Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Phùng Thành Chủng – Mùa Vu Lan

(cảm nhận sau khi đọc tập thơ “tiếng lòng” của nguyễn hữu thuần)

Trước khi nói về thơ Nguyễn Hữu Thuần, tôi xin được bày tỏ lòng trân trọng của mình bởi những tình cảm của tác giả đối với các bậc sinh thành.

Song, đó cũng là lý do khiến tôi có phần vừa e ngại lại vừa tò mò khi đứng trước ngôi nhà thơ Nguyễn Hữu Thuần. E ngại bởi không hiểu tác giả của nó đã phải xoay trở ra sao (?) nhưng rồi tôi thấy yên tâm khi ngay trước cổng  là hai chữ được đắp nổi theo lối đại tự: “Tiếng lòng” và không hẳn như tôi nghĩ, ngôi nhà thơ Nguyễn Hữu Thuần tuy không cổ kính với những hoa văn, họa tiết cầu kỳ kiểu kẻ truyền; cũng không tân kỳ, hiện đại, moden theo mốt thời thượng nhưng đúng là một ngôi nhà Việt truyền thống.

Viết về mẹ qua động thái nhìn mẹ và cơm, tác giả linh cảm về cái ngày mẹ mình vĩnh viễn đi xa đã cận kề:

“… Run run bưng bát trên tay

Đũa rơi như đếm tháng ngày trần gian

Mẹ và cơm cứ sang ngang

Hạt rơi, hạt vịn lên giàn nếp nhăn

… Miếng cơm nhấp nước bao lần

Đưa từng hạt đã thấy dần héo hon

Con nhìn mẹ, mẹ nhìn con

Hắt hiu bóng đổ biết còn được bao?!”    (Tình con – lòng mẹ)

Viết về những “năm tháng xưa cảnh dăn bằn từng bữa”:

“… Bát con ăn mẹ chọn sắn hàng ngày

Chệu chạo vẫn nhai, nghe gieo từng hạt búng”

Rồi, để cho các con được trọn giấc say:

“Vẳng tiếng chuông chùa, vẫn tiếng mẹ à ơi!” (Thương mẹ)

Và thật xót xa, khi cái bao thắt lưng của người phụ nữ xưa trong bộ y phục truyền thống – với mẹ – còn phải đảm đương thêm chức năng “buộc bụng”:

“Đùa cười nhìn mẹ thắt bao

Biết đâu cái đói lặn vào thịt da…”

Rồi, như vẫn còn đó cánh cò, cánh vạc trong ca dao, trong lời ru của mẹ hay chính là vòng tay mẹ bao bọc, chở che, vỗ về, ru dín:

“Vẫn chồng chăn gối hôm qua

Cánh cò, cánh vạc, câu ca đọng vào…”    (Mẹ ơi!)

Lại nữa, sau sự mất mát lớn lao, những vật dụng quen thuộc của mẹ  nhưng giờ đây đã trở thành kỷ vật như: Cái cơi đựng trầu, hộp kim chỉ, chiếc nón lá, chiếc lược chải, cây gậy chống, chuỗi tràng hạt, qủa bình vôi… và cả cái khoảng trống nơi kê chiếc giường của mẹ… Tất cả vẫn như còn đeo bám lấy anh như một ám ảnh:

“Con cứ tìm như quanh đây vẫn mẹ…”

Cho đến khi nhìn thấy quả bình vôi đã khô cứng vì không có người “chăm sóc” “đứng lặng một góc nhà”, anh mới sực tỉnh và giật mình thảng thốt:

“Mất thật rồi! Đâu còn nữa mẹ ta…”

Và thời gian như người ta thường nói có thể giúp chữa lành mọi vết thương, nhưng với Nguyễn Hữu Thuần, thời gian vẫn không khiến anh có thể nguôi ngoai nỗi đau mất mẹ:

“Bao năm trống vắng cửa nhà

Xếp tầng lá rụng níu qua tháng ngày”     (Ước gì còn mẹ)

Chẳng phải vậy sao khi anh như buột miệng thốt lên “nhớ quá mẹ ơi” trong ngày lễ trọng –  mẹ  vĩnh viễn ra đi:

“Nhớ quá mẹ ơi! Sớm mai ngày giỗ”        (Nhớ quá mẹ ơi!)

Rồi mỗi dịp xuân về, tết đến:

“Bâng khuâng phút lặng giao thừa

Quanh con vẫn mẹ, như vừa đâu đây”

Cho nên thật dễ hiểu khi tác giả luôn sống trong hồi ức, trong hoài niệm với hình ảnh người mẹ của một thời gian khó:

“Thân cò lặn lội sớm trưa

Kết thành khoai sắn muối dưa tương cà” (Giao thừa nhớ mẹ)

Rồi:                        “Mồ hôi leo vít lưng còng” (Mẹ tôi)

Và người đọc không khỏi bị ám ảnh bởi những chiếc bóng! Với mẹ, đó là bóng của thời gian, bóng của tuổi tác:

“Trời chiều vít đổ hàng cau

Hắt gom nắng quái xuống đầu mẹ tôi”

Rồi:

“Bâng khuâng nhòa bóng lưng còng

Quờ tay với mẹ… lạnh lòng… sắc không”

(Nhớ mẹ)

Còn đây, cũng không biết nữa, tác giả vịn vào bóng mình hay vịn bóng cỏ may, hay… bóng tác giả vịn bóng cỏ may:

“Con về thăm mẹ chiều nay

Chông chênh vịn bóng cỏ may dẫn đường”

Lại như ẩn hiện “Khe mành bóng mẹ ngoài sân”

Và nữa “Trưa đâu mà bóng mẹ tròn” (Dáng mẹ) cũng không biết nữa, đó là tiếng lòng hay tiếng kêu thương gọi mẹ của Nguyễn Hữu Thuần.

Không! Tiếng lòng không chỉ là tiếng lòng gọi mẹ mà còn là những giọt nước mắt khóc cha:

“Từ ngày ấy quạnh cửa nhà

Khách thưa đến để ấm trà lạnh hơn”

Với hình ảnh người cha:

“…Chống tay, vịn đất bước đi quơ tròn

Ghìm sóng cả giữ đàn con

Lưng trần xẻ bão, mưa bòn bờ vai

Nhọc nhằn sáng sắn trưa khoai

Tối ngô bung đợi canh đài đêm thâu”  (Thương cha)

Và:

“… Sáng điếu thuốc lào, trưa cạnh rổ khoai lang

Chiều liêu xiêu với bóng đổ tre làng

Tối tìm diêm đốt đèn lo con học

Đếm đủ năm canh suốt đêm dài trằn trọc…”

Lại như nhức nhối về “Những năm tháng xưa cảnh dăn bằn từng bữa”

“Nón lá quần nâu mắt mờ chân chậm

Ngót chín mươi năm những chuỗi ngày lận đận

Bồ thóc nghiêng thùng gạo nép góc buồng

Mái gianh nhà làm bạn ánh trăng suông

Gian bếp lạnh chờ mẹ tôi về ấm lửa

Vợ yếu con đông áo cơm lần từng bữa

Chát mặn mồ hôi đúc đặc mấy gian nhà”

Và phải chăng vì thế – với Nguyễn Hữu Thuần – người cha còn mang thiên chức người mẹ:

“Một tiếng con ho đủ thao thức canh mòn

Sờ trán nắm tay má kề vai ấp”                     (Nhớ cha)

Bởi vậy, sự ra đi của người cha đã để lại trong anh một khoảng trống vắng không dễ gì bù lấp:

“Cồn cào khoảng lặng căn nhà

Từng góc nhỏ cứ vào ra tiếng thầy

Chưa đêm nào trọn giấc say

Mẹ đi, cha mất tháng ngày bơ vơ”

Và những giọt nước mắt khóc cha không chỉ là những giọt nước mắt tiếc thương mà còn là những giọt nước mắt của sự ăn năn, hối hận: Bởi đã từng có lúc khiến cha phải phiền lòng:

“Ăn năn nước mắt cạn dòng

Nén nhang muộn thay nỗi lòng thầy ơi”             (Thầy ơi)

Rồi:                     “Tim quặn đau không nói được thành lời

Xin tạ tội tháng ngày con chưa trọn…”      (Nhớ cha)

Ngoài tình cảm dành cho các bậc sinh thành, “Tiếng lòng” còn là nơi để anh bày tỏ tình cảm và lòng biết ơn đối với những người một thời đã từng nhường cơm xẻ áo, cưu mang, đùm bọc mình:

“Anh kính yêu ơi! Em nhớ mãi những ngày

Rau cháo có nhau, sắn lùi anh phần nửa”

Đó là cái thời: “Củ sắn cõng cơm, nặng tình đời ai dễ” vậy nên “Đã bao năm trời âm dương cách biệt”, tác giả vẫn trọn dành: “Nén nhang lòng chịu tang, thay cho dòng nước mắt” và:

“Mâm cơm hôm nay, em lặng nhìn bát đũa

Chỉ đợi người cầm! Mà nước mắt tuôn rơi”   (Tạ lỗi)

Rồi “Tiếng lòng” còn là những dòng nước mắt khóc cậu mình cũng như khóc các liệt sĩ vô danh của tác giả:

“Ba lăm xã… Hưng Hà ơi!

Cánh đồng con nước đâu nơi cậu nằm?”

Để rồi:          “… Lại nhòa câu chữ vô danh?

Khói nhang vẽ nẻo non xanh đất trời

Ngấn dòng lặng tiếng: Cậu ơi!

Tìm trong đất, đất ấm hơi ai nằm?

Thoáng bên một bóng người thăm

Hẳn hy vọng… số yên nằm có tên…

Chân nhang đội giọt sương đêm

Vương cánh gió, đã òa lên tìm người

 Âm dương hòa quyện đất trời

Cháu tìm cậu, thương bóng người tìm ai?”

Cuối cùng để đến với “Tiếng lòng” không thể không nói về những tìm tòi của tác giả trong ngôn ngữ thể hiện. Đó là câu: “Trưa đâu mà bóng mẹ tròn”; là từ “búng” trong câu “chệu chạo vẫn nhai, nghe gieo từng hạt búng”; là cụm từ “dăn bằn” trong câu “năm tháng xưa cảnh dăn bằn từng bữa”; là cụm từ “sang ngang” và từ “vịn” trong câu lục và câu bát:

“Mẹ và cơm cứ sang ngang

Hạt rơi, hạt vịn lên giàn nếp nhăn”

Là cụm từ “dột nắng” trong câu: “Chiếc nón mẹ viền dột nắng ngấm mưa”; là từ “níu” trong câu: “Xếp tầng lá rụng níu qua tháng ngày”; rồi từ “quạnh” trong câu: “Từ ngày ấy quạnh cửa nhà”; từ “vít” trong câu “Trời chiều vít đổ hàng cau”, và câu “mồ hôi leo vít lưng còng”. Từ “vịn” trong câu: “Chông chênh vịn bóng cỏ may dẫn đường”.

Và cũng không khó để có thể dẫn ra những câu thơ hay của Nguyễn Hữu Thuần như các câu lục:

“Trưa đâu mà bóng mẹ tròn”

“Khe mành bóng mẹ ngoài sân”

“Nhập nhòa vẫn mẹ ta xưa”

“Mồ hôi leo vít lưng còng”

Rồi cả câu lục và câu bát trong các cặp:

“Đùa cười nhìn mẹ thắt bao

Biết đâu cái đói lặn vào thịt da”

Và                 “Vẫn chồng chăn gối hôm qua

                     Cánh cò, cánh vạc câu ca đọng vào”   (Mẹ ơi)

“Mẹ và cơm cứ sang ngang

Hạt rơi, hạt vịn lên giàn nếp nhăn”

Và:               “Con nhìn mẹ, mẹ nhìn con

                     Hắt hiu bóng đổ biết còn được bao”

Và nữa:        “Tay lần mẹ chống bàn chân

                      Lưng còng lại nhấc, đếm lần cơm trôi”  (Tình con – Lòng mẹ)

Rồi:               “Từ ngày ấy quạnh cửa nhà

                      Khách thưa đến để ấm trà lạnh hơn”     (Thương cha)

“Trời chiều vít đồ hàng cau

Hắt gom nắng quái xuống đầu mẹ tôi”    (Nhớ mẹ)

“Con về thăm mẹ chiều nay

Chông chênh vịn bóng cỏ may dẫn đường…” (Thăm mẹ chiều nay)

“Thân cò lặn lội sớm trưa

Kết thành khoai sắn muối dưa tương cà”    (Giao thừa nhớ mẹ)

“Lại nhòa câu chữ vô danh

Khói nhang vẽ nẻo non xanh đất trời”

Và:               “Chân nhang đội giọt sương đêm

                     Vương cánh gió đã òa lên tìm người”         (Tìm mộ cậu tôi)

v.v… và v.v…

Biết vậy, nhưng không hiểu có khó tính không khi tôi cứ lẩn thẩn với ý nghĩ: Giá như những bài viết về mẹ và cha của tác giả được cấu trúc như những thi khúc Dâng mẹ và cha trong một trường ca thì ngôi nhà thơ của anh hẳn sẽ khang trang hơn và về mặt tổng thể sẽ hợp lý hơn! Nhưng mà thôi, bởi ngôi nhà đó đã được “điền hoàn địa mạch” và đã “nhập trạch”. Song, quan trọng hơn – với khách ghé thăm – cho dù là mệnh “đông tứ” hay mệnh “tây tứ” khi đặt chân vào ngôi nhà của anh đều có cảm giác bình yên. Vâng! Như đã giới thiệu ở phần mở bài, đó là ngôi nhà trước cổng có hai chữ được đắp nổi theo lối đại tự: “Tiếng lòng” và dòng lạc khoản – xin được lưu ý : Mùa vu lan của Nguyễn Hữu Thuần.

Phùng Thành Chủng

(Hội nhà văn Hà Nội)

Advertisements

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: