Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 34) Đất Khách…

Tha hương ngộ cố tri!

(Cửu hạn phùng cam vũ Tha hương ngộ cố tri Động phòng hoa chúc dạ Kim bảng quải danh thì)

Thế rồi có những kẻ “đi chui”, – như tôi chẳng hạn -, cũng không ít người lên máy bay, rời quê hương đến định cư ở xứ người. Phần nhiều các bạn tù cũ của tôi đều ở Nam Cali, chỉ riêng tôi và “Kim nhí”, – Kim nhỏ con, gốc chú Ba Chợ Lớn – để phân biệt với “Kim voi” – Kim “đô” con, quê ở Bình Dương -, thì nhà cách nhà tôi không xa. Nguyễn Quảng Thành, thường gọi là “thành gù”, Hoàng Hữu Chung và Đào Sơn Bá, định cư ở Boston.  Cách một giờ lái xe, kể từ nơi tôi ở.

“Kim voi” đã qua đời sau khi được tha không bao lâu. “Kim nhí” khi qua tới Mỹ thì cậu con trai lớn phải vô bệnh viện tâm thần. Đúng là “Phúc bất trùng lai”. Quảng Thành thì người vợ cũ, cũng là học trò cũ của anh, khi anh còn dạy học ở Sông Cầu, thì giương buồm cho “thuyền ra cửa biển” mất rồi. Anh cưới một bà đã lớn tuổi, cho “êm một tuổi già”! Thế cũng xong duyên phận cho một người tù khi được tha thì tóc đã nhiều muối hơn tiêu ???!!!

Trắc thì buồn hơn.

Vợ anh ra đi ngày đó, đem theo hai con gái. Hai cô con gái lớn lên, học hành và thành công ở Mỹ, có một cô làm chuyên viên trong Bạch Ốc, nhưng không đoái hoài gì tới bên nội, dù bố là cháu của tông tông. Cái “hào quang” thời chế độ đã lịm tắt rồi, khơi lên làm chi đống tro tàn!? Bọn trẻ thế hệ thứ hai, lớn lên ở quê người, không muốn nhìn lại dĩ vãng nữa hay chăng, quên hay cố quên cái gốc của mình đi hay chăng?

Trước khi rời Việt Nam, Trắc có một cô vợ mới: Hạnh, khá đẹp, mặt mày phúc hậu. Hạnh là chị cả, sau lưng những mấy đứa em, tất cả đều mồ côi cha mẹ. Em sống dựa vào lưng chi. Trong hoàn cảnh đó, qua tới nơi, Hạnh “giã từ anh yêu” để lấy một chú Ba giàu có.

Nghe chuyện, tôi hỏi Trắc. Trắc nói:

-“Tại tui anh à! Tại tui à! Hạnh phải lo cho em, không bỏ các em được mà tui thì không có khả năng. Nhờ bỏ tui mà Hạnh lần lượt bảo lãnh cho các em qua Mỹ hết. Thằng Tàu chồng nó nhiều tiền, muốn chi chẳng được. Hạnh thương các em lắm! Chị em nó mồ côi cả cha lẫn mẹ! Tội lắm!”

Nghe Trắc nói, tôi chỉ thở dài. Yêu nhau, thương nhau, thông cảm nhau và tha thứ, hy sinh cho nhau. Đâu có phải ai cũng nghĩ và làm được như Trắc.

Thế rồi tôi tìm về Cali, là đi tìm thăm các bạn cũ. Mấy bạn tù họp nhau lại, rủ tôi đi uống cà phê, và tới thăm… Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ. Những người từng chịu nhiều gian khổ trong cuộc chiến vừa qua, những từng người từng đổ mồ hôi, nước mắt, và cả xương máu hay một phần thân thể, cho công cuộc chiến đấu Bảo Vệ Tự Do cho Miền Nam và cho Thế Giới Tự Do, khi đến Cali, khó mà không tìm đến nơi nầy để tìm lại… chính mình.

Thế rồi chúng tôi kéo nhau về nhà người anh vợ tôi. Nhà tôi nấu sẵn một nồi bún bò lớn, “bún bò Huế” thật sự, có sả ớt, có thịt bò xào, giò heo và có cả… ruốc Huế. Một nồi bún bò chính hiệu con nai.

Đang ăn, tôi hỏi Dương Tiến Đông:

-“Qua đây rồi mà ông còn “chồng chúa vợ tôi” phải không? Liệu hồn vợ nó đuổi ra khỏi cửa.”

Trắc cười:

-“Liệu hồn gì nữa! Không những vợ nó mà cả con cái cũng đứng về phía mẹ. Bây giờ thì ra gầm cầu.”

Đông, đúng là “ông Khouảng Nôm” hay tự ái, cải chính:

-“Sức mấy.” Rồi Đông quay qua tôi:

-“Anh thấy không! Chủ nhật nào đi bán chợ trời về, tui cũng gọi anh nói chuyện chơi!”

“Trên đường về nhớ đầy” chớ gì! Thui thủi một mình trên đường về, “ông”gọi tui để làm cục kê cho “ông”! “Cho vơi đi niềm nhớ”. Mà ông nhớ cái gì?” Tôi hỏi.

-“Cái gì cũng nhớ hết. Thuở học trò, hồi đi lính, khi ở tù… Cuộc đời nơi đất khách có nhiều cái nhớ: “Ôi! Cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!”

Tuy gọi là buồn, nhưng nói xong, Đông lại nhìn tôi cười.

-“Buồn! Rồi “ông” trách ai?” Tôi hỏi.

-“Tôi chẳng trách ai cả anh à! Trách là trách mình trước. Thiếu gì người qua đây rồi trách người nọ, trách người kia… làm mất nước; trách ông Thiệu, trách cụ Hương, cụ Huyền, trách ông Dương Văn Minh, trách ông linh mục chống tham nhũng mà thực ra là làm cho miền Nam mau thua Việt Cọng, trách ông Trí Quang là “Cộng Sản nằm vùng”, thay vì “thích đủ thứ” thì quay ra “trách đủ thứ.”

-“Ông” nói làm tui nhớ câu Đại Tướng Viên nói với Nam Dao: “Ba mươi năm qua rồi, ngồi đây mà đổ tội cho ai!?” Ông tướng mà khi chạy khỏi nước, lại chỉ đem theo có cuốn kinh Phật. Đúng là “Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng”. Chê trách người khác để cho mình sáng lên cũng là tâm lý đó “ông”! Bây giờ, ở bên nầy, nhiều tay “nổ” dễ sợ luôn.”

-“Cũng có thể nói như Tướng Viên là tinh thần chủ bại. Nhưng anh thấy không, những “anh” tác chiến, đánh hết trận nầy qua trận khác, hành quân “Mút mùa Lệ Thủy” thì qua đây im re. Nhiều tay khác, khi ra trường, cố chạy cho được “đơn vị không tác chiến” thì bây giờ dùng toàn pháo đại không?” Đông nói.

-“Trước kia “ông” ở đơn vị tác chiến?” Tôi hỏi.

-“Tui ở Khối Chiến Tranh Chính Trị của tiểu khu.” Đông trả lời.

-“Hồi ấy, vô tù, nhiều anh khai làm “chiến tranh chính trị” cho nhẹ tội. Đâu có bóp cò. Bóp cò mới nặng tội hơn chớ!” Tôi nói.

-“Người ta gọi là “đánh giặc miệng” anh à! “Lấy mồm mèp đỡ chân tay”. Tục ngữ nói vậy. Vô tù cứ nghĩ “Đánh giặc miệng đỡ… bóp cò.” Tôi nhẹ hơn nhiều. Ai ngờ Việt Cộng nó nghĩ theo cách của nó. Đánh giặc miệng là công việc của chính trị viên, của chính ủy. Mấy tay nầy quyền hạn hơn cả thủ trưởng. Việt Cộng ưu tiên cho đi “thăm lăng bác” mấy anh Chiến Tranh Chính Trị”.

-“Cũng nhiều tay ngon lành! Học “Đại Học Chiến Tranh Chính Trị” ra nhưng khi về đơn vị lại xin đi tác chiến. Mấy chả ghét ngồi cạo giấy!” Tôi nói.

-“Mặt trận chính trị thường quan trọng hơn tiếng súng ngoài trận địa. Mình hồi ấy cứ nghĩ tại tụi Mỹ cúp viện trợ nên thiếu súng đạn mới thua Việt Cộng. Có đủ súng đạn chơi tay đôi như không! Chắc gì ai ăn ai!” Đông góp ý.

-“Trận địa chiến, Việt Cộng đánh không lại. Cứ coi lại “Bình Long Anh Dũng”, “Kontum Kiêu Hùng”… thì biết ngay. Mình có thua đâu! Nhưng chiến tranh kéo dài thì mình thua. Việt Cộng thì phát triển du kích chiến, mà mình thì không nắm được dân.” Tôi nói.

Trắc hỏi:

-“Anh nói sao?”

-“Chiến Tranh Nhân Dân” mà “ông”. Tự người dân phải cầm vũ khí chống kẻ thù. Attila nói: “Vó ngựa quân ta đi đến đâu, cỏ ở đấy không mọc được nữa.” nhưng qua tới Việt Nam thì thua, thua vì ở Việt Nam toàn dân đánh giặc, không riêng gì quan binh triều đình.”

-“Tình hình miền Nam trước 75 thì khác?” Đông hỏi.

-“Cách chiến đấu của Quân Đội Việt Nam mang “dấu tích” chiến tranh Pháp Việt. Đóng đồn, giữ đất… bỏ dân; không có dân, không thắng được giặc, nặng tính chất “lãnh thổ”, “giữ đất, giữ đường”. Tôi nói. “Thật ra, theo tui nghĩ, người ta cần có một cuộc cách mạng về quân sự, về chiến lược. Bỏ mục đích giữ đất bằng cách đóng đồn “bót”, “đồn” là ở trong dân chúng, trong dân quê, mỗi xã, mỗi ấp là một đồn.”

-“Đó là kinh nghiệm của anh!” Trắc hỏi. “Sao tui thấy nó giống “Áp Chiến Lược” quá!”

-“Vừa là kinh nghiệm bản thân, vừa là điều đọc trong sách vở.” Tôi nói. “Trên lý thuyết, “Ấp Chiến Lược” là hay lắm, nhưng mới chỉ thực hiện có phần đầu mà thôi, là phần lùa dân vô trong vòng kẽm gai, coi như vô trại tập trung. Còn việc xây dựng về giáo dục, y tế, xã hội… chưa làm được gì hết thì nhà Ngô tan hàng. Làm được thì coi như “tát nước bắt cá”. Cái của ông Nhu, không mới lạ gì đâu. Trong “Con Đường Sáng”, Hoàng Đạo đã vẽ ra con đường đó rồi. Với lại, như tui thấy trong “Con đường buồn thiu”, Bernard Falls, nói về mấy viên chức xã ấp. Khi Tây tới, mấy chả đi theo Tây về làng, tập họp dân chúng, nói “trên trời dưới đất” gì đó. Tới tối thì mấy chả vô đồn ngủ, sợ Việt Cộng về, bỏ mặc dân chúng, không ai bảo vệ. Tụi cán bộ nằm vùng lại mò ra, trong bưng mò ra hay hầm bí mật chui lên, tuyên truyền, dụ dỗ, phỉnh gạt, đe dọa… dân chúng. Dân chúng không muốn theo Việt Cộng có được không? Chúng nó chặt đầu cắm lên cọc tre, người dân ai mà chẳng sợ.”

-“Vậy là dân theo chúng nó hết?” Đông than thở.

-“Cái thế của mình, kẹt lắm. Một mặt thì Việt Cộng tuyên truyền chống ngoại xâm, giành độc lập. Thằng Tây thì mắt xanh mũi lõ, thằng Mỹ cũng mắt xanh mũi lõ, thằng nào chẳng là “ngoại xâm”. Kể từ thời mấy ông cố đạo “mắt xanh mũi lõ”, dẫn Tây qua xâm lăng nước ta, người Việt Nam đã nghĩ như vậy rồi. Tụi Tây phương đứng ngay sau lưng mình thì mình tuyên truyền “độc lập” làm sao được? Còn cán bộ của mình thì như khi tui về Gò Công, một người bạn tôi đưa ra một thí dụ: Anh cán bộ của mình, cảnh sát hay lính làng lính lệ, dừng xe Honda ngay trước cổng nhà ông Ba, ông Bảy nào đó, gọi vô: “Bữa nay có chi nhậu không?” Người dân thì sợ, nhà có “quân dịch quân gà” hay buôn bán gì đó, vội đáp ngay: “Dạ có! Dạ có nhậu, chờ một chút, tui bày bàn ra.” Việt Cộng thì khác, nửa đêm tụi nó trong bưng mới ra tới, gõ cửa nhà ông Nam, ông Bảy, hỏi thăm: “Năm nay mùa màng có được không? Cảnh Sát, cán bộ, lính làng lính lệ có quậy phá gì không? v.v…” Người dân quê thiệt thà, nghe hỏi vậy là mát lòng lắm, không nghe Việt Cộng sao được?! Làm sao có cán bộ về tận xã ấp, ăn ở với dân, làm nhà, sửa chuồng heo, làm vườn cho dân… Đêm ngủ lại đó, trong nhà dân. Cộng Sản nào mà ngóc lên được. Nắm được dân là chúng nó thua.” Tôi nói.

-“Ông Thiệu cũng chủ trương dân chúng tự vệ đó chớ.” Trắc nói. “Ông bảo phải phát súng cho dân. Một chính phủ không dám phát súng cho dân là một chính phủ không phải của dân. Anh thấy không? Xã ấp nào cũng có “Nhân Dân Tự Vệ”.

-“Năm 1973, Nhân Dân Tự Vệ xã Sóc Sơn ở Rạch Giá thắng một trận vẻ vang lắm! Cái đó nhờ dân chúng là dĩ nhiên, nhưng cũng phải nói, nhiều tay xã trưởng ngon lành lắm. Ỏ Kiên Giang nhiều tay xã trưởng dẫn Nhân Dân Tự Vệ đi kích Việt Cộng. Bọn nó dính chấu là cái chắc. Địa phương của người ta mà, rành rẻ địa thế là đánh giặc tiện lắm. Có xã trưởng thường đi ngủ ấp, không ngủ tại xã. Tui nói “ngủ ấp”  là nói theo nghĩa đen, mấy chả đừng nghĩ bậy cho người ta nghe!” Tôi kể.

Một lúc, tôi nói tiếp:

-“Nhân Dân Tự Vệ xã Sóc Sơn hầu hết là người Miên. Tối lại, họ tập trung về xã, bảo vệ trụ sở xã, chứ không hoạt động ngay tại ấp, thành ra họ cũng không phải là người bảo vệ dân. Họ cũng sợ chớ! Lỡ Việt Cộng tấn công, không ai yểm trợ họ. Họ “đơn thương độc mã” chống giặc. Chống du kích thì họ chống được, nhưng nếu Việt Cộng tấn công bằng lực lượng Huyện Đội hay Tỉnh Đội thì họ thua. Ấp nào Nhân Dân Tự Vệ hoạt động hữu hiệu là Việt Cộng điều một lực lượng lớn, mạnh, tới tấn công ngay. Dân chúng không tự bảo vệ mình được. Hễ Việt Cộng chiếm được vùng quê, thì thị trấn, thị xã bị cô lập. Càng ngày Việt Cộng càng mạnh thêm.”

-“Cái nầy là “lấy nông thôn bao vây thành thị” chớ gì!” Ở Thủ Đức mình có học mà.” Đông nói.

-“Học thì học vậy, nhưng khi ra trường, ngoài việc hành quân, đóng đồn, “tìm và Diệt”… tôi đâu có thấy chiến lược nào để chống “nông thôn bao vây thành thị”. Coi như sách vở đã học đem cất kỹ vô tủ. Bernard Falls biết rõ chiến lược nầy. Ông ta được coi là chuyên viên về “Du kích chiến” của Mỹ, ông làm cố vấn cho Bộ Quốc Phòng và các tướng lãnh Mỹ.” Chiểu nhận xét.

-“Có một điều tui hết sức làm lạ! Bundy, giám đốc Xịa, qua Saigon làm phó đại sứ, đặc trách chương trình “Bình Định Nông Thôn”, đang có kết quả thì Mỹ bỏ ngang.” Tôi nói.

-“Cán bộ “Bình Định Nông Thôn” thì làm được cái gì?” Đông nói, có vẻ thiếu tin tưởng.

            -“Ông về nông thôn thì biết ngay. Việt Cộng sợ đám “cán bộ Xây Dựng Nông Thôn” nầy lắm. Giết được là giết ngay không thương tiếc. Cái cung cách làm việc của họ, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân thì tên Việt Cộng nào mà nằm vùng được?!” Cái trường cán bộ của Đại Tá Bé đào tạo được nhiều cán bộ xã ấp, giữ được nông thôn. Tiếc là cái chương trình nầy không kéo dài. Sợ ông Bé gây được tín nhiệm trong dân chúng, ông Thiệu vội dẹp ngay Trung Tâm Chí Linh, mở trường “Cách Mạng Hành Chánh”.

            -“Tui có cảm tưởng như anh khoái nông thôn lắm. Bộ gái nông thôn đẹp hơn con gái thành thị hả?” Đông nói đùa.

            -“Ông biết trong Nam nầy con gái đâu đẹp nhứt không? Đẹp nhứt là gái Long Xuyên, vùng nước ngọt. Trắng nhứt là gái Kiến Hòa, tụi nó ở trong dừa, ít làm ruộng. Con nào con đó trắng bóc, như trứng gà; không biết cái ngao có trắng không? Kiên Giang thì mấy con nhỏ “đầu gà đít vịt” khỏi chê. Tầu lai Miên tụi nó đẹp lắm.” Tôi nói.

            -“Anh biết những nơi vua Gia Long bỏ cung nữ mà “tẩu quốc” chớ, con gái cũng nổi tiếng mà.” Trắc hỏi tôi.

            -“Một là Thới Bình, ở Chương Thiện, hai là Nha Mân, Sadec. Hai nơi nầy, bị Nguyễn Huệ đuổi riết, Nguyễn Ánh chỉ kịp “dông” có một mình, bỏ lại bầu đoàn thê tử”. Tôi giải thích.

            -“Đẹp lắm phải không?” Đông hỏi.

            Trắc chọc quê Đông:

            -“Hễ nghe có con gái đẹp là mầy nhào dzô!”

            -“Nhào vô mà chết. Con gái Nha Mân thì tui không rõ. Tui chỉ đi qua. Con gái Thới Bình thì tui biết rõ hơn. Tui hành quân ở đó năm, bảy ngày là thường. Mặt thì đẹp mà tay thì bị phung.” Tôi giải thích.

            -“Phung là cùi hả?” Trắc hỏi.

            -“Gì nữa! Tụi nó hai che hai bàn tay, không cho mình thấy bị cùi. Có “lời nguyền” đó. Anh nào dính vô rồi quất ngựa truy phong là coi như đời tàn. “Tài sản” của vua chúa mà, có yểm bùa. Vô là dính ngay.” Tôi nói.

            -“Cha nầy nói dốc không. Để tui về Thới Bình một lần, coi thử ông Gia Long làm chi tui.” Đông nói cứng, như tính tình của Đông thường vậy.

            Một lúc, tôi hỏi:

            -“Mấy “ông” sang đây, có ai về Việt Nam chưa?

            -“Về thì có về. Về rồi thì buồn nhiều hơn vui. Bà con lần hồi cũng xa đi. Ai rảnh rổi đâu mà nhớ cố hương như mình. Không còn cái tâm trạng “Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên” (1) như Nguyễn Bính nữa. Tất cả đều cuốn hút. Nghèo thì lo cơm gạo, giàu thì lo kiếm thêm tiền. Bằng cách nào cũng được, miễn có ăn, có tiền. Không còn lương tâm. “Lương tâm đem chặt ra hầm, Chồng chan vợ húp khen thầm là ngon.” Chiểu nói có vẻ chán nản.

            Tôi xác quyết:

            -“Văn hóa vô sản mà ông. Người ta gọi là “Văn hóa Chí Phèo” đấy. Có điều người Cộng Sản muốn độc quyền chính trị nên họ đẩy dân chúng vào hoàn cảnh, ngoài “cơm áo gạo tiền” ra, người dân không còn thì giờ nghĩ đến chuyện khác nữa.”

            Trắc góp ý:

            -“Ở bên Mỹ nầy, việc cai trị cũng từ bọn “chuyên nghiệp chính trị” vậy. Ai không có cái “chuyên nghiệp” ấy làm sao ứng cử, đắc cử. Mỹ cũng cần phải có những cuộc cách mạng về chính trị vậy. Hiến pháp thì giữ, nhưng bọn làm chính trị cần thay đổi.”

            -“Tui đồng ý với ông đấy!” Tôi góp ý.

            Đông lại hỏi:

            -“Việt Cộng tống bọn mình đi HO, để rộng đường cho chúng nó tự tung tự tác chớ gì?’

            -“Từ ý nghĩa của ông, tui thấy cần đặt lại vấn đề con cái cán bộ du học ở Mỹ.” Tôi nói.

            -“Anh muốn đuổi tụi nó về!” Trắc hỏi.

            -“Đâu phải! Đào tạo chuyên viên là điều đất nước cần để phát triển. Ai lại muốn đất nước mình chậm tiến! Mai mốt bọn chúng trở về phục vụ đất nước.” Tôi trả lời.

            -“Tụi nó vừa hồng vừa chuyên anh ơi! Trông mong gì!” Đông nói với giọng không vui.

            -“Với Cộng Sản, đất nước là phải khép kín. “Ông” không nghĩ khi tiếp xúc với xã hội Tây phương, tụi nó không “giác ngộ” hay sao? Phản tuyên truyền! Khi bị phản tuyên truyền chúng nó sẽ chống lại chế độ.”

            -“Cũng có đứa thôi! Vì quyền lợi, chúng nó sẽ như nhau hết!” Trắc nói.

            -“Đó là điều đáng buồn. Dưới thời Tây đô hộ mà còn đỡ. Tháng 8 năm 45, cách mạng bùng nổ khắp nơi. Rồi Nam Bộ Kháng Chiến, Kháng chiến giành độc lập. Đó là tinh thần của giới thanh niên cuối thời Pháp thuộc. Bây giờ, không tìm đâu ra cái tinh thần đấu tranh và hy sinh đó. Thanh niên bây giờ bị chính quyền xô đẩy vô con đường hưởng thụ, ăn chơi, làm gì còn những người có lý tưởng, có chí khí. Thanh niên như thế thì khi nào chế độ Cộng Sản mới sụp đổ; còn lâu lắm. Chính sách cai trị độc thiệt.” Tôi than thở.

            -“Bọn nó qua du học rồi tìm cách ở lại hết. Chán chưa!” Đông nói.

            -“Cha mẹ bọn nó dạy đó. Ở lại đây để hưởng thụ tài sản đã đánh cắp, đã cướp được ở Việt Nam.” Tôi góp ý.

            -“Kỳ thiệt! Đúng là Cộng Sản Bắc Việt! Từ ngoài kia, vô giành đất nước của người Miền Nam, đuổi người Nam đi để mặc sức tung hoành. Rồi bây giờ lại muốn bỏ mà đi nữa, để đất nước lại cho ai? Chúng nó đuổi mình đi rồi chúng nó đi theo.” Trắc thắc mắc.

            -“Bà Bùi Bích Hà, bả kể. Năm bà tới Công An để làm giấy tờ đi Mỹ, tên Công An nói: “Chị đi đâu! Hai mươi năm nữa tôi gặp chị bên ấy.”  Tôi kể lại câu chuyện nghe trên đài VNCR.

            -“Nó huênh hoang đấy. Hai mươi năm nữa Mỹ sẽ thua Cộng Sản. Nó qua Mỹ để cai trị dân Mỹ chớ gì? Hoang tưởng.” Đông nói vẻ tức giận.

            -“Cai hay không cai không cần biết. Ở Mỹ, già như bọn mình làm chi mà giàu. Còn tụi nó đi Mỹ, mang theo hàng chục, hàng trăm triệu đô, không sướng hơn mình hay sao?” Trắc giải thích.

            -“Dĩ nhiên! Họ không cần ai hết. Họ chỉ cần họ. Sợ Tầu, họ lo dọt trước, mặc cha nhân dân. “Sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi.” Đông nói giọng chán nản.

            -“Người Việt ở hải ngoại nên giang tay đón tụi du học sinh, giúp nó học hành, làm sao cho tụi thấy cái gì là dân chủ, là tự do thật sự, làm sao cho tụi nó “hồi chánh”. Vai trò của tụi nó trong việc lật đổ chế độ là quan trọng lắm đấy. Đứa nào học xong, trang bị “hành trang” cho nó, khuyến khích nó trở về với đất nước, với đồng bào, đem cái sở học của mình và lý tưởng tự do dân chủ phục vụ dân tộc.” Tôi góp ý.

            -“Khó lắm anh. Đời bây giờ mà nói như anh là đi đường ngược chiều rồi anh ơi!” Đông nói với vẻ bi quan.

            Nghe Đông nói, ai không thở dài.

            Một lúc sau, tôi lại nói tiếp:

            -“Cộng Sản bây giờ, nếu ai có chút lòng yêu nước, thương dân thì kẹt lắm.”

            -“Kẹt là sao?” Trắc hỏi.

            -“Những thằng tính đường “hốt hụi dông luôn” thì không kể. Còn những người thương dân, vì dân, thì khó xoay xở lắm. Chống Tầu, không dễ đâu. Giết Lương Minh, Liễu Thăng xong rồi, Lê Lợi phải giảng hòa, cho đúc “đại thân kim nhân” để thế mạng hai thằng tướng cướp. Vua Quang Trung phải cho Phạm Công Trị làm giả vua mà qua Tầu để cho yên mặt Bắc, chờ khi nước ta giàu mạnh rồi, vua sẽ đòi lại đất Lưỡng Quảng. Bây giờ bọn Hà Nội có cương với Tàu được không? Cương cũng kẹt, không cương lại kẹt hơn; làm sao mà “giải tội” với lịch sử. Dựa vào Mỹ mà chống Tầu thì cũng phải lựa thế Mỹ. Cái gương Việt Nam Cộng Hòa bị Mỹ phủi tay còn sờ sờ ra đó, đâu dễ quên được.” Tôi giải thích.

            -“Vậy theo ý anh thì sao?” Đông nôn nóng hỏi.

            -“Tui nhớ khoảng năm 1961, ông thầy tui, giám đốc nha học chánh, được đi một vòng “du hành quan sát” nước Mỹ. Về tới nơi, ông ta nói với chúng tôi: “Tổng thống Mỹ chỉ là tham mưu trưởng, đâu phải tư lệnh.” Tôi hơi sáng mắt ra, chỉ hơi sáng thôi! Từ đó về sau, tôi suy nghĩ câu nói nầy hoài: Tham Mưu Trưởng. Vây Tư Lệnh là ai? Là những người ở phía sau Bạch Ốc, là đám “đại xì thẩu” ở Mahattan phải không? Đám nầy phần đông là dân Do Thái. Đám tài phiệt nầy làm đủ chuyện trên đời, miễn tiền sinh lợi thì thôi: Buôn bán chiến tranh, buôn bán vũ khí, đầu tư các mỏ dầu khắp thế giới và buôn tiền… Năm 1975, khi Saigon sắp mất, Kissinger đang ở Ai Cập, bàn chuyện hòa bình giữa Sadat với Rabin. Phải ổn định Trung Đông để buôn dầu; bỏ cho Miền Nam chết vì cắt viện trợ, thiếu tiền mua súng đạn. Bây giờ Mỹ có trở lại Đông Nam Á, phải nắm áo Mỹ để chống Tầu. Nhưng thật ra, Mỹ Tầu có chống nhau thực sự không, hay chúng “bài ba con” với nhau? “Chủ nghĩa Nước Lớn” mà. Tầu, Nhật, Ấn Độ, Mỹ… là nước lớn. Châu Âu phải kết hợp thành “Cộng Đồng Châu Âu” để thành nước lớn. Chia nhỏ ra là chết sớm. Nhược tiểu như nước mình bao giờ cũng kẹt. Phải vươn thành nước lớn thì bọn tài phiệt mới nễ mặt, như Đại Hàn vậy.” Tôi nói.

            -“Đại Hàn bây giờ cũng muốn bắt tay với Tầu. Tình hình thế giới bây giờ nó phải vậy.” Trắc đồng ý với tôi.

            -“Tui có ý nghĩ nầy, nói ra chắc thiên hạ cho tui là thằng khùng?” tôi nói.

            -“Khùng sao? Sống với anh trong trại tù, đôi khi tôi cũng thấy anh khùng rồi. Đợi chi thiên hạ nói.” Đông vừa cười vừa nói.

            -“Không! Ý tui là như thế nầy! Mình là nhược tiểu. Hiệp định Paris là thằng Mỹ muốn bỏ mình. Tại sao hồi đó mình không bỏ thằng Mỹ mà cầu cứu thằng Tầu?” Tôi nói.

            -“Chết anh à! Không được đâu! Anh thấy cái gương anh em ông Diệm không? Chết thảm trong xe M-113.” Trắc nói.

            -“Nói không dám thì tui nghĩ tông tông Thiệu không dám. Cứ ngơm ngớp sợ đảo chánh thì ông Thiệu không dám làm là đúng. Tui có quen một người, môt ông trung tá, cũng “dân Quảng Trị” tui. Ông từng làm việc trong Phủ tổng Thống, có lần ông nói oang oang: “Tui ở Sư Đoàn 1. Tui biết ông Tổng Thống rõ lắm, khi ông làm Tư Lệnh Sư Đoàn. Mỹ nói chi, ông nghe nấy!” Tôi nói.

            Một lúc sau tui nói tiếp:

            -“Sợ Mỹ, bộ không ai dám làm như cụ Phan Bội Châu sao? Tây cai trị rồi, cụ Phan còn qua Nhật xin cầu viện. Bộ Tây bắt được, không chém đầu cụ Phan sao?

            -“Tui cũng nghĩ như anh.” Đông góp ý. “Bùi Viện lệnh ở đâu, mà cũng qua Mỹ xin Mỹ giúp đánh Tây. Miền Nam mình, thiếu một “Lê Lai cứu chúa”, đành chịu chết chìm.

            -“Thằng Tầu không muốn Bắc Việt hay một Đông Dương mạnh lên đâu. Gây mâu thuẫn, giữ sự tồn tại hai miền Nam Bắc là làm cho Việt Nam yếu đi. Âm Mưu nầy khá rõ đấy. Hồi hội Nghị Genève 1954, trước mặt Phạm Văn Đồng, Chu Ân Lai chuyện trò với ông Ngô Đình Luyện, hình như có mời ông Luyện qua Tầu. Trước 1975, có người Tầu từ Lục Địa qua Đài Bắc, gặp ông Nguyễn Văn Kiểu, chắc là không phải “”để làm quen” đâu. Có chuyện gì đó mà “xù”luôn.” Tôi kể.

            -“Bắt tay với thằng Tầu để làm chi?” Trắc hỏi.

            -“Bắt thằng có tóc, ai bắt trọc đầu. Bắc Việt xâm lăng miền Nam là vì quyền lợi Nga Tầu. Tầu cũng sợ thằng Nga nắm được Hà Nội nên muốn giữ Miền Nam được tồn tại. Phải không?”

            -“Thôi bỏ đi Tám! Chuyện cũ qua rồi. Nhắc lại có ích gì. Bọn mình già rồi, có “Mài kiếm dưới trăng” (2) thì cũng đem cất mà thôi.” Đông muốn kết thúc.

            -“Thế giới bây giờ như Đông Châu Liệt Quốc bên Tầu hồi xưa. Thằng Tầu mà nó mạnh lên, làm Tần Thủy Hoàng thì Mỹ cũng xong đời. nói chi Việt Nam./

hoànglonghải

  • Xóm Ngự Viên

Lâu nay có một người du khách
Gió bụi mang về xóm Ngự Viên
Giậu đổ dây leo suồng sã quá
Hoa tàn con bướm cánh nghiêng nghiêng

Buồn thu rơi nhẹ đôi tờ lá
Xóm vắng rêu xanh những lối hè
Khách du lần giở trang hoài cổ
Mơ lại thời xưa xóm Ngự Viên.

Có phải ngày xưa vườn Ngự uyển
Là đây, hoa cỏ giống vườn tiên?
Sớm Đào, trưa Lý, đêm Hồng Phấn
Tuyết Hạnh, sương Quỳnh, máu Đỗ Quyên

Cung tần mỹ nữ ngời son phấn
Theo gót nhà vua nở gót sen
Hương đưa bát ngát ngoài trăm dặm
Cung nữ đa tình vua thiếu niên

Một đôi công chúa đều hay chữ
Hoàng hậu nhu mì không biết ghen.

Đất rộng can chi mà đổi chác
Thời bình đâu dụng chước hòa Phiên

Mẫu đơn nở đỏ nhà vua nhớ
Câu chuyện: “Hô lai bất thượng thuyền”

Có phải ngày xưa vườn Ngự uyển
Là đây, hoa cỏ giống vườn tiên?

Gót sen bước nhẹ lầu tôn nữ
Ngựa bạch buông chùng áo Trạng nguyên
Mười năm vay mượn vào kinh sử
Đã giả xong rồi nợ bút nghiên

Quan Trạng tân khoa tàn tiệc yến
Đi xem hoa nở mấy hôm liền
Đường hoa, má phấn tranh nhau ngó
Nhạc ngựa vang lừng khắp bốn bên

Thắp hương tôn nữ xin trời phật
“Phù hộ cho con được phỉ nguyền”.

Lòng Trạng lâng lâng màu phú quí
Quả cầu nho nhỏ bói lương duyên

Tay ai ấy nhỉ gieo cầu đấy?
Nghiêng cả mùa xuân Trạng ngước nhìn.

Trạng bắt sai rồi, lầu rủ sáo
Có người đêm ấy khóc giăng lên

Bóng ai thấp thoáng sau bờ trúc
Chẳng Tống Trân ư cũng Nguyễn Hiền?

Khách du buồn mối buồn sông núi
Núi lở sông bồi cảnh biến thiên

Ngự viên ngày trước không còn nữa
Giờ chỉ còn tên xóm Ngự Viên

Khoa cử bỏ rồi, thôi hết Trạng!
Giời đem hoa cỏ trả vườn tiên

Tôn nữ ngồi đan từng chiếc áo
Dân thường qua lại lối đi quen.

Nhà cửa xúm nhau thành một xóm
Cay nồng hơi thuốc lẫn hơi men

Mụ vợ bắc nam người tứ xứ
Anh chồng tay trắng lẫn tay đen
Đổi thay tình nghĩa như cơm bữa
Khúc “Hậu đình hoa” hát tự nhiên.

Nhọc nhằn tiếng cú trong thanh vắng
Nhao nhác đàn dơi lúc đỏ đèn…

Hôm nay có một người du khách
Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên.

 

Cảm hoài   – Đặng Dung

Thế sự du du nại lão hà?

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca

Thời lai đồ điếu thành công dị,

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.

Trí chủ hữu hoài phù địa trục,

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,

Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

 

Bản dịch của Phan Kế Bính

 

Việc đời bối rối tuổi già vay,

Trời đất vô cùng một cuộc say.

Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,

Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.

Vai khiêng trái đất mong phò chúa,

Giáp gột sông trời khó vạch mây.

Thù trả chưa xong đầu đã bạc,

Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

1 Trackback / Pingback

  1. ĐẤT KHÁCH | CHÂU XUÂN NGUYỄN

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: