Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Vết Nám (Bài chót)

Sau 7 năm tù cải tao, tôi được tha. Từ trại tù Xuân Lộc, tôi về thẳng Saigon, địa chỉ của tôi trước khi “đóng tiền đi ở tù” (1). Tuy nhiên, nhà cũ của gia đình tôi ở đường Trương Minh Giảng không còn.

Nhà ấy đã bị tịch thu trong đợt “đánh tư sản” của Việt Cộng hồi năm 1978. Vợ tôi “tha” các con về ở Cư Xá Thanh Đa, sang lại căn nhà của một sĩ quan chế độ cũ, sau khi, giống như “mèo tha con”, vợ tôi đem con đi lang thang sống tạm vài nơi ở Saigon.

            Từ bến xe, tôi đi xe ôm về nhà. Xuống xe ngay trước chợ Thanh Đa, nhìn quanh, tôi nghĩ thầm: “Chỗ nầy không thể để cho các con của mình ở được.” Tôi có một kinh nghiệm sống khi còn đi học, đi dạy: Những chỗ chợ búa, không nên để cho trẻ con ở. Tôi cũng bị ám ảnh bởi câu chuyện “Mạnh mẫu dời nhà” trong cuốn sách “Cổ Học Tinh Hoa.”

            Khi tôi lên tới cầu thang chót của lô cư xá gia đình tôi đang ở, đứa con gái thứ tư, đang ngồi học thêu với một người quen trong căn hộ ở ngay đầu cầu thang, thấy tôi, con bé chạy ra hành lang, la to “Ba về! Ba về!” Rồi nó nắm tay tôi dẫn về nhà, cách đó mấy căn. Đứa con gái giành lấy cái bao nylon trên tay tôi.

Tôi về tay không. Tất cả những cái được gọi là “hành trang” người tù, tôi để lại cho bạn tù. Đó là những bộ “quần áo lao động”, là những cái áo, cái quần treillis vá chằng vá đụp nhiều lớp vì dùng đã quá lâu, quá cũ, rách, mòn nhiều chỗ. Một ít thức ăn chưa dùng hết do vợ tôi thăm nuôi tiếp tế cho… Tôi chỉ đem về một cái “gô”, là tiếng gọi tắt tiếng “Guigoz”, loại hộp nhôm đựng sữa bột của hãng nầy. Tôi có những mấy cái “gô” còn mới, trắng sáng nhưng tôi để lại cho các bạn dùng. Tôi chỉ đem về cái “gô” dùng lâu nhứt, đen hùi vì khói và móp méo. Tôi muốn giữ nó để làm kỷ niệm mấy năm tù.

            Khi ghé lại sang xe ở bến xe Tam Hiệp, tôi mua một bịch chôm chôm, đem về làm quà cho vợ và các con, như thói quen của tôi trước khi ở tù, mỗi khi tôi đi xa về.

            Các con gái của tôi có mặt đủ ở nhà. Khi cửa mở và tôi bước vô, các con tôi reo lên mừng rỡ: “Ba về! Ba về!” Rồi chúng xúm nhau lại, ôm chầm lấy tôi. Tôi đưa tay xoa đầu các con, từ đứa nhỏ nhất trước, sau tới các đứa lớn.

Tôi cảm động, mừng được tha khỏi trại tù, muốn khóc, nhưng cố nín. Khóc trước mặt các con là điều không nên, mặc dù, trong trại tù, nhiều đêm tôi khóc thầm vì thương – vì thương hơn vì nhớ – các con và vợ.

            Tôi ngồi xuống ghế, sau khi đi lên mấy bậc cầu thang cao, thấy đau ở mắt cá chân. Đứa con gái ban nãy, lấy cái dĩa lớn, lôi chùm chôm chôm ra khỏi bao nylon, bỏ vào dĩa, đặt lên bàn. Tôi bảo các con ăn, nhưng chẳng đứa nào ăn. Chúng nói: “Chờ má về!”

            Mặc dù hôm nay là ngày học, nhưng khi tôi về tới nhà thì đã quá giờ tan trường, các con đã về đủ, chỉ còn cậu con trai duy nhứt, đi chơi đâu đó, chưa về. Nghĩ tới đứa con trai ấy, tôi thấy buồn buồn. Riêng về các đứa gái, tôi lại thấy vui vui vì đứa nào cũng học giỏi. Đứa lớn nhứt đang học năm cuối ở đại học sư phạm, thay vì học y khoa như đã ghi trong đơn xin thi, vì lý lịch số 13 (2). Đứa kế, đang học lớp cuối cấp 3, từ kinh nghiệm của chị, nó đang xin mẹ cho vượt biên để được vào đại học ở Hoa Kỳ.

            Đứa con út, con gái, tới đứng sát bên chân tôi. Tôi giang tay ôm nó vào lòng. Khi tôi đi tù, đứa út ấy mới 3 tuổi, chưa đi học. Bây giờ nó 10 tuổi, đang học lớp 5, lớp cuối cấp 1.

            Bỗng đứa con thứ hai nói:

            – “Ba quên rồi ba?”

            – “Ba quên gì?” Tôi hỏi con.

            Con bé cười rúc rích, trước khi trả lời:

            – “Con út ba nó đang chờ ba chê thúi đó.”

            Tôi “à” lên một tiếng, xin lỗi và cười vui:

            – “Thôi chết rồi! Ba ở tù lâu quá, ba quên mất rồi.”

            Khi chế độ cũ còn, tôi đang làm việc. Mỗi chiều đi làm về, thay áo quần xong, tôi ngồi vào ghế salon uống nước, tay vòng ôm đứa con út đứng bên cạnh. Tính tôi hay đùa. Sau khi hôn con xong, tôi đưa tay giả bộ bốc vào đít nó một cái, đưa lên mũi ngửi, cười nói: “Đít thúi quá!” Vợ con xúm lại cười. Tôi nói đùa: “Thúi nhưng ba thích. Ba thích ngửi cái đít thúi nầy!” Tất cả các con phá lên cười. Có đứa còn nói đùa “Ba dơ quá! Ba dơ quá!”

            Cái trò đùa “Ba dơ quá” diễn ra mỗi chiều như vậy, sau khi tôi đi làm về. Con bé út nghĩ rằng qua cái trò bốc thúi đó, nó được ba cưng. Nếu như có một hôm nào đó, chưa kịp “bốc đít” đứa con út thì nó cứ xẩn vẩn bên cạnh, chờ tôi diễn trò. Những lúc đó, tôi lại đùa, vừa bốc đít nó mấy cái, vừa xin lỗi, vừa nói: “Đít thúi quá. Thúi quá! Ba thương cái đít thúi nầy quá!”

            Bây giờ, đứa con út lại đứng bên cạnh. Tôi không để ý đứa con út của tôi đang nhớ và muốn diễn lại cái trò cũ, nhưng đứa con gái thứ hai, tinh ý, nhớ chuyện cũ và nhắc tôi.

Tôi sực nhớ, bốc vào cái đít nó, lại nói to “Đít thúi quá! Ba thương quá!” Nhưng tôi chợt thấy cái trò diễn ấy có phần nhạt đi. Đứa con út đã lớn, và tôi thấy cái gì cũng hơi lạ lẫm, ngay cả với con. Chúng đã lớn cả rồi, và tôi thấy băn khoăn, nghĩ tới tương lai. Trước kia, tôi ít khi nghĩ xa, nghĩ tới tương lai. Tương lai của tôi có gì phải lo, phải suy nghĩ. Tôi sống bình thường như mỗi ngày, ăn, ngủ, làm việc chăm chỉ, cần cù và lãnh lương …

            Khi chưa lập gia đình, tôi thường lo lắng cho tương lai. Kể từ khi có vợ, có con, tôi lo làm việc, việc nội trợ có vợ đảm đang. Mỗi ngày, tôi có cơm ăn ngon, có áo quần sạch, ủi thẳng để mặc, cuộc sống êm đềm, có chi phải lo. Vả lại, từ khi đọc câu thơ của Trần Dần

“Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người,

Người vẫn kinh hoàng trước tương lai”

thì tôi cho rằng, sống trong chế độ đó, người ta mới phải “kinh hoàng trước tương lại.” Câu nói của bà Jacky Kennedy cũng ảnh hưởng tới cách suy nghĩ của tôi “Đừng đầu độc mình bằng tương lai của mình.” Theo tôi nghĩ, đó là một câu nói “chống Cộng” nhưng với bản thân tôi, trong chế độ cũ, tôi thấy cuộc đời nó như thế, có gì phải bận tâm.

            Một lúc sau, đứa con lớn nói: “Cuối cùng rồi ba cũng về.”

            Tuy hiểu ý con, nhưng tôi cũng hỏi: “Nếu ba không về thì sao?”

            – “Không ai hại mình được cả, nếu trời không muốn.”

            Tôi lại hỏi: “Cách mạng” cũng vậy, phải không?”

            Con gái tôi nói: “Nếu “Cach mạng” làm được như họ muốn thì gần hai mươi triệu người miền Nam nầy chẳng ai sống được cả, có riêng gì những người như ba.”

            Tránh không muốn nói đến chuyện chính trị với con, tôi đi tắm rồi ăn cơm. Tôi nói với con gái lớn: “Ba ăn một ít cho đỡ đói thôi, chờ má về rồi ăn chung.”

            Đứa lớn nói:

            – “Má về trễ lắm ba! Ba chờ được không?”

            Tôi nói: “Chờ được chớ! Má đi xa lắm à?”

            – “Ngày nào má cũng đi, xa lắm, má xuống tận Cần Giuộc mua gạo rồi về theo ngã cầu Ông Thìn hay qua ngã Phú Lâm. Nhiều ngày Công An bắt dữ lắm, má đi tắt qua ngã Tầm Vu, Rạch Kiến, qua bến đò trên con rạch nhỏ đầu nguồn sông Bình Giao mà về Saigon, vất vả lắm.”

            Tôi ngồi thừ ra. Vậy mà vợ tôi dấu tôi. Khi thăm nuôi, vợ tôi nói chỉ là ra tới Phú Lâm mua gạo rồi chở về bán ở Saigon.

Từ Phú Lâm về Saigon, chưa dài bằng một phần ba con đường từ Cần Giuộc về. Những con đường vợ tôi lén Công An đi buôn gạo, tôi đã từng đi qua. Ngã cầu Ông Thìn thì phải đi qua bót Cảnh Sát Ký Thu Ôn, cửa ngõ Saigon ở quận 6. Qua Phú Lâm là đi trên quốc lộ 4. Ngay cả Tầm Vu, một khu vực nằm giữa Quốc Lộ 4 và cầu Ông Thìn trên liên tỉnh lộ 5A,  tôi cũng đã từng đến rồi. Trong chiến tranh, Tầm Vu là nơi chiến cuộc xảy ra không ít lần, có những trận rất lớn. Tôi từng tham dự vài trận đánh ở đó.

Một lần, một đơn vị lớn Việt Cộng chưa kịp rút về mật khu Ba Thu, bị vây ở Tầm Vu. Việt Cộng phản công dữ, đơn vị của tôi phải xin pháo binh của chi khu Bình Chánh yểm trợ tối đa, lại chi viện thêm 4 khẩu pháo của pháo binh Sư Đoàn 7 nữa, rồi xin thêm hai phi tuần oanh kích vị trí địch trong rừng dừa nước. Dù sao thì hồi đó tôi cũng không gian khổ như vợ tôi bây giờ. Di chuyển tới trận địa, tôi đi bằng xe hơi quân đội. Chỉ khi vô mục tiêu, tôi mới phải lội bộ với lính. Đường liên tỉnh 5A hay Quốc lộ 4 là đường nhựa. Ở Tầm Vu, toàn đường rải đá, chưa có khúc nào có nhựa, gập ghềnh, khó đi. Vậy mà vợ tôi ngày nào cũng đạp xe đạp trên con đường đó để trốn Công An. Mỗi ngày, mỗi năm 365 ngày, có lẽ chỉ trừ vài hôm Tết ta, cũng gần năm, bảy năm trời đằng đẵng như vậy, từ Thanh Đa đạp xe đi và về, xe đạp của cô ấy phải nuốt một đoạn đường dài hơn 50Km, chở theo ba bốn chục ký gạo trên đường về để kiếm chút tiền lời nuôi con ăn học, và nuôi chồng ở trong tù. Nhìn lại một quá trình nặng nhọc như vậy, hỏi ai không khỏi kinh hoàng. Đúng vậy đấy, đúng là một chế độ “kinh hoàng trước tương lai.”

            Mãi đến khi trời chiều bên ngoài cửa sổ xuống đã lâu, nhìn mầu trời thẩm đen dần dần, tôi thấy lo cho vợ, thì các con tôi nghe tiếng guốc gỏ nhẹ ngoài hành lang. Biết mẹ đang về, chúng bèn kéo tôi vào buồng, khép cửa lại để gây cho mẹ sự ngạc nhiên chơi.

Tôi ngồi trong buồng, nhìn qua khe cửa. Tôi thấy vợ vào nhà. Vợ tôi, nón lá cầm tay, áo bà ba mầu xanh sẫm, hình như ướt đẫm mồ hôi ở nách áo, quần đen, guốc cao, trông có vẻ mệt, phờ phạc. Thấy cơm còn để nguyên trên bàn, vợ tôi hỏi:

            – “Răng mấy đứa con chưa ăn, chờ má chi! Ăn sớm lo học bài.”

            Thấy chùm chôm chôm trên dĩa, cô ấy bèn hỏi:

            – “Chôm chôm ai mua? Ai mua ri?”

            Các con, đã dặn nhau, không đứa nào trả lời, nhìn mẹ cười. Như có linh tính, vợ tôi hỏi:

            – “Ba về? Ba về phải không?”

            Rồi vợ tôi nhìn vào phòng, qua khe cửa thấy tôi trong đó, liền chạy a vào, la to: “Ba về! Ba về.” Tiếng la như một sự mừng rỡ, thảng thốt mà thốt ra, chứ mấy đứa con, đứa nào cũng biết “Ba về” rồi, vợ tôi gọi to với ai!

Cô ấy, nhanh như một cơn gió, xô cửa chạy vào phòng. Thấy tôi ngồi ở mép giường, vợ tôi ôm chầm lấy chồng, nói như đứt hơi: “Anh về, anh về rồi.” Rồi đè ngữa tôi xuống giường, nằm chồng lên người tôi. Vợ tôi tiếp tục nói, mỗi lúc giọng càng nhỏ lại, lã đi vì hồi hộp, sung sướng: “Anh về! … Anh… về…rồi!” Rồi hôn vào mặt tôi tới tấp. Tôi có cảm giác rất rõ, những giọt nước mắt của vợ chảy tràn trụa trên má tôi!

&

            Ngày hôm sau, mừng chồng về, cô ấy ở nhà, nói với tôi:

            – “Ở nhà một bữa với anh cho vui. Nghỉ một ngày cũng chưa chết ai!”

            Các con đi học cả, nhà chỉ còn hai vợ chồng. Tôi nằm nghiêng bên vợ, ôm ngang lưng. Tôi đưa tay sờ từ bụng lên ngực, rồi mặt vợ, tôi nói:

            – “So với các con, em ít khác đi. Các con đứa nào cũng lớn mau quá, còn em thì lúc nào cũng vẫn cứ như Gina Lollobrigida.”

            – “Làm gì?! Già thì xồ xề đi chớ! Nịnh vợ nữa!” Vợ tôi vừa cười vừa nói.

            – “Nịnh đâu! Thiệt mà! Em nhớ hồi đó anh cứ ví em với Gina hay Sophia Loren. Vòng ngực, vòng eo, tưởng như làm nổ mắt mấy thằng chạy theo em!”

            – “Nhưng có ai được em đâu! Chỉ có anh không bị nổ con ngươi?”

            – “Tại vì, tại vì… anh có… mắt thần! Hồi ấy “Anh theo Ngọ về” muốn gãy cả hai chân. Tiếc hồi đó em không chụp hình để treo chơi.” Tôi nói.

            – “Mắc cỡ chết! Ai mà ở truồng cho người ta chụp hình.”

            – “Vậy mà hồi đó, anh bạn họa sĩ Quách Văn Tuyền, cùng khóa Thủ Đức, thấy em lên thăm anh, khen em đẹp, rồi hẹn với anh ra trường, sẽ về nhà mình vẽ cho em một bức khỏa thân. Tiếc thiệt!”

            – “Tiếc chuyện chi?” Cô ấy hỏi.

            Tôi nói:

            – “Anh bạn đó, vì bằng tú tài của anh ấy là bằng Tầu, không được bộ Giáo Dục xác nhận tương đương với bằng Việt Nam, buộc anh ta phải đi hạ sĩ quan nên anh đào ngũ. Anh ta nói anh trốn về Saigon, hẹn gặp anh ở nhà ca sĩ Thanh Thúy. Ra trường, anh không có dịp tìm anh ta ở chỗ đó. Nếu gặp được, nay em có bức tranh đẹp rồi.”

            – “Kỳ chết!” Vợ tôi trả lời.

            – “Kỳ gì! Em nhớ ở quê, cả thị xã Quảng Trị, có ai không nói em đẹp như tài tử ciné.”

            Một lúc, tôi nói:

            – “Cho anh nhìn thân hình em lại chút đi, nhớ quá!”

            – “Kỳ chết! Ban ngày ban mặt mà anh!”

            – “Nếu ban đêm như tối qua thì thấy chi mà coi. Coi ban ngày mới đã con mắt chớ!”

            Nói xong, tôi ngồi bật dậy, từ từ kéo lưng quần vợ xuống. Tôi nhìn vào âm hộ vợ, kéo chân vợ giang ra, và tôi sững sờ khi thấy một vết nám đen ở phía dưới cái ấy của vợ. Tôi nghĩ ngay đến những đoạn đường dài vợ tôi đạp xe đạp mỗi ngày. Rõ ràng vết nám nầy là kết quả của những ngày, những tháng, những năm dài đạp xe đạp trên những con đường gian nan, khổ cực của vợ tôi.

            Dù tôi không giàu, nhưng trong những tháng năm vợ chồng sống bên nhau, có bao giờ cô ấy phải khổ như thế đâu, đạp xe đạp nhiều như thế đâu.

Hồi mới cưới, đầu thập niên 60, tôi có chiếc xe Vélo, đi đâu cũng hai vợ chồng đi với nhau, tôi đèo vợ sau xe. Rồi tôi sắm xe Vespa, xe Honda, rồi tới chiếc xe hơi Mazda 1200, cô ấy bán xe hơi sau khi Việt Cộng chiếm Saigon.

Vậy mà bây giờ, cái vết nám…là chứng tích nỗi gian khổ của vợ. Tôi xúc động mãnh liệt vì cái vết nám chứng tích đó, vết nám chứng tích sự đày đọa của một chế độ hà khắc đối với người dân của nó. Sự hà khắc đó đã đem đối xử với bất cứ hạng người nào, giàu nghèo sang hèn thì cái chế đó cũng cần phả đánh đổ nó đi, không bao giờ người dân lương thiện chấp nhận một chế độ hà khắc với dân, không để cho nó được tồn tại một ngày một giờ nào. Người dân phải sống trong một chế độ phục vụ dân chúng, đem lại hạnh phúc chứ!

Rồi tôi gục trán vào chỗ u trên âm hộ vợ. Tôi cảm nhận rất rõ những sợi lông mềm cọ vào trán tôi: Thương vợ quá… Và những ngày dài gian khổ, những đoạn đường dài, đá sỏi, gập ghềnh, khúc khuỷu cô ấy phải đạp xe đi qua suốt những mùa mưa nắng, những ngày nóng, ngày lạnh của khí hậu miền Nam. Không ngày nào cô ấy không đạp xe đi. Không đạp xe đi lấy gì nuôi đàn con nhỏ, nuôi chồng trong tù.

            Tôi có cảm tưởng như mình có thể khóc được, khóc ngay tại chỗ, nhưng cố nín. Khóc là xấu hổ, là hèn. Nhưng nếu thương vợ quá mà khóc, nước mắt tôi sẽ rơi ngay xuống chỗ đó. Vợ tôi sẽ hiểu. Tôi không muốn để vợ thấy nỗi xúc cảm mãnh liệt của tôi trong lúc nầy, tôi cố nín.

            Một lúc, cô ấy hỏi:

            – “Cái gì vậy anh?”

            Lợi dụng lúc đó, tôi cởi phăng cái áo may-ô ra, kéo lên phía đầu. Trong một tích tắc rất nhanh, lợi dụng việc cởi áo, tôi đưa áo quẹt nhanh vào hai mắt, lau nhanh, nếu như có giọt nước mắt nào nơi đó. Rồi tôi quay người nằm chồm lên người vợ.

Có lẽ lúc đó vợ tôi đang nhắm mắt nên không thấy gì. Với lòng thương vợ dào dạt và nỗi uất hận đang dâng tràn lên, tôi vội vàng vòng hai tay ôm lưng vợ thật chặt, xiết mạnh, trước khi có những hành động nối tiếp khác của một người chồng.

hoànglonghải

            (1) Câu nói các tù cải tạo thường nói mỉa về mình

            (2) Những học sinh có cha mẹ đi tù cải tạo, đều bị xếp loại lý lịch số 13, không được vào học các ngành “quan trọng” (theo sự phân loại của chế độ) như Y Khoa hay Kỹ Sư. Các học sinh nầy bị chuyển qua học các ngành khác ít “quan trọng” hơn, dù khi thi vào có được điểm cao.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

1 Trackback / Pingback

  1. Vết Nám | CHÂU XUÂN NGUYỄN

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: