hoà – Đi Mỹ (Chương 1-10/41)

Bây giờ riêng đối diện tôi Còn hai con mắt khóc người một con Bùi Giáng

Mở

“Ngày ấy” với “Hôm Nay” đã lâu lắm rồi. Ngày ấy là những ngày, những tháng, những năm, của thế kỷ trước. Nói thì lâu lắc lắm vậy, nhưng thật ra, cũng chỉ mười chín, hai mươi năm thôi. Hôm Nay, mỗi khi nhớ lại quảng thời gian đó, tôi vẫn thấy lòng mình có một nỗi chua xót, đắng cay, bàng hoàng, xúc động.

Chuyện dài “Đi Mỹ” thì có trăm hình vạn trạng. Mỗi người, mỗi gia đình có một hoàn cảnh riêng. Ở đây, tôi chỉ ghi lại một vài chuyện nhỏ trong muôn hình vạn trạng kia thôi.

Dĩ nhiên là hư cấu

Chương 1

Buổi sáng trời Sài Gòn nóng. Cái nóng muôn đời của miền nhiệt đới. Xe cộ chạy rồi ùn tắt. Từng đợt, từng đợt. Đứng lại, đạp thắng chân hay bóp thắng tay. Hai bàn tay đen đuổi của Ngàn nỗi lên những đường gân xanh xám. Có lẽ, cuộc kiếm tìm miếng ăn đã làm cả thân xác anh khô quắt đi. Đôi cánh tay sạm nắng. Chiếc mobilettle như con ngựa già rít lên từng chặp rồi lếch thếch kéo lê thân xác Ngàn cùng một dõ “cần-xé” hàng phụ tùng xe đạp, đi suốt ngày, trên những chặng đường nắng cháy da.

Buổi sáng thức dậy lúc 5 giờ, đánh răng, vệ sinh qua quít rồi dắt xe ra đường. Một ngày anh đi hơn một trăm cây số, đến các hãng sản xuất phụ tùng xe đạp ở các ngõ ngách của Chợ Lớn, lấy những món hàng mà các tiệm bán phụ tùng đã đặt hôm qua, rồi nếu không đủ hàng, anh phải len lỏi vào chợ Tân Thành lấy thêm hàng bổ sung. Một ngày. Chạy xe qua lại trên những con đường quen thuộc với những người chủ hãng quen thuộc, đến những bạn hàng quen thuộc, anh loay hoay như con gà mắc đẻ, đến chỗ này, tấp chỗ kia. Một ngày, lại một ngày và nhiều ngày như thế.

Từ ngày ở trại tập trung ra, lúc đó anh vui sướng và hạnh phúc bao nhiêu khi dệt trong đầu mình những ước vọng nhỏ. Ước vọng nhỏ chứ làm sao có ước vọng lớn được, khi anh trở về với cái “Giấy Ra Trại” và cái mức quản chế lên đến một năm. Ước vọng nhỏ đó là một cuộc sống bình yên với gia đình và anh sẽ làm một nghề gì đó, có thể là bằng trí óc, như sẽ xin đi dạy ở một trường cấp một, anh sẽ đứng trên bục giảng để giảng cho lớp trẻ những bài về Toán hay Việt văn. Anh lúc nào cũng lạc quan vì anh đã hạ cuộc sống mình đến mức thấp nhất. Với mấy chứng chỉ đại học, anh nghĩ mình có thể thực hiện điều đó dễ dàng. Nhưng đó là cái lạc quan tếu, thật tếu, tếu nhất. Anh đã nghĩ về chế độ mới bằng một cái nhìn cầu an và dung dị. Cuộc sống cứ cho anh những lạc quan mà sự thật bi quan, lúc nào cũng chờ chực đẩy anh xuống miệng hố đen ngòm.

Anh làm sao xin đi dạy với cái bản án trên vai – sĩ quan ngụy – sáu năm tập trung cải tạo. Sự thật đã làm những giấc mơ xanh rờn nhỏ nhoi cũng vụt bay biến. Anh nhìn rõ hiện thực hơn và đầu óc anh cũng hiện thực hơn. Anh không thể làm một nghề gì bằng trí óc cả. Cái chất xám của bảy năm trung học, bốn năm đại học, là một hiểm họa hơn là hạnh phúc. Cho nên anh phải bước xuống đời bằng hai cánh tay và đôi chân. Từ đó, anh trải qua biết bao nhiêu nghề một cách chật vật, bán bánh bò bánh tiêu, vá xe đạp lề đường, chẻ củi thuê, chạy xích lô đạp và bây giờ là đi bỏ hàng phụ tùng xe đạp.

Buổi sáng đã có những khí nóng hầm hập. Buổi trưa thì nắng cháy da, ngột ngạt và đầy buị bặm. Buổi chiều kẹt xe trong những giờ tan sở, hít thở mùi cống rãnh và những làn khói u ám từ những ống bô xe. Coi như suốt cuộc sống anh là ở ngoài đường. Anh cũng thuộc vào những người sống với hè phố, lề đường, riết rồi thành quen.

Buổi trưa, khoảng hơn mười hai giờ, Ngàn đã lấy xong hàng. Anh nhẩm tính trong đầu, bây giờ bắt đầu từ những tiệm đặt hàng anh sẽ đến bỏ mối, những tiệm gần nhất đến tiệm xa nhất. Anh sẽ phải đi qua các đường theo tuần tự, đường Tô Hiến Thành, Ngã Ba Ông Tạ, ngã tư Phú Nhuận, Ngã Ba Chú Iá, Chợ Gò Vấp rồi quẹo lên bến xe Tây Ninh, đổ xuống đường Lạc Long Quân, rồi qua đường Bình Tiên. Anh phải đi đến tối mịt để thu tiền, nhiều bạn hàng đến sớm quá, họ sẽ nói chưa bán được hàng, làm sao thu tiền để ngày mai lấy hàng tiếp tục.

Nắng, nắng cháy da, nắng sém người. Chiếc xe mobilette thân thiết như con ngựa già trung thành, lệch bệch mà cũng đưa anh đến nơi, về đến chốn.

Buổi chiều trời nắng dịu lại. Ngàn chạy xe từ từ qua đường Bình Tiên. Từ cầu Bình Tiên đổ dốc, xe chạy nhẹ nhàng và lòng anh cũng thênh thang với những tình cảm ngọt ngào. Đó là anh sẽ gặp Nương, cô chủ một tiệm xe đạp nhỏ mà anh đã bỏ hàng suốt mấy năm qua.

Nương đang ngồi trên một cái ghế nhựa thấp, sau quày hàng chưng toàn đồ phụ tùng, nào là ghi đông, potâng, niềng, vè, ba ga, thắng, xích. …Nương là cô gái quê ở Bến Tre, cô có đôi mắt lớn và nụ cười thật tươi, cùng giọng nói miền Nam nhỏ nhẹ. Cô thường hỏi Ngàn:

“- Sao anh Ngàn vợ bỏ lâu rồi mà không lấy vợ khác đi. Lấy vợ đi chứ già rồi hết duyên đó.”

Những lúc đó thì Ngàn thường hay đỏ mặt lên, nhưng vì có lẽ da mặt anh dang nắng suốt ngày nên đen cháy, khiến Nương không thể nhìn thấy cái cảm động pha cái e thẹn của anh. Anh trả lời lấp liếm:

– “Tôi bây giờ ai ưng nữa mà lấy vợ, nghèo quá Nương à.”

Những lúc ấy Nương thường nói một câu, nửa như an ủi, nửa như vỗ về, để khơi dậy cho anh niềm hy vọng, chứ mấy ông đi cải tạo về toàn là mấy ông chán đời số một:

– “Anh mà ế gì, có khối cô mê.”

Ngàn biết là Nương nói cho Ngàn vui vậy thôi, chứ anh không thấy trong đôi mắt xinh đẹp kia có chút gì loé lên, có hình bóng anh trong đó. Bởi vì, trong mỗi khi Nương vui là anh biết liền, đó là khi cô kể những đêm cô đi hát karaokê với người bạn trai, người bạn trai mang đôi giày Adidas trông đẹp làm sao, cô ngồi trên chiếc DD màu đỏ của chàng nữa chứ. Mỗi lần cô kể đôi mắt cô thật sâu hun hút, nó báo hiệu cho Ngàn thấy rằng anh không có một chút nào chứa trong đôi mắt đó, nhưng anh cũng vui lây với niềm vui của cô gái.

Nương hăm tám tuổi, cái tuổi con gái cũng đã qua những ngày xuân sắc. Nhưng cô vẫn còn đẹp với cái nhìn của Ngàn. Ngàn bốn mươi lăm, đã có một gia đình mà nay qua cuộc thăng trầm đã tan tác.

Ngàn dừng lại những sạp hàng khác, trước khi đến sạp của Nương, vì anh muốn dành cho mình những giờ phút cuối ngày, để được nhìn nụ cười của cô với ánh mắt có hai con mắt lớn. Ngạn muốn thi vị hóa đơn phương về một hình bóng người con gái khơi động trong tim anh những hình ảnh dịu dàng, nó như buổi chiều tỉnh lặng ngồi trong quán cà phê, uống một ly đen ngon, đậm, được nghe những bản nhạc tình mà anh thích. Đó là cái thú vui đơn độc, rẻ tiền, không hại ai, của Ngàn hằng mấy năm nay.

Khi Ngàn dừng trước sạp hàng của Nương thì anh đã thấy Thiệu đã ngồi ở đó. Thiệu là bạn cũng bỏ hàng như anh. Hai người có những hoàn cảnh giống nhau, cùng đi cải tạo về, cũng lê la đầu đường xó chợ để kiếm sống, cũng gãy gánh giữa đường. Thiệu còn “”ôm sô”” nuôi mấy đứa con.

Ngàn dựng xe, xách cái bao lác có đựng những món hàng mà Nương đã đặt mua hôm qua. Anh bước vào quán, cười với Nương:

“- Chào cô Nương, chào anh Thiệu, hôm nay Nương bán được không?”

“- Cũng tạm tạm, anh có đem hàng đủ cho em không?”

– “Có đủ đây, người đẹp đặt hàng thì ai dám thiếu.”

Đó là câu nói đãi bôi, chứ thực ra anh bỏ hàng kiếm lời thì ai đặt hàng nhiều thì anh phải cung cấp cho đủ số, thứ nhất là anh có lời, thứ hai là anh phải bỏ hàng đủ thì lần sau người ta mới đặt hàng nhiều nữa.

Ngàn lấy những món hàng ra để trước mặt Nương. Nương săm soi từng món rồi đem cất lên kệ. Ngàn vừa viết toa vừa nói chuyện với Thiệu:

– “Có tin tức gì mới không, anh Thiệu?”

Đó là câu nói thường khi hai người gặp nhau. “Tin mới” đây là tin tức truyền miệng nhau từ những người cải tạo trở về, là Mỹ sẽ cho nhập cảnh những người đã ở tù lâu. Đó là tin đồn râm rang, làm nhiều anh em trong diện đó cũng mất ăn mất ngủ. Trước đây, Ngàn nghe theo lời bạn bè, đã gởi qua toà đại sứ Mỹ ở Thái Lan hồ sơ và anh đã nhận được tờ giấy Hứa Nhập Cảnh. Đọc tờ “Loi” anh thấy mình như bay bỗng lên trời cao khi anh nghĩ mình sẽ được đến một xứ sở khác. Nhưng khi tỉnh người lại, anh vẫn thấy mình đang lặng ngụp, bò lếch, giữa buổi trưa Sài Gòn nắng cháy.

Thiệu cười cười, kê miệng vào tai Ngàn:

“- Cũng có mấy tin mà không biết có đúng không? Đài BBC hôm qua đưa tin có một đại tướng Mỹ sẽ qua Việt Nam để họp về chuyện ra đi của bọn mình.”

Ngàn hỏi dồn:

“- Thật không?”

– “Thật chứ, nghe đài thì tôi có nghe, có tin ông đại tướng Mỹ qua họp thật, không biết về vấn đề gì thì mình không chắc. Mình nghĩ là việc Ra Đi Có Trật Tự”

Ngàn hân hoan trong lòng. Anh tin Thiệu, vì Thiệu ít ăn nói vung vít, phao tìn đồn nhiều hơn tin thật. Hồi ở trong trại cải tạo, biết bao nhiêu tin đồn làm cho nhiều người tù cải tạo nín thở. Dù sao trong anh vẫn có nhiều mộng tưởng, mà mộng tưởng đi Mỹ cũng là một mộng tưởng hạnh phúc, như mơ tưởng được yêu một người con gái đẹp, có tâm hồn, sẽ làm vợ anh, mà cô đó hát hay, sẽ hát cho anh nghe những bài tình ca diễm tuyệt. Mộng tưởng thì có tốn đồng xu cắt bạc nào đâu.

Nương chuẩn bị dọn hàng. Cô cười với Ngàn với đôi mắt lớn:

– “Anh Ngàn và anh Thiệu sướng nhé, rồi đây các anh đi Mỹ hết, ai sẽ bỏ hàng cho em bán đây.”

Ngàn biết Nương đã nghe câu chuyện giữa anh và Thiệu. Ngàn nói đùa:

– “Nếu được đi Mỹ, anh sẽ dẫn em đi, chịu hông?”

Nương nói một câu làm Ngàn cụt hứng:

– “Đừng có xạo cha, thôi bỏ đi tám.”

Đó là câu nói bình dân của những người Nam bộ, anh có thấy không vui chút đỉnh nhưng anh cũng cười cầu tài:

– “Nói vậy chứ đi Mỹ đâu có dễ.”

Rồi anh chuyển đề tài:

– “À, mai Nương có lấy hàng gì thêm không đây?” “

– Anh lấy cho em mười cây potâng, 5 ghi đông cánh én và mười cặp dè inox.”

Ngàn lấy sổ ghi hàng. Nương lấy tiền trả và nói:

“- Hôm nay bán ế, anh lấy em hai mươi ngàn thôi nghe.”

– “Cũng được, mai nhớ để dành tiền cho anh.”

Xong, Ngàn rũ Thiệu:

“- Anh Thiệu, anh xong hàng hết chưa, mình qua bên kia đường kiếm cái gì lai rai chút đỉnh, nhe.”

Thiệu nói:

– “Mình đang đợi cậu đây, qua bên kia có quán phá lấu.”

Hai người chào Nương, Nương nói vói theo Ngàn:

– “Anh Ngàn uống ít thôi nhe, khéo mà quên đường về.”

Anh nói vói lại:

“- Yên chí đi.”

Quán phá lấu của chú ba Tàu đơn sơ đến độ, chỉ có mấy cái bàn thô sơ đặt sát nhau, mấy cái ghế nhựa màu xanh, đỏ. Người chủ cởi trần trùng trục đứng trước quày chào hỏi vồn vã:

“- Mời hai anh vào lai rai.”

Thiệu xuống xe, anh dắt xe dựng vào khoảng đất trống phía ngoài, rồi nói với vào:

– “Chào chú Bảy, buôn bán khá không?”

– “Cũng được được thôi, thời buổi này ai làm ra tiền nhiều mà nhậu nhẹt.”

Ngàn cũng vừa dựng xe xong, anh bước vào quán, lên tiếng xăng xái:

– “Có tôi nhậu đây, được không chú Bảy?”

Chú Bảy đáp lời:

– “Được chứ sao không, quán đang ế khách mà.”

Đây là quán phá lấu bình dân mà thỉnh thoảng Thiệu và Ngàn hay tới đây lai rai ba sợi. Gặp nhau sau một ngày làm việc, chạy hàng xuyên suốt các ngã đường Sài gòn mệt bở hơi tai, hai người muốn tìm một chút yên ả qua hơi men, qua những cơn nhức nhối đến tận tim óc về sự bất hạnh của mình. Rượu đôi lúc cũng làm người đang ở chỗ thấp nhất của xã hội lại nghĩ mình đang ở trên cao. Như vậy gọi là uống để quên, quên hiện tại, quên đời, cũng đúng.

Hai người ngồi xuống cái ghế nhựa thấp, Thiệu cất cái nón rộng vành đội trên đầu xuống. Cái nón rộng vành như người Mê-hi-cô trong các phim cao bồi. Thế mà mát, dang nắng suốt ngày ngoài đường thì đội cái nón này là tiện nhất. Lấy cái nón ra khỏi đầu, Ngàn mới thấy đầu tóc của Thiệu bạc hơn. Mới trên năm mươi tuổi, mà cuộc bể dâu thăng trầm đã làm anh thay đổi quá nhiều. Mái tóc muối nhiều hơn tiêu, gương mặt xương xẩu và đen, hàm răng vàng ố vì hút thuốc suốt ngày, khiến Thiệu mất hẳn cái phong độ của anh phó ty cảnh sát ngày cũ. Bây giờ đi chạy gạo suốt ngày để nuôi năm đứa con, làm sao không “bở hơi tai” cho được.

Thiệu hỏi:

– “Uống gì đây?”

“- Thì một xị đế trước đi, với một đĩa phá lấu.”

Thiệu gọi rượu và đồ nhấm. Hai người ngồi trầm ngâm, chả biết nói gì. Đã bao nhiêu lần hai người ngồi nhậu với nhau, khi thì ở đây, khi thì ở ngã bảy, khi thì ở Thị Nghè. Gặp đâu nhậu đó, nhậu để quên. Còn chuyện vãng chỉ là chuyện ngày cũ, chuyện ngày hai người còn có chức có quyền, chuyện những mối tình đã qua, chuyện những tháng ngày cải tạo, hoàn cảnh của hai người đã ghi sâu vào lòng nhau nên biết hết. Nên không nhắc đến nữa, vì nhắc đến chỉ thấy tim mình se lại, đau đớn như bị những mủi dao đâm.

Ngàn hỏi cho có chuyện:

– “Độ rày anh bỏ hàng khá không?”

– “Ế, ế sặc gạch, đi cả ngày mà chỉ kiếm đủ ăn, mấy đứa nhỏ phải phụ thêm.”

– “Tụi nó làm gì?”

– “Thằng Thứ đi bán trà đá ở bến xe miền Đông, con Vân bán thuốc lá lẻ.”

– “Kiếm được khá không?”

“- Đủ phụ mua gạo.”

– “Còn ba đứa kia?”

“- Đi “móc bọc.”

Thiệu có năm đứa con, lúc anh đi cải tạo, đứa nhỏ nhất mới sinh, bây giờ đã lên mười. Anh trở về, những đứa con thất tán, anh chạy đi tìm, gom lại, như con gà mẹ gom con buổi tối về chuồng. Anh xin tá túc tại một xưởng cưa của người bạn, che một cái mái ở tạm.

Hàng ngày đi làm về, có lúc say, có lúc tỉnh, anh vẫn thường đưa mắt nhìn lên ngôi nhà ở đường Nơ Trang Long, ngôi nhà anh đã ký cóp tạo dựng nên, bây giờ đã đổi chủ, đã là của một cán bộ cách mạng mua hóa giá của nhà nước. Anh đã mất hết sau cuộc đổi đời.

Ngàn an ủi:

– “Thôi thì tạm sống qua ngày, mà giấy tờ anh gởi qua Thái Lan có hồi báo chưa?”

“- Vẫn chưa thấy, mà cũng khó quá, cái chỗ tôi ở không có số nhà.”

“- Thì xin địa chỉ của người bạn.”

– “Cũng sợ phiền nó, ai cũng sợ liên lụy.”

“- Chớ không có địa chỉ làm sao liên lạc được, làm sao có thư hồi báo.”

Hai người im lặng một lúc lâu. Ngàn đưa ly rượu lên miệng nói:

– “Dô hết ly này đi anh.”

– “Dô thì dô”

Hai người uống cạn ly rượu. Đây là ly thứ ba.

Ngàn nghĩ đến chuyện mượn địa chỉ liên lạc thư từ bây giờ cũng rất khó khăn. Anh có biết một người đàn em học ở quân trường Đà Lạt, đi cải tạo về sống ngoài quê, thấy địa chỉ xã ấp không rõ ràng sợ thư bị lạc, khi nghe tin đồn chuyện làm hồ sơ đi Mỹ, vội vô Sài Gòn gởi thư qua Thái Lan, đến nhà một người đàn anh khóa trước, xin nhờ địa chỉ, người đàn anh từ chối thẳng thừng, “mày lấy địa chỉ của tau, rủi có gì, mấy ông công an tới bắt tau sao?” Đó là cái sợ chung, sợ bóng sợ vía, sợ bóng sợ hình, sợ đủ thứ chuyện.

Thiệu nói giọng dật dờ:

“- Tôi ghi đại địa chỉ xưởng gỗ, trầm trầy may rủi. Nếu làm đơn chính thức thì tôi sẽ về Long An khai. Giấy ra trại tôi về dưới đó mà.”

Mỗi người có một suy nghĩ, một lo toan riêng, nhưng cái chính là phải kiếm cái ăn trước đã.

Ngàn quay lại chuyện tin đài BBC:

“- Khi hôm anh nghe đài BBC hả?”

Thiệu gật đầu:

“- Thì nghe lén thôi, cái radio cũ quá nên nghe câu được câu mất, như tôi nói khi nãy, tin ông đại tướng Mỹ qua Việt Nam bàn thảo về chương trình Ra Đi Có Trật Tự.”

– “Nghĩa là cũng chỉ mới bắt đầu thương lượng?”

“- Thì bắt đầu, nhưng bắt đầu là triệu chứng tốt. Chắc có lẽ đã thương lượng bên trong, bây giờ mới ra công khai nên mới có tin tức.”

Ngàn nghĩ cũng có lý. Tin tức trong nước cái gì cũng kín như bưng, đến khi tất cả thế giới đều hay thì báo trong nước mới bắt đầu loan tin, mà cũng rất ngắn gọn, dè dặt.

Thiều chuyển hệ:

– “Thôi đến đâu hay đến đó, nói hoài chỉ thêm suy nghĩ. Sao mày không ““vô”” con Nương đi, con Nương trông cũng có nét lắm đó chứ!”

Khi Thiệu chuyển hệ “mày tau” thì Ngàn biết Thiệu đã bắt đầu say. Thiệu lớn hơn Ngàn khoản năm tuổi nên Ngàn lúc nào cũng gọi Thiệu bằng anh, còn Thiệu thì thường gọi Ngàn bằng tên, nhưng lúc “vô cơ” tí rượu là Thiệu mày tau tút xuỵt. Ngàn thấy vui vì cái thân tình ấy. Thiệu người miền Nam nên tính tình bộc trợt, nghĩ đâu nói đó, không để tâm.

“- Vô sao nổi mà vô ông, người ta con gái con đứa, mình thân đi cải tạo về, vợ bỏ.”

– “Thế mày nói tụi mình giờ mạt hạng rồi sao?”

– “Kiếm ăn ngày hai bữa còn không ra, ai dám đèo bòng.”

Nói xong câu đó, Ngàn tự nhiên thấy đôi mắt mình như có một dòng lệ. Dòng lệ âm thầm từ trong tim quằn quại chảy qua từng động mạch. Đó là nỗi đau của người đã đánh mất một thời trai trẻ, một gia đình êm ấm. Dòng nước mắt đó đúng là nước mắt khô không lệ.

Ngàn noí tiếp:

“- Con Nương mơ cao lắm.”

“- Mơ gì, mơ ai?”

– “Người con trai phải có chiếc DD đỏ, mang giày Adidas, chở em đi hát karaokê.”

– “Mày đừng lo, đó là bề ngoài thôi, mày phải tấn công em lâu dài, mưa dầm thấm đất.”

Ngàn vỗ bàn than:

– “Ở đây tôi mệt mỏi lắm rồi, ông ơi, tôi chỉ muốn đi Mỹ!”

Thiệu chửi thề:

– “Đ. mẹ, nói như cứt, đi Mỹ ai mà không ham.”

Hai người uống thêm một xị nữa rồi mới lẫn thẩn dắt xe rời khỏi quán.

Một ngày rồi cũng qua.

Chương 2

Phục lên xe đò từ bến xe Thủ Dầu Một. Anh phải đạp xe qua một chặng đường dài từ khu kinh tế mới đến bến xe để về Sài gòn. Anh đã quyết tâm dứt bỏ cuộc sống ấy, cuộc sống chỉ lấy cái xẻng, cái cuốc, cái dao, cái rựa, làm vật dụng làm rẫy hằng ngày. Sáng chui vô rẫy, tối mịt mới mò từ rẫy về, anh chẳng biết trời trăng mây nước, tình hình cuộc sống, bạn bè ở thành phố gì cả. Nhưng bây giờ thì anh quyết định, phải thay đổi cuộc sống, phải về Sài Gòn, chứ không thể chui rúc trong xó rừng mãi như thế được. Và anh đã bàn cùng Nguyệt, vợ anh, anh sẽ về một mình trước, như chân rết, anh sẽ kiếm một chuyện gì đó để làm, nhờ bạn bè giới thiệu như đi làm thuê, làm mướn, đạp xích lô, ba gát, gì cũng được, miễn là xa được những đám rẫy um tùm cây lá, mà anh đã lặn ngụp cuộc đời ở đó suốt sáu năm. Nếu ổn định một tí, có công ăn việc làm, anh sẽ nhắn Nguyệt và hai con cùng về.

Bến xe buổi trưa đông nghịt người, hành khách chen chúc vào mua vé, chen lấn ồn ào quá cở. Một thanh niên mặc áo bộ đội màu xanh lá cây, quần bò rách gối, đội nón cối, la cà đến bên Phục:

“- Anh về Sài Gòn hả, có vé đây, xe rộng, chỗ ngồi tốt, anh trả đúng giá vé, chỉ bồi dưỡng cho đàn em chút đỉnh.”

Phục nghĩ, bây giờ để xe đạp ở đây, chen vào mua vé, được tấm vé cũng bở hơi tai, mà ở đây ăn cắp như rươi, để xe đạp không khóa dễ mất như chơi, cái xe đạp là cái chân làm ăn của anh, mất nó là anh chết. Nghĩ thế nên anh hỏi lại người thanh niên:

“- Về Sài Gòn giá bao nhiêu?”

– “Vé năm ngàn, anh bồi dưỡng cho em năm trăm, công em dành chỗ.”

– “Thôi được, cho tôi một vé.”

Phục nhận chiếc vé co rúm nhăn nheo trên tay người cò, rồi bước lại chỗ hàng xe khách Thủ Dầu Một – Thành Phố… …đang nằm tại khu vực bến xe. Chiếc xe đạp được đưa lên nóc.

Phục bước lên xe, theo sau là một đám bán hàng rong lẽo đẽo mời chào. Nào bánh mì, trà đá, kẹo dừa, sách báo…. Khi ngồi yên vị, anh mới nhìn ra xa, bên ngoài cửa xe, nắng đã lên trên tận đỉnh đầu, đám người lố nhố phía bên dưới, cười nói, chửi thề, văng tục, đủ mọi thứ ngôn ngữ được phô diễn ở đây.

Thằng nhóc bán báo dạo ôm tập báo đến mời:

– “Anh mua báo đọc anh, mua giúp cho em, có nhiều tin mới nóng hổi…”

“- Cho tôi tờ Tuổi Trẻ”

“- Anh cho 2 đồng.”

Phục lấy tiền đưa cho thằng bé, anh dở tờ báo ra đọc những tít lớn: Nhà Máy Ximăng Hà Tiên đẩy mạnh công tác sản xuất. Đoàn thanh niên cộng sản tổ chức Đại Hội, Cướp giật ở Gò Vấp, cướp Tiệm vàng ở ngay thủ đô Hà Nội…. Anh lật qua trang trong, một tít nhỏ làm anh chú ý: Đại tướng Mỹ đến Hà Nội……

Phục ngẫn ngơ. Sẽ có chuyện gì xãy ra cho số phận anh, số phận được sắp xếp bởi các thế lực. Ngày anh đi cải tạo, đường lối của chính quyền đương thời là lập nhiều khu kinh tế mới ở các vùng biên giới. Ở đó, các anh sẽ đến với gia đình để sống, tách rời với đám dân chúng, chính quyền sẽ dễ kiểm soát hơn. Những người đi cải tạo mấy chục năm ngoài bắc đã nói thế. Nhưng tình hình nay đã khác, chính sách cải tạo những sĩ quan, viên chức chế độ cũ bị nhiều áp lực của quốc tế, bắt buộc nhà cầm quyền phải thay đổi thái độ, thay đổi chính sách, đã cho về từng đợt,… chứ không thì số phận của anh cũng “mút chỉ cà tha”.

Phục bỏ tờ báo xuống đùi. Anh buồn ngủ, đôi mắt nhắm lại. Ngủ một chút cho khoẻ người. Buổi sáng nay thức dậy sớm, khoảng năm giờ, Nguyệt cũng thức dậy sớm nấu cơm cho anh ăn. Trời còn tối mịt mùng ngoài kia.

Anh thấy Nguyệt lui cui dưới bếp, anh bước xuống ngồi bên vợ.

Nguyệt nói:

“- Anh sao không ngủ chút nữa. Còn sớm mà, khoảng bảy giờ anh đi thì vừa.”

Anh cầm cành củi chụm vào bếp:

– “Khoảng sáu giờ anh đi, đi sớm cho mát, đây đạp xe ra bến xe cũng một buổi.”

– “Đường sá xấu quá.”

Câu nói của Nguyệt làm hai người như trở về lại ngày tháng cũ, ngày tháng Phục xách gói đi trình diện. Nguyệt ở nhà trông chờ khoảng nửa năm. Buổi tối họp tổ dân phố có công an khu vực điều hành buổi họp.

Người công an khu vực tên Thụy chỉ mặt mấy người đàn bà:

– “Mấy chị hiện là vợ sĩ quan ngụy đang tập trung cải tạo, các chị muốn cho chồng mình về sớm thì hãy đăng ký đi kinh tế mới đi. Chúng tôi cam đoan với mấy chị là mấy chị ký vào đơn, ngày trước ngày sau là mấy ảnh sẽ về. Còn mấy chị ù lì không đi thì tôi trục xuất, thành phần mấy chị không được cư trú ở thành phố đâu.”

Gương mặt đó hầm hầm. Đám đàn bà lố nhố. Chị Kim Anh, vợ của đại uý trinh sát, chị Xuân, vợ của trung úy quân cảnh, chị Tân, vợ của trung úy truyền tin, chị Nguyệt, vợ của trung úy bộ binh. Mặt người đàn bà nào cũng căng ra. Đã nhiều lần họp tổ, chuyện xung phong đi kinh tế mới đã đươc nói đến, nhưng không gắt gao như lần này, lần này thì công an khu vực chịu trách nhiệm, phải đã thông tư tưởng của những gia đình trong diện ưu tiên đi kinh tế mới. Lệnh trên đã quyết.

Đó là những ngày đầu Nguyệt và hai đứa con, cùng đám vợ con sĩ quan lê thê lếch thếch đến vùng này, trên một chuyến xe vận tải. Nhà nào cũng chỉ còn lại đàn bà và trẻ con, đứa nào lớn nhất cũng khoảng mười tuổi là cùng.

Nguyệt mang hai đứa con đến đây, trước mắt là một đám rừng xanh ngút ngàn cây lá. Chiếc xe đổ đoàn người xuống, thất thơ thất thểu. Nguyệt dẫn hai con vào một cái nhà làm sẳn, cái chòi thì đúng hơn, do một toán thanh niên xung phong đã cất trước khi đoàn người đến.

Người trưởng đoàn vào nhà, nhìn Nguyệt đang ngơ ngác. Ông nói:

“- Đây là nơi chị sẽ làm ăn sinh sống, chị sẽ được nhận 6 tháng ăn, trong thời gian đó chị phải vào khu rừng phía trong kia, phát rẫy trồng tỉa hoa màu, sau sáu tháng, gia đình chị sẽ tự túc. Nhớ đó.”

Thế là Nguyệt gắn chặt đời sống vào mảnh đất nầy đã hơn mười năm. Từ ngày rời thành phố lên đây, Nguyệt vẫn mơ trở về Sài Gòn, Sài Gòn xa quá, chỉ còn trong trí tưởng.

Bốn năm sau Phục mới trở về, không như lời hứa của người công an khu vực là sẽ về ngay, khi các chị xung phong đi kinh tế mới. Từ ngày ra đi, Nguyệt chưa bao giờ gặp lại người công an đó để nhắc nhở về lời hứa trên. Bốn năm, đã biến Nguyệt thành một người đàn bà lam lũ. Nàng bắt đầu làm quen với cây rựa phát rẩy, cái cuốc đào hố trồng đậu xanh, đậu đen. Bốn năm, đã biến người đàn bà hai mươi lăm tuổi thành người đàn bà khoảng gần bốn mươi. Già, đen đúa, tay chân sần sùi. Nhưng nàng vẫn giữ lòng chờ đợi đến ngày Phục về.

Tháng thứ sáu là hết tiền cấp dưỡng, hết bo bo, hết khoai mì, hết gạo.

Nương rẫy thì bạt ngàn, nhưng ở đó chỉ có mọc hai loại cỏ là cỏ tranh và cỏ Mỹ. Với những cánh tay yếu ớt của người đàn bà thành phố như Nguyệt, đã vô cùng tuyệt vọng trước hoàn cảnh khốn cùng này.

Nhưng dù bò lếch, đói khổ, nàng cũng cắn răng được bốn năm.

Bốn năm.

Một buổi tối Phục gõ cửa bước vào với cái giỏ lác trên tay:

– “Anh đã về đây.”

– “Ba đã về đây.”

Hai vợ chồng cùng hai đứa con ôm nhau khóc mờ cả mắt.

Hôm đó Phục không uống rượu nhưng anh đã say khướt vì anh ăn quá nhiều những đọt măng non mà con Bích và thằng Hà vì đói quá, những ngày trước, đã mò vô rẫy tre bẻ về. Nguyệt bóc ra và luộc, chấm muối ăn dần. Cái say của đọt măng cũng làm anh ngây ngất choáng váng. Anh hôn lên mắt Nguyệt, ràn rụa những giọt nước mắt nóng hổi của đau khổ, thương yêu và hạnh phúc.

Phục ở trên kinh tế mới sáu năm. Ngày ngày, anh đi vào rẫy cùng Nguyệt. Sáu năm, bao nhiêu bước chân của anh đã đến, đã dãi nắng dầm mưa, nhưng cuối cùng nhà anh vẫn thiếu ăn, các con vẫn đói dài. Anh thất chí quá, nên bàn cùng Nguyệt:

“- Mình ở mãi đây không khá đâu em ơi, mình phải về Sài Gòn thôi. Những người đi kinh tế mới như mình bỏ đất bỏ đai đi hết, em không thấy sao?”

“- Thì anh tính sao tốt cho mình thì tính.”

– “Anh định là sẽ về trước dưới đó, anh có thằng bạn cùng tù, ở dưới đạp xích lô, nghề đó mà kiếm ăn khá hơn làm rẫy.”

“- Rồi sao nữa?”

– “Thì anh sẽ nhờ nó thuê cho anh chiếc xích lô, anh cố gắng chạy xe mấy tháng thử coi sao, ổn định rồi đưa em về.”

“- Cũng được, nhưng xa em, anh đừng léng phéng với ai nghe.”

“- Léng phéng với ai nữa đây. Em là nhất của anh mà.”

Nguyệt nghĩ mình cũng phải thoát ra. Khu kinh tế mới này người ta đã lục tục bỏ đi. Những lô đất chỉ còn trơ nhưng mái nhà xiêu vẹo, rách nát. Nguyệt sẽ dọn dẹp để chuẩn bị cho một cuộc sống khác.

Nguyệt gói mấy ký đậu xanh cho Phục đem xuống làm quà người bạn. Nấu cho anh nồi xôi gạo nếp mà mùa gặt năm trước Nguyệt còn để dành. Tất cả được bọc trong lá chuối.

Nguyệt nói:

– “Thôi anh chuẩn bị đi đi, kẻo mặt trời lên, nóng lắm.”

Phục nhìn quanh quất trong gian nhà, trời hãy còn sớm, không khí còn lạnh âm âm, hai đứa con còn ngủ say trong buồng. Anh thấy háo hức trong lòng, Phục kéo Nguyệt vào sát mình:

– “Em cho anh yêu em cái đi, cũng ba bốn tháng mới về. Xa em nhớ lắm”

Nguyệt cười lỏn lẽn:

– “Cái anh này, già đầu rồi mà còn ham.”

Hai người dìu nhau vào phòng trong, bước đi rón rén vì sợ hai đứa con thức giấc…

Và bây giờ thì Phục đang ngồi trên chuyến xe khách Thủ Dầu Một về Sài Gòn để kiếm đất sống.

Bên ngoài trời đang nắng gắt. Xe chạy theo Quốc lộ 13. Đoạn đường lồi lõm với những ổ gà và hục hang. Chiếc xe hàng chở những bao đựng mủ cao su xông lên mùi ngai ngái khó chịu. Hành khách là những bạn hàng đi buôn chuyến, thuốc lá, đậu xanh, gạo, rượu…, những mặt hàng thường nhật của cuộc sống. Ai cũng đi tìm miếng ăn.…

Khoảng một giờ sau thì chiếc xe đò cũ kỹ cũng hì hà hì hục tiến vô bến xe miền Đông. Bến xe này mới thành lập, di chuyển từ bến xe An Đông ra đây. Xe cộ toàn là những xe cũ trước bảy lăm còn lại được nhà nước thu mua và được đặt một cái tên chung là Công Ty Quốc Doanh Xe Khách. Những chiếc xe đậu hàng dài theo địa phương nơi đến được ghi như Hà Nội, Thanh Hoá, Vinh, Nghệ An, Đà Nẵng… hay gần hơn như Buôn Ma Thuột, Đắc lắc, Pleku, Đà Lạt, Dầu Tiếng, Lộc Ninh.

Phục xuống xe, anh nhìn dáo dát chung quanh, vẻ mặt ngây ngô. Thật ra, anh hơi choáng với khung cảnh này. Nó xô bồ lộn xộn. Vừa xuống xe, hàng chục chiếc xe ôm, xe đạp, xe honda bu quanh chào mời, hàng chục người buôn bán hàng rong chào mời. Có thể, anh đã bốn năm ở trong trại tập trung, hàng ngày tập họp đi lao động ngoài hiện trường, chiều về “vô chuồng” như một gia súc, không hơn không kém, rồi anh trở về với gia đình, đi kinh tế mới theo vợ con, anh trở thành một người nông dân thứ thiệt. Cái kim đồng hồ ấy chạy đã sáu năm, đều đều, tít tắc, tíc tắc, …đến bây giờ, khi anh mở mắt ra, con cái đã lớn, đã bắt đầu đi học thì không có trường trại, rồi đời sống bấp bênh, cây trái thất mùa… nên anh quýnh quáng, anh phải bỏ đất mà đi.

“- Không, tôi có xe đạp.”

Phục nói để trả lời hàng rào xe ôm chào mời. Anh đứng đợi. Người lơ đang mở dây thả xe đạp từ trên mui xuống cho anh. Phục nhận xe, anh leo lên yên rồi đạp thẳng ra cổng.

Phục đi thẳng đến nhà Chức, thằng bạn cùng ở tù chung nay đang hành nghề xích lô tại thành phố.

Chương 3

Khi Phục đi rồi, Nguyệt vẫn còn nằm vùi trên chiếc chỏng tre kê trong buồng làm nơi ngủ, nghỉ, của hai vợ chồng. Căn nhà tuềnh toàng, trống huơ. Hồi mới lên, căn nhà đã như thế nầy, bây giờ vẫn vậy. Đàng trước là phòng ở, tiếp khách với cái bàn gỗ Phục đóng từ những vật liệu phế phẩm của người bạn làm trong hãng gỗ cho. Bốn cái ghế gỗ đóng theo kiểu ghế tù cải tạo, ghép bằng mấy thanh, nhờ mấy cây đinh bự ép chặt nên không long. Hai cái giường nhỏ cho hai đứa con nằm, còn Nguyệt và Phục thì ngủ trên chiếc giường phía trong, tạm gọi là cái buồng, vì có cánh cửa khép ra, khép vào.

Thế mà cũng đã hơn mười năm sống trên vùng kinh tế mới. Thời gian trôi qua. Thời gian trôi qua thì tuổi trẻ cũng qua, tuổi xuân cũng qua, và cái ước muốn trở về với cuộc sống bình thường, no đủ, cũng vụt mất ngoài tầm tay, từ ngày đứt phim, thua trận.

Ngày đó là bắt đầu cho những khổ hạnh mà Nguyệt phải gánh chịu sau này.

Tiếng gà gáy bên nhà, tiếng gà gáy buổi sáng như thúc dục Nguyệt trở dậy. Nàng nhìn lên trần mùng, cái mùng sút một bên vì Phục đã dẫy, đạp, trong lúc cảm xúc tuông trào. Cái anh chàng già rồi mà còn như tuổi thanh niên, lúc nào cũng ham hố. Nhiều lúc, Nguyệt phải kêu lên, anh nhẹ thôi, cái chỏng tre ọp ẹp quá, anh dãy mạnh quá nó gãy. Nhưng có khi nào Phục chịu nghe đâu, anh cứ chúi người vào Nguyệt.

Bây giờ chắc Phục đã mỏi rụng mỏi rời đôi chân của anh, vì đạp xe qua chặng đường gập gềnh để ra bến. Nguyệt thấy thương chồng quá, tình vợ chồng đã mười mấy năm, may mà còn có nhau qua cuộc chiến tranh, các con cái cũng lớn khôn. Nguyệt mỉm cười một mình trong bóng đêm hãy còn phủ khắp nhà.

Nhưng Nguyệt phải dậy, phải đánh thức hai đứa con dậy cho nó ăn sáng rồi vô rẫy. Con Bích và thằng Hà đã biết phát rẫy, làm cỏ lúa, cỏ đậu, biết đánh vồng khoai lang, mười năm ở kinh tế mới chúng nó đã sống như vậy, như một con thú rừng cặm cụi.

Nguyệt ngồi lên, dù cơn cảm xúc vẫn còn âm ỉ châu thân, nàng tự chế diễu mình, khổ cực như vầy mà còn ham hả Nguyệt, nhưng nàng cũng tự biện hộ, sống ở một nơi không có thú vui nào thì chỉ còn vui “chuyện đó”, sao mình tự làm khổ mình thế không biết.

Nguyệt giở mùng, xếp lại gọn gàng rồi đi ra phòng ngoài, kêu lớn:

“- Con Bích, thằng Hà, dậy đi, ba tụi bay đi thành phố rồi đó, dậy ăn cơm rồi vô rẫy thay ông làm cỏ đậu xanh, coi thử mấy đám đậu xanh có bị chim ăn không, có đậu chín thì thu hoạch về, mình làm mùa này nữa thôi, rồi về thành phố.”

Con Bích chường mặt ra khỏi mùng, hỏi lại má nó:

– “Ba đi rồi hả mẹ, con thấy ba mẹ tính vậy mà đúng đó, chứ tụi con ở đây hoài chắc suốt đời ngóc đầu không nổi.”

Thằng Hà thức dậy từ chiếc chỏng bên kia, cũng xen vô góp ý:

“- Con lớn rồi về thành phố là đúng, chứ ở đây hoài con chán quá mẹ ơi.”

Hai đứa dọn dẹp chỗ ngủ rồi bước xuống đất, đi ra vại nước ở gần nhà bếp súc miệng, rửa mặt. Nguyệt chun vô bếp nấu cơm.

Ngồi trước cái ông táo được ghép bằng ba tấm gạch, với ngọn lửa đang bốc cao, Nguyệt nấu một nồi cơm, độn với hai lon bắp xay, một nồi canh măng nấu với tôm khô. Đó là bữa cơm cho một ngày của ba mẹ con, cuộc sống rồi cũng quen dần đi.

Nguyệt nhìn nồi cơm rồi nghĩ:

““Thế là còn đở đó chứ như ngày Phục chưa về. Những ngày sau sáu tháng ở kinh tế mới, hết tiền trợ cấp, mẹ con nàng phải vào rừng hái đọt măng le, hái rau tàu bay, dền dại, để về ăn thế bữa, chờ đến ngày thu hoạch mấy công đậu xanh. Lúc đó chưa trồng được lúa, ai biết phương pháp tỉa lúa thế nào, giống má đâu mà trồng, nên nàng chỉ biết trồng đậu xanh, đậu đen, mà thôi. Ngày thu hoạch đậu, nàng đem những ký đậu xanh tốt, mẫy hạt, ra chợ bán đổi lấy gạo, mắm, muối, bột ngọt. Cuộc sống riết rồi cũng quen.”

Cuộc sống khổ cực đó khiến biết bao nhiêu cô gái, đàn bà bị sẩy chân. Nhưng may mà Nguyệt không sẩy chân, nàng gắng gượng để không sa ngã vì bất cứ lý do gì. Cái tuổi hai mươi lăm còn xuân sắc thế kia, cái giọng nói còn nũng nịu thế kia, cái cặp giò cao, thon, trắng lốp, đôi vú nở tròn ôm sát vòng ngực, đôi mắt đen láy với nụ cười duyên dáng làm sao không lọt vào những cặp mắt của những người đang nắm quyền sinh sát gia đình nàng. Ông Chánh chủ tịch xã, ông Dậu phó công an, ông Tốt, công an khu vực. Rồi những tay xe be, xe đò luôn luôn dòm nàng lom lom bằng đôi mắt sắc dục.

Toán đi kinh tế mới “xung phong” lần này gồm những dân ngụ cư, những dân ngủ đường, ngủ chợ. Công an phường đã lên danh sách trình Ủy Ban Nhân Dân tất cả hơn một trăm hộ.

Danh sách ưu tiên là đám gia đình sĩ quan ngụy quân đang đi học tập cải tạo. Những gia đình ấy là cô Thắm có chồng là thiếu tá, cô Anh, cô Tâm, cô Xuân, cô Tấn, cô Phương, cô Đào, chồng là trung úy, thiếu uý…. Những gia đình này chạy di tản từ vùng một, vùng hai, vào đây, đã đến tá túc ở khu cư xá. Bây giờ, ủy ban phường ép buộc mấy cô đi cũng là một công hai chuyện, thứ nhất là làm tốt chính sách của nhà nước, thứ hai là họ sẽ để lại mấy căn phòng trên cư xá, mấy đồng chí trên ủy ban phường sẽ có lợi khi chia chác.

Đến ngày đi, tất cả mọi người được lệnh chuẩn bị, thì cô Thắm ra phường thưa gởi:

– “Tôi không đi được, con tôi còn nhỏ quá, tôi lên đó không có việc gì để làm, làm sao tôi sống nỗi, các ông có bắn bỏ thì tôi cũng chịu.”

Ông Màng, trưởng công an phường, gương mặt đanh lại, quai hàm bạnh ra, nạt nộ:

– “Chị phản đối chính sách của cách mạng hả, chị có chồng là ngụy quân, có tội với nhân dân, nay đảng khoan hồng cho đi học tập cải tạo, cho chị đi kinh tế mới để cho chị có chỗ sinh sống mà chị phản đối không đi, phải không?”

Cô Thắm vẫn một mực không đi, cô cương quyết ở lại, cô nói tiếp:

– “Các ông xử tôi thế nào cũng được, tôi không có tội gì với cách mạng, lên đó, thân gái một nách ba con, tôi không làm sao sống được.”

Cuối cùng thì cô Thắm ở lại.

Chỉ có Nguyệt, Tâm, Anh, Xuân, Tấn là đã lỡ bán hết đồ đạc nên phải đi.

Khu kinh tế mới nằm tận trong một rẫy xa. Ở đây thanh niên xung phong đến phát quang, rồi làm những căn nhà tạm bợ. Đám dân ở các quận huyện nội, ngoại thành Sài Gòn được gọi là xung phong đi kinh tế mới, đã đặt chân lên đất này đúng ba giờ trưa một ngày đầu tháng.

Đám dân đó, ngoài những gia đình ngụ cư, những gia đình ngụy quân, ngụy quyền, còn có đám lang thang không nơi cư ngụ, sống ở lòng cầu Thanh Đa, cầu Văn Thánh. Một số dân bụi đời, đĩ điếm, bị hốt trong những lần tảo thanh truy quét. Đó là nếp sống đồi trụy, tàn dư của chế độ Mỹ Ngụy để lại, chính quyền đã tuyên bố như thế. Tất cả hầm bà lằng, như một nồi cám heo, trộn lẫn những thức ăn thừa, đổ vào chung nấu một nồi lớn. Khu kinh tế mới bây giờ là vậy.

Rừng rẫy bạt ngàn phía trong, dân xe be, đám người “nhất phá sơn lâm” vào tận vùng sâu để khai thác gỗ, hàng đêm trở về ngủ trên những chiếc xe dài, đậu dọc đường đi vào kinh tế mới. Đó là lúc, mấy “chị em ta” ngày cũ, ở khu Thanh Đa bị hốt, trở lại hành nghề. Các chị em ta ra ngã ba Đồng Bộ, đóng bộ cặp đồ xoa mỏng dính, đỏng đa đỏng đảnh với những đường nét khêu gợi, đi lơn tơn trên đường, khiến các anh chàng lơ xe be, sống lâu ngày trong rừng, trong núi, trở nên động tình. Thế là chợ tình bắt đầu hoạt động.

Những “động” này di chuyển theo tình hình, “bãi đáp” có thề là trên xe be, trong lùm cây rậm, trên bãi cỏ tuốt trong sân vận động hay có chị dạn dĩ hơn thì dẫn về nhà, làm con gà tơ đãi khách, rồi khách sẽ chi tiền “sộp” lại. Đó là cách làm ăn, đủ mọi hình thức.

Khu kinh tế mới bình thường với muôn vàn cơ khổ đó, nay là nơi mua bán tình tự do nhất nước. Các cô gái khác có chút nhan sắc, không thể nào cầm được cái rựa, cái liềm, cái dao, phát rẫy, trồng đậu, trồng lúa, cũng mon men hành nghề. Cái nghề “nằm ngữa” nhẹ hơn bội phần và thu nhập sẽ nhiều hơn cái nghề trồng trọt rau đậu hoa màu.

Đêm đêm khi mặt trời sắp lặn, bóng dáng mấy cô gái thẩn thơ mặc bộ đồ mỏng đủ màu, đi ra đi vào, đi qua đi lại trên đường dẫn vào khu kinh tế mới. Tiếng chào mời, cợt nhã của đám gái với đám lơ xe be vang động cả lên.

Đến tháng thứ chín thì tình hình kinh tế của mọi gia đình suy sụp nghiêm trọng. Gia đình ai cũng phần nhiều là nữ, sống ở thành phố đã lâu nên không động đến móng tay móng chân từ nhỏ, thì làm sao họ không thiếu lên thiếu xuống, hụt trước hụt sau. Cái thiếu đó đã ghì chặt cuộc đời họ xuống và bắt đầu là chị Thanh, vợ trung uý Thân, đang tập trung cải tạo, là người ra “ “đứng đường”” đầu tiên.

°

Phó công an Dậu là một bộ đội phục viên. Phục viên về với gia đình sau năm năm phục vụ trong hàng ngũ bộ đội. Dậu đã từng đi làm “nhiệm vụ quốc tế” ở Campuchia, đó là đoàn quân “tình nguyện“ Việt Nam, sang Campuchia tiêu diệt bọn diệt chủng Khmer đỏ.

Những ngày tháng đó, Dậu thấy cái chết sao dễ dàng quá vì bom mìn bọn Khmer đỏ gài khắp nơi. Bạn bè anh đã bao người gục ngã hay lìa bỏ một phần thân xác nơi chiến trường Campuchia, nên hết hạn phục vụ là Dậu xin phục viên.

Dậu được trả áo quần bộ đội trở về với đời sống dân sự và anh hăm hở trở về.

Đáng lẽ, Dậu về thẳng miền bắc, nơi quê hương anh, nhưng trên đường đi từ Bến Cầu về Sài Gòn, Dậu gặp Hãn, một người cùng quê.

Hãn đang làm trưởng công an ở một xã kinh tế mới. Thế là Dậu bỏ ý định về quê, theo Hãn về đây. Nhờ có cái giấy bộ đội phục viên nên Dậu được đề bạt làm phó công an, phụ tá cho Hãn.

Ở một cái xã mới thành lập của một vùng kinh tế mới, với vài trăm nóc nhà, chuyện thành lập chính quyền còn rất lỏng lẽo, sơ sài. Những người trong chính quyền do huyện đề cử là những cán bộ cốt cán, làm cái khung, rồi tùy tiện thêm bớt người phụ tá, quan trọng nhất là giữ gìn an ninh trật tự, không để gây ra những cảnh như cờ bạc, rượu chè, đánh lộn, gây mất trật tự chung. Chỉ có chuyện dành nhau miếng ăn là gây xích mích nhau thôi. Chuyện chính trị chính em khó xảy ra, chỉ phòng hờ những tay ngụy quân, ngụy quyền quyền còn rải rác. Nhưng những tay ngụy bây giờ đang nằm trong rọ ở những trại tập trung hết rồi, còn đâu mà ngóc đầu lên.

Nhưng chuyện chợ tình hàng đêm đã làm Dậu bước qua một khúc rẽ ngoặc.

Đó là buổi tối Dậu đi tuần tra kiểm soát an ninh trên đoạn đường từ ngã ba Đồng Bộ vào Lô 5. Lô 5 là lô nhà được xây ở cuối đường, lô sau chót. Vô trong nữa là dòng suối Trà Thai và tít mù nương rẫy. Trong đó, buổi tối chỉ có bọn xe be kéo gỗ lên xe và đám chị em ta mon men mời gọi.

Trời tối hù, quơ tay ra đàng trước không thấy tăm hơi gì, cầm cái pin trên tay, Dậu đi cùng Thuấn và Ca, hai công an xã dưới quyền.

Dậu nói:

– “Tụi bay đi nhớ coi chừng vấp té, trời tối thui như mực mài.”

Thằng Ca lên tiếng:

– “Mình vô trong, không có chuyện gì, ghé vô rẫy bắp hái một mớ về luộc ăn khuya, nghe anh năm.”

Tiếng thằng Thuấn:

“- Bắp mới lú mà hái cái gì, ghé quán bo bo Hoàng uống mấy xị đế mà sướng hơn.”

Quán bo bo Hoàng là quán bên đường. Hoàng nguyên là vợ của anh chàng hạ sĩ quan chế độ cũ. Người chồng chết trên đường di tản hồi bảy lăm, Hoàng khăn gói lên đây cùng với đứa con năm tuổi, làm cái quán bên đường, gần con suối Trà Thai, bán trà đá, rượu đế, tôm khô, thuốc lá, thuốc lào, cho khách qua đường. Mùa mưa thì Hoàng chèo đò chở khách qua suối. Hoàng to lớn, phục phịch, nói năng bặm trợn, nên ai đó đặt cho tên là bo bo Hoàng, lâu ngày thành chết tên, quen miệng.

Dậu cùng hai đàn em đi đến ngã ba thì thấy một chiếc xe be nằm lù lù bên vệ đường. Chiếc xe be đã câu những khúc gỗ lớn kéo nằm bên trên, bằng những cuộn dây thừng lớn. Chiếc xe nằm lù lù một đống đen thui. Dậu lẹ làng đến bên chiếc xe, chiếc xe im lặng sừng sửng như một quả núi. Bỗng Dậu nghe từ trong ca-bin xe vọng ra tiếng thở hào hễnh, tiếng hít hà của người đàn ông và người đàn bà. Anh vội nhảy lên xe và bật sáng đèn pin chỉa vào nơi có tiếng rên, hai tấm thân trần truồng đang quấn chặt vào nhau vội nhả ra.

Ánh sáng choá mắt làm hai thân thể đang cuồng nhiệt bật dậy, người đàn bà vội lấy tấm vải che lấy người, người đàn ông vội xoay người vào phía trong để che dấu một phần thân thể đang trống trơn của mình. Dậu gằn giọng thật đanh thép:

– “Hai người đã bị bắt vì đang làm tình bất chính.”

Có tiếng cự cải lại của người đàn ông:

“- Có gì mà bất chính, tụi tôi thích nhau thì dẫn lên đây vui vẻ, chứ có gì mà bất chính.”

Dậu nạt nộ:

“- Anh còn cứng đầu hả, trong lúc cả nước đang cố sức xây dựng chủ nghĩa xã hội mà anh an tâm làm chuyện bậy bạ, thôi cả hai người mặc quần áo vào rồi về cơ quan công an xã làm việc.”

Người đàn bà, trong ánh chớp của đèn pin lập lờ, Dậu nhận ra đó là Phương Nam, cô gái có chồng là sĩ quan chế độ cũ, đang tập trung học tập ở Long Khánh. Cô lên đây cùng hai đứa con, cô tách rời những chị em vợ sĩ quan ngụy đang ở chung một tổ trong lô 4, cô sống riêng rẻ một mình ở đầu lô 2, cô bán quán cà phê nhỏ, có thêm chút bia rượu cho khách vãng lai, ai ngờ cô lại đi cặp bồ với thằng Bá xe be, thằng Bá lái xe be mới hai mươi hai tuổi, cô Phương Nam đã hăm mươi sáu.

Bá thấy Dậu căng quá, đành xuống nước:

– “Thôi mà anh Dậu, tụi em yêu nhau, kéo lên đây vui vẻ chút đỉnh, anh thông cảm cho.”

– “Thông cảm cái gì, anh đã vi phạm nội quy của xã, bồ bịch mèo mỡ ở nhà còn được, lại đem lên xe, anh biết không, xã ta bây giờ có biết bao nhiêu chuyện xãy ra, mấy cô, mấy bà không lo làm ăn, ăn không ngồi rồi bây giờ dỡ trò, thôi hai người mặc áo quần vào rồi theo tôi về xã.”

Lời nói cứng rắn của Dậu làm hai người trên xe hoảng kinh, nếu mà chuyện này tung ra, cả xã biết tin thì chỉ còn nước chúi đầu xuống đất, bỏ xứ mà đi, mà Bá còn có thể bị chủ cho nghỉ việc. Nghĩ vậy nên Bá móc trong ví mình số tiền còn lại.

Bá năn nỉ:

“- Xin anh tha cho em, lần đầu em chót dại, em xin bồi dưỡng cho mấy anh chút đỉnh để mấy anh đi lai rai.”

Thằng Bá cầm bụng không thốt ra tiếng chủi thề, chứ số tiền này đáng lẽ ra nó phải trả cho Phương Nam một trăm rưởi ngàn, một lần. Còn lại nó để dành năm chục ngàn dằn túi, sáng mai đánh xe đi sớm có tiền mà ăn dọc đường.

Thằng Thuấn thấy có tiền, liền hích nhẹ ba sườn của Dậu:

– “Thôi tha cho nó lần đầu đi thủ trưởng.”

Dậu nghe lời thằng Thuấn, anh nhảy vọt xuống xe:

– “Thôi, cả hai người mặc quần áo vào rồi đi về, nhớ đừng phá rối an ninh trật tự nữa đó.”

Câu doạ dẫm lãng nhách của Dậu khiến Bá bật cười. Bá nghĩ giữa đồng không mông quạnh, đêm tối âm u như thế này, có la làng cũng không ai biết, có gì mà phá rối an ninh trật tự.

Dậu và đám đàn em đi rồi, Bá lại ôm mặt Phương Nam hôn tới tấp:

– “Thôi tiếp tục đi em, mình đang hứng chí mà bị bọn quỷ phá đám, tổ cha nó chớ.”

Phương Nam kể khổ:

– “Thôi đi, tôi không còn hứng thú gì nữa mà làm, trả tiền cho tôi về, mấy cha này đã biết, ngày mai mấy chả tung tin ra, tui còn mặt mũi nào nữa mà nhìn thiên hạ.”

Bá tặc lưởi:

– “Ối giời, em cái gì cũng lo, ở cái xó xỉnh kinh tế mới này, cái gì mà danh giá, mà mình đấm mỏm nó rồi, nó không dám phao tin đâu, phao tin mình khai huỵch toẹt ra thì nó bị lật tẩy liền.”

Trong lúc khí xuất chưa thông, Bá lại lên cơn thèm muốn, nó lăn vào Phương Nam như con hổ đói. Còn nàng, cái sức của tuổi xuân mơn mởn, chồng đi tù xa mấy năm, có được cái sức của thằng bé để thoả mản thân xác cũng là điều sung sướng, Phương Nam chẳng thấy ân hận gì, cô sung sướng hạnh phúc với những sức trai trẻ kia, của Bá, của Lân, của Nam, của những thằng con trai ngồn ngộn sức sống, mà mỗi chuyến xe be chở gỗ đi qua, đã cho nàng những món tiền và cả cái thân xác rắn chắc của bọn chúng nữa, nàng chẳng lỗ lã chút nào.

Phương Nam gát một chân lên thành ghế cabin, cô chỏng chơ ôm ngập tấm thân săn chắc của người thanh niên hai mươi hai tuổi.

Chuyện của Dậu và đám đàn em đi kiếm ăn đêm như vậy là chuyện thường tình. Nhưng lần này Dậu về trụ sở công an, ngồi đợi tụi đàn em mang đồ nhậu ra bàn để uống rượu, Dậu mới thấy lòng mình bâng khuâng một nỗi như bàng hoàng, một nỗi như thảng thốt, khi anh nghĩ đến hình hài, bóng sắc của Phương Nam chập chờn trong đầu óc.

Cái thân hình nhỏ bé, eo thon, da trắng, bầu vú săn chắc ôm choàng lấy vồng ngực, những sợi lông đen mềm mại phía dưới, đó là ấn tượng làm người đàn ông như Dậu phải suy tư, mơ tưởng, hứng thú. Hai mươi tám tuổi, Dậu đã bỏ một thời gian năm năm bên nước bạn. Đã bao lần cũng được gọi là yêu thương. Anh đã quen, rồi yêu, rồi làm tàn hại cũng mười mấy cô gái Miên, nhưng Dậu chưa yêu ai thật tình và thật lòng. Với anh là sống, là kiếm tiền, chạy chọt, chiếm đoạt, quyền hành, hưởng thụ. Đó là cách sống và quan niệm của anh, anh phải vương lên khỏi mảnh đất nghèo nàn nơi đất bắc.

Đất bắc! Đất bắc! Nơi lạnh đến thấu xương, đồng hoang cỏ cháy, cỏ không có cho bò gặm. Dậu xuất thân là cậu bé chăn bò. Có những ngày mưa phùn giá lạnh, sống trong gia đình nghèo nên phải đi mót lúa, kiếm củi, hốt phân. Suốt bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng, của tuổi thơ anh. Anh biết vùng đất anh ở là vùng đất chết, con người nơi đó là con người chết, sẽ chẳng bao giờ anh ngóc đầu lên nổi nếu anh trở về. Anh phải bắt đầu làm lại đời mình ở phương Nam nầy, dầu là một vùng kinh tế mới. Nhưng anh phải là “nhà cầm quyền”, anh sẽ vươn lên ngày một ngày hai thôi.

Năm năm ở bộ đội đã dạy cho anh nhiều bài học nằm lòng, “ “quân đội tình nguyện”” đến giải phóng những nơi quân Pônpốt giết người cướp của. Bọn anh đóng vai những người đi giải phóng để cứu thoát một dân tộc khỏi bị diệt chủng, đó là lý do thật nhân đạo, lẽ phải và công bằng…Nhưng sau đó, là sự củng cố quyền hành, thành lập chính quyền bản xứ dưới tay. Những cuộc tảo thanh Khmer đỏ đã gom cho những người chiến thắng, cho giới chỉ huy quân đội tình nguyện biết bao nhiêu là ký vàng nguyên đỏ au. Những cổ vật trong những ngôi chùa lớn, những hộp vàng của các hoàng thân quốc thích được chuyền vào tay cấp chỉ huy. Còn anh, hạng tép riu bên dưới, anh chỉ kiếm ăn cò con, nhưng với tài khôn ngoan luồng lách, anh cũng kiếm được một số vàng cộng với một số cô gái xứ Chúa Tháp. Con gái xứ chùa Tháp tuy có mùi mồ hôi dầu và nước da sạm nắng nhưng cũng hấp dẫn vô cùng. Nhân danh người bộ đội của đoàn quân tình nguyện, anh đã nói yêu thương rồi ăn ngủ với nhiều cô gái như thế, nhưng thật ra, cái chính yếu mà anh cố vươn đến, là tìm kiếm là quyền lực. Anh nghĩ, có quyền lực là có tất cả. Đàn bà, tiền bạc, nhà cửa, giàu sang.

Cho nên, trên đường phục viên về nguyên quán, gặp Hãn, một đồng hương ngoài đất bắc, khi Hãn nói hãy về với Hãn để làm việc chính quyền là Dậu chịu ngay. Anh đã theo Hãn như một đàn em, chạy chọt cho Hãn một lượng vàng mà anh thu được. Thế là, bây giờ anh nghiễm nhiên là phó công an xã, có những đàn em trung thành như thằng Thuấn, thằng Hữu, thằng Phi, đó là những thanh niên phá xóm phá làng ở thành phố, tụ tập hút xách, chích choát. Sau những đợt truy quét, bọn chúng chạy tứ tán rồi tấp về đây, Dậu thu nhận làm đàn em, tức là làm du kích xã hay công an xã, được đội nón cối, mang dép râu, kè kè cây súng trên tay, khi có cây súng ai cũng là chính nghĩa.

Nhưng hình ảnh trần truồng của Phương Nam ở trên cabin xe buổi tối làm Dậu quay quắt nhớ về cái thân xác ấy. Anh biết mặt từng người của bọn con gái đứng đường ở ngã ba, nhưng đám đó toàn là một mớ lèo bèo, bùi nhùi, nhùng nhằng…nhìn qua dung nhan cũng đủ ớn lạnh. Dậu để mắt tới những người đàn bà khép kín hơn, đó là những người đàn bà có nhà ở lô 4, như Nguyệt, Tâm, Anh, Xuân, người đàn bà nào cũng mơn mởn xuân sắc.

Dậu suy nghĩ và tính toán, anh phải đi từ từ như tằm ăn dâu, mình sẽ ép các cô đến lúc phải tự động dâng hiến, mình sẽ thủ lợi, nhưng những người này chưa thể ngày một ngày hai là có thể chiếm đoạt họ được.

Nhưng đêm nay, bắt gặp cảnh Phương Nam cùng thằng Bá lơ xe be dẫn nhau lên xe hành lạc, làm cho Dậu có một cái nhìn khác về các cô. Thì ra đàn bà ai cũng vậy, nhìn bề ngoài đạo mạo đoan trang thế nhưng bên trong là cả một lò lửa sục sôi vô cùng cuồng nhiệt. Dậu vừa uống rượu đế vừa tưởng tượng đến cặp đùi trắng lốp kia lồ lộ trong ca bin xe be, anh thấy mình như bị nóng sốt.

Hành động thứ nhất của Dậu là mò tới nhà Phương Nam xét hộ khẩu, như quan huyện xét điền thổ trong vở kịch Nghêu Sò Ốc Hến. Dậu bây giờ là hiện thân của chính quyền cách mạng, chính quyền của nhân dân, đi xét xem nhà ai có chứa chấp người lạ mặt không? Anh sẽ tìm mọi cách để tán tỉnh rồi ngủ với Phương Nam, anh không dùng tiền như thằng Bá, anh chỉ có quyền lực, quyền lực sẽ cho anh trọn vẹn ước muốn, anh chấm Phương Nam rồi sẽ tiếp tục chấm đến những người đàn bà khác.

Chương 4

Phương Nam trở về nhà trong nỗi xao xác của người biết mình vừa để lộ ra cái lổ hổng tan hoang của cuộc sống. Cái lổ hổng đó nàng cố giữ để che mắt mọi người. Phan đi cải tạo năm thứ ba thì nàng không chịu nổi cái nổi dằng xé của xác thịt cùng những nhục cảm khoái lạc mà nàng đã hưởng cùng Phan trong những ngày tháng chồng vợ. Bây giờ thì ngày tháng đó đã hết, Phan đang ở một nơi xa có những cuốn hàng rào kẽm gai che lấp. Tình thương yêu, nhung nhớ, khát khao cũng theo ngày tháng vơi đi với nổi khổ chất chồng trên đôi vai nặng trĩu. Nàng từ bỏ thành phố xô bồ lên đây theo lời kêu gọi của ủy ban nhân dân phường, ký giấy xung phong đi kinh tế mới thì chồng sẽ được về sớm.

Đến khi dắt díu hai con đến đây, bước xuống khỏi chiếc xe tải chuyên chở đám dân đi kinh tế mới, thì nàng mới thấy hởi ôi. Vùng đất hoang vu rừng tiếp rừng, núi tiếp núi, nàng không cầm nổi cái rựa, cầm nổi cái hái, thì làm sao nàng làm được công việc nông tang. Nàng tách hẳn ra khỏi đám những người “vợ sĩ quan ngụy”, nàng không muốn đám người đó nhìn xoi mói vào cuộc sống nàng, nàng cố xin được ở ngoài mặt tiền đường để buôn bán. Nhờ nước mắt của nàng ràn rụa trước mặt ông Chánh, chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân, nàng được chấp thuận.

Với căn nhà mặt tiền đường ngoài lô 2, Phương Nam mở một quán nhỏ, bán cà phê và một ít đồ gia dụng như mì gói, bột ngọt, tôm khô. …Mới đầu thì những người đến nơi đây là khách trong thôn, trong xã, dần dần, khách là tài xế và lơ xe be, nàng âm thầm tìm cách để nuôi thân nên kết thân với những chàng trai tơ ấy.

Nói vậy, nhưng mỗi khi nhìn lại đời mình, Phương Nam thấy như mình đã bước đi những bước hụt hẩng, Từ từ, tấm thân nàng như rơi vào một khoảng trống không, không lối thoát. Mới đầu là sự cô đơn dằn xé nàng, rồi nỗi cực nhọc khi nàng bắt đầu cầm cái dao, cái rựa trên tay. Nương rẫy, rừng hoang thì bạt ngàn, nàng thấy mình không bước qua khỏi những bước tiếp theo, không thể bước qua được, không thể vương lên được. Nàng sẽ tóp teo, sẽ dầm mưa giải nắng, sẽ héo hon đi, rồi tuổi già sẽ sồng sộc tới. Nhiều đêm, nàng oán hận rồi trách móc người chồng đã bỏ nàng mà đi, đã không lo toan đùm bọc được nàng. Trong lúc rối bời với những thất vọng đó, cùng sự đòi hỏi xác thịt của người đàn bà hai mươi lăm tuổi, nàng rơi vào vòng tay Bá trong một đêm, Bá say khướt, nàng say khướt. Rồi đến Nam, đến Cương, đến Tạo, những người con trai mà Bá giới thiệu đến, nàng nhận những món tiền, những món quà, thế là nàng không giữ mình được nữa. Trên đà lăn đó, chỉ có một chút sáng suốt nhất thời, là những lần sau, trong đêm tối, đã hẹn trước, Phương Nam mò đến những chiếc xe be, nàng leo lên những chiếc xe be có Bá, hay Tạo hay Cương, đang nằm đợi sẳn. Nàng không tiếp ai ở nhà nữa, cho nó an toàn. Nhưng hôm nay thì Dậu đã đến, người phó công an xã đã bắt quả tang nàng nằm tênh hênh trên băng trước cabin, cùng Bá, nàng sẽ chối cải và giải thích với Dậu như thế nào đây?

Những người trai trẻ kia là khách vãng lai, đến rồi đi, một tuần, hai tuần, một tháng, đi, rồi trở lại, còn Dậu, người cư dân địa phương này, lại là phó công an, con bài tẩy của nàng đã bị lật ra, nàng còn cái gì để che đậy.

Trời mùa hè buổi trưa nắng chói chang, còn ban đêm thì tối đen như mực mài. Căn nhà nhỏ của Phương Nam để loe hoe ngọn đèn dầu, một mình nàng nằm trên chiếc chỏng tre, nơi bàn kia, hai đứa con nàng đang ngồi học bài, hai đứa, im lặng, chẳng đứa nào nói chuyện.

Đêm kinh tế mơi im lìm đến rợn người, Phương Nam lên tiếng bảo con bé Thy:

“Hai đứa lo đi ngủ đi mai còn dậy sớm đi học, khuya lắm rồi đó nghen.”

Thy là con gái đầu của nàng, năm nay bảy tuổi, con bé lầm lì ít nói, thằng An, năm tuổi, tuổi thơ của bọn nó đang ở trong bóng đêm lặng ngắt.

“- Dạ”

Chỉ có một tiếng đáp nhỏ rồi hai đứa im lặng xếp sách vở đi vào cái chỏng phía bên trong nằm ngủ.

Khoảng 11 giờ đêm. Thời gian im lắng đến lạ thường, Phương Nam trở mình mấy lần mà không ngủ được. Bóng đen vẫn bao trùm trên căn nhà nhỏ vùng kinh tế mới.

Dậu một mình rảo bước đến nhà Phương Nam. Từ trụ sở công an, anh đi bộ băng trên con đường đất đỏ, đôi dép râu không bám chặt đất sình kêu lệch xệch theo bước chân anh, nỗi ám ảnh không rời về thân hình một người đàn bà lỏa thể với cặp đùi trắng ngần, đôi mắt long lanh đong đưa, khiến Dậu đứng ngồi không yên, anh trở về cơ quan công an, sau khi mua một lít đế với con gà quay ở quán bo bo Hoàng, cho bọn đàn em bày ra uống rượu, nửa chừng thì anh đứng dậy lắc vai:

– “Thôi tụi bay tiếp tục nhậu đi, tau về ngủ, mấy hôm nay đi tuần tra mệt bỏ mẹ.”

Bọn du kích xã hay công an viên, thường cùng theo Dậu đi kiếm ăn cò con, khi thì kiếm bữa nhậu với mấy tên đón gỗ lậu trong rừng, khi thì đến nhà có lính ngụy cũ, cười nói bang quơ xen lẫn doạ dẫm để kiếm con gà, con vịt hay vài chục bạc dằng túi. Thường Dậu vẫn nhận phần hơn, nhưng anh cũng biết chia chát sao bọn này không làm ồn ào, sẽ mất uy tín của anh với quần chúng.

Ông Chánh, chủ tịch ủy ban nhân xã kiêm trưởng công an, người thay thế cho Hãn khi Hãn được đề bạt lên huyện làm việc. Ông Chánh nhìn bên ngoài thấy chững chạc, có vẻ hiền, nên Dậu thường nhân danh phó công an, qua mặt ông. Dậu tự tay quyết định mọi chuyện trên địa bàn xã, anh được đám đàn em theo sau phò tá, nên người dân ở đây thường biết đến Dậu nhiều hơn ông Chánh.

Dậu nghĩ đến đôi chân dài và cặp đùi thon của Phương Nam mà lòng nóng rang như lửa đốt. Anh có cái thèm khát nóng bỏng lúc ban đầu, nhưng anh cũng có cái lạnh nhạt của người khi đã được thoả mản. Cái đó đàn bà không ưa, nhưng cũng là ưu điểm cho anh, khi anh muốn bỏ rơi một người đàn bà nào, thì gương mặt anh lạnh như tiền, coi như từ trước đến giờ chưa hề gặp mặt hay giao du. Anh có cái lanh lợi, khéo léo của người có mưu đồ, anh bắt chước kiểu chơi qua đường rồi bỏ, của những đàn anh “đồng chí” trên huyện, trên tỉnh. Biết bao nhiêu cô du kích, cô thanh niên xung phong, ôm bụng bầu khóc thương cho những đứa con không cha, dù cha còn sống sờ sờ ra đó, mà uy danh lớn quá nên không dám nhìn. Kiểu chơi qua đường rồi bỏ, làm mặt xa lạ tỉnh queo dễ nể của mấy anh trên, khiến Dậu phục, và quyết tâm theo con đường đó.

Muốn làm lớn phải có âm mưu, thủ đoạn chứ. Hiền quá để nhân dân qua mặt sao?

Đó là cái tính toán quá đà của Dậu, chứ thực ra Phương Nam chỉ là một người đàn bà tay yếu chân mềm, chính quyền hù doạ bắt nàng đi kinh tế mới thì nàng đi, nhưng lên đây vơí tính cách như đem con bỏ chợ của chính quyền, nàng chấp chới trong một tình huống khó khăn, không còn con đường nào khác nên nàng đành phải làm gái lén lút cho một số người. Nàng như con cá bị mắc câu, cho dù có quẩy đạp bao nhiêu cũng bị mắc vào lưởi câu rồi, đâu còn cách nào quậy cựa.

Ông Chánh, chủ tịch ủy ban nhân dân kiêm trưởng công an. Ông lên đây với diện độc thân. Nhờ mấy năm nhảy núi nên sau ngày giải phóng ông có công với cách mạng. Ở thành phố, ông theo chân đoàn cải tạo tư sản, đi khám xét nhà cuả những tay, mà cách mạng gọi là, tư sản mại bản, ông đã cầm hai cây vàng của một khổ chủ, để khổ chủ tẩu tán tài sản. Nội vụ đổ bể, ông bị đưa ra kiểm điểm, ông đã giao nộp hai cây vàng cho trưởng công an quận, ông trưởng công an cầm lấy, khen ông có tính tự giác cao, rồi im lặng bỏ đi, không lập biên bản cũng như không có biên lai nhận. Ông Chánh không dám nói một lời nào mà còn mang ơn anh hai công an trưởng nữa. Thấy làm ăn ở thành phố không khá vì ông đang ở diện bị theo dõi, ông bằng tình nguyện đi kinh tế mới. Ông được huyện ủy đề bạt vào lãnh đạo xã. Ông nắm chức vụ cũng mấy năm rồi, người ta nhìn vào ông với mái tóc muối tiêu, luôn đội nón cối và đi dép râu, ai cũng ngờ ông là thứ dữ. Năm nay trên năm mươi tuổi, ông nghĩ mình đã hết thời, ông trở về vị trí của ông già “lão giả an chi”.

Năm ngoái ông lấy cô Mai, cô giáo viên tiểu học, góa chồng, tuổi xấp xỉ bốn mươi. Đôi vợ chồng sống bình yên, ông làm trưởng công an chỉ trên bề mặt, còn chuyện an ninh ông giao cho Dậu, thỉnh thoảng Dậu đem biếu ông mấy chục ngàn, ông nhận và im lặng cho Dậu làm ăn.

Nhưng sống với cô giáo Mai, bò ăn cỏ hoài cũng ngán, nên ông để ý thêm mấy người đàn bà trong lô bốn, đó là những người đàn bà hiện còn xuân sắc, có vài cô là bạn với Mai, nhỏ to tâm sự với Mai chuyện trên trời dưới đất, nên ông ngần ngại.

Những ngày gần đây, ông hay ra quán Phương Nam để uống cà phê, thật ra, là ông muốn dòm đôi chân dài của Phương Nam, bầu vú săn chắc của Phương Nam ẩn khuất dưới cái áo bà ba bằng vải xa teng mỏng mà không có su- cheng. Ông nghĩ phía bên trong đó có biết bao điều bí ẩn, ông ngồi uống cà phê mà mắt cứ liếc ngang liếc dọc, mắt chạy từ đôi gò má phúng phính, chạy xuống cái lưng ong cong cong thoai thoải, xuống cái mông nở nang nầng nẩng, rồi ông dừng lại ở chán ba, ông thầm nuốt nước miếng, nghĩ đến cô giáo Mai với tấm thân khẳng khiu. Máu giang hồ của những năm hai mươi, ba mươi, sống trong rừng, làm ông chấp chới.

Ông phải chiếm đoạt, phải được thoả thuê, ông là vua xứ này mà, ông là con hổ chỉ nằm nghĩ chân trên bệ đá một thời gian, ông sẽ vương vai, sẽ nhún một cú nhún rồiù nhảy thật xa, chẳng có gì mà ông không đạt được.

Như vậy là có hai người đang để ý tấn công Nam Phương, ông Chánh thì ôn tồn, từ tốn trong hành động, còn Dậu thì lòng trai dào dạt, sức trai tràn trề, nên muốn tung hê nó ra.

Dậu ra tay trước. Dậu quyết phải thành công trong chiêu thức tuyệt luân của mình.

Ngọn đèn trong nhà hiu hắt, Phương Nam vào giường nằm. Căn nhà im vắng, hai đứa con đã ngủ say. Phương Nam chợt thấy nổi hiu hắt của cuộc sống, nàng chỉ là bến đò, những Bá, những, Trác, những Tạo, những Hải, những đứa con trai đã nằm trên thân thể nàng, đã đem cho nàng cơn khoái lạc chất ngất và những đồng tiền nhàu nát, cũng trở về sâu trong trí nhớ bọt bèo, đó là những hình bóng rời rạc, đến rồi đi, nàng nghe âm vang trong tiềm thức sâu kín của mình, tiếng nói của người chồng mắt lệ nhòa, hùng hổ xỉa xói vào mặt nàng, đồ đĩ, đồ đĩ, đồ thối tha!

Nàng ứa nước mắt, trong thâm tâm nàng thấy một lỗ hổng lớn trong cuộc đời mình bị xoi mòn, nàng đau đớn châu thân và cả linh hồn nàng nữa.

Nhưng không có gì đè bẹp nổi khao khát thèm muốn một xác thân tựa kề, gần gũi, trong những đêm lạnh giá như đêm nay, những đứa con trai đi qua nàng rồi mất hút, tụi nó cũng sợ tai tiếng của những thằng con trai mới lớn, là đã ngủ với một người đàn bà có chồng.

Rốt cuộc, nàng chỉ là món đồ chơi, chỉ là một nơi để tụi nó tìm kiếm khoái lạc, có phaỉ vậy không?

Nhưng em phải tìm kiếm một nơi an lành, một vòng tay ấm áp, một nơi em có thể tựa kề, em cô đơn quá, Phan ơi, anh ơi, nàng kêu tên người chồng xa lắc trong nỗi tuyệt vọng khôn nguôi.

– “Mở cửa, mở cửa, công an xét hộ khẩu.”

Phương Nam giật mình, tiếng kêu là giọng của Dậu, mới hồi tối, Dậu đã nhảy lên cabin xe, đã nhìn rõ thân hình đang hựng hực hơi hám đàn bà, đã lấy của Bá hai trăm ngàn đồng, số tiền đáng lẽ Bá cho nàng. Bây giờ hắn còn tới đây làm chi.

Phương Nam khẽ khàng động đậy chiếc chỏng tre, những mảnh giát giường cong lên kêu ken két, theo nhịp thở của Phương Nam. Tiếng kêu cửa nhỏ đi, nhưng tha thiết hơn, mở cửa, mở cửa. Phương Nam nghĩ, một là Dậu tưởng nàng sẽ dắt đám xe be về nhà hành lạc, hai là anh chàng nay muốn kiếm chát cái gì đây, chứ đêm hôm khuya khoẵc thế này, căn nhà của nàng còn chứa chấp ai.

Tiếng kêu ấy, nhỏ lại như một sự van xin, kèm theo một sự quyết liệt của ý chí, nhất quyết sẽ mở được cửa, phải làm được chuyện này hôm nay, đêm nay, ngay giờ phút này. Phương Nam ngồi dậy bật diêm thắp đèn, chiếc đèn bấc nhỏ, chỉ sáng lù mù. Nàng lê đôi dép lệch xệch đi ra phía cửa, mở then cài, cánh cửa vừa mới lệch sang một bên là Dậu đã tuôn vào như cơn gió.

Dậu soi đèn pin một lược vào khắp căn nhà, Dậu nói trong hơi thở hào hển:

“- Có ai ngủ trong kia không?”

“- Không có ai, chỉ có hai đứa con”.

Nàng nói trổng không.

Dậu tiếp:

“- Bọn nó dọt hết rồi hả?”

“- Anh nói ai?”

“- Thì bọn thằng Bá”

“- Đâu có đến đây.”

Dậu xuống giọng:

“- Sao em làm vậy?”

Phương Nam cố nói rất nhỏ, cho âm chùng xuống:

– “Không làm vậy lấy gì mà nuôi hai đứa con.”

“- Thì buôn bán, làm ăn,”

– “Buôn bán mà ra cái hồn gì.”

Dậu nhìn khuôn mắt Phương Nam chìm trong bóng tối, Gương mặt trắng bị lấp khuất bởi bóng tối, một gương mặt xinh đẹp, tràn đầy sức sống, đam mê, tự dưng, nổi háo hức cùng bóng đêm đồng lỏa khiến Dậu buông thả, anh tấn công vào điểm chính yếu, hai tay anh ôm choàng lấy Phưong Nam, ghì nàng xuống, hôn trên mặt, trên môi, trên cổ. Phương Nam ú ớ, nàng xoay nhẹ người nhưng không thoát khỏi đôi tay rắn chắc của Dậu, Dậu đưa bàn tay ôm lấy bộ ngực của Phương Nam, đôi vú vun cao anh đã thấy buổi tối, bây giờ phập phồng vì cảm giác, chập choạng.

Phương Nam rên lên:

– “Đừng anh, đừng anh, không được đâu.”

“- Sao mà không được, em cho anh, anh sẽ hơn bọn thằng Bá , thằng Cường, anh sẽ hơn hẳn, anh sẽ bảo bọc em, em sẽ là cùa anh. Anh đã để ý đến em bao lâu rồi, anh đã mê đắm em bao lâu rồi, em biết không?”

Giọng bắc kỳ tha thiết, khiến Phương Nam tưởng là thật, là Dậu đã đắm say mình từ lâu.

Dậu nói tiếp:

– “Em tin anh đi, anh thích em từ lâu lắm, nhưng anh không giám nói ra, anh phải giữ cương vị của anh, bây giờ thì anh không muốn em ở trong vòng tay ai nữa, em là cùa anh, anh yêu em, Phương Nam Phương Nam, em biết không?”

Câu nói đó không phải của Dậu mà của ai khác gắn vào miệng Dậu, cho Dậu nói lên, để anh chiếm được Phương Nam.

Đàn bà thường hay cảm động và tin người dễ dàng, nàng lịm mình đi trong cái ghì siết của người đàn ông, nàng chết điếng trong vòng tay trai trẻ đam mê ngùn ngụt lửa này. Thế là nàng buông thả, ai cũng mặc, ai cũng được, miễn là đàn ông, đến làm nàng sung sướng và cho tiền nàng, chẳng lổ lã gì cả.

Dậu bế nàng vào đặt lên chiếc giường tre, tiếng giạt giường kêu lét két cùng tiếng kêu như con heo khi bị cắt tiết của cả hai người.

Thời đại xã hội trải qua nhiều cảnh bất trắc, tàn khốc và bạo liệt. Những năm xưa của thời phong kiến thì có chánh tổng, lý trưởng, hương sư, chức mục, dần dần biến đổi qua từng giai đoạn, hồi quốc gia thì gọi là xã trưởng, trưởng chi cảnh sát, chung quanh đó có hội đồng xã, ủy viên hội đồng, nay chính quyền mới có thêm bí thư xã ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân, trưởng công an, công an khu vực… tên gọi có khác nhau, nghe kêu hơn, nhẹ nhàng hơn, đầy ắp nhân dân tính, nhưng tựu trung nó là quyền lực, quyền lực xã thôn, quyền lực trung ương, nó na ná nhau.

Đó là lãnh đạo.

Lãnh đạo cấp thôn ấp, lãnh đạo cấp quận, tỉnh, thành phố…từ “lãnh đạo” nghe có vẻ dân chủ nhưng đầy ắp quyền hành.

Lãnh đạo xã gồm có bí thư đảng ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân, công an. Đó là bộ sậu nắm quyền sinh sát của xã, nó là cách mạng, là đại diện giai cấp công nhân và nông dân, đã đứng lên đạp đổ áp bức, giải phóng dân tộc và nay khối người ấy, đại diện của xã kinh tế mới này là ông Chánh và Dậu.

Ông Chánh là bí thư, kiêm chủ tịch ủy ban, kiêm trưởng công an. Nhưng ông Chánh là người ngồi ngó, nhìn và hưởng. Dậu là người thi hành và hưởng.

Quyền lợi của xã là mấy trăm hộ dân, đang khai khẩn nương rẫy bên trong bằng rựa, dao, liềm, cuốc xẻng. Mỗi mùa các hộ thu hoạch thóc, đậu, nấm rơm, tất cả phải đóng thuế cho xã. Xã thu thuế thêm của dân ngoài lộ, các hộ bán cà phê, tạp hoá…chừng đó cũng đủ nuôi hai cái mồm và gia đình, một của ông Chánh, hai là của Dậu, và đám lâu la dăm bảy đứa.

Nhưng món ăn chính không phải là thuế của dân, món ăn chính là làm chốt giữa đường, nhằm bắt những xe chở gỗ lậu, những xe chuyên chở cà phê, thuốc lá trái phép. Những cái ấy cho Dậu sống an nhiên, có tiền tiêu xài đều đều và tìm đến những gia đình có những đàn bà xuân sắc, có chồng hiện đang bị cải tạo tập trung.

Dậu hả hê khi chuyện ấy xong, anh nhắm mắt lại và tận hưởng cái khóai cảm còn lại chạy râng râng trong người. Với sức trai ba mươi, Dậu như con bò mộng trườn lên thân thể Phương Nam, con bò mộng trong đấu trường La Mã, mãnh liệt lao vào tấm vải đỏ của người đấu bò, anh ra sức tấn công Phương Nam bằng sức trai trẻ đầy ham muốn, với cái đầu hớt tóc ngắn ba phân. Cảm giác đó rờn rợn đến độ Phương Nam phải nhăn mặt la lên thản thốt, anh ơi, em chết mất, tiếng kêu đó như là nối tiếp tiếng kêu buổi tối ở trên cabin xe be, Bá cũng hùng hổ lúc ban đầu, nhưng sau khi bị Dậu phá đám, bắt nộp tiền lệ phí, thì Bá mất cái phong độ hứng khởi đó, nên sau khi Dậu cùng lũ đàn em đi rồi, Bá cố vớt vát nhưng không được sung độ như trước, một phần vì Bá bị phá đám nửa chừng, một phần là Bá tiếc của, hai trăm ngàn phải móc bóp nộp cho bọn Dậu, cơn bực tức ám ảnh, nên Bá cứ suy nghĩ, làm nhịp độ của cuộc vui bị phân tâm, có phần tẻ nhạt, điều đó khiến Phương Nam chơi vơi trong trạng thái hụt hẩng, nàng chưa đạt tới đỉnh cao thì Bá đã thở hồng hộc và nằm vật ra.

Thế là nàng ôm hận “nửa đường đi xuống”, nàng âm thầm mặc quần áo rồi xuống xe trong khi Bá bắt đầu ngáy. Nàng ở trong tâm trạng phẩn chí vì cuộc vui chưa đạt, cái hậm hực đó khiến nàng tức tối trong lòng. Về nhà, nằm trên cái chỏng tre, nàng định dỗ giấc ngủ mà mắt cứ chỏng chơ, có một cái gì cựa quậy lay động phía dưới thân thể làm tê tê da thịt, đó chính là cái ray rức, thèm muốn, những cảm giác chưa thoả, còn đọng lại.

Những lần như thế này trước đây, khi nghĩ về một người đàn ông, nàng thuờng tự mình kiếm tìm cảm giác, nhưng bây giờ cái thèm muốn lẫn cái mệt mỏi khiến nàng nằm yên, mắt ngó tráo trưng vào bóng đêm thanh vắng.

Cho nên thân xác nàng bùng lên khi Dậu húc đầu vào những chỗ bén nhạy của nàng, nàng thấy hả hê khi nhận được những động tác mạnh bạo của Dậu, thay thế cái yếu ớt của Bá. Cảm giác phủ phê tràn đầy của nàng lại sống dậy bừng bừng, nàng la hoảng lên như có ai xẽ từng miếng thịt của nàng ra, xẽ bằng những đường dao bén ngót làm rách tươm, rướm máu. Sau đó, Dậu phủ lên người nàng như con gấu to bè phủ lên con cừu non. Phương Nam tan thành từng mảnh nhỏ, mảnh nhỏ bê bết những vết gươm đâm ngập ngụa.

Bây giờ thì Dậu nằm đây, ngó mặt lên trần mùng, hút thuốc. Cái rã rời làm anh thấy mình thênh thang trong ý nghĩ chiến thắng. Có thể đây là người đàn bà thứ mấy mươi của anh, anh cũng không nhớ nỗi. Những cô gái da nâu bóng của xứ người mà anh đã trải qua, cũng chỉ là những hình bóng mờ khuất trong ý nghĩ, còn việc lớn, anh cần làm là cái bực thang quyền lực anh đang bước đi trên đó, anh sẽ phấn đấu, phấn đấu bằng mọi cách để tiến lên từng bước, phó công an rồi sẽ là trưởng công an, rồi sẽ lên huyện, lên tỉnh, tất cả các ngã đuờng sẽ thênh thang chờ đón anh. Phương Nam là con mồi, anh sẽ không dừng lại với cái bóng sắc kia, anh sẽ bước những bước thật chắc với những người đàn bà khác mà anh dự tính, sẽ đến Nguyệt, sẽ đến Tâm, sẽ đến Kim Anh. Những người có danh sách trên bản phong thần là vợ những sĩ quan ngụy nõn nường.

Dậu biết mình đã làm thoả mản được Phương Nam, chuyện ban phát khoái lạc cho những người đàn bà xa chồng. Dậu cười một mình trong bóng đêm, anh nhìn Phương Nam đang ngủ say, gương mặt nàng vẫn thanh tú, nàng ngủ say sưa vì mới trải qua một cuộc vật lộn mệt nhọc. Cái vẽ thỏa thuê trên gương mặt như không có một chút ưu tư nào đó, khiến Dậu coi như mình đã ban ơn, đã nhiều lần anh nghĩ thế và tự hào cho mình với những người đàn bà khác, nên anh có quyền không bù đắp cho họ những vật chất mà họ cần. Anh nghĩ rồi Phương Nam sẽ cần anh, sẽ nuôi anh, coi anh là một tình nhân đầy sức sống, anh là một thứ đĩ đực trá hình.

Để cho Phương Nam ngủ, Dậu sè sẹ ngồi dậy mặc quần áo rồi rút êm. Bóng đêm bên ngoài chập choạng, anh một mình đi trên đường thênh thang trong đêm khuya, anh không sợ ai chặn hỏi, vì người chặng hỏi phải là anh, vì anh là công an.

Chương 5

Vùng đất kinh tế mới không là vùng đất bình yên nữa. Cuộc sống giữa rừng là nơi các hào kiệt tìm đến. …Hào kiệt đây, được hiểu là những hảo hớn anh chị,..đã một thời ngang dọc ở Sài Gòn hay các tỉnh thành lân cận. Khi bị động ổ ở những nơi đó, các tay anh chị thường tìm cách lánh nạn ở những khu kinh tế mới. Ở đó, trật tự an ninh lỏng lẻo, sự kiểm soát còn tùy tiện, chính quyền mới thành lập, nhân sự thường chuyển từ bộ đội sang, mà thành phần này, cũng vì những hành vi bất hảo trước đó, nên bị đày lên đây. Cho nên, khu kinh tế mới thường là nơi trú ẩn an toàn cho những tay tội phạm.

Như tằm ăn dâu, Dậu lần lượt tán tỉnh và ăn nằm được với mấy người đàn bà vợ sĩ quan ngụy. Anh dùng những đòn cũ, tung rồi hứng, hứng rồi tung. Sau Phương Nam, anh tiếp tục trên danh sách đã định sẳn. Phương Nam biết cái thế của mình, nên nàng âm thầm lo liệu cho cuộc sống riêng. Cô vẫn là cái bãi đáp cho những chàng trai trẻ, cô yên tâm với công việc của mình, Dậu cũng làm lơ cho.

Qua những người đàn bà thấp cổ bé miệng ấy, Dậu đã thành công. Tuồng cũ soạn lại, cũng làm vẻ của một người cầm quyền đầy lòng nhân ái, giúp đở cái này, ủng hộ cái kia, rồi một lúc nào đó, tìm kẻ hở của đối phương, đến nhà hạch sách, hù dọa, rồi lại an ủi vỗ về. Đến lúc chín mùi Dậu ra tay hái. Mọi chuyện đều xãy ra như dự tính, những người đàn bà im miệng không ai dám nói ra, ai cũng nghĩ chỉ có mình mình và Dậu biết, mà đúng vậy, Dậu dại gì đem chuyện riêng ra nói, anh ngậm miệng ăn tiền.

Đến lượt Nguyệt.

Dậu đã nhiều lần kêu Nguyệt lên công an xã để hỏi về tình hình học tập cải tạo của Phục. Lúc thì an ủi vỗ về, lúc thì hăm he.

Nguyệt phải bỏ một ngày vào rẫy thu hoạch đậu xanh để lên công an, theo lời nhắn của công an khu vực, “chị lên trụ sở công an xã, anh Dậu, phó công an, mời chị lên làm việc”. Nguyệt hỏi lại, có chuyện chi không anh? Người công an khu vực bí mật nói, chị lên đó sẽ biết.

Nguyệt suy nghĩ, cuộc sống của nàng ở kinh tế mới thế này là mạt hạng rồi, không thấy mặt trời, mặt trăng, ánh sáng, suốt ngày vào rẫy với đôi tay cầm cái xẻng, cái cuốc, bàn tay sần sùi chai cứng, nàng cố làm để đợi ngày Phục về, cái đói, cái rét, cái thiếu thốn làm nàng mệt lã, nhưng nàng gắng gượng sống. Không biết sao hôm nay lại có lời mời của công an?

Nguyệt dựng chiếc xe đạp bên hiên trụ sở, nàng bước vào với sự hồi hộp của người dân bị trị. Trụ sở vắng tanh, không có ai, thường, trụ sở công an buổi tối mới có người trực, còn buổi sáng thì chỉ có hẹn làm việc với ai thì mới có bóng dáng công an, như hôm nay, chỉ có Dậu, vì Dậu đã hẹn với Nguyệt, con mồi mà anh đang dăng bẩy.

Nghe tiếng dép lệch xệch ở ngoài sân, Dậu biết Nguyệt đã tới, nhưng anh vẫn ngồi ở trong phòng để Nguyệt đứng lớ ngớ dò tìm, một lúc lâu, Dậu mới lên tiếng:

– “Ai đó, mời vào trong nầy”

– “Tôi đây, tôi đến công an theo lời dặn của anh công an khu vực.

” – “A, chị Nguyệt, mời chị vô trong này.”

Nguyệt lò dò vào phòng trong, phòng cũng chỉ một cái bàn gỗ tạp đơn sơ, mấy cái ghế vuông được đóng sơ sài để tiếp dân, Dậu ngồi trên cái ghế dựa cũng bằng gỗ tạp nhưng đóng chắc chắn và công phu hơn.

Dậu ngước mắt lên nhìn Nguyệt bằng cái nhìn nhẹ, ưu ái và vồn vã:

– “Chị Nguyệt, chị khoẻ không? Chị ngồi xuống đi.”

Nguyệt rụt rè ngồi xuống chiếc ghế vuông. Nàng nhìn quanh quất căn phòng, lá cờ màu đỏ, khẩu hiệu màu đỏ, tám điều bác Hồ dạy công an nhân dân, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, nàng nghe ngột ngạt khó thở.

“- Thưa anh, anh gọi tôi đến có chuyện gì không ?”

Dậu nói giọng rất nhỏ:

“- Chị cứ an tâm đi, chẳng có chuyện gì đâu, chúng tôi muốn hỏi chị ít chuyện về gia đình thôi.”

Nguyệt nóng ruột:

“- Có chuyện gì anh cho biết.”

Dậu nhìn vào khuôn mặt của Nguyệt, có thể nói khuôn mặt ấy là một khuôn mặt đôn hậu, nhỏ nhắn và dễ thương. Khuôn mặt không lộ ra ngoài cái đẹp sắc sảo của thiếu phụ xuân thì đa tình, lẵng lơ của đào lẵng cải lương, của ca sĩ rẻ tiền ca nhạc sến, mà là cái đẹp của thiếu phụ Nam Xương, thủ tiết thờ chồng. Dậu đã biết qua những tin tức thu lượm từ đám đàn em, nhưng anh chỉ cười khẩy, để đó rồi coi con miêu nào thắng con miểu nào đây. Anh có cách của anh, vừa nhu vừa cương phải lúc, anh cũng học theo những bài học anh coi ở những tuồng cải lương, ở những phim truyền hình, mô tả cảnh các quan hương mục chức sắc xã ấp thời phong kiến, họ xuống dưới dân, chèn ép tá điền thế nào, bắt gái tơ về làm lẻ thế nào, anh cũng bắt chước như vậy, nhưng anh làm có thủ thuật hơn.

Cuộc sống nó xoay vần trăm hình vạn trạng, chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa nhân dân, nên anh cũng tùy cơ ứng biến chiêu thức của mình cho hợp với thời đại, anh khôn lanh nhận ra điều đó.

Dậu cười, nụ cười cố làm ra cởi mở:

“- Chúng tôi muốn mời chị lên đây để trao đổi với chị vài điều, thứ nhất là hỏi thăm về anh Phục, lâu rồi chị có được tin tức của anh Phục không?”

“Anh Phục hiện đang học tập cải tạo ở trại Gia Trung, sức khoẻ cũng tốt, vài ba tháng ảnh có viết thư về, biểu tôi ra thăm, nhưng tôi không có tiền đi, thỉnh thoảng tôi gởi quà qua bưu điện.”

– “Thế hả chị, thế thì tốt, nếu lúc nào chị muốn đi thì nói cho xã biết, tôi sẽ cấp giấy phép đi đường.”

– “Dạ, tôi cũng muốn đi thăm ảnh một chuyến, nhưng thấy khó khăn quá, hai đứa con thì còn quá nhỏ dại, rẫy bái bỏ cho ai. Cũng nhờ nương rẫy kiếm hột đậu, củ sắn nuôi con, nên đâu có dư dã gì mà đi, anh.”

Lúc này Dậu tỏ ra là tay hào hiệp:

“Tôi biết khó khăn của các chị, ai hồi trước cũng lên xe xuống ngựa, bây giờ sống như thế này, cũng khó khăn vất vã lắm, nhưng thời nào theo thời ấy chị à, anh đi học tập cải tạo tốt thì cũng về sớm thôi, chị cố gắng, nếu chị muốn đi thăm thì cứ nói với tôi, nếu được tôi phụ giúp tiền xe.”

Nguyệt mở chong mắt lớn:

“- Xin cảm ơn anh, nhưng tôi không giám đâu, để đó rồi hẳn hay, chắc anh Phục cũng thông cảm hoàn cảnh của mẹ con tôi mà không buồn, không trách.”

Dậu vẫn giọng ôn tồn:

“- Chị đừng ngại gì, chính quyền hiện nay là của nhân dân, giúp đở các chị trong trường hợp neo đơn là bổn phận của chúng tôi thôi. Nếu chị ngại thì thôi, khi nào cần thì chị cho biết nhé.”

Rồi Dậu đổi ngay sắc mặt, anh lập nghiêm, mắt quắc lên:

“- Thôi bỏ qua chuyện đó đi, bây giờ tôi hỏi chị thêm một chuyện, anh Hải, em ruột chị, vượt biên hồi bảy lăm, qua Mỹ, nay có liên lạc về với chị không, có quà cáp gởi về không, có xúi giục chị đi vượt biên không?”

Đã đến lúc, Dậu lật con bài tẩy của Nguyệt, mà Nguyệt đã dấu từ bao lâu nay. Hải, người em ruột nàng, là sĩ quan hải quân, đã theo tàu ra đi từ năm bảy lăm. Nguyệt tưởng đứa em trai của nàng đã chết, đã mất tích trên biển đông, nàng đã khóc hết nước mắt sau ngày ba mươi tháng tư năm ấy, khóc chồng ngồi đếm lịch trong những lò học tập cải tạo tập trung, rồi khóc đứa em trai duy nhất đi ra biển khơi biệt mù không tin không tức.

Nhưng cách đây khoảng nửa năm, một người đàn ông lạ tìm đến nhà nàng, đưa cho nàng bức thư của đứa em viết cho nàng từ nước Mỹ, nàng đọc lá thư vừa mừng, vừa lo sợ, vừa thương, biết bao nhiêu cho hết. Rồi sau đó, Hải đã gởi về cho nàng mấy thùng quà, chỉ thuốc men, quần áo. Nàng bán đi trong âm thầm, rồi mua quà gởi cho Phục, và tằn tiện nuôi con. Nàng cố dấu nhẹm đi chuyện ấy, vì nàng biết rằng, chuyện này đến tai công an, đến tai chính quyền, điều trước mắt là sẽ bị chia phần, sẽ bị làm khó dễ đủ điều, chuyện tưởng không ai biết mà Dậu biết, bây giờ biết nói ra làm sao đây.

Nguyệt tự trấn tỉnh mình, nàng nghĩ Dậu đã đánh phủ đầu mình như vậy thì nàng chẳng còn gì để mà dấu diếm, chuyện chiến tranh, chuyện thua trận, chuyện di tản là chuyện xảy ra trên cùng khắp đất nước, đó là sự sinh tồn, chẳng có gì mà dấu diếm nữa.

“- Thưa anh, thật ra thì tôi có đứa em trai đã di tản sau ngày ba mươi tháng tư bảy lăm, hiện giờ đang ở Mỹ, nó mới liên lạc về với tôi, có gởi cho tôi mấy lần quà. Nhưng Hải chẳng khuyên bảo và hứa giúp đở gì cho tôi vượt biên cả.”

Dậu đập khẻ tay lên bàn:

– “Tốt, tốt, chị thành thật như vậy là tốt, nhưng chị phải biết chuyện ra đi của anh Hải là phản động, là chống lại sự giải phóng đất nước của đảng ta, của cách mạng, chị phải hiểu như vậy. Với quyền hành của công an xã, tôi xin chị về làm bản tự khai rõ ràng về mối quan hệ này, chị kể rõ ràng bao nhiêu lần chị liên lạc với anh Hải. Chúng tôi phải làm sáng tỏ.”

Dậu rút trong ngăn bàn một xấp giấy trắng, khoảng 5 tờ, đưa cho Nguyệt, anh cố nói cho giọng nhẹ nhàng hơn.

“- Chị an tâm không có gì phải suy nghĩ và sợ hải, chị cứ về viết đi, có gì chị cứ thành thật khai báo, chúng tôi chỉ cần biết sự thật thôi, chị đừng lo lắng quá.”

Đó là cú đánh phủ đầu của Dậu làm Nguyệt hơi lùng bùng lỗ tai, nhưng nàng nghĩ, mình chẳng làm gì nên tội, nhưng dĩ nhiên, là đàn bà, nỗi lo lắng làm sao tránh khỏi.

Nàng cầm xấp giấy trắng mà lòng rối bong tơ vò, nàng nghe những lời của Dậu văng vẳng bên tai:

“- Hôm nào tôi sẽ ghé thăm chị, chị yên tâm đi nhé, chị còn đẹp lắm, chị phải sống cho chị, chẳng nên để hoài tuổi xuân.”

Câu nói đãi bôi tán tỉnh của Dậu, khiến Nguyệt cảm thấy như mình là nhân vật cô Mai trong Nửa Chùng Xuân của Khái Hưng, quyển truyện mà Nguyệt đã từng đọc hồi còn trung học, cô Mai bị ông Hàn Thanh, một quan chức giàu có ở quê, đã tán tỉnh cô, ép duyên cô, khi cụ Tú Lãm, cha cô, đau nặng, định bán nhà. Ơi hai cảnh đời sao mà y hệt, có khác chăng là mỗi thời đại khoác lên mình một tấm áo khác, một nhãn hiệu khác.

Nàng nói giọng khô khốc:

– “Cảm ơn anh, chào anh tôi về.”

Đó là bước đầu dằng mặt. Gọi Nguyệt lên, an ủi vỗ về vài câu, những câu nói nhân nghĩa tràn đầy. Rồi tìm chỗ hở, chỗ nhược, của đối phương mà tấn công. Con mèo vờn con chuột ra sao thì chiêu thức của Dậu đối với Nguyệt cũng vậy. Chuyện vượt biên, chuyện đi Mỹ là chuyện tối ư quan trọng trong thời điểm này. Dân chúng ùn ùn tìm đường ra đi, cơ quan cấp trên đã có chỉ thị cho cơ quan cấp xã ấp ngăn ngừa, nhất là các xã vùng ven, ven biên giới Campuchia, ven bờ biển, nơi đó là những bãi đáp lý tưởng của đám vượt biên, nên khu này, cũng gần sát biên giới được lưu ý đặc biệt.

Dậu hăm he, gầm gừ, doạ nạt với Nguyệt là đúng, đúng chính sách của chính quyền và đúng kế hoạch của anh.

Nguyệt về rồi, anh mĩm cười đắc thắng, nghĩ đến tấm thân kiều diễm ấy, anh trở thành người mơ mộng. Đàn bà là một thế giới huyền ảo, đầy bí mật, sự chiếm đoạt, ân ái, truy hoan, với mỗi người đàn bà, ở mỗi người đàn bà, mỗi người một vẻ, cho nên trong niềm ham mê tột độ ấy, đoạn đường anh đi qua còn dài, mỗi người đàn bà là mỗi đóa hoa đầy hương sắc, với Nguyệt, nàng đã đi đúng quỹ đạo anh vạch ra, anh thấy mình đã thành công một nửa, anh hỉ hả trong lòng.

Nhưng Nguyệt thì nàng chấp chóa trong đầu sự lù mù ẩn ý của Dậu. Đã mấy năm, sống hẩm hiu một cảnh đời đen bạc, thờ chồng nuôi con. Nguyệt đã vượt qua nhiều chặng đường, mà chặng đường cầm cái rựa, cái xẻng, cái cuốc, phát rẩy, trồng rau, là chặng đường oan nghiệt nhất. Nàng đã cắn răng chịu đựng, phải nhìn những ngón tay rỉ máu, sần sùi, lở loét, mới thấy cái ghê gớm của sự đày ải. Thế rồi tháng ngày cơ cực cũng chịu đựng được, nàng dần quen với cuộc sống mới, cố gắng kiếm cái ăn, cái mặc cho con, để đợi chồng về. Sau đó, may mà Hải, đứa em trai nàng, di tản được qua Mỹ, gởi tiền về giúp đở cho nàng, dù rất ít ỏi, nhưng cũng cho nàng thêm chút rau chút mắm nuôi con. Bây giờ, trong mù mờ ý nghĩ, nàng thấy cuộc sống nàng đã bị khuấy động, hình bóng Dậu như một hung thần, bằng mọi cách sẽ xoay chuyển cuộc sống bình yên của mẹ con nàng, dù sao nàng cũng phải vượt qua và ra sức chiến đấu.

Một buổi tối, Dậu đến nhà nàng, gõ cửa:

“- Chị Nguyệt ơi, chị Nguyệt.”

– “Ai đó?”

– “Tôi đây, Dậu đây”

“Có chuyện gì thế anh Dậu.” “Chị mở cửa cho tôi vào nói với chị vài điều.”

– Nguyệt mở cửa. Dậu bước vào với gói quà trên tay, Dậu ngồi vào chiếc ghế vuông:

– “Sẳn dịp qua đây, tôi ghé thăm chị, có chút quà biếu mấy cháu.”

Nguyệt lúng túng:

– “Có gì mà anh khách sáo vậy.”

– “Không có gì đâu chị, có hộp mè xững người bạn từ thành phố lên chơi biếu, tôi mang cho sắp nhỏ, ăn cho vui vậy mà.”

– “Cảm ơn anh.”

Dậu nhìn Nguyệt, trong ánh đèn dầu hoả leo lét, Nguyệt mới tắm xong, khuôn mặt trắng và làn môi hồng không son phấn khiến Dậu thấy lòng mình như có một luồng gió lớn thổi qua làm chao đi. Anh thấy đó là dấu hiệu lạ lùng, những người đàn bà khác, anh đến, an nhiên tự tại, anh dùng kịch bản cũ, nhưng anh rất yên tâm chiến thắng, những người đàn bà ấy không làm anh rung động như bây giờ, cái rung động làm run rẩy cơ thể, dự kiến cho anh sự thất bại, anh thấy mình lạnh lạnh ở sống lưng.

Dậu trở lại kịch bản đã thực hiện được phần đầu:

– “Chị đã viết xong bản tự kiểm chưa?”

“- Tôi viết rồi, cũng ghi lại sự việc tôi đã nói với anh hôm ở cơ quan.”

– “Chị cho tôi xem.”

Nguyệt đứng lên đến ngăn tủ bàn bên kia, lấy xấp giấy đưa cho Dậu, Nguyệt chỉ viết một trang, nàng kể về đứa em trai di tản, qua Mỹ, liên lạc gởi thư về thăm nàng, có gởi về cho nàng hai lần quà, chỉ là thuốc men và quần áo, thế thôi.

Dậu đọc xong, anh trầm ngâm:

– “Chị viết bản tự kiểm như thế này là đơn giản quá, chị phải kể rõ hơn về lý lịch của người em, đi lính ngụy như thế nào, tội ác đã gây ra đối với cách mạng, ngày cuối cùng bỏ chạy ra sao, qua Mỹ ở tiểu bang nào, vân vân. Chị phải kể từng chi tiết và ghi quyết tâm của chị cũng như cảm ơn cách mạng.”

Dậu nói dài quyết để lung lạc Nguyệt, anh biết, thường những người đàn bà hay yếu bóng vía, biết được những yêu cầu khó khăn của anh đưa ra thường hay khóc lóc, rồi phải nhờ vã anh, chỉ biết viết như thế thôi, nhờ anh châm chước. Thế là anh làm ra vẻ độ lượng, anh sẽ ban phát những đặc ân, như thôi xí xoá, không làm tự kiểm nữa, lúc đó anh sẽ dùng tình cảm để lung lạc.

Nguyệt nói:

“- Tôi thấy đâu cần phải viết dài dòng như vậy, sự việc chỉ có vậy thì tôi viết vậy thôi.” Câu nói của Nguyệt làm Dậu mở to đôi mắt đăm đăm nhìn nàng, người đàn bà này gan cùng mình đây, anh không cười nữa mà nghiêm giọng:

“- Không được, chị phải khai báo đầy đủ, thành thực khai báo.”

“- Tôi chỉ biết có bây nhiêu.”

Cuối cùng thì Dậu to tiếng:

“- Chị cứng đầu ngoan cố phải không, chị không viết thì mai lên công an gặp tôi.”

Nói xong Dậu quày quả đứng dậy đi ra, Nguyệt không nói thêm câu gì nữa.

Ra đến đường lộ Dậu mới thấy mình đã xử lý tình huống rất dỡ vì sự nóng vội của mình. Đáng lẽ ra anh phải ôn tồn trong lời nói, và đừng bắt ép Nguyệt quá như thế. Nhưng thôi, mai Nguyệt lên trụ sở công an, anh sẽ cố lấy lại cảm tình.

Dậu đi rồi, Nguyệt mới thấy mình như bừng tỉnh người ra, nàng thấy mình như đã đi quá đà. Nhưng thôi chuyện đã lỡ rồi nàng biết làm sao. Đối với chính quyền, nàng còn nhiều điều cần nhờ vã, nhất là chuyện Phục còn đang ở trong trại tập trung. Tuy nhiên nàng cũng thấy sự việc nàng cứng rắn như vậy cũng đúng thôi, để cho nàng rạch ròi mọi chuyện với người công an xã này.

Chín giờ sáng, Nguyệt đã đến trụ sở công an xã để gặp Dậu theo như lời anh dặn hôm qua. Trời nắng sáng, những người dân đã đi vào rẫy làm việc. Đời của những người dân ở kinh tế mới là vậy, sáng khăn gói quả mướp, cái cuốc, cái xẻng, cái rựa, cái liềm, vác trên vai kèm theo một gô nước, một gói cơm với một ít đồ ăn, đó là bữa ăn cho suốt một ngày làm việc. Hôm nay Nguyệt có hẹn lên công an nên nàng phải ở nhà, chuyện này cũng là một chèn ép. Cứ nói ra công an làm việc, cà rịch cà tang cũng mất một ngày công, những đám đậu xanh, đậu đen, đến mùa không ai thu hoạch, nhiều khi bị khô, rơi rụng cả xuống đất, thất thoát…nên chuyện bị mời ra công an làm việc khiến ai cũng sợ hải. Nguyệt đứng trong thế cởi cọp, cô thấy mình bình tỉnh trở lại, đến đâu thì đến.

Bầu trời trong xanh, chim bay la đà ca hót trên các lùm cây ríu rít. Một buổi sáng vui, nhưng lòng Nguyệt chẳng vui chút nào. Nàng đã quyết sau một đêm suy nghĩ, nếu Dậu chèn ép nàng, nàng sẽ quyết tâm chống đối, cùng lắm nàng bỏ xứ này mà đi, nàng bây giờ cũng đã có chỗ dựa, đó là Hải, nàng đi đến một nơi khác ở, nàng sẽ xin Hải trợ giúp cho nàng.

… Nàng bước vào trong phòng Dậu, qua cánh cửa khép hờ, nàng thấy Dậu đã ngồi nơi bàn tự bao giờ. Khi Dậu thấy Nguyệt thấp thoáng ngoài cửa sổ, anh nói với ra:

“- Mời cô Nguyệt vào đây.

” Nguyệt cố nở một nụ cười thân ái với Dậu, nàng nói:

– “Tôi đến theo lời anh dặn tối qua, có chuyện gì anh nói cho tôi biết để tôi về sớm, tôi phải vào rẫy thu hoạch đám đậu xanh chớ không nó rụng hết.”

“- Thì chị ngồi xuống ghế đã.”

Dậu lấy nước trong bình trà chế ra hai cái ly nhỏ, anh làm việc từ tốn, khoan thai, như không có chuyện gì gấp gáp:

“- Từ từ đã nào, có gì mà vội, mời chị Nguyệt uống nước trà, trà Bắc Thái đấy, ngon lắm, của người nhà từ bắc gởi vào đó.”

Nguyệt thấy mình muốn gấp mà Dậu cứ khoan thai, thôi thì cứ ngồi xuống đã. Hôm nay Nguyệt bận cặp đồ xoa đen, dù đã cũ nhưng vẫn là cặp đồ còn lại đẹp nhất của nàng. Dù dầm mưa dãi nắng, nhưng nàng biết tìm cách che chắn, như bận áo dài tay, đội nón lá dày, che mặt bằng cái khăn lớn phủ hết khuôn mặt, nhờ vậy mà nắng không xuyên qua được lớp da, cho nên khuôn mặt nàng vẫn giữ được làn da trắng như những ngày cũ, dĩ nhiên sự ăn uống khô khan, thiếu chất dinh dưỡng cũng đã làm sắc đẹp nàng xuống cấp hơn ngày trước nhiều, tuy nhiên ở khu kinh tế mới này, nàng vẫn còn là một người đàn bà xuân sắc.

Dậu vào đề:

– “Chuyện tôi nói với chị tối qua là một điều tôi làm theo chính sách của đảng và nhà nước đã đề ra thôi. Nghĩa là muốn chị khai thật rõ lý lịch để chúng tôi biết được hoàn cảnh gia đình của chị, một là tìm hiểu sâu rộng thêm, hòng ngăn ngừa những chuyện xấu có thể xảy ra, giúp chị an tâm làm ăn, nuôi con, không xao động trước những chuyển biến của xã hội, thế thôi, chứ không có ý gì khác.”

– “Thì tôi cũng đã khai vào giấy tất cả rồi, tôi có gian dối gì đâu.”

Dậu nói nhỏ hơn:

– “Chị phải hiểu là tôi làm là vì chị, chị biết không, hiện nay công an cấp trên, huyện và tỉnh, đã có thông báo về xã ta những tổ chức vượt biên dùng bàn đạp của huyện để dẫn người sang Campuchia rồi sang Thái Lan, cho nên có thông báo về xã những người có thân nhân ở nước ngoài phải kê khai lý lịch thật rõ ràng, đó là ý đồ của huyện.”

Rồi anh nói như ban ơn:

“- Nhưng thôi, tôi biết hoàn cảnh của chị khá neo đơn và chị tỏ ra làm ăn cần mẫn, nuôi con học hành chăm chỉ, đó là một ưu điểm, nên tôi nghĩ chị không cần phải khai nữa. Hồi hôm tôi có nóng vội, có những lời hơi xúc phạm chị, có gì tôi xin lổi và mong chị bỏ qua.”

Nguyệt nghe Dậu nói thế nàng tự nhiên cũng thấy nhẹ người đi, ít ra Dậu cũng phải biết điều như vậy. Nàng đã đứng trước tình thế khó xữ, nếu Dậu thúc ép quá thì nàng phải thí mạng cùi thôi. Nàng chẳng còn gì để giữ, căn nhà tranh xiêu vẹo, chồng đi tù chưa biết ngày nào về, các con đến trường cũng đến cho có vậy thôi, trường học trống trước trống sau, cô thầy giáo thiếu, nên cứ nghỉ hoài. Bỏ xứ này đi xứ khác cũng chẳng gì tiếc nuối. Dậu cũng biết vậy cho nên anh dừng lại một bước, cổ nhân có câu “già néo đứt dây” anh hiểu điều đó nên cứ để từ từ.

Nguyệt nói:

– “Cảm ơn anh, thôi tôi xin phép được về.”

Dậu không ép Nguyệt phải ngồi lâu, anh nghĩ người đàn bà này không thể làm gì được nếu trái ý nàng, anh nghĩ trong đầu với những dự tính khác, dự tính giải pháp êm dịu, tình cảm hơn là doạ nạt, ép uổng như trước nữa.

Chương 6

Dậu vẫn đi qua đi lại với Phương Nam trong những giờ phút khuya khoắc của những lúc tuần tra đêm. Kể cả với Kim, với Tâm hay với Xuân, những nàng sương phụ có chồng đang tập trung cải tạo. Dậu vẫn kín như bưng trong mọi quan hệ với những người này. Anh thường đến rất khuya, anh gõ cửa và nhẹ nhàng lách người vào. Cuộc trao đổi cũng chỉ trong bóng đêm, tiếng rột roạt của thanh giường, tiếng hít hà, cấu xé, đồng tình thụ hưởng. Thường thường Dậu vẫn mang những chiêu thức anh rút kinh nghiệm từ những cô gái Miên, hay những cô gái ăn sương mà anh đã trải, đã cho anh những kiến thức trên giường, anh đem áp dụng với từng người đàn bà, dù có thay đổi chút đỉnh nhưng cuối cùng anh cũng rút ra một kinh nghiệm để đời là, muốn làm người đàn bà mê chỉ có hai điều quan trọng nhất, đó là sức khoẻ dồi dào và sự dẽo dai.

Hai yếu tố này anh vẫn thuộc nằm lòng, cho nên anh đánh đâu thắng đó. Anh trở thành một vị vua không ngai ở vùng kinh tế mới với bốn, năm người tình bí mật, không ai biết ai, không công khai, nhưng trong thâm tâm, mỗi người đàn bà đều mong anh đến, như các nàng vương phi thời xưa, mong muốn nhà vua đến với mình và được vua sũng ái.

Anh thường chia đều thời khóa biểu, mỗi đêm anh sẽ đến nhà ai. Những món quà nhỏ và những lời hứa hẹn, cùng sức trai tráng rừng rú của anh. Nhưng bây giờ anh thấy sự ham muốn như chựng lại. Hình như sự việc dậm chân tại chỗ đối với cuộc tấn công vào Nguyệt, làm tâm trí anh nao núng. Nghĩ đến Nguyệt và sự cứng rắn của nàng làm anh như đứng trên lò lửa. Đã đánh đổ cái lac quan của anh, cứ nghĩ, sức trai tráng, có tiền bạc rủng rẻng và nắm giữ chức quyền của mình sẽ chiến thắng tất cả. Người cầm quyền có biết bao nhiêu âm mưu thủ đoạn để đưa họ đến mục đích, như ở khu kinh tế mới này, Dậu là người có quyền lực bao trùm lên mấy trăm hộ dân. Những tội như xì ke ma tuý, mãi dâm, cờ bạc, hoặc âm mưu phản động, vượt biên, đều là những tội danh khiến Dậu có thể câu lưu, bắt bỏ tù các nạn nhân trong thời gian từ mười lăm ngày đến ba tháng. Nếu đối xử tốt với anh, anh sẽ cho về, còn không, anh có thể giải giao lên huyện cho đi cải tạo ở các trung tâm không hẹn ngày về. Chuyện tội trạng thì dễ ợt, bói ra ma, quét nhà ra rác. Chỉ ghép vào tội tình nghi thôi thì nạn nhân cũng đời tàn trong ngõ hẹp chứ chẳng chơi.

Lần này thì Dậu quyết chí thực hiện ý đồ của mình. Anh đợi đêm rất khuya để tới nhà Nguyệt, cũng như lần trước là xét hộ khẩu, nhưng lần này anh sẽ dịu dàng hơn, anh sẽ vừa dùng thế lực, vừa khơi gợi những thèm muốn về xác thịt của Nguyệt, bằng cách biểu lộ sức khoẻ của mình bằng cơ bắp, như sự cường tráng về thân thể của anh.

Trời đêm âm u. Gió đứng yên không làm lay động những hàng cây dọc hai nên đường đi vào lô 4. Những căn nhà của các nhà dân đã tắt đèn.

Buổi tối hôm nay, đám công an và du kích xã do Dậu chỉ huy, đã lùng bắt đám đánh bạc của bọn lơ xe be ở khu vực nhà bo bo Hoàng. Số tiền tịch thu được cũng gần một triệu. Dậu cho vào sổ tịch thu bảy trăm, còn ba trăm anh bỏ túi sau khi chia chát cho bọn đàn em tí đỉnh, còn anh ẳm gọn hai trăm. Số tiền này anh sẽ đem đến cho Nguyệt, anh sẽ nói ơn nghĩa là giúp đỡ cho Nguyệt mua sách vở, cơm gạo cho hai đứa con, chắc nàng sẽ cảm động. Chỉ sợ một điều là lòng nàng cứng rắn cộng thêm có chút tiền viện trợ của người em từ Mỹ. Dù gì anh cũng phải vượt qua mọi trở ngại để tiến tới thênh thang, chiếm dụng cái thân xác của nàng.

Dậu đã đến ngã ba, còn khoảng hai căn nhà là đến nhà Nguyệt. Cả một tháng nay, anh dừng lại để tìm cách tấn công, bây giờ anh không thể thối lui nữa, một ăn một thua đủ trong trận chiến này, bóng đêm bao trùm cho anh thêm sức mạnh.

Dậu dừng lại ở trước ngưỡng cửa nhà Nguyệt, cánh cửa đã sập xuống, bên trong tối thui như mực, hai đứa nhỏ đã ngủ, Nguyệt cũng nhắm mắt được một lúc lâu, tự nhiên nàng nghe có tiếng đập cửa, cái đập cửa nhẹ nhàng không thôi thúc lắm. Nguyệt mở mắt ra định thần, ai mà gọi cửa lúc này, những người dân chung quanh nhà nào cũng đều ngủ cả, chỉ có công an mới gọi cửa lúc này thôi, mà nàng đâu có phạm tội gì, chắc là Dậu, Nguyệt nghĩ ngay đến Dậu, cô lên tiếng:

– Ai đó, có gì khuya khoắc mà gọi tôi vậy?”

Tiếng Dậu rất khẻ:

– Tôi đây chị Nguyệt, Dậu đây, tôi có chuyện muốn nói với chị.”

– Chuyện gì cũng để ngày mai chứ bây giờ khuya quá rồi.”

– Thì chuyện gấp gáp chút, chuyện riêng gia đình thôi.”

Nguyệt bước ra chỗ bàn bật quẹt diêm và thắp đèn, ngọn đèn sáng lờ mờ không đủ toả sáng cả căn nhà. Nàng đi ra phía cửa mở chốt khóa.

Dậu bước vào, anh thấy Nguyệt thấp thoáng bên khung cửa đan bằng mành tre, anh muốn lợi dụng lúc bất ngờ tối sáng này để ôm Nguyệt, nhưng anh dừng lại được, nghĩ là không nên vội, chút nữa, nếu những toan tính của anh thất bại, anh sẽ dỡ chiêu thức khác.

Nguyệt đi vào ngồi trên ghế, Dậu đi vào theo, anh để xấp tiền trên bàn rồi nói vội vã:

– Nguyệt à, tôi thấy hoàn cảnh của Nguyệt ở đây thật là neo đơn, một mình phải làm lụng vất vã để nuôi hai con, nên tôi rất thương cảm. Sẳn hôm nay tôi có nhận được tiền bồi dưỡng từ trên công an huyện cho công an xã, tôi đem xuống biếu Nguyệt một ít, cho Nguyệt lo sách vở, cơm nước cho hai cháu.”

Nguyệt hơi chùn bước lại, cái gì vậy cà, nàng vẫn tưởng là Dậu đến sẽ hạch hỏi tiếp về chuyện vượt biên di tản của đứa em trai, hay chuyện học tập cải tạo của người chồng, nhưng không phải thế, Dậu đem tiền đến cho nàng và các con. Nguyệt chợt sựng lại nhưng nàng cũng sáng suốt nhận ra cái bẫy đang dăng trước mắt.

Nguyệt nói:

– Thôi tôi không giám nhận đâu anh Dậu, tôi cảm ơn anh. Mẹ con tôi sống ở đây cũng đắp đổi qua ngày, tôi cũng không có nhu cầu gì nhiều, nên anh đem tiền về đi, tôi không nhận đâu.”

Dậu cũng ngạc nhiên không kém, tiền mà chê, thật sự lạ lùng anh mới thấy lần đầu, những tháng ngày đói khổ ở miền bắc, anh đã lặn lội trên đồng cạn dưới đồng sâu, bắt ốc mò cua để kiếm tứng đồng bạc cắc, mà đói nghèo vẫn đói nghèo, rồi những tháng ngày đi bộ đội vượt biên giới sang Campuchia, anh đã cùng những người bộ đội quân tình nguyện Việt Nam tấn công vào các chùa chiền, đền đài, làng mạc thôn xóm, đã nhã đạn vào những thường dân vô tội, để cướp đi những đồng tiền, những thỏi vàng. Con người có thể vì đồng tiền mà hy sinh cả mạng sống, thế mà bây giờ có người được dâng tiền đến tận tay mà còn chê sao?

Dậu vẫn nhỏ nhẹ, anh không kêu Nguyệt bằng chị nữa mà chỉ gọi tên:

– Nguyệt ơi, thôi đừng giận tôi nữa, tất cả những việc tôi làm từ trước đến giờ cũng chỉ là vì công việc chung mà thôi, có lúc tôi nói nặng lời hay có cử chỉ thái độ không tốt với Nguyệt, cho tôi xin lỗi, thật sự tôi rất thương Nguyệt, thương mẹ con Nguyệt đó.”

Nguyệt thấy hơi bất ngờ chút xíu nhưng nàng cũng tỉnh người ngay. Đàn bà có nhược điểm là hay nhẹ dạ, cả tin, nàng phải vượt qua chặng đường này.

Nguyệt trả lời:

– Tôi cảm ơn những gì anh dành cho mẹ con tôi, nhưng tôi không cần đâu, tôi chỉ mong một điều là anh để tôi yên làm ăn nuôi con là tôi cảm ơn anh rất nhiều.”

Dậu cũng ngớ người vì nàng đã nói thẳng vào đề, anh thấy lúc này là lúc rất cần để dứt điểm, một ăn một thua:

– Nguyệt, thật sự là tôi rất thương Nguyệt, tôi để ý Nguyệt từ lâu và thầm yêu Nguyệt từ lâu, tôi chỉ có tấm lòng yêu Nguyệt thôi, mong Nguyệt cho tôi cơ hội.”

Từ bên ghế bên này, anh đứng dậy bước tới gần Nguyệt, anh đưa tay ra ôm choàng lấy Nguyệt, Nguyệt hất tay anh ra:

– Anh Dậu, anh bỏ tay ra ngay, anh còn làm thế tôi la lên bây giờ.”

Dậu đang sống trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh, đã nhiều người đàn bà khi anh đem tiền đến biếu, kèm theo lời tỏ tình như là tha thiết lắm, thì anh chỉ choàng tay qua người thì họ sẽ nằm rạp xuống run rẫy dưới tay anh. Còn Nguyệt bây giờ sao cứng cõi quá, anh thấy mình nên đi thêm một bước, anh lấy tay ôm khuôn mặt của Nguyệt xoay lại trước mặt anh, anh dúi mặt vào định hôn, thì nghe tiếng Nguyệt cất lên:

– Anh Dậu, bỏ tay ra ngay không thì hãy coi chừng.”

Nhưng Dậu bây giờ như con thú lên cơn, anh cố ghì siết thân thể Nguyệt vào sát thân thể mình. Nguyệt chẳng đặng đừng, lúc này là lúc một mất một còn với con cáo này đây, nàng cong người lại thủ thế rồi bung ngay một đòn Karatê vào mặt Dậu, cú đánh giải vây khi Nguyệt còn là môn sinh xuất sắc của vỏ đường Hùng Vương, ngày nàng còn đi học, cô gái đã chiếm được đệ nhị đẳng huyền đai của môn võ này. Dù để lâu ngày không xử dụng, nhưng cú đánh bật giải vây này lợi hại vô cùng. Cú đánh thốc vào mặt Dậu của Nguyệt làm Dậu ngã ập vào bức tường nhà bằng đất.

Dậu biết gặp thứ dữ, một tay ôm mặt, một tay chắp đàng trước như van xin:

– Tôi có lòng thành thương Nguyệt, sao Nguyệt mạnh tay với tôi quá vậy.”

Anh nói vậy, vì qua cú phản công, anh biết Nguyệt có miếng, nên đó là cái vớt vát để lấy lại chút sỉ diện nam nhi.

Nguyệt đáp cứng rắn:

– Anh biết điều thì hãy cầm tiền lại và đi ra khỏi nhà tôi ngay.”

Dậu lúc này không còn là người hùng nữa, không còn là uy lực của người phó công an xã nữa, mà chỉ là con thú bị thương, anh vội vã cầm xấp tiền và lặng lẽ rút lui.

Nguyệt tắt đèn rồi leo lên giường nằm. Trời bắt đầu có gió. Nguyệt im lặng nằm trong bóng tối suy nghĩ miên man. Cảnh cường hào thôn ấp bây giờ xãy ra hà rầm khắp nơi khắp chốn. Cũng may là thời đi học nàng có theo học mấy năm về karatê, cũng may là không xảy ra chuyện lớn. Con chó biết thua đã cụp đuôi chạy, nếu như hoàn cảnh này xảy ra với người đàn bà khác thì chuyện sẽ đến đâu.

Nguyệt ngủ thiếp đi lúc nào không hay. <

Từ buổi hôm đó, Dậu không còn giám léng phéng với Nguyệt nữa. Dù anh còn ẩn ức Nguyệt, còn tức hơn bò đá, nhưng anh cũng cố dằn lòng. Cai khôn của con người là biết nắm bắt thời thế, biết mình, biết ta. Chuyện không ra gì mà anh khuấy lên, ai ai cũng biết, chuyện sẽ tới công an huyện, ủy ban, một điều mà Dậu không bao giờ muốn. Hãy nằm thủ thế đợi, như con hổ rình mồi, tìm cái sơ hở sẽ vồ tới. Dậu rình mò Nguyệt mãi cho tới khi Phục được về. Dù tức cay đắng, nhưng bắt buộc Dậu phải chấp nhận cho Phục tạm trú. Bởi vì, kinh tế mới là nơi tận cùng rồi, không cho Phục ở đây thì Phục ở đâu cũng vậy thôi. Về sống với vợ con là một điều hợp lý.

Bây giờ thì Phục với Nguyệt sắp bỏ đất này mà đi.

Chương 7

Phục đạp xích lô chạy trên đường Cách Mạng Tháng Tám. Sáng nay anh đã chạy hai cuốc xe cũng kiếm được mười mấy ngàn dằn túi. Anh loay huay ngóng ngó bên này bên kia, coi có khách nào gọi xe mình không. Không có ai. Anh nghĩ, thôi bây giờ đạp xuống chỗ công viên Tao Đàn tìm bóng mát nghỉ chân để xả hơi chút đỉnh.

Phục về thành phố được hai tháng, anh tìm đến nhà Chức và cùng được chia chạy chiếc xích lô này. Phục đạp xe buổi sáng, khoảng 4 giờ chiều anh đem xe về trả Chức rồi về nhà trọ, tắm rữa, đi ăn cơm bụi, rồi về ngủ. Anh cố để dành để dụm, dự định sẽ thuê một căn nhà nhỏ, sẽ đem Nguyệt và hai con xuống ở. Anh dự định sẽ làm một tủ thuốc lá hay một xe bánh mì cho Nguyệt đứng bán, phụ thêm tiền chợ.

Lúc này, cư dân các vùng kinh tế mới thất bại, họ trở về thành phố khá đông, nhà cửa bị nhà nước tịch thu bán hoá giá cho các cán bộ miền bắc vô, nên họ không còn nhà để trú ngụ nữa. Trở về thành phố, họ trở thành vô gia cư, sống chui rúc ở các gầm cầu, bến xe hay các công viên mới khởi công xây cất. Họ lấy những tấm bạt làm nhà, che mưa, che nắng.

Buổi sáng, người trẻ khoẻ thì chui vào các chợ, khiêng thuê vác mướn, còn trẻ con, bà già, thì đi lượm, móc, bao ni lông, gọi là đi móc bọc. Có người gia nhập vào đội quân chôm chỉa, con gái có chút nhan sắc thì vào làm tiếp viên ở những quán bia ôm, sau đó thì vào làm gái ở các động.

Phục muốn đem mồ hôi và sức lao động của mình để đổi lấy bác cơm. Gần sáu năm ở kinh tế mới anh chẳng được gì, làm mùa nào phủi lủm mùa đó, không dư được đồng nào. Bây giờ anh muốn đổi đời, thử cuộc sống của mình sẽ đi đến đâu, anh thấy niềm vui rộn lên khi nghĩ đến ngày đón mẹ con Nguyệt về đây, chồng đạp xe, vợ bán bánh mì hay bán thuốc lá. Cuộc đời, đừng nhìn lên mà chỉ nhìn xuống, mình cũng thấy hạnh phúc chán đi rồi.

Xe chạy đến ngã ngã tư Nguyễn Thông – Lý Chính Thắng thì có người ngoắc xe. Phục đạp xe chậm lại. Anh dự tính đạp qua Lý Chính Thắng rồi quẹo phải bà Huyện Thanh Quan xuống vườn Tao Đàn, mà nay có mối gọi xe, thôi thì hãy chạy tiếp, chạy tiếp đi con, đem mồ hôi ra mà kiếm miếng cơm, còn danh dự chán, còn hơn bao thằng ăn trên ngồi trốc, uống máu của dân mà vinh thân phì da, mà miệng nói leo lẻo là phục vụ nhân dân. Phục hay lý tưởng hóa cuộc đời và lý luận rởm. Cái đó cũng làm cho anh yên tâm và tự hào một mình, cái tự hào xoa vuốt cái nghèo hèn cho đở tức tối riêng mình.

Người đàn bà đứng trên đường Nguyễn Thông đợi chiếc xích lô trờ tới. Dáng người đàn bà phục phịch, tuổi độ trên bốn mươi, tóc cắt ngắn kiểu demi garcon, mắt đánh quần đen, tô đôi môi son hình trái tim màu đỏ lợt. Người đàn bà chỉ đống đồ bỏ trong hai cái bao bằng nhựa, hỏi Phục:

– Anh chở hai cái bao này và tôi lên Khu Thương Mại Quận Mười, bao nhiêu?”

– Chị cho mười ngàn.”

– Bảy ngàn đi.”

– Bớt chị hai ngàn, tám ngàn.”

– Thôi được.”

Phục xuống xe, anh khiêng hai cái bao đồ để phía trước, xong anh ngồi lên xe mời người đàn bà:

– Mời chị lên xe.”

Người đàn bà bước lên xe, cái ống quần rộng mắc vào càng xe phía trước khiến người đàn bà phải nhoài người tới gở ống quần ra. Cái chồm về phía trước khiến nàng phải đưa cánh tay lên khá cao, cái áo sát nách để lòi những chồm lông đen nhánh. Phục nghĩ thầm, bà này lông lá dữ quá ta.

Phục im lặng đạp xe, xe chạy qua bùng binh Công trường Dân Chủ, hướng lên đường Ba tháng Hai. Phục nhoài người lên đạp, anh cảm thấy đói bụng, hết cuốc này phải nghỉ để đi ăn cơm thôi, từ sáng tới giờ chỉ có một ly cà phê đen nhỏ, sức người có hạn, làm sao chịu nổi những bà phục phịch như thế này.

Người đàn bà quay lại hỏi:

– Anh đạp xích lô lâu chưa?”

– Mới mấy tháng thôi, tôi ở kinh tế mới về.”

– Anh đi kinh tế mới nào vậy?”

– Trên vùng Dầu Tiếng.”

– Ở trên đó làm ăn không được hay sao mà về?”

– Khó lắm, nơi hóc bà tó mà, nên ai cũng bỏ về.”

– Anh về đây rồi ở đâu?”

– Thì thuê nhà trọ ở đở, vợ con tôi còn ở trển.”

– Về chạy xe có khá không?”

– Cũng sống qua ngày, nhưng còn đở hơn trên kinh tế mới.”

Hai người im lặng, người đàn bà quay người lại nhìn về trước. Phục nhìn từ đàng sau, một dáng dấp mà anh thấy quen quen, hình như anh gặp ở đâu đó, rất xa, trong trí nhớ mù mờ của anh. Anh đã quên hết từ ngày đi tù về, nhưng bây giờ người đàn bà đang ngồi trước mặt, cho anh thấy một hình bóng quen thân ngày cũ, có thể hồi còn trung học, hay thuở thiếu thời ở một miền quê cơ khổ, anh mơ hồ thế thôi, rồi không còn nghĩ ra nữa.

Xe chạy vào khu thương mại quận Mười, anh dừng xe. Người đàn bà bước xuống, anh cũng xuống xe đến phía trước ôm hai thùng hàng để xuống đất. Một người con trai từ trong một sạp hàng chạy ra, nói:

– Chị Hạnh Nhân đến rồi kia, để em mang hàng vô cho.”

Phục nhận tiền. Người đàn bà nhìn anh rồi cười nói:

– Mỗi buổi sáng khoảng giờ này, nếu anh có chạy xe qua đường Nguyễn Thông, anh đến chở tôi đi chợ với, tôi bán hàng trong khu thương mại này.”

Phục suy nghĩ, không biết mình có thì giờ không đây, nhưng nơi này cũng gần nơi nhà trọ của anh, khu chợ Hòa Hưng, cũng có thể anh quanh quẩn khu này rồi đến giờ đến chở, như là một mối thường xuyên, cũng đở phải ngơ ngác đạp xe không đi tìm mối. Anh trả lời:

– Dạ, nếu chị đợi được thì hàng ngày khoảng mười giờ tôi đến.”

Phục đạp xe đi, bỗng nhiên cái tên Hạnh Nhân đập vào trong trí nhớ anh. Một cái tên của một thuở xa lắc, đó là ngày tháng trung học, cô gái có khuôn mặt đỏ, thường mặc bộ đồ dài trắng đã chuyển sang màu vàng nhạt, đi chiếc xe đạp cũ. Cô là cô gái nhà quê nghèo khổ, đi học phải đạp xe hàng chục cây số mới đến trường. Cái tên sao nghe quen cùng dáng dấp đó. Có phải Hạnh Nhân ngày tháng đó không? sao bây giờ nhìn nàng lạ quá. Hơn ba mươi năm trôi qua, mọi chuyện đã trở thành quá khứ. Người đàn bà có mái tóc demi garcon, môi kẻ màu đỏ lợt, cánh tay để trần nhễ nhại những chùm lông nách rậm đen bóng mượt như móng vuốt con bạch tuột. Phục luay huay trong suy nghĩ khiến anh đến quán cơm bình dân trong hẻm lúc nào không hay.

Nói thế, nhưng mấy ngày sau Phục không đến rước người đàn bà. Anh nghĩ chắc đúng đó là Hạnh Nhân ngày cũ. Thời gian và sự giàu có đã biến đổi người con gái ốm o trở thành người đàn bà phục phịch bây giờ. Anh không muốn mình lộ mặt ra giữa nhân quần thế thái. Mọi chuyện anh muốn mình rút êm vào bóng tối, bóng tối của cuộc đời, của cuộc vật lộn mưu sinh, anh không còn muốn biết đến ai nữa. Sự liên hệ? có ích gì cho đời sống anh bây giờ nữa chứ!

Sau cuộc đổi đời, có biết bao người phất lên, làm giàu, xây nhà xây cửa, đi xe xịn, tất cả đó là sự thành công. Còn anh, bốn năm tù khổ sai vì tội là sĩ quan chế độ cũ, đã làm anh xanh xao vàng vỏ. Anh chỉ còn trơ là một người cùng đinh, nên anh muốn dấu mặt. Ngoài những người bạn cùng lính tráng một thời, những người bạn cùng trong lò cải tạo, gặp nhau, vào những quán bình dân, làm vài xị đế cho quên đời, còn thì anh biến mất dạng, anh muốn thế, muốn ẩn mình thật sâu, thật kín, cho mọi người quên anh đi, cho dễ sống hơn.

Hằng ngày, anh như con ngựa già, lê lếch trên những đoạn đường dài chở khách, người ta gọi một câu vui mà thấm thía vô cùng, nghề đạp xích lô là nghề “dân biểu”. Dân biểu chạy đi đâu thì đi đó thôi.

Chương 8

Hạnh Nhân theo chân Đạt vào quày, đứa em ngoài quê nàng mới đem vào Sài Gòn để giúp đỡ nàng trong việc buôn bán, kinh doanh.

Công việc chính của Hạnh Nhân là buôn bán. Nàng có hai cái sạp hàng bán đồ ngoại cao cấp như rượu, thuốc lá, xà phòng, bột giặt, nước hoa. Hể những hàng xịn, hàng ngoại nhập vào Việt Nam theo các đường trôi nổi, như cán bộ đi nước ngoài mang về, các du khách, các thủy thủ tàu viễn dương, các Việt kiều về thăm quê hương. Những món hàng nàng nhắm dễ tiêu thụ là nàng mua ngay, bù vào đó, những món hàng nhái, hàng giả, của những tay trùm ba Tàu bắt chước hàng ngoại, làm giống y hàng thật, nàng cũng mua luôn, để lẫn lộn ngoại, nội, trên cùng một quày, nàng bán giá đúng theo lô hàng ngoại, nên ai cũng tin là mình mua nhằm thứ thiệt. Nhờ những món lời như vậy nàng phất lên mau chóng.

Nói thật ra, nàng phất lên cũng nhờ nàng “chạy” về nhà đất. Cách đây khoảng năm năm, căn nhà ở đường Nguyễn Thái Học nàng mua hồi mới vào Sài Gòn, nay đã quá xập xệ. Nàng muốn bán đi để mua căn nhà khác khá hơn tí đỉnh, nàng tiếp nhiều người đến hỏi mua. Không ngờ giá nhà lại lên cao đến vậy, mới tháng trước giá khác, tháng sau giá nhảy vọt lên thêm hai ba cây vàng. <

Cái đầu óc con buôn của nàng làm việc ngay, lúc này là lúc nhà đất đang lên cơn nóng sốt, sao mình lại không nhảy vào kiếm ăn. Nghĩ vậy, Hạnh Nhân quyết định bán ngay ngôi nhà sập sệ với giá

bốn mươi cây, nàng đi mua một ngôi nhà khác của một người quen sắp đi Mỹ, cũng giá bốn mươi cây. Rồi nàng bán lại với giá sáu mươi cây, như vậy nàng đã lời hai mươi cây vàng ngon ơ trong vòng không đầy một tháng. Thấy khấm khá nàng tiếp tục mua, rồi bán, bán, rồi mua, đến khi giá nhà đất đứng lại là nàng đã lời hàng mấy trăm cây kèm theo một ngôi biệt thự lớn ở mặt tiền đường. Nàng chễm chệ bước lên hàng đại gia, tỉ phú.

Hạnh Nhân đã trút bỏ được tháng ngày bùn lầy nước đọng nơi quê nhà, những ngày tháng lội mưa đi học bằng chiếc xe đạp cà tàng. Những ngày tháng không một đồng vốn trong tay, chạy ngược chạy xuôi thu mua từng kilô hạt tiêu trong các hợp tác xã, đem ra chợ ngồi bán lẻ kiếm mấy đồng lời. Trong cảnh cùng quẩn không ngóc đầu lên đó, nàng bỏ quê đi Sài Gòn, tìm nhà người quen xin tá túc, rồi đi bán hàng thuê cho chủ, rồi khi nắm được mối manh, nàng mua lại sạp hàng.

Hôm nay tự nhiên Hạnh Nhân thấy lòng mình trầm lại, những ngày tháng bon chen cũng qua đi. Bon chen? thật tình nàng đã bon chen trong suốt mười mấy năm qua, bon chen kiếm tiền, bon chen kiếm chồng, bon chen tìm đến đỉnh cao, cái ảo vọng của cuộc sống. Bây giờ nàng đã có hết, nhà cửa, xe cộ, bạn bè, chồng con. Những người bạn xa lơ xa lắc đâu đâu cũng tìm đến làm quen, gợi lại những kỷ niệm cũ, những ngày xa xưa hồi nàng còn nghèo khó, rồi nhờ nàng giúp đở. Mọi chuyện như một vở kịch, bi, hài, mà người diễn kịch lúc nào cũng đóng vai chính xuất sắc. Dù sao, nàng cũng thấy được bề trong của sân khấu, người ta quanh quẫn bên nàng vì nàng giàu, nàng có thể đãi họ một bữa ăn ngon, một hộp bia lon, một cốc rượu mạnh hay có người năn nỉ nàng mượn tiền. Chứ lúc nàng còn bận cái quần xa tanh đen bạc màu, lê lếch ngoài chợ, bán từng lon tiêu, từng mớ hành, mớ tỏi, có ai thèm ngó ngàng, tìm đến kết thân với nàng đâu.

Nàng hiểu, nhưng nàng không thoát ra khỏi cái chợ đời bạc bẽo đó.

Với Trường, người chồng bây giờ cũng thế. Khi Hạnh Nhân đã làm chủ ba căn nhà và hai cái sạp hàng thì Trường lù lù dẫn xác đến. Anh là bạn học hồi cùng quê, ở cái xã ấp xó xỉnh chó ăn đá gà ăn muối. Nàng cũng đã trải qua mấy mối tình lớn, nhỏ, không đâu tới đâu, nàng đã trên ba mươi tuổi nên cần có chồng ghê gớm, còn

Trường thì cần một chỗ tấp vào. Thế là họ lấy nhau cái rụp, ân ái tràn đầy, xác thịt bùng lên nóng hôi hổi.

Thế nhưng, sau khi sinh đứa con thứ nhất, nàng mới thấy là Trường không hợp với nàng về chuyện gối chăn. Anh chàng chỉ nước nô, bộp chộp, hung hăng con bọ xít, nhưng một chốc rồi thôi, chẳng đi đến đâu, còn nàng đang ngắc ngứ, lắc lư con tàu đi nửa vời. Mới đầu thì nàng cam chịu, nhưng dần dần, sức bật của tuổi trẻ làm nàng nóng mặt, nàng chê trách Trường ra mặt, dáng người cao lớn đẫy đà thế kia mà lúc nào cũng “khóc ngoài quan ải”. “Dở ẹt, tệ hết biết, thân nam nhi chi chí mà “như gà”. Trường biết mình ở thế cởi cọp, con cọp cái hung hăng, dã man và thâm độc, nên Trường đành chịu trận, lép vế, ngậm miệng ăn tiền, tránh voi chả xấu mặt nào.

Thế nên Trường hay lánh mặt nàng, chỉ trừ những lúc anh hứng lên, anh đòi hỏi. Còn Hạnh Nhân thì từ từ niềm ham muốn cũng lụi tàn dần. Nàng mơ ước những cái mới, ham muốn những cơn làm tình dài lâu với những người thanh niên trẻ, khoẻ, dẽo dai. Điều có thể tìm được, như kiếm một thanh niên trẻ trung nào đó, để họ phục vụ rồi “ăn bánh trả tiền”. Nhưng đó cũng chỉ là trong ý nghĩ mà thôi, chứ thực ra Hạnh Nhân cũng chưa thực hiện lần nào.

Sáng nay, nàng gặp người đàn ông đạp xích lô, nàng ngờ ngợ một người quen cũ, một bóng hình mờ khuất trong tiềm thức nàng những ba mươi mấy năm. Đó là hình ảnh người học trò học trên nàng mấy lớp. Người nam sinh áo trắng quần xanh vẫn còn in trong trí nhớ nàng như một mối tình đầu tươi rói, đắng chát, mà nàng nghĩ chẳng sẽ bao giờ với tới. Anh xa lạ, lúc nào cũng xa lạ, nàng chỉ đơn phương mơ mộng trong tâm hồn thuở ấy.

Buổi sáng khu thương mại quận Mười đầy ắp tiếng người mua bán, trả giá, kỳ kèo, cùng tiếng xe gắn máy gầm rú ngoài đường. Tiếng cười nói của bạn hàng quanh quẩn bên nàng không làm

Hạnh Nhân vui hơn, nàng lấy gương ra soi lại khuôn mặt. Một gương mặt khác lạ hiên trên tấm gương, ai vậy cà, Hạnh Nhân đây sao? Hạnh Nhân với mái tóc ngắn, ngấn cổ trắng bệch với những mạng mở ẩn hiện bên trong. Nguy rồi! mình mập quá, lên cân vùn vụt từ hai ba năm nay. Phải ít ăn lại thôi, cứ tiệc tùng, bạn bè kêu réo. Mình phải dừng lại, mập quá, đâu có tốt lành gì.

Buổi trưa, Hạnh Nhân đang nằm trên chiếc ghế dựa nghỉ ngơi thì Thanh Hương đến. Hương là con bạn học lúc còn ở quê, Hương theo chồng vào sinh sống trong này, thỉnh thoảng Hương lại đến chơi.

Hương cười nói huyên thuyên:

– Tau xuống thăm mày một chút, lâu không gặp mày tau cũng nhớ, tụi mình có còn được mấy mống ở đây đâu.”

Rồi Hương nhìn vào thân thể Hạnh Nhân, kêu lên:

– Trông mày dạo này mập ra, sao mày không làm cho giảm bớt cân đi, lứa tuổi tụi mình đừng nên mập quá, không tốt đâu.”

Hạnh Nhân cười lên khanh khách:

– Tau mập quá chứ gì, tại cứ tiệc tùng đàn đúm hoài thôi. Tau nghe lời mày đây, tuần sau tau sẽ nằm nhà, ai mời ăn tiệc cũng khai bịnh cho yên. Có thể tau mua cái máy về tập chạy bộ cho bớt mỡ.”

– Ừ đúng đó, tập thể dục tốt lắm đó mày.”

Rồi Thanh Hương như nhớ ra điều gì, Thanh Hương nhìn thẳng vào mặt Hạnh Nhân:

– Nhưng có chuyện này mày không được từ chối tham dự nhe, đó là tháng sau trường mình tổ chức hội ngộ đoàn tụ, mày phải đi dự, không được vắng mặt nha mày.”

Hạnh Nhân hỏi lại:

– Tháng sau là ngày mấy, ở đâu?”

– Mười lăm tháng sau nhằm ngày chủ nhật, tổ chức ở trường Nguyễn Thượng Hiền.

– Mầy chắc không?”

– Chắc chớ, mấy anh trong Ban Tổ Chức có giấy mời tau rồi, để tau lấy giấy mời cho mày, mà mày là đại gia mày phải ủng hộ nhiều đó nhen.”

– Chuyện đó mày đừng lo, tau chỉ muốn gặp mấy đứa học chung lớp mình. Bây giờ đứa nào cũng có chồng con hết, phải không?”

– Chứ còn gì nữa, không chồng thì có ở giá hay chửa hoang.”

– Mày biết ai lên chức bà ngoại chưa?”

– Con Khanh, nó có chồng sớm, con gái nó sinh tháng trước, thế là lên chức bà ngoại sớm nhất.”

– Nó mới bốn mươi, làm bà ngoại trẻ quá.”

Hạnh Nhân lại nhớ đến những ngày tháng học trò hoa mộng trong sân trường nữ trung học. Nàng lúc đó là một nữ sinh nghèo nên chỉ chơi thân với nhóm bạn gái từ quê xuống thị xã trọ học. Những đứa học trò suốt năm chỉ một bộ áo quần dài trắng, đi học về, lo giặt phơi khô để mai đi học bận lại. Những đứa con gái thị xã lúc nào cũng kiêu kỳ, tụi nó sống tách biệt với những đứa học trò nhà quê, chạy xe đạp mini, áo quần dài trắng bằng loại vải đắc tiền, cặp da tốt. Cái sang cả của bọn nó làm nàng mặc cảm. Bây giờ, nàng đã đổi đời, nàng muốn nhìn lại những khuôn mặt ấy. Đời sống, biết đâu mà lường, nàng biết có những đứa bạn cùng học chung, giàu có thuở ấy, đã lấy chồng sĩ quan chế độ cũ, người chồng đi cải tạo, nhà cửa bị tịch thu, phải đi chạy chợ từ đầu này ngã kia. Nàng thấy một chút hả hê trong dạ.

Thanh Hương đứng dậy:

– Thôi tau về đây, nếu có thiệp mời tuần sau tau đem lại cho mày, nhé.”

– Ừ, hôm nay tau mệt lại không muốn ăn uống gì, tuần sau mày đến, tau dẫn mày đi ăn mì Quảng.”

Chương 9

Buổi chiều Phục chạy xe trở về con đường Cách Mạng Tháng Tám, qua bùng binh ngã Sáu, anh đạp xe thẳng về phía Hòa Hưng. Ngôi nhà của Chức nằm trong một con hẽm nhỏ. Thật tình cờ, cũng trong con hẽm đó, Phục đã ở trọ học hồi còn là sinh viên, tháng ngày anh chân ướt, chân ráo vào Sài Gòn.

Nhà bà chủ lò bún là một bà bắc kỳ di cư, bà có cái máy làm bún thủ công, quanh năm suốt tháng xay bột sản xuất đủ loại bún, bỏ mối cho các chợ, cho các tiệm bán bún bò, bún giò heo, bún mộc. Vợ chồng ông bà bắc kỳ thật tốt bụng. Là sinh viên ở xa vào đây trọ học, có những lúc anh không có tiền trả tiền cơm, anh xin khất mấy tháng liền, đến khi nào anh có tiền anh mới trả. Ông bà già đã giữ chân anh ở tại đây suốt mấy năm, đi học, đi làm thuê, đi kèm tư gia, anh như người thân thuộc trong gia đình. Bây giờ, anh tìm thăm lại gia đình đó thì ông bà đã không còn nữa.

Anh cho chiếc xích lô vào hẽm, dừng xe trước nhà Chức. Chức như đợi chờ sẳn, thấy Phục đạp xe về, Chức vồn vã nói:

– Hôm nay mày về sớm hơn ba mươi phút đó nhe, tau đang đang đợi mày đây. Mình ra ngoài quán đấu hót chút chơi, tau có tin mới vui lắm báo cho mày biết.”

Hai người tấp ra quán cà phê ngoài đầu hẽm, Chúc quăng bao thuốc lá Hoa Mai ra bàn:

– Hôm nay chạy khá không?”

– Cũng tạm tạm, cố chạy cho đủ sở hụi, để đưa bà xã về luôn dưới này.”

– Ừ, tính sao cho tiện, chứ ông một nơi, bà một ngã cũng khó lắm.”

– Thì vậy, mình tính để dành thêm chút ít, thuê cái nhà, rồi sắm cái tủ thuốc cho bả bán thuốc lá lẻ.”

– Tốt đó, cố gắng lên. Mình về đây mình nhờ ông già sắm cho cái xe này chạy kiếm ăn, chứ không cũng đuối, không biết làm nghề gì.”

– Còn mình thì nhờ cậu.”

– Nhờ vã gì, có cậu chạy mình cũng đở sở hụi.”

Chức nói vào trong quán:

– Cho hai ly cà phê đá, ông chủ ơi.”

– Có ngay.”

Người chủ quán đem hai ly cà phê ra để trên bàn, Chức lấy cái muổng khuấy vào ly keo leng keng. Cà phê sánh với nước đá một màu nâu sẩm. Phục cầm ly lên uống một ngụm nhỏ, cà phê thấm vào cổ họng, mát đến tận ruột già ruột non.

Chức quay lại nói với Phục:

– Mày có nghe tin này chưa, Mỹ sẽ cho những sĩ quan chế độ cũ đã đi học tập cải tạo trên ba năm, được định cư tại Mỹ, người ta đang đồn ầm lên chuyện đó.”

Phục giựt mình, đây là lần đầu tiên anh nghe tin này:

– Mình ở kinh tế mới mơí về, ù ù cạc cạc, chẳng báo, chẳng đài, chẳng nghe tin tức gì cả, mà có thiệt không đó ông?”

– Thì tau cũng chỉ nghe tin đồn, chứ tin chính thức thì chưa có, nhưng nhiều người đoan chắc là có mà. Nghe nói Mỹ áp lực mạnh nên bọn này mới nhả mình ra, bù lại bọn nó được Mỹ viện trợ.”

Phục xăng xái:

– Không biết hồ sơ tìm ở đâu.”

Chúc trầm tỉnh:

– Tau nghĩ khi nào có tin chính thức, thì sẽ có hồ sơ thôi, chuyện đó dễ mà.”

Tin này với Phục thì mới quá, bốn năm trong trại tập trung, sáu năm trên vùng kinh tế mới, anh có biết ất giáp gì đâu, anh cứ nghĩ mình suốt đời sẽ sống vậy, sẽ chà lếch kiếp sống đầu đường xó chợ này cho đến mãn đời. Rồi đời con, đời cháu sẽ tiếp tục, chứ có gì khác hơn. Nên khi nghe tin này lòng anh bỗng nhiên run rẫy, một viễn cảnh sáng lạng ùa đến với anh.

Phục nở nụ cười rất tươi:

– Bọn mình là những đứa tận cùng bằng số, khi ngày trời sụp, tau nghĩ mình sẽ bị chết, hoặc bọn nó bắt tuị mình rồi sẽ chôn sống hay bắn hàng loạt như hồi Mậu Thân. Sau đó, bọn nó kêu bọn mình trình diện rồi đi tù, tau cũng nghĩ là mút chỉ cà tha. Chuyện gì cũng có quy luật của nó, cùng tất biến, biến tất thông.”

Chức nói giọng tỉnh rụi:

– Dĩ nhiên bọn nó muốn tiêu diệt mình cho chết hết để nó rãnh tay là cái chắc, nhưng chuyện đâu có dễ, bây giờ còn có quốc tế nhìn vào, áp lực, cho nên bọn nó mới nhả mình ra đó chớ, bọn chó má mà tốt lành gì.”

Phục trở lại chuyện mình:

– Thôi, như vậy ngày mai ngày mốt gì đây tau sẽ nhắn bà xã tau bỏ kinh tế mới dẫn con về đây, có gì thì làm hồ sơ cho dễ, mày thấy có chỗ nào cho thuê nhà chỉ giúp tau nghe.”

Chức gật đầu:

– Rồi, mày yên tâm, chuyện gì chứ chuyện thuê nhà thì dễ ợt, để tau kiếm nhà cho, mày cứ lo cày mà kiếm tiền nuôi vợ.”

Chức vẫn là người sốt sắng với bạn bè, ở trong trại đã cùng chia xẻ từng củ khoai mì, từng nồi canh lá giang hay mớ cải tàu bay trong những tháng ngày đói khổ nhất, thì bây giờ những chuyện lặt vặt về đời sống ngoài đời có đáng giá gì đâu.

Phục đứng lên:

– Thôi tau vù đây, mày chạy xe may mắn.”

Chức buông một câu chửi thề:

– Đ.mẹ, may mắn có được nhiều mối chỉ “sụm bà chè” sớm.”

Cả hai cùng cười, chua chát cho kiếp cu ly chó má.

Chương 10

Dắt chiếc mobilette ra khỏi quán nhậu là Ngàn thấy mình lao đao, choáng váng trong đầu. Những bóng hình lay động trôi qua mắt anh, như anh đang đi trên một cái cầu vồng ngũ sắc. Anh cố gắng đạp xe, hướng cầu Bình Tiên mà lên dốc. Lúc này anh cũng chẳng biết Thiệu đi về hướng nào, anh thấy mình nhẹ hẩng khi lên đến dốc cầu và anh cho xe đổ dốc tự do. Chiếc mobilette của anh khục khặc, khục khặc, rồi cũng tiếp tục chạy xuống, chiếc xe chạy nhanh mà Ngàn thì lạng quạng, anh lách một chiếc xe Honda chạy ngược chiều ép sát anh, khiến tay lái anh rung rinh, chiếc xe trợt bánh ngã làm anh cũng đổ nhào bên lề chân cầu.

Nhiều tiếng người nói lố nhố chung quanh:

– Đem vô lề đi, kêu xe cấp cứu, máu chảy ra nhiều quá.”

Một người đến bên anh, ôm lấy anh xem xét, rồi nói lớn:

– Chả say xỉn rồi, chỉ bị xây xát cánh tay thôi, ai có dầu gió xanh cho xin một chút, xức dầu vào chỗ chảy máu là hết thôi.”

– Đây, dầu đây, khiêng tấp vào lề đi.”

Nhiều bàn tay đến bên Ngàn kê khiêng Ngàn vào bên lề đường. Bây giờ Ngàn mới thấy mình tỉnh ra chút đỉnh. Anh cố gắng đứng dậy, nói với những người đang đứng bao quanh:

– Cảm ơn bà con, tôi cũng tỉnh rồi.”

Một người nói:

– Thôi, anh kiếm xe xích lô chở về nhà đi, còn say mà đi lạng quạng ngoài đường nguy hiểm lắm, dễ bị trúng gió như chơi.”

Một chiếc xích lô trờ tới. Người chạy xe nói với Ngàn:

– Anh về đâu tôi đưa về cho.”

Ngàn thấy mình cũng mệt quá và muốn nôn mửa. Anh nói:

– Anh chở tôi về đường Huỳnh Văn Bánh, Phú Nhuận.”

Người xích lô tới dìu anh lên xích lô, xong vác chiếc xe mobilette để đàng trước, rồi leo lên đạp. Ngồi lên xe rồi, Ngàn sật sừ không chào ai, đầu anh gật lên gật xuống trông thật thãm hại.

Xe vượt qua đường Ngô Gia Tự, quẹo quanh bùng binh Ngã Bảy, gió thổi chung quanh Ngàn lồng lộng, mát rượi.

Người đạp xe trườn tới trước, hỏi:

– Về đường Huỳnh Văn Bánh mà số lớn hay số nhỏ đây anh?”

Ngàn trả lời:

– Số… Anh đạp tới gần cổng xe lửa số sáu là đến nơi.”

Rồi Ngàn cũng hỏi cho có chuyện:

– Anh chạy xe có khá không? Ngày kiếm được nhiêu vậy?”

Người đạp xe cười chua chát:

– Cái nghề này là bán mồ hôi kiếm bát cơm đó mà, tôi cũng kẹt quá, đi cải tạo về, không có nghề ngỗng gì nên ông già mua cái xe này chạy đở.”

Ngàn quay lại phía sau:

– Thế anh cải tạo ở đâu vậy? Tôi cũng dân cải tạo đây.

– Thì tất cả những trại cải tạo ở miền Nam tôi đều trải qua, Long Giao, Long Khánh, Thành Ông Năm, Suối Máu, Trảng Lớn…ở đâu tôi cũng đều có mặt cả.”

– Tôi cũng đi cải tạo sáu năm, mà anh tên là gì vậy, tôi thấy anh quen quen.”

– Chức, tôi tên Chức, tôi cũng thấy anh quen quen, anh có phải là Ngàn không? hồi ở thành ông Năm anh hay đánh banh độ lắm phải không?”

– Đúng rồi, tôi cũng nhớ ra anh rồi.”

Hôi nãy, khi đạp xích lô đổ dốc qua cầu Bình Tiên, thấy tai nạn xe xảy ra phía trước, người chạy chiếc mobilette quờ quạng rồi ngã xuống lề đường, Chức dừng xe lại coi thử sự việc ra sao, đến khi thấy tai nạn cũng nhẹ thôi, anh định bỏ đi, nhưng sau đó có

người kêu chở người này về nhà thì anh chở, không ngờ gặp lại bạn cải tạo ngày cũ.

Thời buổi bây giờ, đi ra đường, nhìn những khuôn mặt lơ láo, hốc hác, làm những công việc lao động chân tay nặng nhọc, như đạp xích lô, ba gát, hay bơm mực viết bic, bơm ga, bán bánh bò, bánh tiêu, sửa xe đạp, chạy hàng vớ vẩn, thì đó phần đông là đám sĩ quan, công chức, đi cải tạo về, họ sống ngơ ngơ ngác ngác giữa một thành phố đầy bon chen và giao động.

Chức cũng vui ra mặt khi gặp lại người cùng chung hoàn cảnh với mình, anh hỏi vồn vã:

– Hồi ở thành ông Năm sau đó anh đổi đi đâu?”

Ngàn trả lời:

– Tôi về Suối Máu được một năm, sau đó bị đẩy tuốt ra trại A.20 ngoài Xuân Phước, Tuy Hoà.”

– Còn tôi lên Tống Lê Chân, mấy năm sau mới được thả. Bây giờ anh làm gì vậy?”

– Tôi đi bỏ hàng xầm xài kiếm ăn qua ngày thôi. Tôi về, vợ con rã đám, hiện tôi ở nhà thuê. Hồi chiều, gặp một anh bạn cải tạo, vào quán rai rai chút đỉnh, không ngờ say quá, chạy xe qua cầu té ngã, may mà không hờ gì, có anh đưa về, bình an là may rồi. Còn anh thế nào?”

– Tôi còn độc thân, hồi trước bảy lăm chưa lấy vợ. Vậy mà may, bây giờ chỉ làm nuôi thân tôi thôi mà nuôi không nổi, huống hồ gì có vợ con.”

Rồi Chức xuống giọng:

– Có vợ con như thằng Phục, cũng bạn tù cải tạo với tôi, nó cùng chạy xe chung với tôi đây này, thấy hoàn cảnh nó khổ quá mà tôi bắt thương, nên kéo nó về, nó chạy buổi sáng, tôi chạy buổi tối.”

Nghe Chức nhắc đến tên Phục, Ngàn hỏi ngay:

– Phục nào? Có phải Phục trung úy bộ bình, đóng ở Pleiku không?”

– Đúng đó, sao anh biết, cũng bạn hả?”

– Thì bạn, cũng ở chung nhau mấy năm ở Suối Máu, mà sao nghe nói Phục đi kinh tế mới theo vợ mà.”

– Thì đi kinh tế mới suốt sáu bảy năm trời đó chớ, nó về trên đó sống không nổi nên trở về đây, vợ con nó còn ở trển.”

– Thế hả, tôi muốn gặp Phục, tụi mình hôm nào làm một bữa lai rai đi nhe, kệ cha nó chớ, say một bữa cho đã đời, cũng năm bảy năm rồi chúng mình mới gặp lại. Anh về nhắn với Phục có tôi là Ngàn, bạn cũ ở Suối Máu tìm gặp nhé.”

Xe chạy tới Cổng Xe Lửa Số Sáu, Ngàn chỉ đường cho xe chạy vào đường Huỳnh Văn Bánh. Đến nơi Ngạn ở, Chức dừng xe rồi tất tả nhảy xuống, hì hục đem chiếc xe mobilette ra khỏi xe, Ngàn cũng bước xuống theo:

– Bao nhiêu đây anh?”

Chức khoát tay:

– Thôi, mình là bạn cải tạo mà, cùng khổ như nhau, may anh bị tai nạn mà không hờ gì là may rồi, tôi không lấy tiền đâu, hôm nào gặp nhau, anh bao tôi một chầu là được.”

Thấy Chức có lòng như vậy, Ngàn đành nói:

– Anh không lấy tiền tôi ngại lắm. Thôi, để hôm nào gặp nhau mình nhậu một bữa nghe, nhớ kêu thằng Phục, tôi trọ ở đây anh biết rồi chứ gì.”

Chức dặn dò Ngàn:

– Lần sau nhớ nhậu ít thôi, chứ như hôm nay xỉn quá, té giữa đường nguy hiểm lắm.”

– Hôm nay sao tôi tệ quá vậy, chứ hàng ngày tôi uống hai xị chưa say.”

Trong bóng đêm lờ mờ, hai người bạn rời nhau, Chức đạp xe về lại khu Hòa Hưng, nơi anh đang ở.

Từ chiều đến giờ, Chức chạy xe chỉ được hai cuốc, có mười mấy ngàn bạc, không đủ tiền đưa cho bà già đi chợ ngày mai.

Advertisements

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: