Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 32) Ngày Về…

Ngày trở về

Anh bước lê, trên quãng đường đê…

Tôi được “tha ra khỏi trại cải tạo” (câu ghi trong lệnh tha) ngày 2 tháng 7 năm 1982.  Tính từng ngày là 7 năm 8 ngày, nhưng vì năm 1976, 1980 là năm nhuận, nên phải cộng thêm 2 ngày. Do đó, tính ra là tôi ở “Tù Cải Tạo” đúng 7 năm 10 ngày. Tôi tính kỹ, không phải để “hận thù” như người Cộng Sản chủ trương hận thù, mà chỉ là, như người xưa nói: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”.

            Lệnh tha ghi mấy câu buồn cười: gọi là “Học Tập Cải Tạo”, nhưng có câu: “tha ra khỏi Trại Cải Tạo”. Ghi như vậy là mâu thuẫn. Đã là “tha” thì còn “học tập” gì nữa! Tha là tha khỏi trại giam, trại tập trung, chớ ai lại tha ra khỏi… trường học bao giờ!

            Nhớ hồi tôi mới về Trại Suối Máu, năm 1976, nghe bạn tù cải tạo kể lại, khi bị đưa vô trại nầy để “học tập”. Linh mục Phan Phát Hườn, Giám Đốc Nha Tuyên Úy Công Giáo, nêu thắc mắc với “ông chỉ huy” ở trại (theo tôi biết tên là Phán, trung tá Bộ Đội Việt Cộng), rằng “đã gọi là “học tập” thì phải có “Ngày Khai giảng”, “Ngày Bế giảng” của khóa học, chớ sao lại không có qui định thời gian nào cả. Vậy đây là Trại Tù giam cứu hay Trường học Tập Cải Tạo?”

            Dĩ nhiên là mấy tay bộ đội ở đó phải ngọng luôn dù chúng có ngây thơ tin rằng đây chỉ là học tập, cải tạo, hay đây chính là trại tù!

Đây là cái bẫy do Cộng Sản giăng ra để “hốt trọn ổ” số “ngụy quân, ngụy quyền” của miền Nam. Cái bẫy nầy, có thể bọn to đầu như Trần Văn Trà, Võ Văn Kiệt ở trong Nam biết cả đấy. Có biết và dù không đồng ý đi nữa, thì cũng không làm gì được với đám Lê Duẫn, Lê Đức Thọ ở ngoài Bắc… còn như đám tép riu, cỡ như trung tá Phán, chỉ huy Trại Suối Máu,  thì giống như những người mù sờ voi, “sờ thấy sao thì hay vậy”.

            Điều buồn cười thứ hai là câu: “Can tội: Đại úy” vì cấp bậc của tôi trong chế độ cũ là “Đại úy”. Có người thì ghi Can tội: Trung úy, thiếu úy hay trung sĩ… Cấp bậc là một cái tội? Buồn cười chưa? Họ không nghĩ ra được một cái tội gì khác mà ghi hay sao? Hay tôi không có tội gì cả nên họ phải ghi “can tội đại úy”, ghi cho ghi vậy hay sao?

            Trương Đình Gòn, Đội trưởng Đội 19 là đội cũ của tôi nói: “Ghi gì kệ mẹ nó. Về cái đã.”

            Nhìn các bạn tù, biết cấp bậc và chức vụ của họ, người ta đoán chừng Cộng Sản VN có qui định hạn tù cho chúng tôi cả đấy, nhưng họ không nói ra, mục đích là để “tung hỏa mù”.

            Năm kia, năm ngoái, có mấy đợt tha: Tết (cũng là dịp “Thành lập đảng 3 tháng 2), giữa năm hay “Ba ngày nễ nớn” (Ba ngày lễ lớn – gọi là nễ nớn là chúng tôi có ý ghẹo mấy tên Công An, Bộ Đội nói ngọng, ngày 2 tháng 9 với ngày gì nữa, tôi cũng quên mất rồi, nhớ làm gì ngày lễ ấy), một số thiếu úy, trung úy đã được tha. Hồi đầu năm, nhân dịp Tết, cũng có một số cấp úy được tha.

            Như vậy, có thể đoán chừng rằng: Hạn tù của cấp thiếu úy, trung úy là 5 năm.

            Bây giờ, bảy năm – như tôi là 7 năm 10 ngày – là tới hạn tù của “bò tam” (tức đại úy, tiếng chúng tôi thường gọi đùa). Lượt tha nầy có Trương Đình Gòn, như tôi nói, cấp bậc là đại úy, Lê Quang Dung, và một số bạn tù nữa, cũng “can tội đại úy” cả.

            Dĩ nhiên cũng có trường hợp đặc biệt: Anh bạn Trần Phú Trắc, – đúng ra là là bạn với Hùng Móm, em tôi -, cũng đại úy, cũng Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia cấp quận, mãi tới 5 năm sau mới “được tha”, chỉ vì Trắc là cháu Tông Tông”. (Tông Tông là tiếng chúng tôi gọi đùa cái chức của Tổng Thống Thiệu đấy).

Dĩ nhiên, trại trưởng cũng có thể đề nghị giữ lại vài người, với lý do đặc biệt nào đó, chẳng hạn những “ông” khách không mời mà đến (thường xuyên) của cát-xô, tức là “mấy thằng ông nội” chống Cộng thường xuyên, thường trực, chống triền miên, chống mệt (mà không) nghỉ.”  như “ông Nguyễn Cẩm” thằng bạn nối khố của tôi, từ năm học lớp ba cho đến khi thành niên, hoặc có “thành tích trốn trại” như “ông” Nguyễn Lô. Hai “ông” nầy là “dân Quảng Trị tui” đấy.

&

            Sau tết, tôi đang ở Trại Ngoài, có khi gọi là Trại C, trại mới xây ở dưới chân đồi Phượng Vĩ, thì bỗng nhiên, một mình tôi bị chuyển vô Trại Cây, hay Trại B, là trại tôi đã ở khi tôi mới từ Trại Suối Máu bị chuyển về đây.

            Bất thần bị chuyển trại một mình, tôi buồn hơn lo. Tại trại cũ nầy, tôi có nhiều bạn, già hơn tôi cũng có, như cụ Niệm, như Ngô Văn Tăng, như anh Nguyễn Đình Niệm, như Giáo Sư Đào Quang Huy, trẻ tuổi hơn tôi thì vô số kể, đếm không xuể, cũ cũng nhiều mà mới “đi thăm Lăng Bác về” (câu thường gọi đùa mấy ông bị đày ra Bắc) mới về, cũng không thiếu chi. Cũng có một vài người tôi “quan hệ”, bị anh em can tôi, biểu đừng. Chẳng hạn trường hợp anh Trần Ngọc Nam.

Anh Trần Ngọc Nam, người trông như Tây lai, nguyên là Việt kiều ở Miên trốn về. Sống sót ở Miên sau vụ “cáp duồn” của Lon Nol, nhưng tới khi Khmer Đỏ cai trị, anh đem vợ con lên ghe chạy trốn, xuyên dòng Cửu Long mà về Việt Nam. Gia đình anh có nhiều người bị Khmer Đỏ giết. Anh hận xứ Chùa Tháp, hứa với lòng là không bao giờ trở về cái xứ man rợ đó nữa, mặc dù, như anh ta kể, hồi nhỏ, anh là bạn học của mấy ông hoàng, con của ông Hoàng Si-Ha-Núc, như Ranariddh. Có lần được anh bà Hoàng Monique cho theo ông hoàng con vào cung điện hoàng gia chơi.

            Tôi tin anh chàng Nam nầy bởi vì, đây là lần đầu tiên tôi nghe tới “tên cúng cơm” ông hoàng con nầy, cũng như Nam bảo rằng Bà Hoàng Monique là người Việt lai Tây – chuyện nầy ngày trước tôi có biết – và bà không được tấn phong hoàng hậu, việc nầy tôi mới nghe Nam nói.

            Tôi là người tò mò nên ưa nghe mấy chuyện đó cho vui, nhưng tôi “quan hệ” với anh ta là vì có lần anh bị bệnh trĩ, đi cầu máu ra nhiều quá. Nghe người ta nói tôi cũng bị bệnh trĩ, và nhà tôi có “tiếp tế” cho tôi mấy chai thuốc ta, cầm máu hay lắm, nên anh ta đến xin. Tôi cho anh ta thuốc ngay tức thì. Sau đó, anh ta lại mấy lần đem rau muống đến cho tôi. Người ta bình phẩm gì về Nam, tôi không nhớ, tôi chỉ nhớ đến những gì anh ta đối xử với tôi, nhất là khi tôi mang “khăn gói” chuyển trại, anh ta đến giúp tôi và khóc khi tôi mang vác đồ theo “cán bộ” đi ra khỏi trại. Tôi khó quên những giọt nước mắt của anh ta lúc đó.

            Trên đường đi vô trại trong, tôi cố giữ lòng bình thản, tự an ủi rằng đâu cũng là tù. Đã là tù thì kén chọn làm chi, và đếm xem thử xem tôi đã đi đủ “Chín tầng địa ngục” chưa! Chưa đủ “chín tầng” thì khoan nghĩ tới ngày về.

            Thật ra, bọn Công An chuyển tôi vô trại trong có lẽ vì họ sợ tôi trốn trại.

Trung Úy Đoan, là “cán bộ thường trực”, thường gặp tôi để nhờ tôi đóng sách. Sau đó, trung úy Đoan, vì là bộ đội chuyển ngành nên có mâu thuẫn với mấy tên trung sĩ Công An chính gốc – lớn lên thì vô Công An chớ không vô bộ đội trước như trung úy Đoan. Anh chàng thiếu úy Lại Xuân Hùng là Công An thành phố bì “đì” nên phải lên chỗ “rừng rú” nầy. Rừng rú là chữ của anh ta đấy. Mỗi lần Hùng gom thư của “trại viên”, thường là một bao lớn, Hùng biểu tôi khỏi đi lao động, ở nhà mang bao thư lớn theo anh ta ra Bưu Điện Gia Rây, rồi anh ta bảo “Anh đi ăn hủ tiếu đi. Tôi chờ.”

            Một hôm, tôi đang ngồi ăn hủ tiếu, Lại Xuân Hùng đứng chờ bên kia đường. Hai tên trung sĩ Công An của trại tôi, một tên là Khoái, tên kia là Nhâm vào quán. Họ ngạc nhiên khi thấy tôi, hỏi tôi một cách khó chịu sao tôi lại ngồi ở đây. Tôi nói là tôi đi bỏ thư với Lại Xuân Hùng.

            Hôm đó hai tên nầy bị mấy thanh niên ở Gia Rây chọc quê. Vừa vào quán, thấy hai tên Công An, một anh gọi chủ quán:

            -“Cho tôi một cái nồi ngồi các cốc!”

            Anh thanh niên thứ hai tiếp theo:

            -“Cho tôi tô phở thịt chó.”

            Lại tới anh thứ ba:

            -“Cho tôi tô nước rửa chén!”

            Hai tên Công An vội bỏ ra khỏi quán. Có lẽ hai tên ấy “quê” với tôi đấy. Trước mặt tù thì hung hăng, phách lối; trước dân thì ngậm câm, sợ bị dân đánh cho! Tên Công An Khoái thì lùn, ác, hay bắt bẻ tù như mấy ông lý trưởng, chánh tổng trong các làng quê Việt Nam, thường được mô tả trong các tiểu thuyết của Tô Hoài, Ngọc Giao… Còn tên Nhâm thì hai môi tím thâm. Tướng nầy là tướng ác vô cùng!

Do những sự việc như vậy, mà tôi bị chuyển trại bất thình lình bởi vì cứ cái cách tôi “quan hệ” với trung úy Đoan và Lại Xuân Hùng như thế, tôi trốn trại rất dễ. Cũng có thể vì tụi nó “kênh” nhau mà “trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết oan”.

            Thật ra, cũng khó chết oan. Vô trại trong, tôi bị “biên chế” vào một đội hầu hết là “dân đi thăm Lăng Bác” về, phần đông trẻ hơn tôi. Dần dần, tôi quen anh Trần Minh Hải, tức nhà thơ Cao Châu. Ông nầy đã tới Mỹ rồi, lại theo “Việt Nam Thương Tín” mà về, bị bắt đi tù, bị đưa ra Bắc, bị đưa về trại trong. Đêm đêm, chúng tôi nằm bên cạnh nhau, để “nói chuyện thơ” với nhau cho đời tù bớt… cô đơn. Trần Minh Hải lớn hơn tôi cỡ năm, ba tuổi.

            Trần Minh Hải, nguyên là thiếu tá QĐVNCH, không rõ đơn vị nào. Anh đắc cử làm xã trưởng xã Phan Thiết. Xã nầy lớn và giàu có, xã trưởng có xe hơi (xe của xã) để đi công tác.

Phan Thiết nguyên là thị xã, có một thời gian, thị trưởng là ông Phạm Ngọc Thìn. Bà Thìn là Huỳnh Khanh, nữ tài tử đầu tiên trong cuốn phim “Cánh Đồng Ma” của ông Đàm Quang Thiện, cũng là cuốn phim truyện đầu tiên của Việt Nam. Nhạc sĩ Hoàng Nguyên, dân “Quảng Trị tui”, là con rễ ông bà Thìn. Hoàng Nguyên bị lật xe, tử nạn năm1973, khi còn phục vụ trong QĐVNCH.

            Trần Minh Hải nói với tôi anh biết câu chuyện tình nầy của Hoàng Nguyên. Hoàng Nguyên cũng bị dằn vặt không ít về chuyện tình của anh với cọ con gái “Chúa đảo Côn Sơn” khi anh ấy bị tù côn đảo. Hải cũng nói rằng Phan Thiết là “quê hương” của văn nghệ miền Nam, ý anh ta là có nhiều ca sĩ, nhạc sĩ xuất thân ở xứ nầy như Nhật Trường, Anh Khoa, Thanh Thúy…

Khi làm xã trưởng, Trần Minh Hải có xây một cây cầu tại thị xã, phía biển, “Để – như  anh nói – cho bọn trai gái hẹn hò nhau ra đó chơi”. Anh đặt tên cầu là “Đoạn Tình Kiều”, nhưng anh chưa thấy ai thất tình mà nhảy xuống cầu tự tử, như cô Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường vậy.

            Tối thứ Bảy, đội trưởng, nguyên là một thiếu tá Cảnh Sát, ngành Đặc Biệt, thường tổ chức hát nhạc vàng chơi. Họ kêu tôi hát, tôi từ chối. Trần Minh Hải bảo tôi:

            -“Đột nhiên anh tới đội nầy, tụi nó nghi là Công An gài anh vào để theo dõi tụi nó. Anh nên tham gia với tụi nó đi.” Tôi nghe lời.

            Tôi chưởi thề:

            -“Đ.m. Anh Cảnh Sát Đặc Biệt nào mà không đa nghi thì nên giải nghệ cho xong.”

            Có lần Cao Châu nói về Xuân Diệu, bảo rằng Xuân Diệu làm tình hay. Tôi phản bác:

            -“Sau 1954, ở miền Nam, nhiều tay làm thơ tình hay hơn Xuân Diệu nhiều. Xuân Diệu chỉ là “bắt chước.”

            -“Bắt chước sao?” Trần Minh Hải hỏi.

            -“Anh thấy đó. “Tôi nhớ Rimbeau với Verlaine…” là bắt chước thơ Tây. Hồi đi dạy, tôi giảng cho học trò bài thơ “Đây Mùa Thu Tới”, có câu “Những nàng thiếu nữ buồn không nói, Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì” là tôi chê dữ lắm. Cái đó là bản chất tiểu tư sản, giống như Nguyễn Văn Tý “Mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ” vậy. Sau nầy, Nguyên Sa làm thơ tình cũng hay, cũng chịu ảnh hưởng thơ Tây. Ông ta có mấy câu “Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc”, cũng là tiểu tư sản, nhưng là cái tiểu tư sản học trò, không phải là của bọn thống trị xã hội, nghe cũng không tệ!”

            -“Vậy anh cho ông nào làm thơ tình hay?” Anh Hải lại hỏi.

            -“Vũ Hoàng Chương. Vũ Hoàng Chương sau 1954 thôi. Thơ tiền chiến có vẻ “show up” hơn là thơ từ trong trái tim mà ra. “Trước đây mười chín năm, Tôi vừa hai mươi tuổi, Em cũng vừa trăng rằm”… Nhưng trước 1945, ông có hai câu thơ hay lắm!”

            -“Hai câu gì?” Hải hỏi tôi.

            Tôi đọc:

                                    Em ơi lửa tắt bình không rượu,

                                    Đời vắng em rồi vui với ai?!

            -“Thì cũng tiểu tư sản vậy?” Anh Hải nói.

            -“Nhưng mà tiểu tư sản học trò. Học trò thì dễ thương! “Hỡi núi Nùng xưa với linh hồn Bách Thảo, Còn nhớ ta chàng tuổi trẻ tóc bay. Làm học trò nhưng không sách cầm tay, Có tâm sự đi nói cùng cây cỏ.” Đinh Hùng đấy! Tôi cũng một thời lang thang như vậy. Bọn bạn học của tôi thường gọi tôi là “thằng lãng tử”, “Bánh xe quay nhanh, Chiếc thân xe rung rinh…” ! Tui dân Quảng Trị, vĩ tuyến 17 mà Ba Mươi tháng Tư, tui đang ở Hà Tiên. “Bánh Xe Lãng Tử” của tôi đi xa nhất Việt Nam Cộng Hòa chớ gì?!… Phải không?”

            Trần Minh Hải nói:

            -“Anh có định kiến với giai cấp tiểu tư sản, phải không?”

            -“Không quái gì! Quả đúng như rứa! Cộng Sản nhận định về giai cấp tiểu tư sản không sai đâu. Anh cứ coi “Ngọc châu chấu”, so với “Tứ Cộng Sản” trong “Dòng Sông Thanh Thủy” của Nhất Linh thì thấy hai giai cấp đó khác nhau như thế nào! Hai giai cấp nầy mà đấu nhau thì tiểu tư sản thua là cái chắc. “Các anh trồng những dòng hoa đại lộ, những dòng hoa cổ lỗ, những dòng hoa đau khổ quá đi thôi”. Ngồi ở thành phố mà thương vay khóc mướn cho người dân đồng quê chân lấm tay bùn, thì làm sao thắng được Cộng Sản. Phải “Về Đồng Quê” như những bài hát đầu thời kháng chiến của Phạm Duy, của Phạm Đình Chương, về với nông dân như Đỗ Tấn nói vậy, phải “Đứng giữa đồng nâu, giữa những người cuốc bẫm cày sâu”, để  mà thấy: “Tư tưởng nào cũng từ đất mà ra” thì mới thắng Cộng Sản được.”

            -“Vậy anh cho tiểu tư sản không được việc gì?” Trần Minh Hải phản lại nhận xét của tôi.

            -“Đâu phải vậy! nông dân vô sản biết gì mà tranh đấu! Chính tiểu tư sản mới có trình độ để nhận biết mình bị bóc lột, dân tộc mình bị bóc lột, bị nô lệ mới đấu tranh chớ! Anh nhớ lại “Cách Mạng Tháng Tám” mà coi. Tiểu tư sản cả đấy! Biểu tình ở Hà Nội, cướp chính quyền, Nam Bộ Kháng Chiến… là do ở tiểu tư sản cả! Chính họ hướng dẫn cho vô sản đi theo. Vô sản chỉ là cái đuôi của tiểu tư sản. Vô sản biết gì!”

            -“Nhưng Cộng Sản là vô sản!” Anh Hải nói.

            -“Cộng sản chỉ loại bọn tiểu tư sản ra khỏi hàng ngũ kháng chiến, khi họ có đủ cán bộ xuất thân từ vô sản. Không có giai cấp tiểu tư sản thì không có Cộng Sản. Chính giai cấp tiểu tư sản đã “đẻ” ra các đảng Cộng Sản trên khắp thế giới. Anh cứ đọc lại lịch sử Cộng Sản là thấy ngay thôi!”

            -“Tôi thấy anh phức tạp đấy.” Anh Hải kết luận.

            Thế rồi tôi được tha về trước, xa Trần Minh Hải, cũng nhớ anh ta nhiều đấy!

&

            Sáng Thứ Sáu,ngày 2 tháng 7 năm 1982, sau khi “điểm tâm” bằng một khoanh  khoai mì và một chén nước lạnh do đảng Cộng Sản của “Chú Duẫn” ban cho, hầu như toàn trại, ngoại trừ mấy ông già gần đất xa trời với mấy ông người bệnh, tất cả tập trung tại sân trại, ngồi theo từng đội để được gọi đi “lao động là vinh quang”, chuẩn bị cầm cuốc đi cuốc đất trồng khoai mì, “xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa”…

            Đang ngồi tập trung giữa sân thì thượng sĩ Thắng, “cán bộ giáo dục” đi vào, tay y cầm một tập giấy. Mọi người “ồ” lên. Như cảnh từng diễn ra trước kia, hôm nay có người được tha.

            Thượng sĩ Thắng tới sát mấy đội ngồi giữa sân, nói gì đó, tôi không nghe rõ vì anh em tù nói chuyện ồn ào. Tuy nhiên, tới khi y bắt đầu đọc tên thì mọi người đều im lặng. Tên tôi được đọc sau khoảng chừng mười tên đọc trước. Sau tên tôi, thượng sĩ Thắng đọc vài ba tên gi đó nữa thì chấm dứt. Anh em lại xôn xao.

            Nghe tên xong, tôi đứng lên đi vô láng. Phan Thành Long, bạn tù, thuộc “đội cấp dưỡng”, tức nhà bếp, đi theo tôi. Tôi giao hết thức ăn khô được vợ tôi tiếp tế cho Long, cả mấy bộ đồ lao động, rách như xơ mướp, vá chùm, vá đụp. Có một số thư từ vợ tôi gởi, sợ Công An buộc phải đốt, không đem về được, tôi cũng giao cho Long, dặn hễ có đi chợ Gia Rây thì giao cho chị H. bán hàng ở chợ ấy. Về nhà xong, ít lâu sau, tôi sẽ lên lấy. Đây là những vật kỷ niệm gia đình, tôi không bỏ được. Xong, tôi thay “bộ đồ vía”, thứ quần áo đẹp mặc vô để gặp gia đình khi được thăm nuôi, đeo kiếng, đội mũ, chờ cán bộ dẫn ra Văn Phòng Trại làm thủ tục ra về.

            Một lúc sau, “cán bộ Lâm”, “cán bộ trực trại” vô gọi chúng tôi tập trung ra văn phòng.

            Lệnh tha đã được trại trưởng Trịnh Văn Thích ký sẵn. Nhận lệnh tha xong, mỗi người được cấp ba chục đồng lộ phí. Xong, anh em chúng tôi kéo nhau  ra ga xe lửa Gia Rai, ở đó, có xe Lam, đi ra Ngã Ba Ông Đồn, đón xe đò mà về Saigon.

            Anh bạn Trương Đình Gòn không về Saigon. Mẹ và vợ con anh, trước 30 tháng Tư, từ Huế chạy vô Saigon, nhưng không ở Saigon được, vì không có hộ khẩu. Mẹ anh dẫn con dâu và các cháu nội về Long Khánh kiếm đất trồng màu, sinh sống qua ngày. Một vài người bạn khác thì quay trở ra miền Trung, quê quán họ ngoài đó: Đà Nẵng, Nha Trang, Tam Kỳ.

&

Tôi về tới bến xe Ngã Ba Tam Hiệp thì phải sang qua xe nhỏ về Bến Xe Miền Đông. Từ đó, tôi đi xe ôm về nhà.

Mấy năm tôi vắng nhà, vợ tôi với các con dời chỗ ở mấy lần. Khi tôi ra đi thì gia đình tôi ở Xứ Bùi Phát, trên đường Trương Minh Giảng cũ. Sau vụ “đánh tư sản”, gia đình tôi về Lô 6- Cư Xá Thanh Đa, được ít lâu thì lại dời về 120 Nguyễn Công Trứ, Saigon. Cuối cùng dọn về 313 Lô A, cũng Cư Xá Thanh Đa.

Khi về Xứ Bùi Phát, tôi đã nghĩ rằng không nên để con ở nơi nầy. Khu vực nầy hơi phức tạp, có thể có ảnh  hưởng đến việc học hành và tính tình con cái. Tôi từng dạy cho học trò của tôi bài “Mạnh mẫu dời nhà” nên tôi bị ảnh hưởng về câu chuyện ấy. Bây giờ, khi tôi xuống xe ôm, nhìn lên hàng chữ “Lô A”, lô nầy nằm kế chợ Thanh Đa, tôi lại nghĩ rằng, chỗ nầy không phải là nơi tôi để cho con tôi ở. Chắc là phải dời nhà đi. Tuy nhiên, cuộc sống người dân Việt Nam hồi bấy giờ đâu như ai nghĩ. Đời sống của tất cả mọi người, không những khó khăn mà còn nghiệt ngã, ác nghiệt hay khắc nghiệt… tiếng nào cũng hợp cả. Cái ăn, cái mặc do chính quyền kiểm soát, ban phát, từng loon gạo, từng bó rau thì câu chuyện “Mạnh mẫu dời nhà” chỉ là chuyện cổ tích, thậm chí có thể coi như chuyện “thần thoại”.

Việc chạy trốn đi khỏi xã hội ấy, về chính trị, và hơn nữa, về kinh tế, là việc ai ai cũng nghĩ đến, hy vọng hoặc dấn thân vào đó. Càng dấn thân, càng bị phỉnh gạt, lừa đão, và… tù tội. Người ta chỉ khác nhau có một điều: đầu hàng trước số phận hay tiếp tục phấn đấu để tìm, không phải cho mình, mà cho con cái mình một tương lai.

Thế rồi tôi tìm đường ra đi. Vả lại, bấy giờ, những người từng tham gia Hội Nhân Quyền lại mon men gặp nhau trở lại, có người lại bị Công An bắt, có người chết trong tù… khiến tôi cũng “lạnh giò”. Việc ra đi lại thêm động cơ thúc đẩy. Cũng vài ba lần vượt biên, và cũng như mọi người, công việc bị thất bại, và cũng như mọi người, bị gạt, bị lừa là điều mọi người thường phải gánh chịu.

Có lần Công An lại đến nhà tìm, khiến tôi không dám về nhà. Nhà chị em tôi, tôi cũng không dám tới. Chắc chắn Công An sẽ lần theo những đường giây máu mũ ấy mà tìm. Tôi trốn trên một căn phòng nhỏ ở trên tầng cuối cùng ngôi nhà ba tầng. Nhà của một người bạn gái, quen thân với nhà tôi. Phải là họ gồng mình lắm mới dám chứa chấp một tên tù Cải tạo mới được tha, lại can tội “tổ chức vượt biên”.

Một hôm, người bạn cũ thời niên thiếu, anh Lương Thúc Trình, cựu đại úy Thiết Giáp, cựu giáo sư trường Trung Học Trần Cao Vân ở Quảng Tín, tình cờ gặp vợ tôi. Biết tôi trốn ở đó, Trình đến thăm. Chờ khi trời sắp tối, Trình kéo tôi xuống ngồi uống càphê ở một cái quán cóc bên lề đường Trương Minh Giảng cũ.

Trình trốn cải tạo, bỏ xứ đem vợ con đến ở Trà Cổ, là Hố Nai 4, làm nghề nhảy tầu, tức là mua vài chục ký sắn khô từ Hố Nai, đem về bán ở Saigon, kiếm đủ ít tiên,

Con đường tôi đã đi và may mắn thành công, sau không ít lần thất bại.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: