Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Nhất Hướng Nguyễn Kim Anh – Trường Sanh Bất Tử (Thuật Luyện Đan Thế Kỷ XXI)

Mục Lục

1.- Thần Nhãn

2.- Cửa Trời Rộng Mở Đưới Đời Thượng Nguơn

3.- Đường Qua Xứ Phật

4,- Aibert Pike & Gramaha Nói Về Thế Chiến Thứ III

      và Trật Tự Mới

5.- Trung Cộng, Con Cờ Của Tập Đoàn Tư Bản Tài

      Chánh Mỹ Gốc Do Thái.

6.- Từ Peter Higgs Nhìn Lại Vài Thuyết Của người Xưa

7.- Chuyển Thể ( Trường Sanh Bất Tử – Bài 1 )

8.- Bàn Về Xác Ướp Của Các Đại Sư ( TSB Tử – bài 2 )

9.- Khước Từ Sự Chết ( Trường Sanh Bất Tử – bài 3 )

10.-Thuật Luyện Đan Thế Kỷ XXI (TSB Tử – Bài 4 )

                              Lời  Tựa

Thoạt đầu tôi viết những gì tôi nghe, thấy và nghĩ thành những bài văn gởi lên những tờ báo mạng để giết thời giờ nhãn rỗi của tuổi già. Về sau tôi lại đặt ra mục đích viết là chống lại những sự lừa phỉnh tạo ra chia rẽ, hận thù và chiến tranh trong trong xã hội mà tôi thấy được. Nhờ một cơ duyên nào đó đã cho tôi hiểu ra một trong những nguyên nhân sâu xa làm cho thế giới chúng ta có nhiều bất trắc và đau khổ là do chúng ta chưa hiểu hết những gì đang có trong thế giới tự nhiên nhất là nửa vũ trụ to lớn của Phản Thế Giới nằm trước mắt chúng ta vẫn còn bí mật đang bị nhiều kẻ diễn tả sai lạc và lợi dụng nó như một lý do để thực hiện ý đồ của mình

Sách không nhắm mục đích thương mại vì có nhiều hình ảnh mà chỉ mong được phổ biến rộng rãi để tặng các bạn đọc cùng tầng số và nhiều mộng mơ để hòa nhịp cùng tôi đi tìm con đường qua Phản Thế Giới, vùng đất hứa không khổ đau của thần tiên, trong tinh thần khoa học nên bạn đọc nào muốn trích hay phổ biến trên các mạng đều được quyền thực hiện. Riêng việc in thành sách giấy và chuyển ngữ cần phải có được sự đồng thuận và giám sát của tôi.

                                   Địa chỉ liên lạc

                              anhk947@gmail.com

                          CHƯƠNG   1

                   Thần  Nhãn

1

1.- Lời Đức Phật Dạy : Khi Đức Phật Thích Ca đắc đạo rồi, ngài còn ngồi dưới cây ba la bảy ngày, nghĩ bụng, “Ta nay đã thành chánh quả, bản nguyện đã được viên mãn, nhưng cái đạo pháp của ta rất mầu nhiệm, Chỉ Có Phật Với Phật Mới Biết Được, còn hết thảy chúng sinh ở trong đời ngũ trọc này vì tham dục sân uế ngu si tà kiến kiêu mãn che lấp, làm thế nào mà hiểu được đạo pháp của ta. Nếu ta đem đạo pháp ấy truyền ra, chúng sinh tất mê hoặc, không tin theo và buông lời phỉ báng, thành ra phải tội ra phải tội“. Nhưng sau Ngài nghĩ lại, “Ta đã phát nguyện tu thành Phật để cứu chúng sanh, lẽ nào tự giác mà không giác tha, để chúng sanh chìm đắm ở chỗ sinh tử“.

Ngài nghĩ như thế rồi đứng dậy đi thuyết pháp. Chỗ này có sách ghi chép Phạm Thiên và Đế Thích thấy ngài đắc đạo mà không muốn đi thuyết pháp, bèn xuống kêu nài, Phật mới ưng chịu.

Ngài dùng đức từ bi bác ái dạy người và tùy phương tiện để phổ độ chúng sanh, lời dạy của Ngài nếu gom lại cho đơn giản đều nằm trong Tứ Thánh Đế, Thập Nhị Nhân Duyên và Bát Chánh Đạo. Sau này các bậc cao tăng lẫn các bậc ba láp tăng bổ túc thêm làm cho Phật Pháp thành huyền bí và dày đặc như cánh rừng khiến cho chúng sanh lạc lối không biết được con đường nào là con đường đúng để đi và phải chăng chúng ta đang sống trong thời kỳ mà Ngài đã tiên đoán từ 2500 năm trước : Thời Mạt Pháp.

1

Lão Tử bị ông quan Doản Hỉ chặn đường

2.- Lão Tử Dạy Điều Gì : Cùng thời với Đức Phật Thích Ca Mầu Ni có một bậc vĩ nhân khác ở Trung Hoa là Lão Tử. Trên đường đi vào sa mạc ẩn cư thì bị ông quan Doản Hỉ chận lại nài nỉ ngài viết ra những điều Ngài hiểu biết. Khác với Đức Phật Thích Ca Mầu Ni đã tiêu phí 40 năm dùng lời nói để phổ độ chúng sanh thì Lão Tử chỉ để lại võn vẹn 1 cuốn sách dày khoảng … 5000 chữ cho nhân loại hiểu sao thì hiểu.

Sách Ngài được dịch ra hàng chục thứ tiếng và mỗi thứ tiếng đều có nhiều bản vừa dịch vừa diễn giải rất khác nhau và ai cũng tự nhận mình hiểu đúng lời ngài dạy. Sách của Ngài đã hình thành ra Lão Giáo đi kèm 96 Tà Đạo 3600 Bàng Môn. Những lời khó hiểu của Ngài đã đưa Lão Giáo vào con đường huyền bí rồi bị suy tàn và thường bị các lực thế tục lợi dụng hoặc chống đối.

Lời Ngài viết ra cũng có nhiều điểm giống như ý tưởng Đức Phật Thích Ca : Đạo không thể diễn tả bằng lời, người tăm tối nghe Đạo thì cười rộ không cười thì không phải Đạo.

Ngài cho rằng : Vạn vật xuất phát từ thái hư. Bản thể của Đạo là hư không mà tác dụng thì cơ hồ vô cùng, nó uyên áo mà tựa như làm chủ tể vạn vật, nó không để lộ tinh nhuệ, nó không hiện ra nhưng trường tồn. Ta không biết nó là con của ai, có lẽ nó có trước thượng đế. Và có lẽ sợ người đời sau hiểu sai về Đạo nên ngài nhắc đến chữ Đạo đến 70 lần và định nghĩa chữ Đạo vài lần trong 5000 chữ. Đạo là một vật mập mờ thấp thoáng ; thấp thoáng mập mờ mà bên trong có hình tượng ; mập mờ thấp thoáng mà bên trong có vật ; bên trong có cái tinh túy ; tinh túy đó rất xác thực và rất đáng tin hoặc là có một vật hỗn độn mà thành hình trước trời đất, nó yên lặng (vô thanh) trống không (vô hình) đứng một mình mà không thay đổi (vĩnh viễn bất biến) vận hành khắp vũ trụ mà không ngừng, có thể xem nó là mẹ trong thiên hạ, ta không biết nó tên gì miễn cưởng gọi nó tên là Đạo.

Có lẽ ngài cũng đã hiểu được như Đức Thích Ca : Hết thảy chúng sinh ở trong đời ngũ trọc đầy tham dục sân uế ngu si tà kiến kêu mãn che lấp, nếu trình bày thẳng ra thì họ không tin theo mà còn buông lời phỉ báng nên ngài viết những lời không đầu không đuôi mặc ai hiểu được hiểu sao thì hiểu.

Vậy Phật và Đạo là gì ? Tại sao hai bậc vĩ nhân ngày xưa không chịu nói thẳng ra ? Nếu chúng sanh ngày xưa tăm tối thì chúng sanh ngày nay đã có đủ trình độ và khả năng để hiểu được Phật và Đạo chăng ? Chúng ta thử đi vào lời dạy trong 40 năm của Phật Thích Ca và 5000 chữ của Lão Tử để tìm chút tăm hơi và để hiểu cho được những điều 2 bậc vĩ nhân muốn nói mà không thể nói là những điều gì và tại sao lại không thể nói :

3.- Thuyết Tam Thân : Theo lý thuyết phật giáo thặng thừa thì Phật có 3 thân : Pháp Thân, Báo Thân và Ứng Thân. Pháp Thân chỉ cái thể sở chứng được. Báo Thân và Ứng Thân là trỏ cái dụng nhờ ở cái thể ấy mà phát ra. Vậy nên tuy nói là 3 Thân nhưng thật ra chỉ có một thể, một thể tức là một Phật. Để dễ hiểu, trong không gian ta gọi mặt trăng là Pháp Thân thì ánh sáng mặt trăng chiếu khắp thiên hạ là Báo Thân và bóng mặt trăng hiện ra dưới nước là Ứng Thân. Như thế theo kinh Phật thì Đức Phật A Di Đà là Báo Thân của Phật, đức Phật Thích Ca Mầu Ni là Ứng Thân của Phật.

Pháp Thân là lý pháp tụ tập lại mà thành Thân, tức là lấy pháp tính làm Thân vậy. Pháp Thân không phải là sắc chất mà cũng không phải là tâm trí, Mà Khắp Đầy Vũ Trụ Đâu Đâu Cũng Có, Không Sinh Không Diệt, Lúc Nào Cũng Hiện Hữu, thuần nhiên là diệu lý chân thực thanh tĩnh. Vạn pháp phải nương vào đó mà có và mọi đức phải tụ vào đó mà thành.

Từ thuyết Tam Thân này và nhất là từ Báo Thân mà Đức Thích Ca đã vẽ ra nhiều thế giới khác với thế giới của chúng ta đang sống như là thế giới Cực Lạc trong đó có muôn ngàn vị Phật đang nghe lời thuyết pháp của Phật A Di Đà.

  1. Thuyết Nhất Điểm Linh Quang : Đạo giáo cho rằng vạn vật đến từ Thái Hư. Khi cha mẹ giao cấu thì có một điểm linh quang đến từ Thái Hư gieo vào bào thai trong người mẹ gọi là Nguyên Thần, từ đó sinh ra khí, rồi khí hóa thành hình hài cơ thể con người. Tuy cuốn sách Lão Tử chỉ võn vẹn 5000 chữ nhưng chính ngài là ngưởi đầu tiên chỉ cho nhân loại con đường phản phục, để đi về thái hư là chốn mình sanh ra để sống trường sanh bất tử trong đó. Ở chương 16 ngài dạy : Trí thật hư tĩnh lên cực điểm thì động manh nha ( vạn vật sinh ) thấy được qui luật phản phục. Vạn vật đều trở vền căn nguyên, trở về căn nguyên là phục mệnh là tĩnh. Trở về căn nguyên là luật bất biến. Biết được là sáng suốt không biết mà vọng động thường gặp tai họa… Trong những chương khác ngài đề cập đến Anh Nhi, là một con người khác do ta đi theo con đường phục mệnh tạo ra, sống trường sanh bất tử trong Thái Hư.

Phật Giáo và Đạo Giáo rất huyền diệu mà chữ nghĩa và tri thức của chúng ta đều có giới hạn nhưng dù sao đi nữa từ 2 thuyết trên đã cho người viết bài này hiểu rằng vũ trụ mà chúng ta đang sống có 2 mặt không gian khác nhau. một mặt không gian hữu hình là nơi chúng ta đang sống và một mặt không gian khác vô hình là nơi có Đức Phật A Di Đà và Anh Nhi như lời dạy của 2 bậc vĩ nhân Phương Đông. Giữa 2 mặt không gian đó hay giữa chúng ta với Phật A Di Đà và Anh Nhi có một vật liên hệ gọi là Pháp Thân hay Nguyên Thần. Vật này không phải là sắc chất mà cũng không phải là tâm trí, không thể diễn tả được bằng lời nhưng khắp vũ trụ đâu đâu cũng có hoặc là vật này bản thể là hư không mà tác dụng của nó thì cơ hồ là vô cùng… Nó vô thanh vô hình đứng một mình không thay đổi vận hành khắp vũ trụ.

Ngôn ngữ và tư duy là một thể thống nhất. Không có ngôn ngữ thì tư duy không tồn tại. Nhưng ngôn ngữ lại là một thứ hữu hình (sắc chất) mà tư duy lại là thứ vô hình nên tư duy có thể đi vào thế giới vô hình mà ngôn ngữ thì lại bị chặn lại. Phật pháp thì vô biên nhưng nói cho cùng Phật Pháp cũng chỉ là ngôn ngữ và hữu hình nên Phật Pháp cũng không thể diễn tả được những gì ở vô hình. Nói đơn giản như lời Lão Tử : Đạo mà có thể diễn tả được thì không phải Đạo, Tên mà có thể đặt ra để gọi nó thì không phải là tên.

Những câu hỏi của chúng ta là : Vật mà Đức Phật Thích Ca Mầu Ni và Lão Tử đề cập đến là Vật gì? Tại sao tư duy có thể đi vào thế giới vô hình ? Nó dựa vào cái gì để đi vào thế giới vô hình ? Lẽ dĩ nhiên câu trả lời là Thần Nhãn vì chúng ta đều biết phần đông giáo lý Phật Giáo hình thành do Đức Phật Thích Ca Mầu Ni dùng Thần Nhãn soi rọi khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới để giảng dạy. Còn Lão Tử có Thần Nhãn hay không hoặc có dùng một dụng cụ khác hay không là điều không có nghe nói qua sách vở.

5.- Cách xát định Phản Thế Giới Của Các Khoa Học Gia: :Bài viết này xin trình bày những dụng cụ được sử dụng như Thần Nhãn để nhìn qua thế giới vô hình và cách diễn tả, cách chứng minh cũng như tiến trình sự hiểu biết của bậc vĩ nhân ngày nay về thế giới vô hình và cái Vật mà Đức Phật Thích Ca và Lão Tử đã đề cập đến với hy vọng làm vừa lòng con người ngày nay và đáp ứng được nỗi khổ tâm của hai bậc vĩ nhân ngày xưa đã biết mà không thể nói.

Cloud Chamber, dụng cụ dò hạt

Cloud Chamber, dụng cụ dò hạt

a.- Cloud Chamber còn gọi là Wilson Chamber do nhà vật lý Charles T. Wilson (1869-1959) phát minh ra năm 1911 là một dụng cụ có chứa hơi nước hay hơi rượu trong nhiệt độ thật thấp dùng để dò hạt. Khi cho một trường điện từ đi qua Cloud Chamber thì Âm và Dương của hạt có năng lượng cao va vào dụng cụ bị ion hóa bắn qua 2 hướng khác nhau. Electron hiện ra bằng những vạch nhỏ và dài.

Năm 1928 giáo sư toán Paul Adrien Maurice Dirac ( 1902-1984 ) trường đại học Cambridge dựa vào phương trình X2 = 4 ( X bình phương bằng 4) vì phương trình này có 2 đáp số. Một đáp số khi X = 2 và một đáp số khác khi X = – 2. Ông ta đưa ra một thuyết cho rằng có một đáp số khi hạt và năng lượng Dương và một đáp số khi hạt và năng lượng Âm. Ông kết luận : Như thế phải có một biển vật chất và năng lượng Âm nằm đâu đó trong vũ trụ. Từ ý tưởng đó ông đã lập ra một phương trình miêu tả hạt fermiom gọi là phương trình Dirac dẫn đến việc tiên đoán sự tồn tại của Phản Vật Chất bằng toán học.

Positon (Anti-electron) được diễn đạt bằng hình ảnh

Positon (Anti-electron) được diễn đạt bằng hình ảnh

Thuyết này là một ý tưởng mới lạ trong vật lý cổ điển, các khoa học gia thời đó chỉ có quan niệm hạt và năng lượng chỉ là Dương. Thuyết này không thể phản bác được vì nó dựa vào một phương trình của toán học. Thuyết này còn cho chúng ta hiểu được rằng tại sao hai bậc vĩ nhân ngày xưa không thể nói ra vì nói ra không ai tin mà còn có thể bị cười chê và chống lại do là không có chỗ dựa vững chắc như toán học ngày nay để chứng minh.

Năm 1930 Victor Francis Hess (1883-1964) quan sát được những tia vũ trụ ( cosmic rays ), đến từ những vụ nổ xa xôi trong vũ trụ, là những hạt có năng lượng cao khi va vào bầu khí quyển đã tạo ra những trận mưa vũ trụ.

Năm 1932 Carl David Anderson ( 1905 – 1991 ) đã dùng Cloud Chamber để quan sát mưa vũ trụ và phát hiện được qua mắt thường một định lượng tương đương hiện ra bên cạnh Electron. Ông đặt tên cho nó là Positron và cho đó là Anti-Electron. Từ đó Phản Hạt được xác nhận và cả 3 nhà bác học đều được nhận giải Nobel những năm sau đó.

Nhiều năm sau đó các nhà khoa học chỉ có một được một nguồn duy nhất cung cấp hạt có năng lương cao là mưa vũ trụ mà thôi và họ có một niềm tin sâu sắc rằng hạt luôn có một phản hạt đi theo nhưng phải 22 năm sau vào 1955 toán nghiên cứu của Emilio Gino Sergè (1905-1989) và Owen Chamberlain (1920-2006) mới tìm ra được Anti-Proton nhờ phát minh ra máy gia tốc hạt Cyclotron, Bevatron và dụng cụ dò hạt Bubble Chamber, cả hai nhà bác học này đều được nhận giải Nobel vào năm 1959.

b.- Cyclotron : là một máy gia tốc hạt do Ernest Lawrence (1901-1958) phát minh ra nằm 1932 là một dụng cụ sử dụng năng lượng bên ngoài truyền vào hạt nhằm tăng tốc độ hạt đo đó năng lượng của hạt chuyển động. Máy gia tốc hạt Cyclotron là hình mẫu đầu tiên mở màn cho những máy gia tốc vĩ đại sau này đi vào ngành vật lý hạt nhân, năng lượng.

Máy gia tốc hạt Bevatron tại Berkeley, California, U.S.A

Máy gia tốc hạt Bevatron tại Berkeley, California, U.S.A

c.- Bevatron : là một máy gia tốc hạt cở lớn do phòng thí nghiệm Lawrence Berkeley National Laboratory tại California phát minh năm 1954

d.- Bubble Chamber : là một dụng cụ có công dụng như Cloud Chamber do Donal A. Glaser ( 1926 ) làm ra năm 1952 nhưng lại chứa chất lỏng Hydrogen ở nhiệt độ sắp sửa sôi. Khi đưa hạt đi qua sau khi đã tạo cho hạt có năng lượng cao để tạo một vụ va chạm với đồng thời giảm áp xuất cho chất lỏng sôi đến độ bốc hơi thì Anti-Proton, còn gọi là Negatron, hiện ra chớp nhoáng trên những bong bóng. Hai nhà khoa học đã điều chỉnh và chụp hình được Anti-Proton. Sau này các nhà khoa học đã làm ra những chiếc máy Bubble Chamber khác tối tân và vĩ đại hơn để dò hạt hữu hiệu hơn như Wire Chambers, spark Chambers hay Big Europian Bubble Chamber (BEBC) và Garmamelle.

Vài năm sau Toán nghiên cứu của Bruce Cork và O. Peccion tìm ra được Anti-Neutron. Khoảng thời gian sau này các khoa học gia còn tìm ra những loại hạt khác gọi là hạt ảo. bởi chúng không giống như hạt thực, chúng không thể phát hiện được bởi những dụng cụ dò hạt nào cả. Tuy nhiên chúng ta biết được nó tồn tại bởi chúng gây ra những hiệu ứng đo được, chúng đã tạo ra những lực can thiệp sâu xa vào cuộc sống chúng ta như hạt ảo Graviton do Newton Isaac tìm thấy (gây ra lực hấp dẫn). Hạt ảo Photon (gây ra lực điện từ). Các hạt ảo boson, đó là các hạt W+W và Zo (gây ra lực hạt nhânyếu). Tất cà các hạt đó đều được gọi chung cái tên Vật Chất Tối.

Sau này tất cả nghiên cứu về hạt nhân, năng lượng và Phản Hạt thường tập trung về Tổ Chức Nghiên Cứu Nguyên Tử Châu Âu CERN (European Organization for Nuclear Research ) ở Geneva nơi có máy gia tốc vĩ đại dài 27 cây số nằm dưới lòng đất và FERMILAB ( Fermi National Accelerator Laboratory ) ở Chicago nơi có máy gia tốc dài 6,3 cây số (đóng cửa ngày 30-9- 2011 có lẽ vì …hết tiền).

CERN : là Tổ Chức Nghiên Cứu Nguyên Tử Châu Âu được thành lập năm 1954 tại biên giới Pháp và Thụy Sĩ do sự đóng góp của 20 quốc gia Châu Âu và 7 quốc gia khác với nhiệm vụ chính là điều hành máy gia tốc hạt vĩ đại ( Large Hardron Collider ) để cho các khoa học gia của 608 trường đại học của 113 quốc gia nghiên cứu học tập về hạt nhân, năng lượng và phản hạt.

Large Hardron Collider

Large Hardron Collider

e.- Large Hardron Collider : là một máy gia tốc hạt vĩ đại chu vi vòng tròn dài 27 cây số được xây dựng từ năm 1998 đến 2008 dưới lòng đất của CERN ở độ sâu 175 mét với mục đích để cho các nhà vật lý thí nghiệm chứng minh những lý thuyết vể vật lý hạt và vật lý năng lượng và phản hạt.

Những phát hiện trên cọng thêm với những phát hiện khác của nền khoa học hiện đại đã giúp cho 200 nhà thiên văn thuộc 13 viện thiên văn trên thế giới tập trung tại đài thiên văn New Mexico, U.S.A để vẽ bản đồ vũ trụ vào tháng 10 năm 2004 đưa ra tuyên bố xác nhận : Có một Phản Thế Giới với lượng Vật Chất Tối chiếm đến 80% lượng vật chất trong vũ trụ trong đó có những loại năng lượng khác với năng lượng mà chúng ta đang có (Năng Lượng Tối ) đang nằm trong 1 vùng không gian khác với vùng không gian chúng ta đang sống (Chiều Thứ Tư). Vùng trời bí mật này đang được các khoa học gia Phương Tây ngày nay vén lên là vùng trời mà 2 bậc vĩ nhân Phương Đông đã đề cập đến vào 2500 năm trước nhưng sự xác nhận này chỉ dấy lên thêm những nghi ngờ khác với hàng ngàn câu hỏi khác không thể giải đáp được vì không ai có thể …. THẤY ĐƯỢC VÙNG TRỜI BÍ MẬT KIA CẢ.

Khi quan sát những vũ nổ của sao mới (Nova) trong vũ trụ các khoa học gia thấy vật chất ở đó nằm trong trạng thái plasma (1)( ba trạng thái khác của vật chất là chất rắn, chất nước và chất hơi). Một câu hỏi được đặt ra giữa các nhà khoa học gia : Khi vụ nổ Big Bang ( thuyết của Georges Lemaitre, 1894-1966 ) xảy ra trong vũ trụ vào 14 tỷ năm trước, vật chất và phản vật chất trong vũ trụ có thể là là một đống hổn mang hay ở trong trạng thái plasma như ở Sao Mới thì cái gì đã kết nối chúng thành khối lượng ?

6.- Hạt Higgs Là Phật Và Đạo ? : do thuyết của Peter Higgs (1929) nhà vật lý ngưới Anh đưa ra vào năm 1960 cho rằng toàn vũ trụ đang bị bao phủ bởi một dạng lưới giống như Trường Điện Từ, nó có ảnh hưởng đến hạt di chuyển xuyên qua nó nhưng nó cũng có liên hệ với vật lý chất rắn, gọi là trường Higgs hay cơ chế Higgs.

Câu hỏi cái gì tạo ra khối lượng là một câu hỏi hóc búa trong suốt cuối thế kỷ vừa qua vì Mô Hình Chuẩn (2) của ngành vật lý hạt có nhiều điểm không phù hợp và thống nhất với thực tại nên từ đó đưa đến việc có lý thuyết của Peter Higgs, theo Cơ Học Lượng Tử thì tất cả các trường lượng tử đều có một hạt cơ bản đi kèm, hạt đi kèm Trường Higgs gọi là hạt Higgs có thể là một dạng của hạt boson hay một tập hợp hạt mà chúng có thể tạo ra những hạt có khối lượng khác.

Sự tìm kiếm hạt Higgs lâu dài và khó khăn đến mức các nhà khoa học bực bội gọi nó cái tên Goddamn Particle tạm dịch là Hạt Mắc Dịch về sau thấy công dụng nó tựa như một diễn viên điện ảnh đứng giữa đường phố Hollywood thu hút những người mộ điệu vây quanh tạo thành một đám đông (tạo khối lượng) nên người ta gọi gọn lại God Particle tạm dịch là Hạt Của Chúa. Tên mới có thể đúng hơn vì Vạn Vật có thể hình thành do các nguyên tử đi qua trường Higg nhập vào hạt Higg mà sinh khối lượng.

Ngày 4 tháng 7 năm 2012. Các khoa học gia đã tạo một vụ va chạm hạt trong máy gia tốc hạt LHC của phòng thí nghiệm CERN và đo được một góc độ lệch để đưa đến việc xác nhận sự tồn tại của một loại hạt có đặc tính thích hợp với hạt Boson Higgs tuy nhiên cũng cần quan sát thêm vì có thể là một loại boson khác nào đó chưa được khám phá.

Những phát hiện của nền khoa học hiện đại và những lời của hai bậc vĩ nhân Phương Đông ngày xưa cho kẻ viết bài này có những ý tưởng xin trình bày như sau : Vũ trụ của chúng ta có 2 mặt không gian khác nhau, một mặt không gian hữu hình là nơi chúng ta đang sống và một mặt không gian khác vô hình mà chúng ta chỉ biết nó hiện hữu do những thí nghiệm đưa đến việc xác nhận được sự tồn tại của Chiều Thứ Tư, Năng Lượng Tối và Vật Chất Tối.

Hai mặt không gian này hay cả vũ trụ bị bao phủ bởi một dạng lưới giống như Trường Điện Từ trong dạng lưới này có loại Vật Chất Tối có công dụng tạo ra khối lượng (Trường Higgs, hạt Higgs ). Theo thuyết của peter Higgs thì hạt Higgs có liên hệ với vật lý chất rắn thì phải chăng chính hạt Higgs là loại Vật mà Đức Phật Thích Ca Mầu Ni và Lão Tử đã nhìn thấy và nói đến : Vật này không phải là sắc chất mà cũng không phải là tâm trí, không thể diễn tả được bằng lời nhưng khắp vũ trụ đâu đâu cũng có hoặc là vật này bản thể là hư không mà tác dụng của nó thì cơ hồ là vô cùng… Nó vô thanh vô hình đứng một mình không thay đổi vận hành khắp vũ trụ.

Thế giới tự nhiên vốn tinh vi và quái ác. Nó vận hành một cách vô tình và xem vạn vật tựa chó rơm. Con người thì quá nhỏ bé trước vũ trụ bao la và những gì con người có được và hiểu được nếu chính xác và hay ho lắm cũng chỉ là ½ vấn đề, ½ thực tại và ½ chân lý. Nửa vũ trụ bí mật kia là một vùng trời mà con người không thể biết trong đó có cái gì nhưng lại là một con ngáo ộp để con người dọa dẫm nhau, là cái bánh vẽ để con người dụ dỗ nhau, là biểu tượng để con người làm khổ nhau giết nhau. Một bí mật lớn đang nằm chễm chệ trước mắt chúng ta vẫn còn là bí mật.

———————————————————————

giải thích :

(1)-Trạng thái Plasma : là một trong 4 trạng thái của vật chất thường thấy trong vũ trụ ở đó tất cả các vật chất bị ion hóa mạnh ở nhiệt độ cực nóng, phân tử và nguyên tử chỉ còn lại hạt nhân, các electron di chuyển tự do giữa các hạt nhân.

(2)-Mô Hình Chuẩn là một thuyết của Vật Lý Hạt miêu tả 3 lực tương tác ( lực tương tác mạnh, lực tương tác yếu và lực điện từ ) và những hạt cơ bản trong vũ trụ. Mô

Hình Chuẩn này không thể là một thuyết thống nhất và đúng hoàn toàn do :

– Thiếu sự mô tả về lực hấp dẫn.

– Không thể tính toán một các độc lập 19 tham số tự do, như các khối lượng, trong mô hình

– Nhiều nghi vấn về nhiều hằng số của toán học

                           CHƯƠNG   2

               Cửa Trời Rộng Mở

           Dưới Đời Thượng Ngươn

1.- Hình Ảnh Cõi Trời :

Cách tính Lục Thập Hoa Giáp của nguời Trung Hoa ngày xưa đến đời Hoàng Đế (Hiên Viên) được gọi là cách tính Tam Ngươn Cửu Vận, với 60 năm gọi là một Ngươn, khởi đi từ Thượng Ngươn, đến Trung Ngươn rồi Hạ Ngươn, tổng cộng Tam Ngươn là 180 năm, cho chúng ta biết vòng Tam Ngươn cận đại bắt đầu từ năm 1864 và đời Thượng Ngươn sắp đến sẽ bắt đầu từ năm 2044.

Chữ Cửa Trời trong câu sấm truyền trên chỉ 2 vật thể: Cánh Cửa Vào Cõi Trời và Cõi Trời. Bài viết ngắn này chỉ bàn tổng quát về một vài phát hiện mới đang làm thay đổi quan niệm về hai vật thể trên trong tinh thần khoa học hữu hạn của người viết.

Theo một cuộc thăm dò của cơ quan thông tấn ABC cứ 10 người cư ngụ tại Hoa Kỳ có đến 9 người tin có Cõi Trời. Phần đông cho rằng Cõi Trời hay cõi Thiên Đường là một vùng đất có sự sống cao hơn chúng ta hiện nay và không có khổ đau như các tôn giáo mà họ tôn thờ đã diễn tả. Vậy Cõi Trời hiện đang ở đâu trong vũ trụ bao la và tại sao nền khoa học hiện tại không thể định vị được?

Hơn 2000 năm trước người Phương Đông đã biết định vị các vì sao trên bầu trời và biết ghi nhận được những vụ nổ trên Mặt Trời hay ở những vị trí xa xôi trong vũ trụ. Các bậc vi nhân Phương Đông như Lão Tử đã cho rằng chúng ta đến từ Phản Thế Giới (thế giới Vô Vi) và chỉ cho chúng ta cách Chuyển Thể để đi vào Phản Thế Giới sống Trường Sanh Bất Tử trong đó.

Đức Phật Thích Ca Mầu Ni đã dùng thần nhãn soi vào mọi ngóc ngách trong vũ trụ và vẽ ra hình ảnh Cõi Trời, cõi Cực Lạc, với cách diễn tả thật cổ xưa nhưng lại có nhiều điểm phù hợp với nền khoa học hiện tại và cách diễn tả về cõi Thiên Đường của các tôn giáo khác tận Phương Tây:

Cõi Trời là một vùng đất (có thể là một hành tinh) được hình thành bằng nhiều kim loại quí, không ruồi muỗi sâu bọ, thực vật và động vật phát sáng, loài người tại đó không có giới tính trai hay gái và đuợc sanh ra từ hoa sen Hồ Thúc Bảo (có thề là máy sinh vô tính) là loài thượng đẳng sống trường thọ với nền văn minh hình thành cách đây 167 triệu năm, khi muốn ăn mặc thì tự tuởng mà có thức ăn và áo quần (Có thể nền sản xuất đã tự động hóa siêu đẳng hay vật chất tại đó là Phản Vật Chất quá nhẹ nên có thể điều khiển đuợc bằng tư tuởng), họ có một cuộc sống không khổ đau và còn có thần túc, thiên lý nhãn, thiên lý nhi;.. (có thể là dĩa bay, vô tuyến truyền hình, điện thoại …) với một nền kiến trúc tuyệt hảo v.v… (bạn đọc có thể thấy được hình ảnh hoa sen Hồ Thúc Bảo trong phim Matrix và động vật thực vật phát sáng trong phim Avatar).

Vào thế kỷ XX, Khoa vật lý của Phương Tây đã tìm ra được nhiều định luật về sự vận chuyển của thế giới tự nhiên và khoa vật lý thiên văn tìm ra được 4 lực tương tác trong vu trụ (lực hấp dẫn, lực điện từ, lực hạt nhân mạnh và lực hạt nhân yếu) thì những chuyện như muốn ăn mặc chỉ cần tự tuởng mà có đồ ăn và áo quần hoặc các thiên thần tự bay lơ lửng trong không gian là những chuyện giả tưởng phản khoa học không thể có trong trái đất chúng ta đang sống và cũng không thể có trong vũ trụ bao la, nhưng qua thế kỷ XXI khoa thiên văn Phương Tây nhờ quan sát và thí nghiệm đã tìm ra nhiều điều mới lạ thì những chuyện trên cần phải nghiên cứu và bàn lại vì có thể xảy ra.

2.- Khoa thiên văn Tây Phương : Nền văn minh Phương Tây, nhất là khoa thiên văn, có thể nói là đi sau về trước. Đến thế kỷ XV, người Phương Tây còn nghĩ rằng bầu trời là một màn giống như thủy tinh trên đó có gắn các vì sao. Mặt đất là trung tâm mà các tinh tú, mặt trăng, mặt trời xoay quanh. Khi Christopher Columbus (1458-1506) tìm ra châu Mỹ, người Phương Tây mới bắt đầu nghi ngờ trái đất là một khối cầu. Công lao đưa con người và trí tuệ con nguời vào vũ trụ, không phải do các nhà thiên văn như Nicolaus Copernicus (1473-1543) đã phát hiện ra trái đất xoay quanh mặt trời hay Galileo Galilei (1546-1642) vị cha già của nền khoa học cận đại, mà do những người thợ làm kính tên là Hans Lippershey (1570) và Zacharias Janssen (1580-1630) hợp lực cùng Jacob Metius (1571) tạo ra một viễn vọng kính đầu tiên cho đài thiên văn Alkmaar ở Hòa Lan. Từ đó người Phương Tây mới quan sát sâu vào trong vũ trụ và phân loại từng vật chất trong vũ trụ như: tinh vân, hành tinh, thiên hà, sao mới, sao lùn, sao chổi, hố đen v.v…

Đầu thế kỷ XX, Nhà thiên văn kiêm giáo sĩ người Bỉ Goerges Lemaitre (1894-1966) khi quan sát được các thiên hà mỗi ngày mỗi trôi xa đã đưa ra thuyết Big Bang cho rằng cách đây 13.7 tỉ năm vật chất trong vũ trụ ở dạng cực nóng tụ lại một điểm gọi là Điểm Kỳ Dị rồi bùng nổ ra. Nay vũ trụ là một khối cầu đang giãn nở. Cuối thế kỷ XX, nhà vật lý thiên văn Stephen Hawking (1942) dựa vào thuyết Big Bang có ý kiến cho rằng trong nay mai (vài tỉ năm nữa!) khối cầu vũ trụ sẽ nguội dần và lực hấp dẫn của các thiên hà sẽ làm cho khối cầu vu trụ co lại. Suốt thế kỷ XX, nhiều câu hỏi được đặt ra và chưa giải đáp được như: Căn nhà chúng ta đang sống (vũ trụ) có hình gì? Nếu vũ trụ là một khối cầu đang giãn nở thì có bao nhiêu khối cầu hay chỉ một như thế mà thôi trong vũ trụ ? Nếu vũ trụ không phải là khối cầu thì vũ trụ là một khoảng không gian hữu hạn hay vô hạn? v.v…

3.- Vùng Trời Bí Mật Trong Vũ Trụ : Khi quan sát vũ trụ, các nhà thiên văn bị một trở ngại to lớn là tầng khí quyển bao quanh trái đất đã che mờ kính thiên văn. Tháng 4 năm 1990, cơ quan không gian NASA phóng viễn vọng kính Hubble lên quĩ đạo quay quanh trái đất một vòng là 97 phút. Sau bốn phi vụ sửa chữa của phi thuyền con thoi, viễn vọng kính Hubble được gắn máy chụp hình loại mới, với tia cực tím, tia hồng ngoại đã cung cấp được những bức hình rõ nét hơn 10 lần những bức hình của đài thiên văn dưới đất. Hubble đã nhìn sâu vào những vật thể xa đến 14 tỉ năm ánh sáng trong vũ trụ và phát hiện ra nhiều mới lạ làm thay đổi những quan niệm cũ và nhiều thứ bí mật mà nền khoa học hiện đại chưa thể hiểu hay giải thích được.

Viễn Vọng Kính Hubble

Viễn Vọng Kính Hubble

Khi chúng ta ngước mắt nhìn lên bầu trời, tức là nhìn ra vũ trụ, chúng ta và cả những nhà thiên văn thường có một khuyết điểm chung là nhìn những vật phát sáng và cho đó là những vật chất trong vũ trụ. Một nghiên cứu của Jememiah Paul Ostriker (1937) và nhóm cộng sự của ông ta thuộc trường đại học Cambridge cho biết: Hầu hết vũ trụ là những khoảng không gian tối tăm và hoang vắng nhưng những vùng tối này không trống rỗng như người ta tưởng. Nhóm nghiên cứu này kết luận khoảng không trống rỗng này chiếm đến 85% thể tích vũ trụ và chứa đến 80% vật chất (bao gồm vật chất không phát sáng và vật chất không thấy đuợc) trong vũ trụ.

Cách đây gần 200 năm nhà toán học August Mobrius (1790-1868) đã đề cập đến Chiều Thứ Tư, tức là Chiều Không-Thời Gian (Không gian ta đang sống là không gian Euclide 3 chiểu: lên xuống, qua về, tới lui). Chiều Thứ Tư là một không gian 3 chiều khác bọc bên ngoài hay xiên một bên không gian 3 chiều chúng ta đang sống nhưng khác thời gian. Các khoa học gia sau này bằng nhiều bộ môn và hình thức khác nhau đã xác nhận sự hiện hữu của Chiều Thứ Tư và còn nghi ngờ rằng khoảng không gian của Chiều Thứ Tư là một không gian thật còn không gian 3 chiều chúng ta đang sống là không gian ảo.

Năm 1936, Giáo sư toán Paul Adien Maurice (1902-1984), Carl Anderson (1905-1991) và Victor Hess (1883-1964) cùng nhau nhận giải Nobel nhờ xác nhận được Phản Hạt (Positron hay Anti Electron). Sau đó các khoa học gia khác cũng tìm ra Anti Proton và Antri Netron. Qua Phòng thí nghiệm CERN to lớn tại Châu Âu các khoa học gia Phương Tây hiện nay đang tìm cách tạo ra và sử dụng những loại vật chất mới: Phản Vật Chất hay nói chung là những Vật Chất Tối.

Từ năm 1990 trở đi khi nghiên các các vụ nổ xa xôi trong vũ trụ (qua tia gamma ray burst) các nhà thiên văn bắt đầu nghi ngờ có một nguồn năng lượng nào đó trong các thiên hà và đang đẩy các thiên hà mỗi ngày mỗi trôi xa và họ gọi nguồn năng lượng đó là Năng Lượng Tối. Họ đã phóng nhiều vệ tinh và phi thuyền lên không gian với những thí nghiệm để tìm cách xác nhận luồng Năng Lượng Tối đó.

Tháng 10 năm 2004, một chương trình tại đài thiên văn Apache Point, New Mexixo, U.S.A. với sự tham gia của trên 200 nhà thiên văn từ 13 viện thiên văn quốc tế đã vẽ được một bản đồ 3 chiều của vũ trụ trong khoảng không gian xa 2 tỉ năm ánh sáng. Chương trình này xác nhận sự tồn tại của một nguồn Năng Lượng Tối đang lan tỏa khắp các thiên hà và sự tồn tại của Vật Chất Tối và Chiều Thứ Tư.

Nói môt cách rõ ràng hơn là chương trình này xác nhận được một Vũ Trụ Dương nằm bên cạnh một Vũ Trụ Âm hay Phản Thế Giới nằm bên cạnh một Thế Giới, hay nói theo cách nói của Phương Đông là Thế Giới Hữu Vi đã dùng Hữu Vi để xác nhận được sự hiện hữu của Thế Giới Vô Vi, một thế giới mà các bậc vĩ nhân của các tôn giáo khắp toàn thế giới đề cập đến hàng ngàn năm trước hay một nửa vũ trụ bí mật nằm truớc con mắt của các nhà khoa học.

Năm 1930, Victor Hess phát hiện ra những hạt có năng lượng cao đến từ những vụ nổ trong cõi xa xôi của vũ trụ va vào bầu khí quyển tạo ra mưa vũ trụ (Cosmic Ray). Năm 1932, Carl Anderson dùng một dụng cụ gọi là Cloud Chamber nhìn sâu vào mưa vũ trụ đã nhìn thấy được một định lượng tương đương xảy ra bên cạnh lượng Electron ông gọi là Positron hay anti-electron.

Từ đó Phản Hạt hay Phản Vật Chất được xác nhận. Cũng từ đó các khoa học gia Phương Tây cho rằng Hạt và Phản hạt có một lượng tương đương khi vụ nổ Big Bang xảy ra; nay Phản Hạt có rất ít trong Ngân Hà và hình như không có trong Thái Dương Hệ mà tồn tại rất nhiều ở đâu đó trong rìa của vũ trụ nên họ đã cho gắn máy dò Phản Hạt AMS (Alpha Magnetic Spectrometer) trong trạm không gian đề dò tìm Phản Hạt. Nhưng ngày nay khi nghiên cứu những bức ảnh các thiên hà va chạm nhau cung cấp bởi viễn vọng kính Hubble nhờ có gắn tia hồng ngoại tia cực tím nên có thể ghi lại được màu sắc khác nhau của Vật Chất và Phản Vật Chất. Họ đã thấy được màu của Phản Vật Chất nhiều hơn màu của Vật Chất ở trong vùng khi các thiên hà va vào nhau.

Như thế Phản Thế Giới to lớn hơn đang tồn tại song song cùng Thế Giới bên trong các Thiên Hà. Ngân Hà là một thiên hà thì cách cấu tạo cũng giống như những thiên hà khác nên có một số khoa học gia cho rằng Phản Thế Giới có thể đang tồn tại một cách to lớn đâu đó trong Ngân Hà và cả trong Thái Dương Hệ ở một khoảng Không-Thời-Gian khác mà mắt ta không thể thấy được.

Lỗ Đen ( black hole )

Lỗ Đen ( black hole )

  1. Lỗ Đen : Khi quan sát Lỗ Đen hay Hố Đen (Black Hole), là những vị trí trong vũ trụ có lực hấp dẫn quá mạnh hút tất cả các vật chất chung quanh kể cả ánh sáng. Các khoa nhà thiên văn trước đó cho rằng Hố Đen là “xác chết” của một vì sao có khối lượng quá giới hạn Chandrasekhar bị suy sụp vào trong bởi lực hấp dẫn chính nó và biến thành một Hố Đen. Những quan sát gần đây cho thấy Hố Đen không giống như những suy nghĩ trước, lớn nhỏ xuất hiện khắp nơi trong Ngân Hà trong vũ trụ và hình như mỗi thiên hà và kể cả Ngân Hà đều có một Hố Đen to lớn nằm tại tâm.

Hố Đen to lớn nhất được phát hiện nằm tại tâm của một thiên hà trong chòm sao Đại Hùng có cùng tuổi với vũ trụ. Những nghiên cứu và lý thuyết mới nhất về Chân Trời Sự Kiện (vành đai quanh Hố Đen mà vật chất không thể thoát ra đuợc) và tâm Hố Đen cho biết trong tâm Hố Đen có một Điểm Kỳ Dị tại đó vật chất bị kéo vào tâm như một sợi dây mì ống. Vật chất ấy bị kéo đi đâu thì chúng ta chưa thể biết đuợc vì tất cả quan sát và lý thuyết trong Hố Đen đều không thực hiện và áp dụng đuợc.

Siêu Sao Mới ( Supernova )

Siêu Sao Mới ( Supernova )

5.- Sao Mới : Khi quan sát những Sao Mới và Siêu Sao Mới (Supernova), là những ngôi sao nằm trong hay ngoài Ngân Hà hay các thiên hà xa xôi, bùng nổ phát ra những tia sáng cực lớn, phần đông là những đám hơi Plasma trong một thời gian ngắn, các nhà thiên văn Phương Tây cho rằng chúng được hình thành bằng hai trường hợp:

Thứ nhất là các sao khổng lồ cháy hết nhiên liệu nhiệt hạch, mất áp suất, sụp đổ vào trong dưới trọng trường của chính nó, khi áp xuất và mật độ vật chất tăng cao thì gây nên vụ nổ.

Thứ hai là sao lùn trắng hút lấy vật chất của những sao bay quanh nó khi đạt tới khối lượng Chandrasekhar thì phát ra vụ nổ.

Thế nhưng khi dùng Hubble quan sát Sao Mới T. Pyxidis ở trong chòm sao Pyxis cách chúng ta khoảng 3.300 năm ánh sáng bùng nổ trong những năm 1980, 1902,1920,1944 và 2011 đã tăng khối lượng rộng ra hơn 1 năm ánh sáng có đến hơn 2.000 bong bóng. Các nhà thiên văn đã phát hiện nhiều điều mới lạ như những bong bóng không chỉ là những đám hơi mà còn có vật chất trong đó, có bong bóng to hơn Thái Dương Hệ, tốc độ của các vật chất trong các bong bóng khác nhau và cùng bùng nổ về một phía. Các nhà thiên văn cho rằng cần phải giải thích lại sự hình thành của sao mới và sao siêu mới vì họ không hiểu từ đâu số lượng vật chất nhiều vô hạn ấy tuôn trào ra.

Vật Chất bị cuốn vào Hố Đen rồi sẽ đi về đâu? Vật chất từ đâu xuất hiện tuôn trào ra như vô hạn ở các ngôi Sao Mới ? Là những câu hỏi chưa thể trả lời được bởi các nhà thiên văn Phương Tây. Một số ít nghi ngờ Hố Đen và Sao Mới là hai cánh cửa để vật chất chuyển đổi đi qua đi lại giữa khoảng không gian 3 chiều và không gian 4 chiều hay là hai cánh cửa đi qua đi lại giữa Cõi Trời và cõi Ta Bà của chúng ta nhưng không thể công bố ý nghĩ mình ra vì khả năng con người chưa thể quan sát vào sâu trong Hố Đen hay đằng sau Sao Mới.

Trong những năm gần đây khi nghiên cứu về cái gì xảy ra sau khi con người chết đi và trước khi con người được sinh ra, các khoa học gia ghi nhận được một số rất đông nói rằng trước khi sinh ra hoặc sau khi chết đi đều thấy bị hút vào đi qua một đường hầm tối đen và rồi thấy một luồng ánh sáng chói nhòa trong một vùng không gian yên tĩnh. Phải chăng đó là Hố Đen và Sao Mới hay là cánh cửa đi qua đi lại giữa hai vùng không gian khác nhau cũng hiện diện trong sự sống và chết của con người.

Cũng trong những năm gần đây chúng ta còn phát hiện ra nhiều vụ mất tích không để lại dấu vết của hàng trăm, hàng ngàn người nhiều nơi trên thế giới. Nhiều vụ mất tích của tàu bay, tàu thủy trên vùng biển Tam Giác Quỉ, trong vùng biển hồ ở Trung Quốc. Sự xuất hiện của những vật bay (UFO) không định được xuất xứ và những hình thù kỳ lạ trên những đám cỏ trong nhiều quốc gia mà nhiều nhất là tại nước Anh. Nhiều khoa học gia nghi ngờ Hố Đen chính là thủ phạm gây ra những vụ mất tích trên và sự giao lưu giữa hai vùng không gian khác nhau đã để lại hình ảnh diễn ra song song của những vật trong vùng không gian khác như những UFO nhưng không có hình ảnh nào là thật với vật chất của chính nó, hoặc nhiều lắm là có được sự tác động các hình thù các vật chất đó trên các đám cỏ.

Những phát hiện mới đây của nền thiên văn hiện tại không đủ khả năng giải thích được câu hỏi căn nhà chúng ta đang sống (vũ trụ) có hình gì? Mà trái lại làm rối ren thêm câu trả lời trên với một lý thuyết mới cho rằng toàn thể vủ trụ là một vùng không gian ở đằng sau một Hố Đen khổng lồ, tại đó có một Điểm Kỳ Dị đang sản xuất và đẩy các thiên hà mỗi ngày mỗi trôi xa.

Phản Thế Giới hay Thế Giới Vô Vi đuợc các khoa học gia Phương Tây xác nhận đang tồn tại trước mắt và song song với Thế Giới chúng ta đang sống. Sự xác nhận này không phải một sớm một chiều mà có được mà do một quá trình tìm tòi phát minh phát hiện đối chiếu thực nghiệm của các nhà khoa học Phương Tây suốt gần 200 năm qua, hiện đang tạo ra hàng trăm câu hỏi hướng về nửa vũ trụ đầy bí mật kia chưa giải đáp được như: Năng Lượng Tối có bao nhiêu lực? Vật Chất Tối hay Phản Vật Chất là những chất gì? có bao nhiêu loại? Có kết hợp được cùng Vật Chất trong thế giới chúng ta hay không? Có kết thành ngân hà và hành tinh như trong vũ trụ ta đang sống không? Có sự sống trong Phản Thế Giới hay không? Cánh cửa đi qua Phản Thế Giới hiện ở đâu? v.v… Sự xác nhận này còn quá sớm để nói rằng sẽ làm thay đổi nền khoa học và triết học hiện đại của chúng ta nhưng đang bắt đầu làm thay đổi nhiều quan niệm của nhiều khoa học gia và những con người đầy tò mò về nhiều vật thể trong thế giới tự nhiên và cả cách sống.

Câu sấm truyền Cửa Trời Rộng Mở Dưới Đời Thượng Ngươn cho ta biết nền khoa học hiện đại sẽ mở rộng Cánh Cửa Vào Cõi Trời vào năm 2044, nhưng theo dự đoán của tôi thì chuyện ấy sẽ xảy ra sớm hơn và không bao lâu các khoa học gia sẽ tìm được cách sẽ quan sát hay đi vào được được Phản Thế Giới  đầy bí mật của vũ trụ và sẽ giải thích cho chúng ta hàng ngàn câu hỏi mà chúng ta chưa trả lời được.

                  CHƯƠNG   3

           Đường  Qua  Xứ  Phật

Sau khi quan sát vài hình ảnh của 10.000 hình ảnh hiện ra trên các đám lúa khắp hành tinh, tôi muốn trình bày những điều tôi suy nghĩ :

1.- Hình Ảnh Thứ Nhất :

1

Theo cái nhìn của tôi, điều mà người hành tinh muốn diễn tả trong bức hình này là những thứ có liên quan đến THỜI GIAN.

Lý do mà tôi nghĩ người hành tinh muốn diễn tả những thứ có liên quan đến THỜI GIAN là vì cái vòng tròn to bọc bên ngoài bọc quanh ký hiệu Âm Dương có 12 ô. Trong mỗi ô lại có một cái hình tròn nhỏ. Hình tròn nhỏ này có thể được diễn tả là hình ảnh mặt trăng, 12 ô có thể là 12 tháng. Các vạch trắng trong mỗi ô có thể diễn tả là Lực Thời Gian được phát ra để bảo vệ ký hiệu Âm Dương hay vật thể nằm bên trong.

Một năm có 12 tháng với 12 con trăng là hình ảnh liên quan đến THỜI GIAN. Như vậy, Hình ảnh trên đám lúa này cũng nhắm mục đích diễn tả những thứ có liên quan đến THỜI GIAN.

Cái vòng tròn to có 12 ô mang nghĩa 12 tháng bọc quanh cái hình thể của ký hiệu Âm Dương có thể mang nghĩa trái đất quay để tạo ra Thời Gian 12 tháng là do :

Ký hiệu Âm Dương là hình ảnh của 2  con cá đang quay, 2 cái cánh quạt đang quay hay một vật thể quay. Trái đất là một vật thể quay tạo ra Thời Gian vậy những vật thể quay khác như dĩa bay quay cũng tạo ra được Thời Gian. Vật thể quay trái đất được Lực Thời Gian do nó tạo ra bảo vệ thì những vật quay khác như dĩa bay cũng được Lực Thời Gian do nó tạo ra bảo vệ.

Trong cái hình ký hiệu Âm Dương có một đường vạch nhỏ ngăn đôi hình Âm và hình Dương. Đường vạch này không nằm trong Thời Gian Âm hay Thời Gian Dương. Đó có thể là đường ống hay vùng không có Thời Gian, Tôi có niềm tin đó là Con Đường Tắt trong vũ trụ.

Hình ảnh thứ nhất có thể giải thích thành 3 nghĩa :

1.- Ký hiệu Âm Dương có nghĩa là vật quay. Trái đất quay tạo ra Thời Gian thì vật quay khác như dĩa bay quay cũng tạo ra Thời Gian. Trái đất được Lực Thời Gian  bảo vệ thì dĩa bay cũng được Lực Thời Gian bảo vệ.

2.- Có hai loại Thời Gian khác nhau : Thời gian Âm và Thời Gian Dương ( Thời Gian trong không gian chúng ta đang sống và Thời Gian khác, chiều Không-Thời Gian hay Chiều Thứ Tư).

3.- Một đường vạch nhỏ chia Thời Gian Âm và Thời Gian Dương có thể là vùng không có Thời Gian hay Con Đường Tắt trong vũ trụ, đường ống không có Thời Gian.

Trong thế kỷ qua, toán học và khoa vật lý thiên văn đã có nhiều thuyết chứng minh rằng không Gian và Thời Gian không bất biến mà có thể co giản và chuyển động. Các khoa học gia đã xác nhận có một khoảng Không Gian khác nằm bên cạnh hay bọc bên ngoài khoảng Không Gian chùng ta đang sống nhưng khác Thời Gian gọi là Chiều Thứ Tư trong đó có loại năng lượng và vật chất khác gọi là Năng Lượng Tối và Vật Chất Tối.

Theo nhiều thí nghiệm khoa học đã xác nhận số lượng Vật Chất Tối trong vũ trụ nhiều gấp 4 lần số lượng vật chất thông thường.

Tôi xin trình bày ý nghĩ của mình sau khi đã quan sát hình ảnh thứ nhất có ký hiệu Âm Dương trên đám lúa như sau : Ký hiệu Âm Dương là hình ảnh một vật quay đang quay để tạo ra THỜI GIAN. Vật quay trái đất quay tạo ra THỜI GIAN. Phải có những vật khác, hành tinh khác, thiên hà khác trong Chiều Thứ Tư quay cũng tạo ra loại THỜI GIAN khác. Những vật quay này quay cũng tạo ra những thứ giống như Lực Thời Gian để tự bảo vệ mình. Giữa hai mặt THỜI GIAN khác nhau đó có một vùng  hay một đường ống ngăn chúng. Đường ống này là Con Đường Tắt trong vũ trụ hay vùng không có THỜI GIAN.

2.- Hình Ảnh Thứ Nhì :

1

Hình ảnh này có nghĩa giống hình ảnh thứ nhất là một vật đang quay, các vòng tròn bên trong là vật quay, các răng cưa bên ngoài các vòng tròn diễn tả vật đó đang quay, bên ngoài vật quay là một vùng an toàn.

Tôi nghĩ người hành tinh muốn diễn tả vật quay khi quay sẽ tạo ra Lực Thời Gian là một vòng tròn bên ngoài để tự bảo vệ mình như tôi đã trình bày ở hình ảnh thứ nhất.

Hình Ảnh Thứ ba :

1

Theo sự quan sát của tôi, tôi nghĩ người hành tinh muốn diễn tả :

– Hai mặt THỜI GIAN khác nhau ( không gian ba chiều của chúng ta và Chiều Thứ Tư) nằm bên nhau hay nằm bọc bên ngoài.

– Hai vật thể quay ( trái đất và một hành tinh khác trong Chiều Thứ Tư) nằm bên nhau.

Khi các nhà khoa học tìm được Chiều Thứ Tư trong vũ trụ. Họ có tạo một hình ảnh ( Hình ảnh thứ tư) để giải thích và diễn tả vị trí của không gian 3 chiều và Chiều Thứ Tư. Tôi nghĩ nếu bạn nhìn vào và hiểu được hình ảnh thứ tư của các khoa học gia thì bạn cũng sẽ hiểu được hình ảnh thứ ba của người hành tinh trên các đám lúa vì chúng có chung mục đích : diễn tả vị trí của 2 mặt THỜI GIAN khác nhau.

Hình Ảnh Thứ Tư :

1

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/55/8-cell-simple.gif

Các bạn có thể mở cái Link trên để hiểu thêm về Chiều Thứ Tư. Hình ảnh thứ tư này do các khoa học gia vẽ ra có thể họ không biết các hình ảnh trên các đám lúa nhưng họ lại vẽ các các đường ngăn cách giữa 2 mặt Thời Gian khác nhau ( không gian 3 chiều và Chiều Thứ Tư) là những con đường ống giống như người hành tinh diễn tả, Con đường ống không có THỜI GIAN là những con đường ống ngăn cách hai mặt Thời Gian khác nhau.

Hình Ảnh Thứ Năm :

1

Quan sát hình ảnh thứ năm trên tôi nghĩ :

– Hình ảnh hai ký hiệu Âm Dương trên đám lúa là hình ảnh của  2 mặt THỜI GIAN khác nhau ( không gian 3 chiều và Chiều Thứ Tư ).

– Bên ngoài mỗi ký hiệu Âm Dương có nhiều vòng tròn đen trắng bọc bên ngoài hay đâm vào các ký hiệu Âm Dương khác là muốn diễn tả những con đường ống không có Thời Gian hay con đường tắt trong vũ trụ để ngăn cách 2 mặt Thời Gian khác nhau và để di chuyển qua về giữa 2 mặt Thời Gian khác nhau.

Nói các khác là toàn bộ hình ảnh thứ năm, người hành tinh muốn dạy cho chúng ta biết là chúng ta có thể du hành qua về 2 mặt Thời Gian khác nhau ( không gian 3 chiều và Chiều Thứ Tư) bằng cách sử dụng đường ống không có Thời Gian, hay con đường tắt trong vũ trụ ..

Sau khi quan sát hình ảnh thứ năm này tôi muốn trình bày vài ý nghĩ của mình :

Các khoa học gia ngày nay cũng đề cập đến con đường ống hay con đường tắt trong vũ trụ khi mặt thời gian uốn cong.

Riêng người hành tinh dùng hình ảnh thứ năm để cho chúng ta biết con đưởng ống không có Thời Gian nằm bọc bên ngoài và ngăn cách hai mặt Thời Gian khác nhau. Chúng ta có thể du hành từ mặt Thời gian này sang mặt Thời Gian khác ( hay từ thế giới chúng ta đến một thế giới khác trong Chiều Thứ Tư) bằng cách dùng đường ống không có Thời Gian.

Hình Ảnh Thứ Sáu :

1

Hình ảnh thứ sáu này có nghĩa giống hình ảnh thứ năm : Diễn tả cách du hành trong vũ trụ bằng cách đi vào đường ống không có Thời Gian, nhưng hình ảnh thứ sáu này có nhiều chi tiết và rõ ràng hơn hình thứ năm.

Hình ảnh những vòng tròn nằm ngay giữa hình thứ sáu có nghĩa là đường ống không có Thời Gian. Hình ảnh nằm hai bên đường ống không có Thời Gian vừa trông giống ký hiệu Âm Dương vừa trông giống cái cánh quạt quay có thể được diễn tả là hai mặt THỜI GIAN khác nhau hoặc 2 vật quay (dĩa bay) bị ngăn cách bởi đường ống không có Thời Gian.

Nhìn toàn bộ hình thứ sáu chúng ta có thể giải mả rằng khi cánh quạt của vật quay ( dĩa bay) quay lên tối đa thì dĩa bay còn phải đi thêm một đoạn đướng trước khi vào được đường ống không có Thời Gian hay Con Đường Tắt trong vũ trụ, ra khỏi đường ống không có Thời Gian thì dĩa bay giảm độ quay để vào một mặt Thời Gian Khác.

Từ 6 hình ảnh trên người viết xin trình bày ý nghĩ của mình :

Nền khoa học hiện đại có bàn đến Con Đường ống hay con đường tắt trong vũ trụ bao la nhưng họ không thể tìm ra nó.

Các khoa học gia chỉ chú trọng vào việc dùng sức đẩy và sức nâng để thoát lực hút của trái đất. Họ sản xuất ra máy bay và phi thuyền để đi thật sâu vào trong không gian ba chiều vô tận. Họ không bao giờ tìm ra con đường ống không có Thời Gian hay Con Đường Tắt trong vũ trụ hoặc đi vào được một mặt Thời Gian khác của Chiều Thứ Tư.

Tại sao ?

Vì các khoa học gia không biết nguyên tắc : VẬT QUAY TẠO RA THỜI GIAN. Như thế khi vật quay là dĩa bay quay nó cũng tạo ra Thời Gian. Khi dĩa bay tăng độ quay lên tối đa, dĩa bay sẽ rời mặt Thời Gian cũ để vào đường ống không có Thời Gian hay con đường tắt để đi qua mặt Thời Gian mới, Chiểu Thứ Tư. Dĩa bay vô tình rời luôn những thứ trong mặt Thời Gian cũ như là lực hút của trái đất và kể trái đất.

Nói cách khác là lực hút trái đất không thể có ảnh hưởng đến dĩa bay khi nó tăng độ quay để tạo ra vùng Thời Gian mới hay đi vào vùng Thời Gian khác.

Các khoa học gia của chúng ta và kể cả chúng ta nhìn thấy những dĩa bay to lớn lơ lững trên bầu trời. Chúng ta không hiểu tại sao chúng không bị lực hút của trái đất kéo xuống, tại vì chúng ta không biết VẬT QUAY TẠO RA THỜI GIAN, chiếc dĩa bay đang quay mạnh lên rời vùng Thời Gian của trái đất nên không còn bị ảnh hưởng của lực hút do trái đất tạo ra.

Đôi lúc chúng ta nhìn thấy các dĩa bay biến mất. Không. Chúng vẫn còn đó trong một vùng THỜI GIAN KHÁC DO NÓ TẠO RA KHI QUAY MẠNH LÊN nên đôi mắt chúng ta không thể nhìn vào được vùng Thời Gian khác mà thấy được nó.

5 hình ảnh trên các đám lúa này do người hành tinh tạo ra trong mục đích muốn chỉ cho chúng ta biết VẬT QUAY TẠO RA THỜI GIAN.

Hãy chế tạo dĩa bay để du hành trong vũ trụ, chúng ta sẽ vào được đường ống không có Thời Gian hay con đường tắt và vào được Chiều Thứ Tư trong vũ trụ.

Hình Ảnh Thứ 7 :

Chiếc dĩa bay 3 động cơ quay nhìn từ bên ngoài.

Chiếc dĩa bay 3 động cơ quay nhìn từ bên ngoài.

Dĩa bay có nhiều loại, tôi chỉ lấy vài hình ảnh trên các đám lúa mà tôi nghĩ người hành tinh muốn chỉ cho chúng ta cách cấu tạo các lực quay bên trong dĩa bay.

Hình Ảnh Thứ 8 :

Hình ảnh ba cổ máy quay bên trong dĩa bay

Hình ảnh ba cổ máy quay bên trong dĩa bay

Hình Ảnh Thứ 9

Hình ảnh 9 cổ máy quay trong dĩa bay có 3 tầng

Hình ảnh 9 cổ máy quay trong dĩa bay có 3 tầng

Phải chăng người hành tinh đang ở trong một hành tinh rất gần trái đất nhưng khác Thời Gian. Họ đến được trái đất vì họ biết VẬT QUAY TAO RA THỜI GIAN.

2500 năm trước, Dức Phật Thích Ca Mầu Ni đã dùng thần nhãn nhìn vào vũ trụ bao la và diển tả cõi cực lạc như sau : Thế giới kỳ lạ này được cấu tạo bằng những kim loại quí giá, không ruồi muổi sâu bọ, thực vật và động vật phát sáng, con người ở đó không có giới tính, sống trường thọ và được sanh ra từ hoa sen hồ thúc bảo. Họ có một nền văn minh hình thành trên 176 triệu năm, khi muốn ăn và mặc thì tự tưởng là có đồ ăn vào áo quần và sống trong những lâu đài của một nền kiến trúc tuyệt hảo. v.v…

Chúng ta đã thấy thực vật và động vật phát sáng trong phim Avatar, chúng ta đã thấy người hành tinh không có gìới tính trong các bức hình chụp các xác chết người hành tinh, chúng ta biết hoa sen hồ thúc bảo chẳng qua là máy sinh vô tính và chúng ta cũng đã thấy nó trong phim Matrix. Chúng ta cũng đã thấy không chỉ riêng đồ ăn và áo quần mà toàn bộ các đồ vật khác được chuyển vận qua hệ thống teleport trong phim Star Trek. Nếu chúng ta muốn nhìn thấy những lâu đài của nền kiến trúc tuyệt hảo thì chúng ta không cần bay lên thiên đường, chúng ta có thể thấy nó khi hai mặt THỜI GIAN ở vào vị trí gần nhau.

Nền kiến trúc tuyệt hảo trong cõi Cực Lạc ?

Nền kiến trúc tuyệt hảo trong cõi Cực Lạc ?

Các bạn có thể mở hai cái link bên dưới bài này hay các bạn vào youtube và đánh vào các hàng chữ ” floating interdimensional city” hay ” Mysterious city appears in the sky above  China” để xem những thành phố hiện ra trên bầu trời ở Châu Phi và Trung Quốc. Phải chăng đó là những thành phố trong cõi cực lạc mà Đức Phật đề cập đến hàng ngàn năm trước.

1

Thành phố vĩ đại hiện ra trên bầu trời Trung Quốc.

Phải chăng Cửa Trời Đang Rộng Mở ?

______________________________________________

https://www.youtube.com/watch?v=yeNI-kF7pSU

https://www.youtube.com/watch?v=1KVsrDHUo-I

CHƯƠNG   4

      Albert Pike & Gramaha

         Nói Về Thế Chiến Thứ III

                            Và

                   Trật  Tự  Mới

1.- Lá Thư Kỳ Lạ :

Albert Pike (1809-1891) là một sĩ quan cấp tướng của liên quân Hoa Kỳ được tạc tượng đứng ở Washington D.C. Ông cũng là thi sĩ, văn sĩ, ký giả, luật sư và nói được 16 thứ tiếng khác nhau. Ông trở thành người được cả thế giới Phương Tây bàn luận nhiều nhất hiện nay bởi lá thư ông gởi cho Mazzini vào ngày 15/8/1871, lá thư này mô tả một cách chính xác 3 trận thế chiến mà nhân loại phải gánh chịu trước khi đi vào Trật Tự Mới.

1

Trong một thời gian dài người ta tin rằng lá thư này được trưng bày ở viện bảo tàng Anh, người có bản sao lá thư là William Guy Carr (1895-1959), cựu sĩ quan tình báo hải quân hoàng gia Canada, tác giả cuốn sách nổi tiếng Satan, Prince Of This World.

Nhưng trong cuốn sách này William Carr lại viết ” Quản thủ thư viện có văn bản thông báo cho tôi lá thư này không được vào sổ trong thư viện bảo tàng Anh. lá thư này xuất hiện vào năm 1925 từ đức hồng y Rodriguez ” Như thế có thể nói Willam Carr biết được lá thư qua đức hồng y Caro Y Rodriguez (1866-1958) ở Santiago, chile, tác giả sách The Mystery Of Freemasonry Unveilled.

Đến nay chúng ta không có đủ bằng chứng để xác nhận chắc chắn về lá thư được viết từ thời nào, những nhân vật có liên quan với lá thư và lá thư là có thật và nằm về dĩ vãng xa xôi nhưng nội dung lá thư là một chủ đề được bàn luận cả Phương Tây bởi lời trong thư đã trình bày rõ ràng và chính xác những gì đã xảy ra qua 2 trận thế chiến và nguy hiểm hơn nửa là thế chiến thứ III chưa xảy ra nhưng trong tình hình hiện nay có cơ không tránh được.

2.- Hai trận thế chiến đã xảy ra

Đây là những lời được trích ra từ trong lá thư nói về thế chiến thứ I :

” Thế chiến thứ I xảy ra để cho các nhóm quyền lực (Illuminati) lật đổ chế độ Sa Hoàng (Szars) ở Nga và biến nước Nga thành một pháo đài chủ nghĩa cọng sản vô thần. Sự khác biệt giữa 2 nhóm quyền lực của 2 đế quốc Anh và Đức gây nên trận thế chiến. Cuối trận chiến, chủ nghĩa cộng sản sẽ được xây dựng và sử dụng để tiêu diệt các chính phủ khác và để làm suy yếu các tôn giáo.”  ( chữ Illuminati có nghĩa người tin đạo. theo người dịch, có thể tác giả thư muốn đề cập đến cấp lãnh đạo những bên tham chiến).

Qua lịch sử chúng ta biết được liên minh của 2 đế quốc Anh và Đức là nguyên nhân gây ra thế chến thứ I.

Đây là những lời được trích từ trong lá thư nói  về thế chiến thứ II.

” Thế chiến thứ II xảy ra là do có sự khác biệt giữa những người Fascists và chính trị Zionists (Do Thái). Thế chiến thứ II làm hủy diệt Nazism (Đức) và giúp cho người Zionist đủ mạnh để thành lập được nhà nước Israel trong vùng đất Palestine. Qua trận thế chiến thứ II cọng sản quốc tế trở nên đủ mạnh để cân bằng với  thế giới tư bản (Christendom ) và điều này sẽ được tồn tại cho đến lúc có một sự thay đổi cuối cùng về xã hội”. ( chữ Christendon có thể dịch là thế giới của Cơ Đốc Giáo ).

Qua lịch sử chúng ta biết Hội Nghị Potsdam vào năm 1945 giữa Truman, Churchill và Stalin một phần lớn Châu Âu đã bị giao cho Nga. Ở phía Châu Á nước Nhật lại giúp sức vào tạo cơ hội cho làn sóng cọng sản tràn ngập Trung Quốc.

Cuộc tranh luận ở Phương Tây hiện nay đề cập đến những điều ngạc nhiên sau đây :

– Năm 1871 lúc lá thư ra đời, chúng ta không có chữ Nazism và Zionism, chính các nhóm quyền lực ( cấp lãnh đạo các quốc gia ) đã tạo ra hai chủ nghĩa trên sau này.

– Chủ nghĩa Cọng sản là một hệ tư tưởng, cụm từ này ra đời do Retif nói đến 4 năm trước cách mạng Pháp (1789) mà Retif và Babeuf đều bị ảnh hưởng bởi Rousseau.

3.- Thế Chiến Thứ III xảy ra như thế nào

Đây là những lời được trích từ trong lá thư nói về thế chiến thứ III.

“The Third World War must be fomented by taking advantage of the differences caused by the “agentur” of the “Illuminati” between the political Zionists and the leaders of Islamic World. The war must be conducted in such a way that Islam (the Moslem Arabic World) and political Zionism (the State of Israel) mutually destroy each other. Meanwhile the other nations, once more divided on this issue will be constrained to fight to the point of complete physical, moral, spiritual and economical exhaustion…We shall unleash the Nihilists and the atheists, and we shall provoke a formidable social cataclysm which in all its horror will show clearly to the nations the effect of absolute atheism, origin of savagery and of the most bloody turmoil. Then everywhere, the citizens, obliged to defend themselves against the world minority of revolutionaries, will exterminate those destroyers of civilization, and the multitude, disillusioned with Christianity, whose deistic spirits will from that moment be without compass or direction, anxious for an ideal, but without knowing where to render its adoration, will receive the true light through the universal manifestation of the pure doctrine of Lucifer, brought finally out in the public view. This manifestation will result from the general reactionary movement which will follow the destruction of Christianity and atheism, both conquered and exterminated at the same time.”

Tạm dịch :

” Thế chiến thứ III xảy ra do các lãnh đạo các nhóm quyền lực khai thác sự khác biệt giữa các chính trị gia Zionist  và các lãnh đạo thế giới Hồi Giáo.  Chiến tranh trên mọi mặt làm cho thế giới Hồi Giáo Á rập và Do Thái củng hủy diệt lẫn nhau. Khi đó các quốc gia khác bị chia rẽ vì vấn đề trên cũng tham gia vào trận chiến đến mức làm tan nát toàn bộ các cơ sở vật chất, hủy hoại đạo đức lẫn tinh thần và làm các nền kinh tế kiệt quệ”.

“Chiến tranh đã mở dây xích cho những con người theo chủ nghĩa hư vô và vô thần, gây ra những biến động xả hội kinh hoàng với bao điều ghê rợn được hiễn thị rõ ràng trong các quốc gia ảnh hưởng vô thần, nguồn gốc của man rợ, đẫm máu và hổn loạn”.

” Sau đó khắp mọi nơi, những người công dân (citizens) bắt buộc phải tự bảo vệ mình chống lại thiểu số muốn cải cách của thế giới, tiêu diệt những tên hủy hoại nền văn minh. Vào thời điểm đó số đông không còn mê muội với Thiên Chúa Giáo, không bị hướng dẫn bởi các thần luận, lòng bơ vơ không lý tưởng, không biết biểu hiện tôn thờ vào đâu, sẽ nhận được ánh sáng sự thật đến từ vũ trụ với một học thuyết rất rõ ràng của người hành tinh (Lucifer), cuối cùng cũng được công chúng nhận thấy. Sự biểu hiện từ vũ trụ này tạo ra một phong trào làm sụp đổ Thiên Chúa Giáo và cả Vô Thần (cọng sản ?). Cả hai thứ đều bị chinh phục và tiêu diệt cùng một lúc”.

Kể từ khi có cuộc tấn công khủng bố ngày 11/9/2001 làm sập tòa tháp đôi ở New York,  Tình hình thế giới, đặc biệt ở Trung Đông, trở nên bất ổn ngày càng tăng nhất là giữa và Do Thái và thế giới Á Rập. Điều này là hoàn toàn phù hợp cho một thế chiến thứ III sẽ diễn ra giữa các đồng minh của cả hai bên.

4.- Lời bàn của người viết bài này

Nostradamus và Albert Pike đều có cái nhìn vượt thời gian. Nostradamus tiên tri rằng thế chiến thư III đã bắt đầu từ năm 2000 và sẽ chấm dứt vào năm 2026 sau một trận chiến dài 3 năm 6 tháng làm hủy diệt cả nền văn minh. Albert Mike không nói đến thời gian xảy ra trận thế chiến thứ III nhưng lại đi sâu vào cái gì sẽ xảy ra trong và sau trận thế chiến.

Có chiến tranh là có chết chóc nhưng chiến tranh vào thời đại này sẽ mang đến hủy diệt cho toàn nhân loại vì các loại vũ khí nguyên tử. Người viết xin không bàn về chiến tranh mà xin bàn về 2 chữ Citizens và Lucifer trong lá thư, hai chữ này rất kỳ lạ và huyền bí làm cho lá thư tăng thêm sự thật dù những điều trong lá thư được diễn tả từ trăm năm trước một cách không rõ ràng nhưng đang hiển thị thành sự thật vào thời điểm hiện nay.

– Chữ Citizens :

Các nhà xã hội học trước đây thường cho rằng xã hội loài người có nhiều giai cấp. Ở Việt Nam thì có 5 giai cấp : Sĩ, Nông, Công , Thương, Binh. Ở Ấn Độ, người ta gọp giai cấp Công và giai cấp Nông lại thành giai cấp Công Nông. Ở Châu Âu lại chia giai cấp Sĩ ra làm 2 là giai cấp quí tộc và giai cấp tăng lữ. Từ đó các nhà tư tưởng mới lập ra chế độ chính trị quân chủ dùng giai cấp quí tộc cai trị các giai cấp kia để mong ổn định xã hội nhưng xã hội không thể ổn định, chiến tranh liên miên suốt mấy ngàn năm qua.

Khi những tên cai trị thuộc giai cấp quí tộc bị bóc trần như những tên vô lại khác. Các nhà tư tưởng vốn có lòng thương người bao la mới tư duy lập một xã hội bình đẳng không giai cấp. Những người cực đoan (cọng sản) dùng bạo lực cào bằng giai cấp. Các thể chế chính trị hiện nay phát xuất từ tư tưởng trên để mong tạo lập một xã hội công bằng hay không giai cấp đã không đem lại ổn định xã hội mà vẫn có chiến tranh liên miên và có cơ tạo ra thế chiến thứ III làm tan vỡ cả nền văn minh của nhân loại.

Năm 2011 Phong trào Occupy Wall Street bùng lên khắp thế giới. Giới trẻ tay cầm biểu ngữ ” We are 99% “. Ý muốn nói những người nghèo khổ chiếm 99% dân số thế giới, những người giàu có chiếm 1% dân số thế giới. Thế giới chia làm hai giai cấp đang lộ dần ra, giai cấp bị trị và giai cấp thống trị.

Trước đó vào năm 2005. Một cuốn sách tên là ” Economic Orogins of Dictatorship of democracy ” của 2 giáo sư James A. Robinson và Daron Acemoglu ra đời. Trong cuốn sách này 2 tác giả cũng đề cập đến xã hội 2 giai cấp. Giai cấp bị trị và giai cấp thống trị nhưng 2 tác giả gọi giai cấp bị trị là Citizen và giai cấp thống trị là Elite.

Hơn trăm năm trước Albert Pike viết lá thư nói trong thế chiến thứ III các công dân (Citizens) đứng lên tự bảo vệ mình. Các công dân không thể đứng lên một mình mà tự bảo vệ được. Họ phải đứng lên trong tổ chức của họ là có tổ chức công đoàn, đại diện cho giai cấp bị trị.

Điều kỳ lạ của lá thư là Albert Pike đã dùng chữ Citizens để chỉ giai cấp bị trị vào hơn 100 năm trước giống như 2 tác giả sách của Phương Tây cùng dùng chữ Citizen để chỉ giai cấp bị trị bây giờ. Thế giới có 2 giai cấp và chỉ hai giai cấp mà thôi, giai cấp bị trị và giai cấp thống trị đang lộ dần ra trong những năm gần đây.

– Chữ Lucifer

Chữ Lucifer là chữ Anh ngữ xuất xứ từ cổ ngữ Latin do hai chữ lux ” light, ánh sáng” và ferre ” to bring, mang đến ” ghép lại. Như thế chúng ta có thể hiểu chữ Lucifer theo nghĩa “một cái gì đó có mang ánh sáng đến” hay ” ánh sáng được mang đến”

Chữ Lucifer trong Anh Ngữ có nghĩa là quỉ Satan, một vị thần quyền uy trên trời vì ganh tỵ Chúa Trời mà phản lại Chúa Trời. Chữ Lucifer còn có nghĩa là Kim Tinh hay sao hôm, sao mai.

Vào thờì điểm hiện nay chúng ta không thể dịch chữ Lucifer là quỉ Satan và sao hôm. mà nên dịch là người hành tinh bởi lẽ lời trong thư nói :

Ánh sáng sự thật đến từ vũ trụ với một học thuyết rõ ràng của Lucifer.

Ánh sáng mà chúng ta thấy thường xuất hiện hiện nay trên bầu trời là ánh sáng từ những chiếc dĩa bay (UFO) trong đó có người hành tinh. Cái ánh sáng đến từ vũ trụ ấy mà Albert Pike thấy từ 100 năm trước và không biết là thứ gì nên Albert Pike đã dùng chữ Lucifer nào ngờ chữ Lucifer lại diễn tả đúng với những gì chúng ta thấy trên bầu trời hay trong vũ trụ trên thực tế hiện nay.

Nếu chúng ta đồng ý dịch chữ Lucifer là người hành tinh thì câu hỏi kế tiếp của chúng ta là :

Người Hành Tinh Có Nói Gì Về Thế Chiến Thứ III và Chủ Thuyết Rõ Ràng Mang Lại Trật Tự Mới Như Albert Pike nói không ?

5.- Thông Điệp Từ Người Hành Tinh:

Bạn có thể nghe thông điệp này bằng cách vào youtube đánh hàng chữ Alien Warning Messages Live on TV in UK.

Bạn có thể nghe thông điệp này bằng cách vào youtube đánh hàng chữ Alien Warning Messages Live on TV in UK.

Ngày 26 tháng 11 năm 1977 vào lúc 5 giờ chiều. Một thông điệp dài trên 5 phút của Người Hành Tinh được phát sóng trên đài truyền hình IBA của England. Thông điệp này giành làn sóng phát của Ivor Mills đang đọc bản tin chiều để phát ra lời của Người Hành Tinh vang ra một vùng rộng lớn quanh London ( Các bạn đọc có thể nghe lại thông điệp này ở Youtube khi đánh hàng chữ Messages From Aliens 1977).

Thông điệp này nói :

“This is a voice of GRAMAHA, the representative of the Asta Galactic Command, speaking to you”. “For many years now you have seen us as lights in the sky”. “We speak to you now in peace and wisdom as we have done to your brothers and sisters all over this, your planet earth”. “We come to warn you of your destiny of your race and your world so that you may communicate with your fellow being the course you must take to avoid disasters which threaten your worlds and beings on our world around you”. “This is in order that you may share in the great awakening, as the planet passes into the New Age of Aquarius”. “The new age can be a time for the great peace and evolution for your race, but only if your rulers are made aware of the evils forces that overshadow their judgments”. “Be still now and listen, for your chance may not come again”. “All your weapons of evils must be removed”. “The time of conflict is now past”. “And the race of which you are a part may proceed to the highest planes of evolution if you show yourselves worthy to do this”. “You have but a short time to learn to live together in peace and goodwill”. “Small groups all over planet are learning this, and exist to pass on the light of the drawing new age to you all”. “You are free to accept or reject their teachings, but only those who learn to live in peace will pass to higher realms of spiritual evolution”. “Hear now the voice of GRAMAHA, the representative of Asta Galactic Command speaking to you”. “Be aware also that there are many false prophets and guides operating in your world”. “They will suck your energy from you – the energy you call money and will put it in evil ends giving you worthless dross in return”. “Your inner divine self will protect you from this”. “You must learn to be sensitive to the voice within, that can tell you what is the truth and what is confusion, chaos and untruth”. “Learn to listen the voice of the truth which is within you and you will lead yourselves on to the path of evolution”. “This is our message to you our dear friends. We have watched you growing for many years as you too have watched our lights in your skies”. “You know that we are here, and that there are more beings on and around your earth than your scientists admit”. “We are deeply concerned about you and your path towards the light, and will do all we can help you”. “Have no fears, seek only to know yourselves and live in harmony with the way of your planet earth”. “We of the Asta Galactic command thank you for your attention. Now we are leaving of planes of your existence”. “May you be blessed by the supreme love and truth of the cosmos”. “Thank you for watching. Nemesis ”.

tạm dịch :

” Đây là lời của GRAMAHA,  đại diện cho Bộ Chỉ Huy Ngân Hà Asta, nói cùng quí vị “. “Sau nhiều năm quí vị nhìn thấy chúng tôi như là những điểm sáng hiện ra trên bầu trời”.  ” Chúng tôi phát biểu đến quí vị trong hòa bình và ước vọng như chúng tôi đã từng làm với những người anh em trên hành tinh Trái Đất”. “Tôi đến để cảnh báo quí vị về số phận của quí vị và thế giới quí vị để quí vị cần phải liên lạc với người trong quí vị để biết được một tiến trình (Course)(có thể dịch là bài học hay chủ thuyết) mà quí vị phải thực hiện để tránh thảm họa đang đe dọa sanh mạng thế giới quí vị và thế giới chúng tôi quanh quí vị”.” Đó là một trật tự mà quí vị cần làm để vươn lên khi Trái Đất đi vào Thời Đại Mới của Bảo Bình”. ” Thời Đại Mới có thể là thời hòa bình và tiến hóa lớn mạnh của loài người chỉ khi những người lãnh đạo của quí vị được cho biết bạo lực đang bao trùm (Trái Đất) bằng những phán quyết của lũ quỉ”.

 ” Xin bình tỉnh để nghe tiếp. May mắn của quí vị có thể không đến với quí vị thêm lần nửa”. ” Tất cả vũ khí của loài quỉ cần được bị giải giới”. ” Bây giờ, thời gian thảm họa đã đi qua”. ” Có nhóm người trong quí vị có kế hoạch tiến hóa tốt nhất nếu quí vị chứng tỏ được quí vị xứng đáng làm điều đó”. ” Trong một thời gian ngắn quí vị phải học cách sống chung hòa bình và thiện ý”. ” Một nhóm nhỏ trên thế giới đang học hỏi vấn đề này và đang diễn tả và chuyền nhau tia sáng của Thời Đại Mới ra khắp mọi người”. ” Quí vị được tự do từ chối hay chấp nhận lời dạy của họ nhưng chỉ có những người học được cách sống chung hòa bình mới vào được vùng đất tiến hóa tinh thần cao cả”.

” Nghe đây lời của GRAMAHA, đại diện cho Bộ Chỉ Huy Ngân Hà Asta, phát biểu đến quí vị”. “Nên biết có nhiều lời tiên đoán và nhiều hướng dẫn sai lạc trong thế giới quí vị”. ” Chúng sẽ hút hết năng lượng của quí vị từ quí vị, loại năng lượng mà quí vị gọi là tiền, và đem tiêu hết vào những mục đích của quỉ mà chẳng mang về cho quí vị một đồng xu nào”. ” Các vị thánh trong nội bộ quí vị sẽ bảo vệ quí vị trước vấn đề này”. ” Quí vị phải nhạy cảm để học hỏi những lời trong chính quí vị, lời này sẽ nói cho quí vị biết thế nào là chân lý, là mơ hồ, là hổn loạn và sai lầm.”. ” Hãy học cách lắng nghe lời chân lý trong quí vị sẽ dẫn quí vị đến con đường tiến hóa”. ” Đây là thông điệp của chúng tôi gởi đến quí vị, bạn quí mến của chúng tôi, sau bao năm nhìn quí vị phát triển cũng như quí vị nhìn thấy chúng tôi qua những điểm sáng trên bầu trời”. “Quí vị biết chúng tôi đang hiện diện và chúng tôi đang hiện diện quanh Trái Đất nhiều hơn các khoa học gia quí vị nhận biết”. ” Chúng tôi rất quan tâm đến quí vị và con đường dẫn quí vị ra ánh sáng, chúng tôi sẽ làm tất cả những gì có thể làm được để giúp quí vị”. ” Đừng sợ, tự tìm hiểu bản thân và sống hài hòa trong cách sống của Trái Đất quí vị”. ” Chúng tôi, Bộ Chỉ Huy Ngân Hà Asta, cám ơn quí vị đã lắng nghe. Bây giờ chúng tôi rời quí vị”. ” Quí vị sẽ được phù hộ trong tình thương và sự thật của vũ trụ”. ” Cám ơn quí vị đã xem (Tivi). Nemesis “.

7.- Lời bàn của người viết bài này

Thông điệp của người hành tinh có từ năm 1977 Lúc chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt, Mỹ và Trung Cộng đã bắt tay, chiến trạnh lạnh đang giảm cường độ căng thẳng nên Người Hành Tinh nói “Thời gian thảm họa đã đi qua”  Thông điệp không nói đến thế chiến thứ III nhưng lại cho chúng ta biết “may mắn có thể không đến với loài người lần nửa”vì bạo lực đang bao phủ (trái đất) bởi những phán quyết của lũ quỉ và lại chỉ cho loài người phương pháp tránh thảm họa để tiến vào con đường tiến hóa.

Người viết xin không bàn thế chiến thư III và tương lai của chúng ta như thế nào mà xin bàn về hai chữ Doctrine và Course trong lá thư của Albert Pike và thông điệp của Người Hành Tinh, từ hai chữ này may ra tìm ra chủ thuyết đưa nhân loại vào Trật Tự Mới mà Albert Pike đã nói vào 100 năm trước và Người Hành Tinh vửa nói trong những năm vừa qua.

Lá thư của Albert Pike vào hơn 100 năm trước nói chúng ta sẽ nhận được một Chủ Thuyết ( Doctrine) rõ ràng từ người hành tinh. Thông điệp của người hành tinh lại nói chủ thuyết ấy đang nằm trong tay loài người. Người hành tinh không dùng chữ Chủ Thuyết (Doctrine) mà dùng chữ bài học (Course) và nói thêm “quí vị phải thực hiện để tránh thảm họa đang đe dọa sanh mạng thế giới quí vị và thế giới chúng tôi quanh quí vị”. Còn giải thích thêm trong cái course này sẽ nói cho quí vị biết thế nào là chân lý, là mơ hồ, là hỗn loạn và sai lầm”.

Một bài học (course) mà có bàn thế nào là chân lý, là mơ hồ, là hỗn loạn và sai lầm là bàn về Nhân Sinh Quan thì bài học đó cũng là tương đương với một chủ thuyết. Như thế cái chữ Doctrine và cái chữ Course có nghĩa giống nhau.

Người hành tinh nói cái chủ thuyết đó đang nằm trong loài người thì nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là tìm cho ra cái chủ thuyết đó đang ở đâu trong chúng ta bằng cách quan sát trong thế giới chúng ta có cái thứ gì như cuốn sách, đồ vật, hình ảnh, diã CD, các hiện tượng v.v… nói về chủ thuyết ấy hay có liên hệ với Người Hành Tinh để cùng nhau bàn luận tìm một phương pháp tránh thảm họa đưa xã hội vào con đường tiến hóa dù rằng Albert Pike đã nói cách đây 100 năm Cuối cùng công luận cũng nhận biết nhưng chúng ta biết càng sớm thì máu chúng ta càng bớt đổ.

                              CHƯƠNG   5

                Trung Cộng, con cờ

                của tập đoàn tư bản

           tài chánh Mỹ gốc Do Thái

1.- Cộng Đồng Giàu Nhất Thế Giới

Cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái có khoảng từ 5,3 đến 8,4 triệu người gồm 3 nhóm, lớn nhất là nhóm Ashkenazi, chiếm đến 90% dân số cộng đồng, hai nhóm khác là Sephardic và Mizrahi.

Người Do Thái xem quan trọng 3 thứ: Do Thái Giáo (Judaism), trí thức và tài sản. Do Thái Giáo đã giúp cho người Do Thái bị phiêu bạt mấy ngàn năm mà không mất gốc. Trí thức giúp cho người Do Thái vươn lên đứng đầu mọi lãnh vực của nền văn minh nhân loại (30% giải Nobel được trao cho người Do Thái). Tài sản đã làm cho người Do Thái giàu có mà đặc biệt là cộng đồng Do Thái tại Mỹ đang quản lý một số tài sản có thể ngang với từ 15 % đến 20% tài sản của nhân loại.

1

Người Do Thái rất đoàn kết, có tổ chức và không giữ bí mật để làm lợi riêng nên khi họ quây quần thành tập thể thì họ có cơ chiếm hết mọi quyền lợi chung quanh và trở thành mối họa cho những cộng đồng bản xứ nơi họ định cư.

Thế chiến thứ II, người Đức đã thấy được mối họa Do Thái nên đã diệt chủng hơn 2 triệu người Do Thái. Thảm cảnh Holocaust đã làm động tâm cả nhân loại nên các cường quốc mới dành một mảnh đất nhỏ bên bán đảo Sinai của Ai Cập để cho người Do Thái có chỗ đi về, nước Israel.

Cộng đồng Do Thái ở Mỹ thoát được sự tàn phá của hai trận thế chiến và không bị họa Holocaust nên họ vươn lên giàu có rất nhanh và chiếm lấy nước Mỹ và dùng nước Mỹ như một con cờ điều khiển cả thế giới. (Helen Thomas, một phóng viên nổi tiếng và là một thành viên của cơ quan báo chí Tòa Bạch Ốc hơn 50 năm, đã bị sa thải. Về sau, bà đã đọc một diễn văn tại một hội nghị ở Detroit trong đó bà trình bày quan điểm cho rằng “Quốc Hội, Tòa Bạch Ốc, Hollywood, và Wall Street đều bị Do Thái làm chủ. Dứt khoát là thế.” (Congress, the White House, Hollywood, and Wall Street are owned by Zionists. No question in my opinion).

2.- Mục Tiêu Tối Hậu : TIỀN

Nhóm Sephardic là nhóm người Do Thái đầu tiên từ Tây Ban nha và Bồ Đào Nha di cư sang Mỹ, Đến năm 1749 đế quốc Anh làm luật cho ưu tiên người Do Thái di cư sang thuộc địa cùa Anh tại Hoa Kỳ. Năm 1880 Châu Âu đi vào khủng hoảng kinh tế nên cộng đồng Do Thái nói tiếng Yiddish thuộc nhóm Ashkenazi ở các nước nghèo đói Trung Âu và Đông Âu tuôn sang Hoa Kỳ khoảng 2 triệu người. Họ làm đủ nghề thấp kém nhất để kiếm sống và nhanh chóng biến thành ông chủ trong mọi ngành.

Nay điều hơi khó khăn là tìm cho ra một người Mỹ gốc Do Thái không phải là triệu phú, họ tập trung trên 2 triệu người sống ở thành phố New York, đông nhất ở mạn dưới Manhattan, từ đó bàn tay Do Thái đan vào nhau tổ chức thành một tập đoàn tư bản tài chánh và vươn ra quậy khắp thế giới với một mục đích tối hậu là để kiếm… TIỀN.

Khi phân tích tình hình thế giới đi về đâu, cái gì đang xảy ra, cái sẽ sẽ xảy ra mà muốn điều phân tích ấy chính xác thì chúng ta nên nhìn vào tập đoàn tư bản tài chánh Mỹ gốc Do Thái đang lên kế hoạch gì để đưa khối tài sản kết sù của cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái hướng vào đâu để đầu tư. Như thế là nên nhìn cho ra địa điểm đầu tư, hướng giải quyết sản phẩm đầu tư hay nhìn vào hướng cung và hướng cầu để có thể làm cho số tiền đầu tư ấy được sinh lợi thì mới biết được mục đích của các diễn biến trên trường quốc tế.

3.- Các địa điểm đầu tư trước đây.

Một số chuyên gia về đầu tư cho rằng có 3 yếu tố cần phải nghĩ đến khi bắt tay vào việc đầu tư:

Yếu tố thứ nhất: Địa điểm đầu tư (Location)

Yếu tố thứ hai: Cũng là địa điểm đầu tư

Yếu tố thứ ba: và cũng là địa điểm đầu tư

Địa điểm đầu tư của tập đoàn tư bản Do Thái tại Hoa Kỳ lẽ dĩ nhiên là nước Hoa Kỳ, là một vùng an toàn nằm ngoài nhiều xung đột của thế giới, khi đầu tư thành công thì lợi nhuận làm cho số tài chánh ngày càng tăng thì phải nghĩ đến một địa điểm đầu tư khác nằm ngoài Hoa Kỳ, để cho số tài chánh thặng dư sinh thêm lợi nhuận.

Sau thế chiến thứ II địa điểm đầu tư ngoài nước Hoa Kỳ mà tập đoàn tư bản Mỹ gốc Do Thái chọn là 2 nước Đức và Nhật, bởi hai nước này là hai nước hoang tàn đổ nát, các cơ sở sản xuất vẫn có mà công nhân thì đang chết đói đang cần những bị bạc của những nhà tư bản Do Thái vực dậy để sản xuất ra những sản phẩm rẻ mạt bán khắp năm châu.

Sau hơn 20 năm thâu lợi nhuận hả hê, một người Nhật hay người Đức làm ra một đồng thì phải chia cho người Do thái ở Mỹ một ít, tập đoàn tư bản Do Thái rút tiền đầu tư từ hai nước này về vì họ nhìn ra một địa điểm đầu tư khác hấp dẫn hơn, nước Trung Quốc.

Nước này đang bị đại loạn của Hồng Vệ Binh, anh Mao Xếng Xáng giết các đồng chí của anh ta nên gây ra thảm cảnh 36 triệu người chết… vì đói. Các cơ sở sản xuất tiêu điều mà công nhân hơn 1 tỷ người đang thất nghiệp. Tập đoàn tư bản Do Thái ở Mỹ rót tiền vào đầu tư làm ra những sản phẩm rẻ mạt “Made in China” bán ra toàn thế giới.

4.- Khủng Hoảng Địa Điểm Đầu Tư :

Để giải quyết những sản phẩm quân sự làm ra tại địa điểm đầu tư ở Hoa Kỳ, tập đoàn tư bản Mỹ gốc Do Thái đã đem quân Mỹ gây bất ổn khắp Trung Đông khiến cho các ông vua dầu lửa phải chạy đua vũ trang hay nói cách khác đem tiền bán dầu đưa cho tập đoàn tư bản Do Thái để đổi lấy những đoàn tàu bay tàu bò giết nhau cho bỏ ghét.

Chính sách này gây cho nước Mỹ bị thù ghét khắp Trung Đông. Vụ đánh sập Tòa Tháp Đôi năm 2001 ở New York đã làm cho những tập đoàn tư bản Mỹ gốc Do Thái giật mình hoảng sợ và điều đầu tiên mà bất cứ anh nhà giàu nào khi lo sợ cũng phải làm là lo giữ của.

Sau một thời gian dài hơn 20 năm thâu lợi nhuận nhờ đầu tư vào đúng địa điểm, một nước Trung Cộng nghèo đói tan hoang, tập đoàn tư bản Mỹ gốc Do Thái tính toán không thể kiếm thêm lợi nhuận hơn nữa vì chi phí đầu tư quá cao và sẵn dịp Tòa Tháp Đôi bị đánh sụp nên họ đồng loạt rút tiền về nước rồi đem cho vay dễ dàng, tắc trách mới sinh ra cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Hoa Kỳ vào năm 2008.

Hiện nay số tài sản kết sù này đang đưa nền kinh tế Hoa Kỳ qua cơn suy thoái, đang chê Châu Âu già cỗi nên khó kiếm ra tiền, Châu Phi hoảng loạn không an toàn để đầu tư, Trung Đông nguy hiểm lắm kẻ thù vừa mất tiền đầu tư vừa mất mạng.

Khối tài sản kết sù này đang nhắm nhé hướng về Châu Á Thái Bình Dương, một vùng năng động chưa khai phá hết để đầu tư nên nước Mỹ mới lập nên hiệp định TPP làm nòng cốt, và chính quyền Hoa Kỳ xoay trục sang Châu Á để bảo vệ vùng đầu tư. Nhưng các quĩ đầu tư của các tập đoàn tư bản Do Thái chưa chuyển động, phải chăng họ đang mưu tạo ra một địa điểm đầu tư lý tưởng ở Châu Á như Đức và Nhật sau thế chiến thứ II.

  1. Mưu Tạo Địa Điểm Đầu Tư Mới

Nay chúng ta thấy tình hình Châu Á có những biến chuyển như sau:

Trung Cộng gây bất ổn ở Biển Hoa Đông và Biển Đông. Siêu quyền lực Bilderberg club họp ngày 6/6/2014 tại Watford ở Anh Quốc lên kế hoạch chia Trung Cộng thành 5 nước nhỏ. Trung Cộng bồi đắp các đảo nhân tạo để núng ra ở Biển Đông. Các nước Đông Nam Á lo sợ chạy đua vũ trang. Hoa Kỳ dè dặt tuần tra Biển Đông v.v…

Mấy hôm nay người viết bài này đọc được bản tin như sau : Ông Obama đã cảnh cáo quan chức Trung Quốc: Nếu quý quốc dám gây chiến tranh với Philippines, Việt Nam, Nhật Bản, tôi chỉ cần nói ra 6 điều là Trung Quốc tan vỡ, không phải sử dụng đến dù chỉ một người lính.

  1. Công bố tài khoản nước ngoài của quan chức Trung Quốc và cho đóng băng.
  1. Công bố danh sách quan chức Trung Quốc có hộ chiếu Mỹ.
  1. Công bố danh sách người nhà các quan chức cấp cao Trung Quốc định cư tại Mỹ.
  1. Ra lệnh thanh tra biệt thự và tình nhân của quan chức Trung Quốc ở Los Angeles.
  1. Đưa người nhà quan chức Trung Quốc đang sống tại Mỹ đến nhà tù nổi tiếng của Mỹ ở Guantanamo (Cuba).
  1. Tiếp tế vũ khí cho công nhân thất nghiệp ở Trung Quốc (có lẽ chỉ cần áp dụng điều thứ 6 này là đủ).

Người viết nghĩ:

Đây là lời đe dọa thứ hai nhắm vào Trung Cộng sau khi đe dọa lên kế hoạch chia Trung Cộng thành 5 nước nhỏ. Đe dọa có nghĩa là anh phải thực hiện những thỏa thuận đã đề ra nếu anh không thực hiện những thỏa thuận đã đề ra thì tôi sẽ thực hiện những thứ sau đây… làm anh thiệt hại.

Vậy những thỏa thuận đã đề ra là những thỏa thuận gì ?

Những thỏa thuận đã đề ra thường thuộc loại TOP SECRET nên không ai biết được. Giống như thỏa thuận bán đứng MNVN giữa tên Do Thái Henry Kissinger và thủ tướng Chu Ân Lai của Trung Cộng phải 30 năm sau mới lòi ra.

Người viết xin đoán mò:

Thỏa thuận 1: Trung Cộng tạo bất ổn để các nước ở Châu Á chạy đua vũ trang cho tập đoàn tư bản Do Thái ở Mỹ bán vũ khí kiếm tiền (đã và đang thi hành).

Thỏa thuận 2: Phân chia lại vùng ảnh hưởng các cường quốc bằng cách giao Biển Đông và vùng Đông Nam Á cho Trung Cộng độc chiếm.

Người viết xin bình luận thỏa thuận 2:

Tập đoàn tư bản Mỹ gốc Do Thái và chính quyền Hoa Kỳ tuy hai mà một, tuy một mà hai. Tập đoàn tư bản tài chánh Mỹ gốc Do Thái thỏa thuận giao vùng Đông Nam Á và Biển Đông cho Trung Cộng độc chiếm nhưng chính quyền Hoa Kỳ lại giúp đỡ (có thể đang giả vờ) các nước Đông Nam Á chống lại Trung Cộng.

Mục đích:

– Gây chiến tranh phá nát vùng Đông Nam Á để mưu tạo một địa điểm đầu tư lý tưởng cho tập đoàn tư bản tài chánh Mỹ gốc Do Thái bỏ tiền vào đầu tư.

– Tạo lý do và cơ hội để cho các cường quốc xâu xé và chia nước Trung Hoa ra thành 5 nước nhỏ.

– Có chiến tranh ở Châu Á thì tập đoàn tư bản tài chánh Mỹ gốc Do Thái có cơ kiếm thêm tiền nhờ bán vũ khí.

Tập Cận Bình là một Đại Hán nên cũng tham ăn. Củ cà rốt giao vùng ảnh hưởng Biển Đông và Đông Nam Á cho Trung Cộng nhưng trong củ cà tật đó có một khúc xương khó nhằn. Tiến thoái lưỡng nan làm cho đảng cọng sản Trung Cộng đang ngồi trên đống lửa. Phải chăng Biển Đông cũng là một trong những lò lửa tạo nên thế chiến thứ  III..

Nostradamus tiên tri thế chiến thứ III xảy ra do AntiChrist điều khiển. Các thầy bàn Phương Tây đang đi tìm AntiChrist là ai. Họ quên rằng Nostradamus không nói AntiChrist là cá nhân hay tập đoàn. Nếu là tập đoàn thì chuyện tìm ra AntiChrist cũng dễ thôi.

________________________________________________

Đây là bài viết nói về thời gian thỏa thuận

http://www.danchimviet.info/archives/75654/juda-lai-di-vao-chau-a/2013/05

CHƯƠNG   6

        Từ  Peter Higgs Nhìn  Lại

          Vài  Thuyết  Người  Xưa

1.- Chưa biết được hình thể căn nhà mình đang sống :

Năm 1927 nhà thiên văn kiêm linh mục George Lemaitre (1894-1966) quan sát thấy các thiên hà mỗi ngày mỗi trôi xa mới trình bày thuyết Big Bang, cho rằng khoảng 13,7 tỳ năm trước vật chất trong vũ trụ là một đống hổn mang cực nóng trong tụ lại tại một điểm gọi là Điểm Kỳ Dị rồi bùng nổ ra. Nay vũ trụ là một khối cầu đang giản nở.

Trước năm 1930 nhà toán học kiêm vật lý lý thuyếy Paul Adrien Maurice Dirac (1902-1984) dựa vào phương trình  X^2 = 4 ( X bình phương bằng 4 ) vì phương trình này có 2 đáp số. Một đáp số khi X = 2 và một đáp số khác khi X = – 2 nên Paul Diract lập luận rằng phải có một biển Phản Vật Chất nằm trong vũ trụ. Từ ý tưởng đó ông đã lập một phương trình miêu tả hạt Fermiom gọi là Phương Trình Dirac dẫn đến tiên đoán sư tồn tại của Phản Vật Chất bằng toán học.

Năm 1930 Victor Francis Hess (1883-1964) quan sát được những tia vũ trụ (cosmic rays), đến từ những vụ nổ xa xôi trong vũ trụ, là những hạt có năng lượng cao khi va vào bầu khí quyển đã tạo ra những trận mưa vũ trụ.

Năm 1932 Carl David Anderson (1905 – 1991) đã dùng Cloud Chamber để quan sát mưa vũ trụ và phát hiện được qua mắt thường một định lượng tương đương hiện ra bên cạnh Electron. Ông đặt tên cho nó là Positron và cho đó là Anti-Electron. Từ đó Phản Hạt được xác nhận và cả 3 nhà bác học đều được nhận giải Nobel những năm sau đó.

Nhiều năm sau đó các nhà khoa học chỉ có một được một nguồn duy nhất cung cấp hạt có năng lương cao là mưa vũ trụ mà thôi và họ có một niềm tin sâu sắc rằng hạt luôn có một phản hạt đi theo nhưng phải 22 năm sau vào 1955 toán nghiên cứu của Emilio Gino Sergè (1905-1989) và Owen Chamberlain (1920-2006) mới tìm ra được Anti-Proton nhờ phát minh ra máy gia tốc hạt Cyclotron, Bevatron và dụng cụ dò hạt Bubble Chamber, cả hai nhà bác học này đều được nhận giải Nobel vào năm 1959.

Những phát hiện trên cọng thêm với những thí nghiệm khác của nền khoa học hiện đại đã giúp cho 200 nhà thiên văn thuộc 13 viện thiên văn  trên thế giới tập trung tại đài thiên văn New Mexico, U.S.A để vẽ bản đồ vũ trụ vào tháng 10 năm 2004 đưa ra tuyên bố xác nhận : Có một Phản Thế Giới với lượng Vật Chất Tối chiếm đến 80% lượng vật chất trong vũ trụ trong đó có những loại năng lượng khác với năng lượng mà chúng ta đang có (Năng Lượng Tối ) đang nằm trong 1 vùng không gian nhưng khác thời gian với vùng không gian chúng ta đang sống (Chiều Thứ Tư).

Thuyết Big Bang được làm nền tảng cho khoa thiên văn học Phương Tây trong suốt thế kỷ XX nhưng lại bị nghi ngờ và phê phán với những câu hỏi như : Vũ trụ là vô tận hay khối cầu ? Nếu là khối cầu thì có bao nhiêu khối cầu hay chỉ một khối cầu trong vũ trụ ?v.v…

Căn nhà chúng ta đang sống mà chưa biết hình thể nó như thế nào nay các khoa học gia lại phát hiện trong căn nhà ấy có xen kẻ một vùng trời to lớn và bí mật làm cho chúng ta đặt thêm bao câu hỏi khó trả lời khác. Trong những câu hỏi khó trả lời ấy có câu hỏi làm điên đầu các khoa học gia suốt cả thế kỷ :

Khi quan sát những vũ nổ của sao mới (Nova) trong vũ trụ các khoa học gia thấy vật chất ở đó nằm trong trạng thái plasma hổn mang và cực nóng bùng ra, thế thì sau vụ nổ Big Bang cái gì đã kết nối những vật chất ấy lại thành những khối lượng như thiên hà, hành tinh và cả con người hay vạn vật ?

Câu hỏi này được Peter Higgs trả lởi  như sau :

Peter Ware Higgs (1929)

Peter Ware Higgs (1929)

2.- Hạt Của Chúa :

Peter Ware Higgs (1929) là nhà vật lý lý thuyết người Anh đã đưa ra đề nghị vào năm 1960 về việc sự đối xứng trong thuyết điện yếu bị phá vở, với đề xuất này ông giải thích rằng toàn vũ trụ đang bị bao phủ bởi một dạng lưới giống như Trường Điện Từ, nó có ảnh hưởng đến hạt di chuyển xuyên qua nó nhưng nó cũng  có liên hệ với vật lý chất rắn, gọi là trường Higgs hay cơ chế Higgs.

Câu hỏi cái gì tạo ra khối lượng là một câu hỏi hóc búa trong suốt cuối thế kỷ vừa qua vì Mô Hình Chuẩn của ngành vật lý hạt có nhiều điểm không phù hợp và thống nhất với thực tại nên từ đó đưa đến việc có lý thuyết của Peter Higgs, theo Cơ Học Lượng Tử thì tất cả các trường lượng tử đều có một hạt cơ bản đi kèm, hạt đi kèm Trường Higgs gọi là hạt Higgs có thể là một dạng của hạt boson hay một tập hợp hạt mà chúng có thể tạo ra những hạt có khối lượng khác.

Sự tìm kiếm hạt Higgs lâu dài và  khó khăn đến mức các nhà khoa học bực bội gọi nó cái tên Goddamn Particle tạm dịch là Hạt Mắc Dịch về sau thấy công dụng nó tựa như một diễn viên điện ảnh đứng giữa đường phố Hollywood thu hút những người mộ điệu vây quanh tạo thành một đám đông (tạo khối lượng) nên người ta gọi gọn lại God Particle tạm dịch là Hạt Của Chúa. Tên mới có thể đúng hơn vì Vạn Vật có thể hình thành do các nguyên tử đi qua trường Higg nhập vào hạt Higg mà sinh khối lượng.

1

Ngày 4 tháng 7 năm 2012. Các khoa học gia đã tạo một vụ va chạm hạt trong máy gia tốc hạt LHC của phòng thí nghiệm CERN ở Châu Âu và đo được một góc độ lệch để đưa đến việc xác nhận sự tồn tại của một loại hạt có đặc tính thích hợp với  hạt Boson Higgs tuy nhiên cũng cần quan sát thêm vì có thể là một loại bosson khác nào đó chưa được khám phá.

3.- Những Thuyết Của Người Xưa :

Trước khi đi vào trọng tâm bài viết tôi xin có lời phi lộ : Triết học luôn luôn đi trước khoa học. Khoa học đi sau để xác nhận, điều chỉnh những gì triết học đề ra nhưng khổ nổi triết học và khoa học đều do con người mà có  mà con người lại quá nhỏ bé trước vũ trụ bao la, con người trong vũ trụ còn nhỏ hơn hạt cát trong sa mạc.

Căn nhà con người đang sống hình thể như thế nào con người chưa biết, vùng Phản Thế Giới choán hết 80% căn nhà vẫn còn là bí mật với con người.

Nên xin con người đừng thù ghét nhau vì khác những thứ suy nghĩ trong cái đầu con người. Không có cái gì là chân lý tuyệt đối kể các lý thuyết mà con người đã đề ra và cả lý thuyết Higgs.

Từ Peter Higgs Nhìn Về Các Lý Thuyết Người Xưa không nhắm mục đích đi tìm chân lý tuyệt đối mà chỉ nhắm mục đích giảm cố chấp, mù quáng và hận thù và cùng nhau tựa vào cái chân lý do số đông đồng thuận để dìu dắt nhau đi cho hết đoạn đường đời.

a.- Thuyết Chúa Trời Tạo Dựng Vũ Trụ :

Thuyết này xuất xứ từ Tây Á, ở cái nôi nền văn minh cổ Lưỡng Hà, tồn tại cho đến ngày nay trong 3 tôn giáo chính là Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo đầy xung đột.

Do Thái giáo cho rằng Chúa Trời, thông qua ông Moses trên núi Sinai, đã lập giao ước với con cái người Do Thái và hậu duệ và cho chúng biết các luật lệ và điều răn dạy của ngài.

Thiên Chúa Giáo cho rằng Jesus Christ là Đấng Cứu Thế hay Con Thiên Chúa do Chúa Trời truyền xuống trần gian để cứu rỗi con người.

Hồi giáo cho rằng Mohammad là vị ngôn sứ hay Đấng Tiên Tri được Chúa Trời gởi xuống dẫn dắt nhân loại.

Hình ảnh Chúa Trời

Hình ảnh Chúa Trời

Hình ảnh Chúa Trời qua 3 tôn giáo này là một Đấng Toàn Năng, rất nhân từ, thông hiểu mọi sự và đã tạo dựng vũ trụ. Hình ảnh Chúa Trời thường được vẽ như một ông già hiền từ với các thánh thần vây quanh trên một nền trời đầy mây sáng sủa, hình ảnh này thường được thay đổi hay giải thích khác nhau tùy thuộc vào người truyền đạo, thời gian truyền đạo và vị trí truyền đạo.

Nói cách khác con người chưa đủ khả năng thấy hay cảm nhận được hình ảnh chân thật của Chúa Trời, những hình ảnh của Chúa Trời trong thế giới chúng ta là do chúng ta tạo ra, do chúng ta lý luận như “Chúa Trời ở trong ta”. ” Chúa Trời hiện diện trong lòng vạn hữu, là cốt lõi là tâm điểm của muôn loài v.v…” để thần linh hóa Chúa Trời thành một biểu tượng thiêng liêng để cùng nhau thờ phụng và hướng thiện.

Khi các nhà khoa học xác định được một Phản Thế Giới nằm trước mắt chúng ta, Peter Higgs tìm ra hạt Higgs là Hạt Của Chúa, là một Phản Vật Chất có công dụng thu hút những nguyên tử đi qua trường Higgs nhập vào nó mà sinh khối lượng hay sinh ra thiên hà, mặt trời, trái đất, vạn vật v.v… trong vũ trụ. Peter Higgs đã giải thích được việc Tạo Dựng Vũ Trụ như một hiện tượng hay một phản ứng của thế giới tự nhiên một cách khoa học.

Peter Higgs hay các nhà khoa học không dám diễn tả hạt Higgs là Chúa Trời dù chính nhiệm vụ của hạt Higgs là tạo ra khối lượng là tạo ra muôn vật. Họ đặt tên hạt Higgs là Hạt Của Chúa. Phải chăng họ đã rút được kinh nghiệm từ nhà thiên văn Galileo Galilei (1564-1642) dám tuyên bố trái đất quay quanh mặt trời là sự thật làm thương tổn đến những truyền thuyết của giáo hội Thiên Chúa Giáo.

Thiên nhiên vốn tinh vi và quái ác, nó vận hành mô cách vô tình và xem vạn vật  tựa chó rơm. Các nhà khoa học hiểu được thiên nhiên và họ cũng hiểu được lòng người nên Peter Higgs không chiụ oan trái như Galileo Galiei ngày xưa ấy.

Như thế thuyết Chúa Trời Tạo Dựng Vũ Trụ qua bài viết này được người viết xin trình bày những suy nghĩ có thể đúng hay không đúng của bản thân mình như sau : Một thế giới khác hay một thế giới thần linh của các thiên thần quanh Chúa Trời là một thế giới có thể có hiện hữu trong vũ trụ bởi các khoa học gia đã xác nhận có một Phản Thế Giới. Trong vũ trụ hay trong căn nhà mình đang sống mà mình chưa biết hình thể nó như thế nào, vùng Phản Thế Giới có những gì thì chúng ta cũng chưa biết thì chuyện Chúa Trời Tạo Dựng Vũ Trụ càng nằm ngoài khả năng hiểu biết của chúng ta.

Chúng ta có quyền tin chuyện Chúa Trời Tạo Dựng Vũ Trụ là có thật nhưng chúng ta không nên tìm đủ mọi cách từ bạo lực đến lý luận điều khiển kẻ khác đi theo niềm tin của mình.

Thuyết Big Bang và thuyết của Peter Higgs cũng như thuyết Chúa Trời Tạo Dựng Vũ Trụ đều do con người tạo ra. Trong những thuyết do con người tạo ra có một thuyết mà chúng ta cần phải lưu ý, thuyết này nói : Mọi sự hiểu biết của chúng ta về vũ trụ còn quá nhiều thiếu sót và sai lạc và có thể không đúng như những gì chúng ta nghĩ.

Nên thuyết Chúa Trời Tạo Dựng Vũ Trụ là một thuyết mà con người chưa đủ khả năng để trả lời. Chúng ta không nên tựa vào một thuyết để định giá trị một thuyết khác và chúng ta cũng không nên tựa vào một thuyết mà cứ cả quyết rằng thuyết ấy là chân lý để làm khổ những người không cùng quan điểm.

b.- Thuyết Tam Thân :

Theo lý thuyết Phật Giáo thặng thừa thì Phật có 3 thân : Pháp Thân, Báo Thân và Ứng Thân. Pháp Thân chỉ cái thể sở chứng được. Báo Thân và Ứng Thân là trỏ cái dụng nhờ ở cái thể ấy mà phát ra. Vậy nên tuy nói là 3 Thân nhưng thật ra chỉ có một thể, một thể tức là một Phật. Để dễ hiểu, trong không gian ta gọi mặt trăng là Pháp Thân thì ánh sáng mặt trăng chiếu khắp thiên hạ là Báo Thân và bóng mặt trăng hiện ra dưới nước là Ứng Thân.  Như thế theo kinh Phật thì Đức Phật A Di Đà là Báo Thân của Phật, đức Phật Thích Ca Mầu Ni là Ứng Thân của Phật.

Từ thuyết Tam Thân này và nhất là từ Báo Thân mà Đức Thích Ca đã vẽ ra nhiều thế giới khác với thế giới của chúng ta đang sống như là thế giới Cực Lạc trong đó có muôn ngàn vị Phật đang nghe lời thuyết pháp của Phật A Di Đà.

Từ những phát hiện của các nhà khoa học về Phản Thế Giới Và hạt Higgs chúng ta có thể diễn tả Thuyết Tam Thân như sau : Pháp Thân là hạt Higgs, Báo Thân là những sinh vật nằm trong Phản Thế Giới và Ứng Thân là những sinh vật nằm trong thế giới chúng ta.

Khi Đức Phật Thích Ca Mầu Ni đắc đạo, ngài dùng thần nhãn quan sát khắp vũ trụ để giảng dạy. Có thể ngài đã hòa nhập vào trường Higgs và thấy đựơc Hạt Higgs vận hành nên ngài mới nói : Pháp Thân là lý pháp tụ tập lại mà thành Thân, tức là lấy pháp tính làm Thân vậy. Pháp Thân không phải là sắc chất mà cũng không phải là tâm trí, Mà Khắp Đầy Vũ Trụ Đâu Đâu Cũng Có, Không Sinh Không Diệt, Lúc Nào Cũng Hiện Hữu, thuần nhiên là diệu lý chân thực thanh tĩnh. Vạn pháp phải nương vào đó mà có và mọi đức phải tụ vào đó mà thành.

Đức Phật Thích Ca Mầu Ni đã dùng những thuyết khác như thập nhị nhân duyên, luân hồi v.v… để diễn tả sự hiện hữu của Pháp Thân, Báo Thân và Ứng Thân và dạy 84.000 pháp môn để chuyển đổi từ Ứng Thân sang Báo Thân. Trong lúc đó Peter Higgs thì lại nói đơn giản hơn là các nguyên tử đi qua trường Higgs nhập vào hạt Higgs mà sinh ra khối lượng, tức là sanh ra thiên hà, hành tinh, con người và cả vạn vật. Peter Higgs và các nhà khoa học chưa đi sâu vào được việc hạt Higgs tạo ra Ứng Thân và Báo Thân, tức là tạo ra Con Người và Phản Con người.

Trong tương lai các nhà khoa học sẽ phát hiện thêm những thứ khác để giải thích tường tận hơn sự liên hệ và sự chuyển đổi giữa Tam Thân. Dẫu trước đó trong vấn đề này đã được Lão Tử giải thích một cách khoa học hơn tuy không rõ ràng ( vì không chứng minh được Phản Hạt và Phản Thế Giới) qua thuyết dưới đây

C.- Thuyết Nhất Điểm Linh Quang

Đạo giáo cho rằng vạn vật đến từ Thái Hư. Khi cha mẹ giao cấu thì có một điểm linh quang đến từ Thái Hư gieo vào bào thai trong người mẹ gọi là Nguyên Thần, ( có sách nói gieo vào đứa bé khi nó mở miệng khóc chào đời) từ đó sinh ra khí, rồi khí hóa thành hình hài cơ thể con người.

Tuy cuốn sách Lão Tử chỉ võn vẹn 5000 chữ nhưng chính ngài là ngưởi đầu tiên chỉ cho nhân loại con đường Phản Phục (chữ Phản có nghĩa là Phản Thế Giới, chữ Phục có nghĩa là quẻ Phục, quẻ Dương Sinh, nên chữ Phản Phục có nghĩa là sinh về Phản Thế Giới ) để đi về thái hư ( Phản Thế Giới) là chốn mình sanh ra để sống trường sanh bất tử trong đó.

Ở chương 16 ngài dạy : ” Trí hư cực, thủ tỉnh đốc, vạn vật tịnh tác, ngộ dĩ thị quang kỳ phục”  nhiều bản không có chữ thị, nhiều bản không có chữ kỳ, riêng bản của Hà Thượng Công có chữ thị và có luôn chữ kỳ nên người viết tin vào bản này vì thấy nó không tối nghĩa và dịch câu nói nầy ra bằng văn xuôi như sau ” trí óc không nghĩ gì cả, giữ yên tỉnh lên tối đa, vạn vật sinh, ta có thể thấy được điểm sáng kỳ lạ (ẩn phục) sinh”. Chữ Phục trong câu này có thể nghĩa là ẩn phục và có thể nghĩa là quẻ Phục là quẻ Dương Sinh ( 5 Âm 1 Dương), Đây có thể là cách chơi chữ của người xưa nhưng rất chính xác vì ánh sáng đó xuất hiện nhiều nhất vào thời điểm thế giới chuyển Dương ( giờ tý, mồng 3, đông chí ).

Cái điểm sáng ẩn phục ấy được Lão Tử gọi tên là Đạo và nhắc đến 70 lần trong 5.000 chữ để lại cho hậu thế và định nghĩa nó vài lần (C.4. ĐĐK; C14. ĐĐK) cũng như khuyên ta phải ăn trộm cho được nó khi thấy được nó (C.14. ĐĐK). Hành động này gọi ăn trộm này gọi là ăn trộm khí tiên thiên hay ăn trộm Âm Dương Tạo hóa Chi Quyền, để từ đó mà luyện thành Kim Đan (Anh Nhi hay Phản Con Người).

Thuyết này có đề cập đến hai loại Phản Vật Chất cấu tạo nên Con Người và Phản Con Người. Hai loại vật chất này được gọi là Nguyên Thần khi cấu tạo thành con người, được gọi là Nguyên Khí khi cấu tạo nên Phản Con Người (Anh Nhi). hay còn gọi là Diên và Hống ( có đến hàng chục tên khác nhau ). Hai loại vật chất này đôi lúc được người xưa diễn tả như một loại khí ( Khí Tiên Thiên ) bởi lẽ người xưa không xác nhận được Phản Vật chất.

Peter Higgs cho rằng các nguyên tử đi qua trường Higgs nhập vào phản hạt Higgs mà sinh khối lượng, khối lượng ở đây có nghĩa là ngân hà, hành tinh, con người và vạn vật v.v…những vật chất trong thế giới chúng ta.

Thuyết Nhất Điểm Linh Quang đề cập đến Diên là một điểm linh quang đến từ thái hư, tức là một Phản Hạt đến từ Phản Thế Giới. tạo dựng ra con người, cũng là tạo ra khối lượng.

Như thế Diên có cùng chung nhiệm vụ như hạt Higgs nhưng chỉ khác tên. Thuyết Nhất Điểm Linh Quang cũng đề cập Hống là một Phản Vật Chất tạo ra Anh Nhi ( phản Con người), cũng là tạo ra khối lượng, nên Hống có cùng chung nhiệm vụ như hạt Higgs nhưng đó là phần nằm trong Phản Thế Giới mà chúng ta chưa đủ khả năng tìm hiểu.

Phật Giáo và Đạo Giáo rất huyền diệu lại hay dùng những từ ngữ rất khó hiểu để diễn tả những điều không thể diễn tả được bằng ngôn ngữ nhưng dù sao đi nửa từ 2 thuyết trên đã cho người viết bài này hiểu rằng vũ trụ mà chúng ta đang sống có 2 mặt không gian khác nhau, một mặt không gian hữu hình là nơi chúng ta đang sống và một mặt không gian khác vô hình là nơi có Đức Phật A Di Đà và Anh Nhi như lời dạy của 2 bậc vĩ nhân Phương Đông. Giữa 2 mặt không gian đó hay giữa chúng ta với Phật A Di Đà và Anh Nhi có một vật liên hệ gọi là Pháp Thân hay Nguyên Thần hay Diên Hay Hống hay Đạo hay Phật hay  hạt Higgs.

Vật này được 2 bậc vĩ nhân đó có định nghĩa giống nhau.

Đức Phật định nghĩa : Vật này không phải là sắc chất mà cũng không phải là tâm trí, không thể diễn tả được bằng lời nhưng khắp vũ trụ đâu đâu cũng có.

Lão Tử định nghĩa:  Vật này bản thể là hư không mà tác dụng của nó thì cơ hồ là vô cùng… Nó vô thanh vô hình đứng một mình không thay đổi vận hành khắp vũ trụ.

Vật mà hai bậc vĩ nhân đề cập đến có nhiệm vụ tạo ra con người và Phản Con Người, tất là có nhiệm vụ tạo ra khối lượng giống với nhiệm vụ của hạt Higg.

Hai bậc vĩ nhân ngày xưa và bậc vĩ nhân ngày nay đã tìm ra được một loại Phản Vật Chất tạo ra con người và Phản Con Người gọi là Pháp Thân, Nguyên Thần, Nguyên Khí hay Hạt Của Chúa. Cái hay của cả ba bậc vĩ nhân kia là đã hiểu được lòng hết thảy chúng sinh, ở trong đời ngũ trọc này vì tham dục sân uế ngu si tà kiến kiêu mãn che lấp, nên đã diễn tả điều hiểu biết của mình mà không bị chúng sanh buông lời phỉ báng, thành ra phải tội ra phải tội.

Từ Peter Higgs nhìn về 2 thuyết của 2 bậc vĩ nhân Phương Đông người viết xin trình bày ý nghĩ của mình như sau : Khoa học ngày nay vừa chứng minh được có một loại Phản Vật Chất tên là hạt Higgs có công dụng giống như loạt vật chất mà hai bậc vĩ nhân đã đề cập đến hơn 2000 năm trước. Hai bậc vĩ nhân đã gọi tên vật đó là Phật, Đạo. Pháp Thân, Nguyên Thần, Nguyên Khí, Diên, Hống v.v… ( hàng chục tên khác nhau ). Vật đó có tạo ra con người và Phản Con Người như hai bậc vĩ nhân kia nói hay không là điều mà chúng ta cần nghiên cứu thêm. Sẽ tới một lúc nào đó chúng ta sẽ có câu trả lời nên chúng ta cần kính trọng hai bậc vĩ nhân ngày xưa và cả bậc vĩ nhân ngày nay bằng cách không lợi dụng cái bóng của họ để làm hại chúng sanh, làm mê muội chúng sanh, những con người vì một lẽ nào đó chưa hiểu ba bậc vĩ nhân kia trọn vẹn.

D.- Thuyết Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể

Thuyết này cũng tựa như thuyết Thái Cực, là một vòng tròn, Phật Giáo gọi là Giác, Lão Giáo đọi là Kim Đơn, Khổng Giáo gọi là Thái Cực, là Bản Nguyên sinh ra vạn vật. Không thể truy cứu được sự bắt đầu của nó, chỉ biết nó đến từ Thái Hư ( Phản Thế Giới).

Các bậc vĩ nhân Phương Đông cho rằng Thái Cực có trước trời đất, vạn vật. Trời đất vạn vật tuy lớn nhưng khi nó vận hành không nằm ngoài một Thái Cực. là một Bản Thể Duy Nhất sinh hóa và phóng phát ra. Vũ trụ tuy lớn nhưng nó chỉ là sự hiện hình, hiển dương của một đại thể linh minh huyền diệu bất khả tư nghị nên tất cả quần sinh trong vũ trụ đểu cùng nhau chia sẻ Bản Thể siêu việt nói trên. Bản Thể Duy Nhất này là được gọi bằng nhiều tên khác nhau tùy loại tôn giáo đề cập đến nó. Nó có thể được gọi là Thượng Đế, Chúa Trời, có thể gọi là Brahman, Allah, Atman, Đạo, Phật, Diên, Hống v.v…

Thuyết Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể là một thuyết then chốt của nhiều tôn giáo, là một chuổi liên châu nối liền các lục địa và các tôn giáo, là phần sinh của Đại Tuần Hoàn trong vũ trụ. Nó nối liền trí óc mông lung đầy tưởng tượng của con người và đưa con người vào đoàn kết thương yêu nhau nếu nó được khoa học xác nhận đúng.

Ngày 4 tháng 7 năm 2012. Các khoa học gia đã tạo một vụ va chạm hạt trong máy gia tốc hạt LHC của phòng thí nghiệm CERN ở Châu Âu và đo được một góc độ lệch để đưa đến việc xác nhận sự tồn tại của một loại hạt có đặc tính thích hợp với  hạt Boson Higgs. Hạt này là một Phản Vật Chất mà các nguyên tử đi qua trường Higgs nhập vào nó mà sinh ra khối lượng, tức là sinh ra muôn vật trong vũ trụ. Hạt này có thể là cái Bản Thể Duy Nhất mà tất cả quần sinh trong vũ trụ đều cùng nhau chia sẽ. Hạt này có thể là cái Nhất Thể mà Thiên Địa Vạn Vật Đồng tựa vào.

E.- Thuyết Huyền Đồng

Thuyết Thiên địa vạn vật đồng nhất thể chủ trương rằng Vũ trụ này là từ một Bản Thể Duy Nhất sinh xuất ra. Còn thuyết Huyền Đồng ( hay Đạo Huyền Đồng ) chủ trương vạn sự trong trời đất này chung qui sẽ phải trở về với Bản Thể đó. Một đàng thì đi ra, một đàng thì đi vô. Hai chiều ráp lại thành vòng Đại Tuần Hoàn của vũ trụ.

Phải chăng hạt Higgs là cái Bản Thể Duy Nhất đó và Sao Mới ( Nova ) Và Lỗ Đen ( Black Hole) là cánh cửa đi qua về trong 2 phần của vũ trụ ( xin đọc lại bài Cửa Trời Rộng Mở Dưới Đời Thượng Nguơn). Trong tương lai các nhà khoa học sẽ tìm kiếm thêm nhiều chứng cớ để xác nhận thêm tính chính xác của hai thuyết này. Nếu hai thuyết này đúng thì chúng sẽ thấy :

– Các vật chất trong vũ trụ đang ở trong phần phóng phát nên chúng ta thấy các thiên hà mổi ngày mỗi trôi xa như thế chẳng có vụ nổ Big Bang nào cả mà toàn thể vũ trụ đang ở đằng sau một lỗ đen khổng lồ và đằng trước một sao mới khổng lổ hay đang qua về cánh cửa của 2 mặt Thời gian trong vũ trụ.

– Nếu thuyết Nhất điểm Linh Quang được khoa học bắt đầu xác nhận tính chính xác ở phần hạt Higgs tạo ra khối lượng tức là sanh ra con người thì chuyện Hạt Higgs tạo khối lượng sanh ra Phản Con Người ( Anh Nhi , Kim Đơn ) là một chuyện có thể có thật và là một hiện tượng của thế giới tự nhiên mà chúng ta cần tìm hiểu thêm.

 4.- Thời Đại Mới

Ngày 4 thắng 7 năm 2015 là ngày khởi đầu cho một Thời Đại Mới. Thời Đại Mới này có những đặc điểm sau đây :

– Các ngôn từ từu trượng, các cách giải thích mơ hồ của các triết thuyết của các tôn giáo được các khoa học gia chỉnh đốn và qui về một mối.

– Phần sinh hay phần phóng phát của Đại Tuần Hoàn của vũ trụ ( chiều Thuận ) được giải thích rõ ràng và khoa học hơn. Phần từ ngọn trở về gốc ( Tự Mạt Phản Bản ) hay chiều nghịch của Đại Tuần Hoàn của vũ trụ hay trở về với Phản Thế Giới đang được các khoa học gia tìm ra được vài chứng cớ để xác nhận sự hiện hữu và họ sẽ tìm kiếm và giải thích thêm.

– Cánh Cửa sang thế giới thần linh đang được các khoa học gia hé mở.

– Thời Đại Mới là thời đại Hòa Bình tiến hóa của nhân loại vì chẳng con ai nghe lời những con quỉ núp sau các tôn giáo làm điều dã man nhờ đó mà chiến tranh không còn nửa

–  Đường lên thiên thai không còn là một con đường bí mật với muôn ngàn lời lừa phỉnh mà đang lộ dần ra một cách khoa học vì cửa trời đang rộng mở

                   CHƯƠNG   7

                   Chuyển   Thể

             ( Trường Sanh Bất Tử – bài 1)

1

Con ve ve đang chuyển thể (lột Xác)

1.- Chuyển Thể : “Tranformation” dịch ra tiếng Việt là Chuyển Thể, là tên những cuốn phim loại khoa học giả tưởng diễn tả những người máy trong tích tắc  Chuyển Thể thành những chiếc  máy bay hay xe hơi để bay chạy cho nhanh. Trong cuốn truyện Tề Thiên Đại Thánh, cũng có viết nhiều lúc Tôn Ngộ Không truy nả yêu quái. Quá quýnh yêu quái bèn biến (Chuyển Thể) thành sâu bọ để trốn núp.

 Sự  Chuyển Thể trong phim và truyện có được là nhờ các đạo diễn và nhà văn nhìn vào sự Chuyển Thể trong thế giới tự nhiên mà bắt chước để trước tác.

Trong thế giới tự nhiên, con nòng nọc sống dưới nước đứt đuôi lên bờ thành con ếch là Chuyển Thể. Con  chuồn chuồn, con bươm bướm,  con ve ve là những con vật được Chuyển Thể từ những con khác loài, chúng chun ra từ hình hài cũ đã cứng lại như hóa đá.

Sự Chuyển Thể không chỉ xảy ra riêng trong  sinh vật mà còn lan ra những loại khác như nước, ở nhiệt độ thấp Chuyển Thể qua tuyết hay băng, sữa thành bơ cũng có thể gọi là Chuyển Thể v.v…

Trong thế giới tự nhiên còn có nhiều trường hợp Chuyển Thể khác, chỉ có nghe như huyền thoại, như cá gáy hóa rồng, chỉ có biết mà không thể thấy, như Con Người sau khi chết Chuyển Thể qua Phản Con Người.

Các tôn giáo gọi Phản Con Người là linh hồn, báo thân, kim đan, xích tử, anh nhi v.v.. và thêu dệt vạn điều như Phản Con Người bị xuống địa ngục, được lên thiên đường, sống Trường Sanh Bất Tử trong Phản Thế Giới v.v…vì không thể thấy và xác nhận được sự tồn tại của Phản Con Người nên cũng không thể biết được những điều thêu dệt liên quan và sự Chuyển Thể ở con người có hay không có.

Nhục thân của 2 vị đại sư Vũ khắc Trường (bên trái) và Vũ Khắc Minh ở chùa Đậu

Nhục thân của 2 vị đại sư Vũ khắc Trường (bên trái) và Vũ Khắc Minh ở chùa Đậu

Khoa học Phương Tây đã tìm ra được Phản Hạt (Phản Vật Chất), đã biết được rằng mỗi Hạt đều có Phản Hạt đi theo và Hạt mang lực thế nào thì Phản Hạt cũng mang lực thế ấy. Họ còn xác nhận được một Phản Thế Giới hay một nửa vụ trụ đầy bí mật nằm trước mắt chúng ta nhưng khác thời gian (chiều thứ tư) trong đó có những loại năng lượng và vật chất (năng lượng tối – vật chất tối) khác với năng lượng và vật chất trong thế giới chúng ta nhưng  khoa học Phương Tây không thể giải thích được tại sao những nhục thân của các vị đại sư Vũ Khắc Trường, Vũ Khắc Minh tại chùa Đậu, Hà Tây  nhục thân của vị đại sư Như Trí tại chùa Tiêu Sơn, Bắc Ninh v.v…tồn tại gần 300 năm mà vẫn bất hoại.

Gần đây cũng có hình ảnh 2 nhục thân bất hoại của 2 vị đại sư khác ở Thái Lan và Nga và hình ảnh những nhục thân bất hoại của các vị thánh của Thiên Chúa Giáo được truyền đi trên mạng. Phải chăng sự Chuyển Thể có thể có xảy ra ở con người như người xưa đã nói đến (?).

Những nhục thân bất hoại kia cũng giống như hình hài hóa đá của con chuồn chuồn, con bươm bướm, con ve ve khi chúng đã Chuyển Thể. Vì Hạt mang lực thế nào thì Phản Hạt mang lực thế ấy nên Hạt phải bất diệt thì Phản Hạt mới bất diệt. Các nhục thân của các vị đại sư bất hoại nên Phản Con Người của các vị đại sư cũng bất hoại như thế có thể Phản Con Người của các vị đại sư cũng đang tồn tại đâu đó trong Phản Thế Giới.

Phải chăng chuyện Trường Sanh Bất Tử của Phản Con Người là chuyện có thật (?).

Người đề cập đến chuyện sự  Chuyển Thể của  Con Người  thành Phản Con Người để sống Trường Sanh Bất Tử trong Phản Thế Giới sớm nhất và khoa học nhất là Lão Tử.

Theo truyền thuyết ngài đã sống trên 200 tuổi và đã để lại cho hậu thế một cuốn sách gồm 81 chương, chương ngắn nhất vỏn vẹn chỉ 21 chữ, chương dài nhất khoảng 150 chữ, toàn bộ cuốn sách đếm được trên 5000 chữ, nếu viết ra chỉ khoảng 15 trang giấy học trò.

Từ 5000 chữ này, Lão Tử đã được người đời sau tôn lên làm giáo chủ của Đạo Giáo, một tôn giáo ngang hàng với Phật Giáo và Khổng Giáo, được dịch ra nhiều thứ tiếng và mỗi thứ tiếng lại có hàng trăm bảng dịch và giải thích từ ý đến nghĩa từng chữ từng câu khác nhau và bị các đệ tử chuyển nội dung sách ra thành 96 thứ ngoại đạo 3600 bàng môn mà ai cũng tự nhận mình hiểu đúng Lão Tử là chính tông hay chính đạo.

Bài viết này nhắm mục đích trình bày tổng quát những hiểu biết chủ quan có giới hạn của người viết trong tinh thần khoa học về phương pháp Luyện Đan, là phương pháp luyện tập để Chuyển Thể, mà các vị kỳ nhân dị sĩ nổi danh  như  Mã Ngọc, Lữ Động Tân, Lưu Nhất Minh v.v… đều cho rằng phát xuất từ Lão Tử và họ đã nâng phương pháp này thành một bộ môn có nhiều nét khoa học gọi là Đan Học và một vài ý nghĩ liên quan đến những danh từ giữa Đạo Giáo và khoa học hiện đại.

Đan Học xuất hiện từ đời Tấn, khởi xướng có Bá Dương đến đời Tống có Tử Dương, về sau có Hải Quỳnh, Tử Quỳnh, Huỳnh Phòng …bổ túc với sự tham gia bởi nhiều học giả khác như Lưu Nhất Minh, Doãn Chân Nhân, Thiệu Khang Tiết v.v…nhưng thuở đó nền Khoa Học Phương Tây chưa hình thành chưa xác nhận sự hiện hữu của Phản Thế Giới nên cách giải thích của họ có nhiều điểm mơ hồ và khó hiểu.

Đan Học có quan niệm : khi con người giao cấu đã có một điểm linh quang (Phản Hạt) đến từ Thái Hư (Phản Thế Giới) gieo vào bào thai của mẹ. gọi là Nguyên Thần, từ đó sinh ra Khí, rồi Khí hóa Hình (hình hài, cơ thể). (Chương 1ĐĐK : … Vô, danh thiên địa chi thủy. Hữu, danh vạn vật chi mẫu… Không, là gọi cái bản thủy của trời đất. Có, là gọi mẹ sinh ra muôn loài). Ý nói vạn vật nguyên thủy sinh ra từ Vô mà theo sự hiểu biết của chúng ta hiện nay là Phản Thế Giới.

Đan  còn được gọi là Kim Đan hay Anh Nhi, Xích Tử… là Phản Con Người hay Linh Hồn.

Đan có 3 phần :  Tinh + Khí + Thần.

Phần một; Tinh : là Kim Đan Hay Anh Nhi, Xích Tử nhưng còn rất non yếu

Phần hai;  Khí : còn gọi là Hống, hay Thiên Đạo, Thiên Tâm, Thái Huyền v.v…là một điểm sáng yểu yểu minh minh (Phản Vật Chất) còn gọi là  khí Tiên Thiên đến từ Phản Thế Giới.

Phần ba;  Thần : là Nguyên Thần, còn gọi là Diên, là Hoàng Nha, Huyền Châu v.v…là nhất điểm linh quang (Phản Vật Chất) , nằm sẳn trong con người khi mới sinh ra, là viên ngọc trong mỗi con người.

Vị trí để luyện là huyệt Đan Điền, nơi có Diên, có thể ở dưới rốn nhưng không thể định vị chính xác chỗ nào trong con người,  còn gọi là Huyền Tẫn Chi Môn, Nguyên Thủy Tổ Khí, Thiên Điạ Linh Căn v.v… (trên 50 tên khác nhau).

Thời Gian Luyện là bất cứ lúc nào nhưng tốt nhất là lúc Âm Dương giao cảm ( Âm sinh Dương sinh ), động tĩnh chuyển dịch (động sinh tĩnh sinh), thí dụ ngày mồng 3 là ngày mặt trăng vừa loé sáng nhờ mặt trời bắt đầu chiếu vào  (Dương sinh). Thí dụ ngày đông chí là ngày mặt trời  bắt đầu  đi lên hướng bắc (Dương sinh). Giờ Tý là giờ mặt trời chuyển vào nằm hướng chính Bắc để chuyển tứ Âm sang Dương, thông với huyệt Vĩ Lư trong con người (Dương sinh) , là giờ tiểu vũ trụ (con người) thông thương với đại vũ trụ.

Giờ luyện còn in hình trên nền trời khi chuôi sao bắc đẩu chỉ cung Tý.

Cách Luyện : Người luyện phải ở trong trạng thái cực tĩnh, vô niệm ngoại bất xâm nội bất xuất, vì khi tĩnh lên đến cực điểm thì động manh nha (động sinh và cũng là Dương sinh). Lúc động manh nha là lúc người luyện và toàn vũ trụ đang chuyển Dương ( Giờ Hoạt Tý ) thì Hống xuất hiện bằng một đốm sáng yểu yểu minh minh, người luyện bèn hít thật mạnh đưa đốm sáng ấy vào huyệt Đan Điền hay còn gọi là ăn trộm khí Hư Vô hay khí Tiên Thiên của trời đất, là trộm Âm Dương Tạo Hóa Chi Quyền,  để bồi dưỡng Con Người và Phản Con Người.

Cách Luyện này gọi là Tính Mệnh Song Tu hay Nội Ngoại Song Tu, hoặc lấy hư vô mà dưỡng Thấn Khí. Thời gian luyện trải dài hàng chục năm qua bốn giai đoạn :

– Luyện Tinh Hóa Khí

. Luyện Khí Hóa Thần.

– Luyện Thần Hoàn Vô

– Siêu Xuất Tam Giới

Giải thích theo khoa học : Tinh ( linh hồn, anh nhi. phản con người ) vốn non yếu nên phải ăn trộm Hống là Khí Tiên Thiên là hạt Higgs hay Hạt Của Chúa và giữ cho được nó trong huyệt Đan Điển vì hạt này có công dụng tạo khối lượng nên các phản hạt đi qua nó bạ vào nó mà sinh khối lượng hay sinh ra Phản Con Người hay làm Tinh mạnh lên cứng lại.

Tại sao phải làm vậy ? vì con người được  sanh ra do có sự can thiệp của Phản Vật Chất (Diên), đó là viên ngọc vô hình trong mỗi con người, là Nguyên Thần của Con Người. Cần phải trau luyện, bồi đưởng, nuôi nấng bằng cách đưa thêm những Phản Vật Chất khác (Hống) vào để cùng với Diên giúp cho Tinh (Phản Con Người) còn non yếu lớn lên cứng lại để có ngày chun ra khỏi cái vỏ (con người) sống Trường Sanh Bất Tử trong Phản Thế Giới.

Giải thích phương pháp luyện đan như trên là giải thích một cách đơn giản, không thể đi vào chi tiết bằng một bài viết ngắn nên sẽ giải thích thêm ở những bài kế tiếp và tạm cho là cách giải thích có khoa học nhưng không thể chứng minh được vì không ai có thể nhìn thấy hay rờ mó được Phản Hạt hoặc Phản Con Người.

Người luyện đơn đạt được những tiến bộ thì chỉ tự riêng mình biết và nếu thấy được đốm sáng yểu yểu minh minh kia (Hống)  mà nói ra sẽ bị người khác cười và hơn 2000 năm trước Lão Tử đã viết ỡ chương 41  (C 41 ĐĐK : … Hạ sĩ văn đạo, đại tiếu chi, Bất tiếu, bất túc dĩ vi dạo …Người tối tăm nghe Đạo thì  cười rộ, nếu không cười thì Đạo đâu có phải là Đạo).

Phản Vật Chất được khoa học Phương Tây xác nhận sau năm 1930 bởi 3 nhà khoa học Paul Maurice, Victor Hess, Carl Anderson nhờ quan sát những tia gamma rays đến từ những vụ nổ của các sao mới (Nova) ở xa xôi trong vũ trụ va vào bên ngoài bầu khí quyển.

Từ đó các khoa học gia Phương Tây cứ nghĩ rằng Phản Vật Chất chỉ xuất hiện ở những thiên hà xa xôi nhưng những phát hiện mới nhất bởi những bức ảnh của viễn vọng kính Hubble cho biết Phản Vật Chất hay Phản Thế Giới đang bao trùm cả Ngân Hà và  đến nay có thuyết cho rằng khởi đầu vụ nổ Big Bang vào 15 tỷ năm trước Phản Vật Chất và Vật Chất có một định lượng tương đương tụ lại tại Điểm Kỳ Dị rồi bùng nổ ra… (About 15 billion years ago, matter and antimatter were created in gigantic Big Bang in equal amounts, at least according today’s best theory …. ). Đến năm 2004, các khoa học gia Phương Tây mới xác nhận sự hiện hữu của Phản Thế Giới (thế giới vô vi), một thế giới bí mật với lượng Phản Vật Chất nhiều gấp năm lần vật chất đang có trong thế giới chúng ta mà các tôn giáo đã đề cập vào hàng ngàn năm trước.

Trong cuốn sách 5000 chữ do Lão Tử để lại cho hậu thế có khoảng gần 70 chữ Đạo và 2 lần gọi Đạo Là Một Vật và ngài đã định nghĩa chữ Đạo như sau : (C 25 ĐĐK : Hữu vật hỗn độn thành, tiên thiên địa sinh ….Có một vật hỗn độn mà hình thành trước trời đất, nó yên lặng (vô thanh) trống không (vô hình) đứng một mình mà không thay đổi (vĩnh viễn, bất biến), vận hành khắp vũ trụ mà không ngừng, có thể coi nó là mẹ trong thiên hạ. ta không biết nó tên gì, tạm đặt tên nó là Đạo, miễn cưởng gọi nó là lớn vô cùng …(*.) .

Ngài nói rằng Đạo là một vật chất  (hữu vật) vô thanh vô hình, phải chăng ngài đã nhìn thấy được Phản Vật Chất từ 2500 năm trước đang vận hành khắp vũ trụ nhưng không biết là thứ gì nên tạm gọi là Đạo (?).

Ngài cho rằng nguồn gốc của vạn vật được sinh ra từ  Phản Thế Giới, thứ vật chất đi từ Phản Thế Giới đến thế giới chúng ta để tạo ra muôn vật là Phản Vật Chất (Đạo) và sợ người đời sau không hiểu nghĩa chữ Đạo nên ngài lập lại trong nhiều chương khác như là ở ( C21 ĐĐK : …Đạo vi chi vật …. Đạo là cái gì (một vật ) chỉ mập mờ, thấp thoáng. Thấp thoáng mập mờ mà bên trong có hình tượng. mập mờ thấp thoáng mà bên trong có vật. Nó thâm hiểm tối tăm mà bên trong có tinh túy. Tinh túy đó rất xác thực đáng tin. Từ xưa đến nay đạo tồn tại hoài, nó sáng tạo ra vạn vật. Chúng ta do đâu mà biết được bản nguyên của vạn vật. Do cái đó (Đạo)).

( C 4 ĐĐK : Đạo xung, nhi dụng chi hoặc bất doanh, uyên hề tự vạn vật chi tôn …. Đạo bản thể thì hư không mà tác dụng thì cơ hồ vô cùng, nó uyên áo mà tựa như làm chủ tể vạn vật ….).

Và Ngài đã diễn tả chữ Đạo như là một Phản Vật Chất rõ ràng nhất là ở (C 14 ĐĐK : Thị chi bất kiến danh viết di … Nhìn không thấy gọi là di, nghe không có tiếng động gọi là hi, nắm không được gọi là vi. Ba cái đó (di, hi, vi  tức là vô sắc vô thanh, vô hình) truy cứu đến cùng cũng không biết gì được, chỉ thấy trộn lộn làm một thôi. Ở trên không sáng, ở dưới không tối, thâm viễn bất tuyệt, không thể gọi tên, nó lại trở về cõi vô  vật  (Phản Thế Giới ?), cho nên bảo cái trạng không có hình trạng, cái tượng không có vật thể. Nó thấp thoáng, mập mờ. Đón nó thì không thấy đầu, theo nó thì không thấy đuôi.

Ai giữ được cái Đạo (Phản Vật Chất ?) từ xưa vẫn có thì có thể khống chế được mọi sự vật ngày nay. Biết được cái nguyên thủy tức là tứ là nắm được giềng mối của Đạo).

Nếu những lời diễn tả trên của Lão Tử không làm cho chúng ta hiểu được nghĩa chữ Đạo là Phản Vật Chất thì chúng ta nên tìm một loại Vật Chất khác để thay thế chứ đừng có chuyển nghĩa chữ Đạo qua những nghĩa cao xa vì Lão Tử chỉ trọng đức tính chất phác thì ngài không bao giờ dùng những nghĩa xa vời bóng bẩy để chỉ nghĩa chữ Đạo.

Nếu chúng ta hiểu chữ Đạo trong cuốn Đạo Đức Kinh theo nghĩa là  Phản Vật Chất, là một loại vật chất mà khoa học Phương Tây đã xác nhận đang vận hành một cách to lớn khắp vũ trụ nhưng chính họ cũng giống như Lão Tử không biết nó là cái thứ gì,  gọi nó với cái tên gì và không làm sao diễn tả nó giống cái gì trong thế giới chúng ta.

Khoa học Phương Tây còn biết được Hạt luôn có Phản Hạt đi theo thì chuyện Phản Hạt là nguyên thủy sinh ra vạn vật như Lão Tử nói là có thể đúng, thì chúng ta cũng nên hiểu những lời Lão Tử viết ra là những lời của một nhà khoa học  có thần nhãn nhìn qua được ½ vũ trụ bí mật đang nằm trước con mắt chúng ta vào hơn 2500 năm trước và ngài đã diễn tả lại một cách rất chất phác trung trực không thêm thắc tưởng tượng màu mè.

Nếu chúng ta hiểu danh từ Đạo là Phản Vật Chất thì những danh từ khác trong Đạo Giáo như Vô, Thái Hư nên hiểu là Phản Thế Giới và Anh Nhi, Xích Tử cũng nên hiểu là Phản Con Người. Những thứ mà nền khoa học hiện đại đang xác nhận hiện hữu, đang mở ra những nghiên cứu tại phòng thí nghiệm to lớn CERN tại Châu Âu. Thì phương pháp luyện đan của Đan Học cũng giống như những phương pháp chế luyện khác của nền khoa học hiện đại và chúng ta có thể chia nó ra làm 2 phần : Phần trong thế giới chúng ta gọi là Phần Hữu vì có thể dùng văn tự để diễn tả và chứng minh nhưng qua Phần Vô (Phản Thế Giới) thì đành chào thua vì chúng ta không thể dùng những gì của Hữu để nói đến Vô mà tin rằng đúng được.

Phương pháp luyện đan nói cho cùng chỉ là một phương pháp hô hấp thật sâu đúng giờ đúng lúc đúng phương pháp để ăn trộm cho được loại Phản Vật Chất ( Hống) hay khí Tiên Thiên có công dụng tạo thêm khối lượng để nuôi ăn hay bồi dưỡng  Phần Hữu (Con Người ) và cả Phần Vô (Phản Con Người).

Cũng vì Phần Vô này chưa được nền khoa học hiện đại xác nhận trước đây  nên nó trở thành mãnh đất màu mè cho con người diễn đạt mông lung, ai cũng có thể cho rằng mình nói đúng và ai cũng có thể cho rằng người khác nói không đúng nên từ đó con người đã gây nên những cuộc chiến tranh tôn giáo xương chất thành núi.

Tinh hoa của phương pháp luyện đơn làm cho Anh Nhi (Phản Con Người) lớn lên cứng lại để chuyển thể hay chun ra khỏi cái võ Con Người thoát ly khổ ải sống Trường Sanh Bất Tử trong Phản Thế Giới.

Những bậc vĩ nhân đi theo con đường Đan Học luôn luôn tôn Lão Tử là ông tổ của ngành Đan Học vì cách luyện Đan và sau khi thành công thi Anh Nhi (Đan) rời Con Người để được sống Trường Sanh Bất Tử trong Phản Thế Giới đã được Lão Tử trình bày miên man trong nhiều chương của Đạo Đức Kinh (chương 5, 6, 7, 16 v.v…).

Lão Tử đi vào nền văn hóa Việt Nam bằng nhiều bản dịch của nhiều tác giả nhưng trong tay tôi chỉ có 2 cuốn sách : Lão Tử Đạo Đức Kinh của tác giả Nguyễn Hiến Lê do nhà xuất bản Văn Hoá in và Lão Tử Tinh Hoa của tác giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần do nhà xuất bản Xuân Thu in.

Hai cuốn sách này được biên soạn công phu nhưng rất tiếc cả 2 tác giả đều không phải là người của Đạo Giáo và không biết chút gì về phương pháp luyện đan nên đã dịch và diễn đạt nghĩa nhiều chữ nhiều câu trong các chương nói về Đạo theo ý mình vào theo sự hiểu biết của những nhà Nho.

Tôi xin trích cách dịch và diễn đạt chương 6 ĐĐK của tác giả Nguyễn Hiến Lê để chứng minh.

(C 6 ĐĐK : Cốc thần bất tử, thi vị huyền tẫn, huyền tẫn chi môn, thi vị thiên địa căn. Miên miên nhược tồn, dụng chi bất cần,

Hang thần bất tử, gọi là Huyền Tẫn (mẹ nhiệm mầu), cửa Huyền Tẫn là gốc trời đất. Dằng dặt mà như bất tuyệt, tạo thành mọi vật mà không kiệt (không biết mệt)

Vì có hai chữ Cốc Thần nên có người cho rằng đây là một thần thoại nào đó như trong bộ Sơn Hải Kinh. Vì hai chữ đó và hai chữ Huyền Tẫn nên có nhà lại bảo chương này có tính cách bí giáo (ésotérique) và các Đạo Gia đời sau (Hán, Lục Triều ) hiểu theo một nghĩa riêng để đi tìm phương pháp trường sinh.

Về triết lý không nghĩa gì bí hiểm. Thần hang tương trưng cho Đạo, thể của nó là hư vô nên gọi là hang, dụng nó là vô cùng nên gọi là thần. Vô sinh hữu, hữu sinh vạn vật, nên gọi là mẹ nhiệm mầu. Nó sinh sinh hóa hóa, nó “động nhi dũ xuất” (chương 5) cho nên bảo là không kiệt.

Bài đầu bộ Liệt Tử chép lại chương này Hoàng Đế. Không tin được. Hoàng Đế là một nhân vật huyền thoại ), ngưng trích.

Theo sự hiểu biết của tôi : Chữ Cốc Thần là một Hán Tự được ghép lại từ 2 chữ Thiên Cốc (đỉnh đầu) và Nguyên Thần (Diên, Phản Hạt, viên ngọc có sẳn trong con người).

Theo phương pháp luyện đan thì đỉnh đầu có 9 cung, cung nằm giữa gọi là Thiên Cốc (còn gọi Nê Hoàn Cung, có đến trên 50 tên khác nhau), khi ta dùng phương pháp Tiến Dương Hỏa, điều khiển hơi thở đưa Nguyên Thần (Diên) lên được Thiên Cốc thì Khí (Hống) và Tinh sẽ đi theo, các huyệt đạo trên đầu khai mở thì chuyện Trường Sanh Bất Tử đã nắm được trong tay.

Vậy 4 chữ Cốc Thần bất Tử có thể hiểu như sau : Lúc nào Nguyên Thần lên được Thiên Cốc là được bất tử.

Huyền tẫn Chi Môn : Huyền là Dương chủ động, Tẫn là Âm chủ tĩnh, là cửa sanh Âm sanh Dương, là căn cơ của trời đất, là tên chỉ huyệt đan điền. Nơi có Phản Vật Chất (Diên) cư ngụ.

Theo Đan Học thì huyệt đan điền nằm đưới rốn nhưng không thể  định vị được  (họ viết : nó không ở gần rốn, không ở gần thận, không gần bàng quan v.v…..)   chúng ta có thể hiểu huyệt đan điền ở vào vị trí  Phản Không Gian vì nó chứa Phản Vật Chất (Diên, Nguyên Thần) nên ở trong con người mà không có trong xương thịt con người, là nơi tạo ra mọi vật mà không kiệt.

Như vậy chương 6 nên dịch đơn giản như vầy : Lúc nào Nguyên Thần lên được Thiên Cốc thì chuyện trường sanh bất tử nắm được trong tay. Thật là mẹ nhiệm mầu. Huyệt Đan Điền là gốc của trời đất, mãi mãi tồn tại, tạo ra muôn vật mà không biết mệt.

Tóm lại, khuyết điểm của 2 tác giả là trước khi ra tay dịch Đạo Đức Kinh là đã không đi vào Đạo Giáo, không đọc những sách của Đan Kinh như Tham Đồng Khế, Tính Mệnh Khuê Chỉ, Huỳnh Đình Kinh v.v… nên không nắm được nghĩa nhiều danh từ chuyên môn của một khoa học kỳ bí như Đan Học để rồi dịch sai nghĩa nhiều chữ nhiều câu như chữ Anh Nhi, Thân Nhi, Phục Mệnh, Xích Tử, Thủ Trung, Tỏa kỳ nhuệ….Ngoại kỳ thân nhi thân tồn v.v..

Không hiểu nghĩa những danh từ chuyên môn nên dịch sai nghĩa chữ và nghĩa câu và dùng sự hiểu biết của mình để diễn đạt theo ý mình những  tinh hoa của một vấn đề mà mình không nắm được là làm phiền đám hậu sinh là đưa những người muốn tìm hiểu Lão Tử vào con đường lạc lối.

Hai cuốn sách này cần có sự tham gia bởi các học giả uyên bác về Đan Kinh ngày nay để hiệu đính lại trước khi tái bản giúp cho chúng ta có cái nhìn về lão Tử đúng đắn hơn.

Đan Học có quá trình phát triển qua nghìn năm, có nhiều học giả tham gia nên chỉ một vật mà lại được gọi bằng hàng chục tên khác nhau. Nó có ảnh hưởng đến tất cả mọi người và có thể đưa niềm tin tôn giáo vào con đường của khoa học nên cần phải tìm hiểu nó trước khi muốn dịch hay viết về tinh hoa của  ông tổ nó là Lão Tử, tức là muốn lên cao phải bắt đầu đi từ thấp chứ không thể muốn trình bày là có thể trình bày ngay được hay trình bày để tiêu cho hết 24 giờ một ngày ( trang 49- ĐĐK-Nguyễn Hiến Lê).

Tinh hoa của Đan Học cũng như Đạo Đức Kinh là Anh Nhi hay Xích Tử thoát ly khổ ải sống Trường Sanh Bất Tử trong Thái Hư  thi hai vị dịch và diễn đạt từ Anh Nhi là đứa trẻ sơ  sinh trong thế giới hiện tại.  Người được Đạo, giống như cái đức của đứa trẻ sơ sinh …. Chữ “ Xích Tử” đây ám chỉ cái tâm trạng của đứa trẻ sơ sinh, không dục vọng, bình thản đối với ngoại vật, nên ngoại vật không động được tâm và làm thương tích ….  (trang 178 – C10 ĐĐK – nguyễn Hiến Lê – trang 57- Lão Tử Tinh Hoa-Thu Giang Nguyễn Duy Cần)

Vào một ngày rất gần khi các khoa học gia Phương Tây tìm ra phương cách nhìn được vào Phản Thế Giới, họ sẽ trả lời rất nhiều câu hỏi của con người trong hơn ngàn năm nay về vũ trụ bí mật kia và Con Người có Chuyển Thể thành Phản Con Người đề sống Trường Sanh Bất Tử trong Phản Thế Giới hay không như lời Lão Tử đả nói vào 2500 năm trước.

Nếu phương pháp luyện đan và lời Lão Tử được chứng minh là đúng thì đường lên thiên thai sẽ thênh thang vì cửa trời đang rộng mở. Chỉ có Lão Tử mới đủ tư cách làm cho con người bớt cuồng tín bớt thù ghét nhau vì khác niềm tin tôn giáo, thế giới nhờ đó mà bớt chiến tranh và bình yên hơn.

Người nhiều mơ mộng muốn vào Phản Thế Giới để “vui chơi” cho biết thì ngay từ bây giờ cũng nên nghe lời Lão Tử khuyên  “C 5ĐĐK : đa ngôn số cùng, bất như thủ trung (**) –  Càng nói nhiều càng vô cùng, không bằng giữ huyệt đan điền”. Lời khuyên này rất có giá trị trong thời mạt pháp hiện nay, chúng ta không nên nhập Đạo bằng cách nghe lời của những kẻ khác mà nhập Đạo bằng cách thực hành tập luyện khí công cho huyệt đan điền có điện đề có thể giao cảm cùng điện vũ trụ rồi từ đó có ý muốn trông Đạo mới có thể nhìn thấy Đạo (Hống – Phản Vật Chất).

Tôi xin giới thiệu 1 cách tập khí công hay của đạo sĩ Lý Thanh Vân (đã sống đến 256 tuổi, chết 1930 ) ở trang 31 sách Khí Công Toàn Thư ( sẽ ghi lại ở bài 4 Trường Sanh bất Tử) và cũng gởi lời cám ơn bác sĩ Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ đã bỏ công lao dịch những bộ sách của Đan Kinh giúp cho nền văn hóa Việt Nam thêm màu mỡ và giúp cho tôi hiểu được câu nói người xưa  “Kinh thư vạn cuốn không bằng Hống Diên”. Mà Hống chính là Diên và Diên cũng là Đạo, là Phản Vật Chất mà các nhà khoa học Phương Tây đã xác nhận đang nằm trước mắt chúng ta, đang bao trùm cả ngân hà trong một khoảng không gian thực (chiều không- thời-gian) và các bậc tiền nhân diễn tả  nó như một điểm sáng  yểu yểu minh minh vì họ đã thấy nó như vậy.

Lúc đó vào những ngày đầu xuân như xuân năm nay câu chúc nhau sống lâu trăm tuổi (Bách Niên Giai Lão) của chúng ta sẽ được sửa lại là chúc nhau sống lâu ngàn tuổi.

_____________________________________________________

(*) Những chữ viết nghiêng trích từ sách ĐĐK của 2 tác giả NHL và NDC.

(**) Chữ Thủ Trung : theo Đạo gia chỉ 1 vị trí vửa ở trong trời đất vừa ở ngoài trời đất, vừa ở trong thân ta vửa ở ngoài thân ta : Huyệt đan điền.  Thích Gia gọi là Không Trung. Nho Gia gọi là Thời Trung hay Chấp Trung. Riêng chữ Trung đã có nghĩa là huyệt đan điền nên chữ Thủ Trung cũng có thể dịch Giữ Huyệt Đan Điền.  Vì không hiểu nghĩa chử Thủ Trung nên tác giả Nguyễn Hiến Lê đã đổi cách đọc chữ Số thành chữ Sác và chữ Trung thành Xung và dịch cũng như giải nghĩa lời khuyên của Lão Tử và toàn bộ chương 5 ĐĐK, một chương diễn tả Phản Thế Giới, đi một hướng khác “C 5ĐĐK : …. Đa ngôn sác cùng, bất như thủ xung – Càng nói nhiều lại càng khốn cùng, không bằng giữ sự hư tĩnh”.

                  CHƯƠNG 8

    Bàn Về Xác Ướp Của Các Đại Sư

                    (Trường Sanh Bất Tử – bài 2)

1.- Tu Pháp Sa Môn

Khi Đức Phật Thích Ca đắc đạo rồi, Ngài còn ngồi dưới cây ba la bảy ngày, nghĩ bụng, “Ta nay đã thành chánh quả, bản nguyện đã được viên mãn, nhưng cái đạo pháp của ta rất mầu nhiệm, Chỉ Có Phật Với Phật Mới Biết Được, còn hết thảy chúng sinh ở trong đời ngũ trọc này vì tham dục sân uế ngu si tà kiến kiêu mãn che lấp, làm thế nào mà hiểu được đạo pháp của ta. Nếu ta đem đạo pháp ấy truyền ra, chúng sinh tất mê hoặc, không tin theo và buông lời phỉ báng, thành ra phải tội ra phải tội“. Nhưng sau Ngài nghĩ lại, “Ta đã phát nguyện tu thành Phật để cứu chúng sanh, lẽ nào tự giác mà không giác tha, để chúng sanh chìm đắm ở chỗ sinh tử“.

Ngài nghĩ như thế rồi đứng dậy đi thuyết pháp. Chỗ này có sách ghi chép Phạm Thiên và Đế Thích thấy ngài đắc đạo mà không muốn đi thuyết pháp, bèn xuống kêu nài, Phật mới ưng chịu.

Trong một lần thuyết pháp có ông Ca Hy La Nan Đà, thông minh trí tuệ, xuất gia nhiều năm mà mùi vị Phật Pháp không được nếm, nằm vật ra giữa đất như núi thái sơn đổ, quì lại trước Phật sám hối nên Ngài A Nan cung kính quỳ chắp tay bạch Phật xin Phật vì chúng con mà thuyết pháp.

Từ đó Đức Phật mới giải thích cái nghiệp của ông Ca Hy La Nan Đà và dạy pháp hệ niệm, tu pháp Sa Môn, pháp này cần nơi vắng vẻ, trải nệm ni sư đàn, ngồi xếp bằng, y phục chỉnh tề, chính thân ngay ngắn, bàn tay trái đặt trên bàn tay phải, nhắm mắt đem lưỡi lên hàm trên. định tâm cho trụ, chớ phân tán. Trước hết phải hệ niệm ngón chân cái của bàn chân trái v.v…

Ông Cưu Ma La Thập (344-413), một dịch giả, đã dịch ra chữ Hán lời dạy của Phật về tu pháp Sa môn thành 3 cuốn sách nhỏ, bản tiếng Việt là cuốn Thiền Bí Yếu Pháp dày gần 200 trang. Trong khi dạy tu pháp Sa Môn ngài nói thêm : Qua một ngàn năm khi ta đã vào Niết Bàn vô thường quán này tuy được lưu hành trong cõi Diêm Phù Đề ức ức thiên vạn chúng sanh đa đệ tử, bằng hai tu quán vô thường được đạo giải thoát, sau một ngàn năm trăm năm nếu tỳ khưu, tỳ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di tán thán tuyên thuyết vô thường, khổ, không vô ngã quán thì có nhiều chúng sinh mang lòng ghen ghét.. mắng chữi ngu si thế gian… trăm ngàn người không có một người tu quán vô thường…. Khi có hiện tượng ấy thì vô thượng Chính Pháp của Phật đã diệt từ lâu.

2.- Tâm Truyền Chính Pháp

Tuy đã dạy pháp tu Sa Môn nhưng trong khi thuyết pháp vào một ngày nọ ở hội Linh Sơn đức Phật cầm một cánh hoa cho đại chúng xem thì ai nấy chẳng rõ ý chi đâm ra ngơ ngác yên lặng làm thinh, duy có một mình tôn giả Đại Ca Diếp mỉm cười. Đức Phật thấy thế nói rằng :

 “Ta có Chính-Pháp Nhãn-tạng, Diệu tâm Niết-Bàn, Pháp-môn ấy mầu nhiệm vô cùng, chẳng lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo-lý. Nay Ta trao cho Ma-Ha Ca-Diếp, vậy ông phải ân cần mà nhận lãnh, giữ gìn Chính-pháp, rồi sau sẽ truyền cho hậu thế, để nối tiếp về sau, chớ để diệt mất”.

Khi truyền Y Bát cho ngài Đại Ca Diếp, có lẽ đức Phật cũng có truyền luôn Chính Pháp như ngài đã có lần nói. Y Bát được truyền đến đời Bồ Đề Đạt Ma (thế kỷ thứ V), là vị tổ đời thứ 28 và là vị tổ cuối cùng của Thiền Tông Ấn Độ. Ngài đi sang Trung Hoa và trở thành sơ tổ của Thiền Tông Trung Hoa. Y bát được truyền thêm 5 đời nửa ở Trung Hoa đến đời Lục Tổ Huệ Năng ( 638-713) thì việc truyền Y Bát mới chấm dứt.

Lần theo những lời dạy của Lục Tổ Huệ Năng trong Kinh Pháp Bảo Đàn để mong tìm đôi chút tăm hơi Chính Pháp của đức Phật chỉ thấy Lục Tổ Huệ Năng dạy :

1.- TỌA THIỀN : Bên ngoài đối với tất cả cảnh giới thiện ác tâm niệm chẳng khởi gọi là TỌA, bên trong thấy tự tánh chẳng động gọi là THIỀN.

2.- THIỀN ĐỊNH : Bên ngoài lìa tướng gọi là THIỀN, bên trong chẳng thấy loạn là ĐỊNH.

Thiền Tông Trung Hoa từ đời của Lục Tổ Huệ Năng trở về sau được chia hai nhánh Bắc Tông và Nam Tông. Bắc Tông do Thần Tú (sư huynh của Lục Tổ Huệ Năng) chủ trương dùng suy luận tu tập dần dần theo sự chỉ dạy của kinh sách mà giác ngộ. Nam Tông do Lục Tổ Huệ Năng chủ trương giác ngộ là một sự nhảy vọt bất ngờ mang tính trực giác (Đốn Ngộ).

Thiền Tông Ấn Độ đi theo Bồ Đề Đạt Ma vào Trung Hoa và biến thể thành Thiền Tông Trung Hoa. Cuộc di tản này mang theo 84.000 pháp môn của Phật Giáo hay cả nền văn minh Ấn Độ vào giao lưu với nền văn minh Trung Hoa nên Thiền Tông Trung Hoa có rất nhiều dấu ấn của Đạo Lão.

3.- Thất Truyền Chính Pháp

Thiền Tông Trung Hoa đi vào thời đại hoàng kim trong đời nhà Đường nhà Tống rồi theo các thương nhân lan ra các nước chung quanh. Cho đến ngày nay Thiền Tông Trung Hoa vẫn còn là nguồn cảm hứng sâu xa và là một pháp môn cho các phật tử tu tập.

Lục Tổ Huệ Năng trong lúc ôm Y Bát đi trốn hàng chục năm mới hiểu được trong đời ngũ trọc đầy tham dục sân uế ngu si tà kiến kiêu mãn che lấp và lắm hiểm nguy cũng vì Y Bát mà ra, và cũng có thể ngài không tìm được người hữu duyên để truyền Y Bát nên ngài mới chấm dứt việc truyền Y Bát và cũng chẳng bạch hóa cho nhân loại biết được Chánh Pháp Nhãn Tạng, Diệu Tâm Niết Bàn mà có lần đức Phật nói ở hội Linh Sơn là sẽ trao cho ngài Đại Ca Diếp.

Như thế từ lời Phật nói khi dạy pháp tu Sa môn đến hành động chấm dứt truyền Y Bát của ngài Lục Tổ Huệ Năng chuyển đạo Phật đi dần vào thời Mạt Pháp, thời Chính Pháp không còn, thời thiên hạ đại loạn, với hàng vạn thiền sư tự phong với hàng vạn loại “lạ” pháp ra đời. Trong cánh rừng dày đặc mung lung đầy chữ nghĩa và giả dối có rất nhiều chúng sanh nhìn các thiền sư tọa thiền mà chẳng hiểu họ đạt được gì thấy được gì khi tọa thiền, có rất nhiều chúng sanh đọc hằng trăm bài kệ của các thiền sư mà chẳng hiểu nghĩa gì nên bực mình “kệ nó ! “, có rất nhiều chúng sanh nghe các thiền sư la lên vừa đốn ngộ khi thấy … cái gì gì bay ngang mà chẳng hiểu họ có đốn ngộ hay không đốn ngộ và đốn ngộ cái gì.

Lục Tổ Huệ năng không còn tại thế thì biết tin ai và hỏi ai để tìm cho ra Chính Pháp của đức Phật và ai là kẻ đủ tư để cách trả lời ?

Phật pháp vô biên, 84.000 pháp môn của đức Phật thích hợp với mọi trình độ và đáp ứng với mọi căn cơ chúng sanh thăng tiến trên con đường khai phóng sinh lộ tự độ độ tha nhưng 84.000 pháp môn chỉ là sắc chất là ngôn từ, chữ nghĩa dùng để cứu độ chúng sanh chứ có thể không đủ khả năng diễn tả những gì trên con đường hành giả đi đến và sau khi đắc đạo nên đức Phật không truyền theo giáo lý vì sợ chúng sanh mê hoặc không tin theo mà buông lời phỉ báng thành ra phải tội ra phải tội.

Thời đại ngày nay là thời đại thông tin. Mọi thứ cần được bạch hóa và phơi bày ra ánh sáng. Bậc vĩ nhân của thế kỷ 20 là Albert Einstein cũng không giấu cái gì của ngài nghĩ ra và có cả. Thiền Tông không thể là một ngoại lệ nên mới có bài viết này để mong các vị thức giả giúp cho người viết một tay đưa Thiền Tông ra ánh sáng của nền khoa học hiện đại.

4.- Chính Pháp nằm trong lời dạy của Lão Tử ?

Cùng thời với đức Phật Thích ca Mâu Ni có một bậc vĩ nhân khác ở Trung Hoa tánh tình chất phát trong lúc cưỡi trâu đi ra sa mạc ẩn cư bị ông quan Doãn Hỷ hặn lại năn nỉ viết thành sách những gì ông biết được. Ông chỉ để lại cho hậu thế một cuốn sách nhỏ tên là Đạo Đức Kinh với 5.000 chữ mà được hậu thế tôn vinh ngang hàng với đức Phật vì trong 5.000 chữ đó có gói ghém một phương pháp tu đơn giản hơn mà bản thân người viết cho là Chính Pháp vì nền khoa học hiện đại và những hiện tượng thấy được trên thế giới đang bị buộc phải công nhận tính chính xác của nó. Vị đó là Lão Tử, ngài dạy rằng :

1.- C5- ĐĐK. ” Đa ngôn số cùng, bất như hữu trung” dịch ra ” Càng nói nhiều càng vô cùng, không bằng giữ huyệt đan điền ”  người viết hiểu lời dạy của Lão Tử là không nên tựa vào lời nói mà nên hành đạo bằng cách luyện khí công để cho huyệt đan điền có điện, khí công là những môn tập của võ công giúp cho cơ thể cường tráng mà Thiền Tông Trung Hoa thường sử dụng để trợ lực cho các hành giả.

2.-C16-ĐĐK. ” Trí hư cực, thủ tỉnh đốc, vạn vật tịnh tác, ngộ dĩ thị quang kỳ phục”  nhiều bản không có chữ thị, nhiều bản không có chữ kỳ, riêng bản của Hà Thượng Công có chữ thị và có luôn chữ kỳ nên người viết tin vào bản này vì thấy nó không tối nghĩa và dịch câu nói nầy ra bằng văn xuôi như sau ” trí óc không nghĩ gì cả, giữ yên tỉnh lên tối đa, vạn vật sinh, ta có thể thấy được điểm sáng kỳ lạ (ẩn phục) sinh”. Chữ Phục trong câu này có thể nghĩa là ẩn phục và có thể nghĩa là quẻ Phục là quẻ Dương Sinh ( 5 Âm 1 Dương), Đây có thể là cách chơi chữ của người xưa nhưng rất chính xác vì ánh sáng đó xuất hiện nhiều nhất vào thời điểm thế giới chuyển Dương ( giờ tý, mồng 3, đông chí ).  Người viết hiểu lời dạy này của Lão Tử cũng giống lời dạy của Lục Tổ Huệ Năng về Tọa Thiền và Thiền Định là hành giả phải giữ nội bất xuất ngoại bất nhập. Tuy nhiên lời dạy này có giải thích thêm là khi ta giữ tỉnh lên cực điểm thì động manh nha ( động sinh ) là lúc vạn vật sinh hay Dương sinh và điểm sáng ấy cũng sinh mà hành giả thấy được.

Cái điểm sáng ẩn phục ấy được Lão Tử gọi tên là Đạo và nhắc đến 70 lần trong 5.000 chữ để lại cho hậu thế và định nghĩa nó vài lần (C.4. ĐĐK; C14. ĐĐK) cũng như khuyên ta phải ăn trộm cho được nó khi thấy được nó (C.14. ĐĐK). Hành động này gọi ăn trộm này gọi là ăn trộm khí tiên thiên hay ăn trộm Âm Dương Tạo hóa Chi Quyền.

Cái điểm sáng ẩn phục ấy được các đạo sĩ gọi là Hống, Huyền Châu, Hoàng Nha, Dương Tinh ( khoảng vài chục tên khác nhau) và họ diễn tả khi thấy nó là một điểm sáng Yểu Yểu Minh Minh. Họ tìm cách giữ cái điểm sáng ấy trong huyệt Đan Điển để được kết thành Kim Đan, tức  là Anh Nhi, để thoát sanh sanh thành vô sanh, sống trường cữu cùng với trời đất.

Vì bài viết không nhắm mục đích nói về chuyện luyện Kim Đan nên bạn đọc nào muốn đi sâu vào đề tài này thì xin đọc thêm 2 bài trước và 2 bài sau để có được một cái nhìn khoa học trước khi đi vào trang mạng của bác sĩ Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ, trong đó có nhiều cuốn sách về Đan Học do ông ta dịch.

Chuyện sinh tử là chuyện hệ trọng của con người không phải ai muốn biết và hiể đều được cả mà phải tùy duyên và nghiệp của mình. Bởi thấy con người chia rẽ, thù ghét nhau, giết nhau vì khác tôn giáo nên người viết đã Hướng tư tưởng mình vào Thái Cực (Nhất) để tìm hiểu tại sao nên trình độ người viết chỉ ngang mức đang còn Tầm Đạo.

5.- Khí Công Là Con Đường Đi Vào Chính Pháp

Vì đang Tầm Đạo nên nghe theo lời dạy của Lão Tử hay Hành Đạo bằng cách luyện khí công và thấy được môn này được sáng tạo do nhiều thầy, mỗi thầy đều tạo ra mỗi cách tập khác nhau và mỗi cách tập đều đem lại mỗi lợi ích khác nhau giúp cho cơ thể cường tráng để đủ khả năng tu tập nên tôi xin trình bày cùng bạn đọc những cách tập có hiệu quả tốt hiện nay :

1.- Cách tập 1 : Thiền Hành, bàn tay trái ôm quyền bàn tay phải để trước bụng hay để sau lưng bước khoan thai sáu bước hít vào, sáu bước giữ hơi thở, sáu bước thở ra. Mỗi bước niệm 1 danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật. Cách tập này vừa bơm oxy vào cơ thể vừa tạo được Vô Biệt Niệm để bảo vệ con người tránh được mọi ma chướng.

2.- Cách tập 2 : Dịch Cân Kinh, của Đạt Ma Sư Tổ,  xem trong youtube để biết cách tập, cách tập này tạo cho kinh mạch được điều hòa và bơm thêm oxy vào nuôi sống các tế bào trong cơ thể.

3.- Cách tập 3 : Pháp Luân Công, của Lý Hồng Chí, xem trong youtube để biết cách tập, cách tập này nhắm mục đích đem điện trời vào huyệt đan điền để cho cơ thể thêm điện và cường tráng

4.- Cách tập 4 : Phép Hành Công bát Quái, của đạo sĩ Lý Thành Vân, đạo sỉ này là một bác sĩ có 24 bà vợ, sống 256 tuổi chết năm 1930, cách tập này nằm ở trang 31 sách Khí Công Toàn Thư. Tôi xin chép lại toàn bộ cách tập này ở bài viết Trường Sanh Bất Tử – bài 4.

Thời gian tập là buổi hừng sáng hay buổi chiều tối riêng cách tập 4 nên tập vào lúc nửa đêm, Không nhất thiết chuyên một cách tập mà có thể tập tất cả các cách hay cách nào cũng được theo ý thích của bản thân, có thể vừa đứng tập vừa xem TV.

6.- Hạt Higgs và Hống (Đạo)

Nền khoa học hiện nay đang có những thí nghiệm để chứng minh lý thuyết của nhà vật lý người Anh Peter Higgs (1929) đưa ra năm 1960 là một lý thuyết đúng. Lý thuyết này cho rằng toàn vũ trụ đang bị bao phủ bởi một dạng lưới giống như Trường Điện Từ, nó có ảnh hưởng đến hạt di chuyển xuyên qua nó nhưng nó cũng  có liên hệ với vật lý chất rắn, gọi là trường Higgs hay cơ chế Higgs, theo Cơ Học Lượng Tử thì tất cả các trường lượng tử đều có một hạt cơ bản đi kèm, hạt đi kèm Trường Higgs gọi là hạt Higgs có thể là một dạng của hạt boson hay một tập hợp hạt mà chúng có thể tạo ra những hạt có khối lượng khác.

Sự tìm kiếm hạt Higgs lâu dài và  khó khăn đến mức các nhà khoa học bực bội gọi nó cái tên Goddamn Particle tạm dịch là Hạt Mắc Dịch về sau thấy công dụng nó tựa như một diễn viên điện ảnh đứng giữa đường phố Hollywood thu hút những người mộ điệu vây quanh tạo thành một đám đông (tạo khối lượng) nên người ta gọi gọn lại God Particle tạm dịch là Hạt Của Chúa. Tên mới có thể đúng hơn vì Vạn Vật có thể hình thành do các nguyên tử đi qua trường Higg nhập vào hạt Higg mà sinh khối lượng.

Phải chăng hạt Higgs là Hống là Đạo là điểm sáng mà Lão Tử đề cập trong cuốn sách Đạo Đức Kinh 5.000 chữ của ngài vì hạt Higgs tạo ra khối lượng còn Hống tạo ra Anh Nhi, cũng là một khối lượng, như thế hạt Higgs và Hống có cùng chung nhiệm vụ.

Đạo Phật từ Ấn Độ di chuyển sang Trung Hoa mang theo 84.000 pháp môn của đức Phật vừa chân thật muôn đời và vừa thích hợp với mọi căn cơ của chúng sinh muôn đời nên đạo Phật trở thành  nguồn cảm hứng cuốn hút dân tộc Trung Hoa và dân tộc các nước chung quanh, đã đẩy Đạo Lão, vốn thích cảnh tịch mịch và ít nói, vào rừng sâu lẫn suy tàn.

Nào ngờ ngày 4 tháng 7 năm 2012 ở bên trời Âu Châu các khoa học gia tuyên bố đã tạo một vụ va chạm hạt trong máy gia tốc hạt LHC của phòng thí nghiệm CERN và đo được một góc độ lệch để đưa đến việc xác nhận sự tồn tại của một loại hạt có đặc tính thích hợp với  hạt Boson Higgs, Hạt này có đặc tính tạo ra khối lượng mà các đạo sĩ đã đề cập trong một môn gọi là Đan Học nhưng bị thất truyển từ lâu. Tôi xin chúc mừng các đạo sĩ nhưng có lẽ khó tìm ra một đạo sĩ trong thời đại ngày nay trong lúc đó các thiền sư thì nhiều như lá rụng mùa thu.

7.- Bí mật về các xác ướp của các đại sư

1

Nhờ chúng ta đang sống trong thời đại thông tin nên chúng ta nhìn thấy được hình ảnh nhục thân của các vị đại sư Vũ Khắc Trường, Vũ Khắc Minh tại chùa Đậu, Hà Tây  nhục thân của vị đại sư Như Trí tại chùa Tiêu Sơn, Bắc Ninh v.v…tồn tại gần 300 năm mà vẫn bất hoại. Gần đây cũng có hình ảnh 2 nhục thân bất hoại của 2 vị đại sư khác ở Thái Lan và Nga và hình ảnh những nhục thân bất hoại của các vị thánh của Thiên Chúa Giáo cũng được truyền đi trên mạng.

Trong tháng trước chúng ta lại nhìn thấy được hình ảnh một xác ướp của một đại sư khác ở Mông Cổ ở trong trình trạng bảo quản tốt qua hàng trăm năm mà bác sĩ Barry Kerzin, một bác sĩ của vị lãnh tụ tinh thần Tây Tạng Dalai Lama, nói với tờ Thời Báo Siberia rằng vị sư đó còn sống và đang ở một trạng thái thiền rất hiếm có tên gọi là “tukdam”.

Khi quan sát và nghiên cứu các xác ướp của các đại sư các khoa học gia Phương Tây có một nghi vấn không thể giải thích được :

– Làm cách nào các đại sư có thể tự rút hết nước ra khỏi cơ thể ?

Chúng ta và các khoa học gia Phương Tây không thể hỏi các vị đại vì các vị đại sư tuy còn đó nhưng chỉ là xác ướp không thể nói. Riêng người viết nhờ có đọc được một vài cuốn sách của Đan Học mới biết được rằng trong Đan Học có cuốn sách Tính Mệnh Khuê Chỉ ở trang 177 do bác sĩ Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ dịch có chương Ngọc Dịch Luyện Hình Đồ dạy cách tự rút nước trong cơ thể qua huyệt huyền ưng dưới lưỡi và trong cách tập Khí Công của đạo sĩ Lý Thành Vân cũng có chiêu thức tự rút nước ra khỏi cơ thể qua huyệt huyền ưng.

Vậy Đan Học là gì ? Đan Học nói gì ? Các Đại Sư của Phật Giáo và các vị thánh của Thiên Chúa Giáo đã tu theo phép luyện Đan của Đan Học nên đã biết cách rút nước ra khỏi cơ thể làm cho nhục thân bất hoại chăng ?

8.- Trường Sanh Bất Tử

Đan Học có từ thuở nào không biết nhưng phải trước khi có Lão Tử. Về sau có nhiều nhân vật tiếng tăm như Doãn Chân Nhân, Lưu Nhất Minh, Thiệu khang Tiết v.v… tham gia nâng nó lên ngang hàng với những bộ môn khoa học khác nên được gọi là Đan Học. Đan học nói cho cùng cũng chỉ là một phương pháp tu tiên bằng cách dùng hô hấp để ăn trộm cái điểm sáng yểu yểu minh minh kia rồi luyện cho Linh Hồn hay Anh Nhi cứng lại gọi là Luyện Đan. Phật giáo gọi Anh Nhi là thân Kim Cang, Lão giáo gọi là Kim Đan. Những người luyện Kim Đan thành công thì nhục thân trở thành bất hoại giống như nhục thân của các đại sư mà chúng ta thấy qua các trang mạng.

Các bậc vĩ nhân thời xưa quan sát được sự hình thành của trái đất và mặt trời ( Âm Dương ) trong vũ trụ mà rồi bắt chước sự hình thành trời đất của Tạo Hóa mà áp dụng vào con người để luyện cho con người hình thành được một con người khác sống vĩnh hằng cùng trời đất trong vũ trụ, cách luyện đó gọi là ăn trộm Âm Dương Tạo Hóa Chi quyền.

Vũ trụ vào khoảng 13 tỷ năm trước là một đống hổn mang, vật chất tụ lại một điểm gọi là Điểm Kỳ Dị rồi bùng ra trong một vụ nổ ( thuyết Big Bang của George Lemaitre (1894-1960) ). Vật chất thời kỳ đó ở trong trạng thái Plasma cực nóng. Cái gì đã kết nối chúng để cho chúng thành những khối lượng như ngân hà, trái đất, mặt trời ? Sau một thời gian dài các nhà khoa học mới tìm ra nó chính là Hạt Higgs, hạt này là loại một phản hạt nằm trong trường Higgs, có liên hệ với vật lý chất rắn, tạo ra khối lượng được các nhà khoa học đặt tên là Hạt Của Chúa, vì vạn vật trong vũ trụ hình thành do các nguyên tử đi qua trường Higgs, nhập vào hạt Higgs mà sinh ra khối lượng mà vũ trụ hiện nay không đơn thuần như khái niệm của người xưa hình dung mà trong đó còn có một vùng không gian khác thời gian chứa các vật chất tối năng lượng tối hay còn gọi là phản vật chất và phản thế giới.

Hạt này được Lão Tử gọi là Đạo và đức Phật Thích ca Mầu Ni gọi là Phật ( Xin xem lại bài Thần Nhãn ) và cả hai bậc vĩ nhân này đều diễn tả nó như sau :

Lão Tử : Vật này bản thể là hư không mà tác dụng của nó thì cơ hồ là vô cùng… Nó vô thanh vô hình đứng một mình không thay đổi vận hành khắp vũ trụ.

Đức Phật : Pháp Thân không phải là sắc chất mà cũng không phải là tâm trí, Mà Khắp Đầy Vũ Trụ Đâu Đâu Cũng Có, Không Sinh Không Diệt, Lúc Nào Cũng Hiện Hữu.

Cả hai bậc vĩ nhân trong lúc đi tìm chân lý đã vào trường Higgs, thấy được hạt Higgs vận hành khắp vũ trụ tạo ra muôn vật ( Hạt Của Chúa ), cách diễn tả của hai bậc vĩ nhân ngày xưa về hạt Higgs như trên là cách diễn tả hay nhất thời đó nhưng không rõ ràng bởi thuở đó không ai nói đến và chứng minh được sự tồn tại của phản hạt và phản thế giới.

Đan Học, cũng như phép luyện Đan, được các học giả thời xưa truyền lại cho hậu thế bằng những lời ẩn dụ lẫn những câu nói xa xôi bởi họ là những học giả không thể đề cập những thứ không thể chứng minh được như phản hạt và phản thế giới.

Khí công chẳng qua là cách luyện tập cho con người có điện để con người hòa nhập vào trường Higgs thấy được hạt Higgs rồi ăn trộm cho được hạt Higgs để làm cho hạt Higgs tích tụ được một khối lượng phản vật chất hay tích tụ thành một Phản Con Người sống trường sanh trong Phản Thế Giới. Đan học luôn tôn Lão Tử là ông tổ của Đan Học bởi Lão Tử là người đầu tiên định nghĩa chữ Đạo như một phản vật chất và chỉ cho người sau cách nhìn thấy phản vật chất đó và cách ăn trộm vật chất đó để luyên thành Kim Đan.

Đan Học đến với nên văn hóa Việt Nam quá chậm qua 3 tác phẩm Tính Mệnh Khuê Chỉ, Huỳnh Đình Kinh và Tham Đồng Khế do bác sĩ Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ dịch vào năm 2002, nhờ cơ duyên nên tôi có được 2 cuốn gối đầu, tìm hoài không ra cuốn Huỳnh Đình Kinh bỗng một hôm thấy toàn bộ các tác phẩm của bác sĩ Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ nằm trên mạng. Như thế có thể là bác sĩ muốn nhờ tin học phổ biến rộng rãi Đan Học ra ánh sáng khoa học cho mọi người cùng biết nên tôi xin đóng góp một bàn tay nhỏ bé.

Sinh tử là chuyện hệ trọng mà mọi con người đều phải trải qua, chỉ có những con người  nhờ cơ duyên đạt đạo trường sinh mới để lại nhục thân bất hoại như các đại sư. Phần Phản Con Người của các đại sư chắc chắn vẫn còn sống và tồn tại đâu đó trong vùng Phản Thế Giới của vũ trụ bao la. Điều đó đã được 3 nhà khoa học được giải Nobel là Paul Diract, Victor Francis Hess và Carl David Anderson đã nói đến khi tìm ra Phản Hạt : Lực của hạt thế nào thì lực của phản hạt thế ấy. Con người của các đại sư bất hoại thì Phản Con Người của các đại sư cũng bất hoại, hay đang vui chơi trong Phản Thế Giới.

                          CHƯƠNG 9

              Khước  Từ  Sự  Chết

               ( Trường Sanh Bất Tử – Bài 3 )

1.- Thuốc Trường Sanh Bất Tử :

Chúng sanh thường tham sống sợ chết. Vì sợ chết nên chúng sanh bôn ba khắp chốn để tìm thuốc Trường Sanh Bất Tử hay ít ra cũng chống được sự lão hóa và được trường thọ. Vài bậc vĩ nhân ngày xưa đã biết Khước Từ Sự Chết và có chỉ cho nhân loại môn thuốc Trường Sanh Bất Tử không ở đâu xa mà nằm chính ngay trong con người mình nhưng cách giải thích của họ lại quá mơ hồ vì thiếu chứng minh.

Ngày nay có nhiều phát hiện của khoa học và nhiều hiện tượng có liên quan đến vấn đề này nên tôi xin diễn tả lại lời dạy của họ theo sự hiểu biết có hạn của tôi. Bạn nào đọc được bài này thì xin đừng cho rằng tôi hoang tưởng và đừng nghĩ tôi đã đi vào được con đường Trường Sanh Bất Tử mà nên cùng hòa nhịp cùng tôi bàn luận để đưa con đường huyền diệu này ra ánh sáng của khoa học cho thế giới chúng ta ngừng mọi hỏa mù phỉnh gạt.

Con đường Trường Sanh Bất Tử là con đường của các bậc vĩ nhân ngày xưa đã từng đi qua và họ nói chỉ có những người Thượng Đức mới hiểu và vào được mà thôi. Tôi không dám phê bình điều họ nói nhưng tôi nghĩ đã có con đường thì ai cũng được quyền đi, điều quan trọng là có hay không có con đường đó và biết phương cách nào để có thể đi vào con đường đó. Họ nói trước khi bạn muốn tìm con đường Trường Sanh Bất Tử thì điều căn bản bạn phải hiểu thế nào là Sinh và thế nào là Tử.

2,- Thế Nào Là Sinh

Đạo giáo cho rằng vạn vật đến từ Thái Hư. Khi cha mẹ giao cấu thì có một Điểm Linh Quang đến từ Thái Hư gieo vào bào thai trong người mẹ gọi là Nguyên Thần, ( có sách nói gieo vào đứa bé khi nó mở miệng khóc chào đời) từ đó sinh ra khí, rồi khí hóa thành hình hài cơ thể con người.

Đây là thuyết Nhất Điểm Linh Quang có liên hệ tới thuyết Vạn Vật Đồng Nhất Thể bởi vì cái Điểm Linh Quang này người xưa không biết gọi nó bằng cái tên gì cho đúng nên họ đã diễn tả bằng hằng trăm tên khác nhau và đôi lúc cho rằng đó là một loại khí ngưng tập, hỗn hỗn mang mang, thâm thúy khôn lường, tương hỗ tác dụng, hóa sinh bao hàm vạn linh. Họ cho rằng đó là Nguyên Khí là Bản Thể Duy Nhất siêu việt minh linh huyền diệu bất khả tư nghị mà tất cả mọi quần sinh trong vũ trụ phải chia sẻ nó mà thành.

Nền khoa học ngày nay đã giải quyết được cái tên gọi cái Điểm Linh Quang nói trên và đặt cho nó cái tên khoa học hơn là Hạt Của Chúa hay hạt Higgs, bởi người tìm ra nó là Peter Higgs, ông cho rằng toàn vũ trụ đang bị bao phủ một dạng lưới giống như Trường Điện Từ, nó có ảnh hưởng đến hạt di chuyển xuyên qua nó nhưng nó cũng có liên hệ với chất rắn, gọi là trường Higgs hay cơ chế Higgs.

Câu hỏi cái gì tạo ra khối lượng là một câu hỏi hóc búa trong suốt cuối thế kỷ vừa qua vì Mô Hình Chuẩn của ngành vật lý hạt có nhiều điểm không phù hợp và thống nhất với thực tại nên từ đó đưa đến việc có lý thuyết của Peter Higgs, theo Cơ Học Lượng Tử thì tất cả các trường lượng từ đều có một hạt cơ bản đi kèm, hạt đi kèm Trường Higgs gọi là hạt Higgs có thể là một dạng của hạt boson hay một tập hợp hạt mà chúng có thể tạo ra những hạt có khối lượng khác.

Sự tìm kiếm hạt Higgs lâu dài và  khó khăn đến mức các nhà khoa học bực bội gọi nó cái tên Goddamn Particle tạm dịch là Hạt Mắc Dịch về sau thấy công dụng nó tựa như một diễn viên điện ảnh đứng giữa đường phố Hollywood thu hút những người mộ điệu vây quanh tạo thành một đám đông (tạo khối lượng) nên người ta gọi gọn lại God Particle tạm dịch là Hạt Của Chúa. Tên mới có thể đúng hơn vì Vạn Vật có thể hình thành do các nguyên tử đi qua trường Higg nhập vào hạt Higg mà sinh khối lượng.

Như thế Nguyên Thủy của Sinh đến từ Thái Hư ( Phản Thế Giới) hay nói khoa học hơn con người được sinh ra do cha mẹ giao cấu mà thành nhưng phải có một Phản Hạt ( hạt Higgs) kết hợp các nguyên tử đi qua nó mà sinh khối lượng hay sinh ra con người. Hạt này được ngừời xưa gọi bằng hằng trăm tên khác nhau. Các bậc vĩ nhân ngày xưa thương con người nên có dạy rằng : Mọi chúng sinh đều có một Bản Lai Nhất Linh Chân Giác, chỉ vì hôn mê không thấy nên đã đề nó trôi nổi theo dòng Luân Hồi sinh tử, tử sinh, sinh tử mà chuyển đi trong vạn kiếp.

3.-Thế Nào Là Tử

Theo một bản nghiên cứu cho biết tuổi thọ trung bình của dân tộc Hoa Kỳ và Nhật Bản trong thời gian qua tăng nhờ mức sống và vấn đề chăm sóc y tế được cải thiện nhưng dù có tăng nhiều đi nửa thì số người sống đến 100 tuổi chỉ đếm được vào đầu ngón tay.

Ở Trung Hoa, ngày xưa có ông Bành Tổ sống được 600 tuổi, ông Lão Tử sống trên 200 tuổi, ngày nay có ông Lý Thanh vân (1677-1933) sống 256 tuổi.  Ở Ấn Độ có ông Devraha Baba sống hơn 700 tuổi. Ở Châu Âu có bá tước Saint German sống ngàn tuổi và bất tử vì có người gặp ông vào năm 1970 (?). Đó là những con người nổi tiếng đã chống lại được sự lão hóa và sống trường thọ.

Trong những cuốn sách của Đạo Lão có đề cập đến nhiều đạo sĩ  chống được sự lão hóa, hoàn đồng và sống trường thọ hoặc biết cách Khước Từ Sự Chết và sống Trường Sanh Bất Tử với trời đất, bởi quan niệm Tử của họ không đơn thuần ở điểm thân xác bị hủy mà là quan niệm Tử là khởi đầu của Sinh, quan niệm Sinh của họ là quan niệm khởi đầu của Tử. Sinh Tử, Tử Sinh, Sinh Tử của vòng Luân Hồi đưa cái Bản Lai Nhất Linh Chân Giác của con người trôi nổi trong vạn kiếp.

Nay họ Khước Từ Sự Chết là Khước Từ Thân Xác Bị Hủy bằng cách luyện cho nhục thân bất hoại để cho cái Bản Lai Nhất Linh Chân Giác của họ khỏi bị Sinh ra lần nửa trong vòng Luân Hồi mà Sinh ra trong một cõi khác, cõi ấy Con Người Mới (Anh Nhi) của họ được sống Trường Sanh giống như Trời Đất ( Sun Earth ) nên gọi là Bất Tử.

Họ Khước Từ Sự Chết để được sinh ra lại bằng một Con Người Mới sống trong một thế giới khác bằng cách ăn trộm Âm Dương Tạo Hóa Chi Quyền hay bắt chước việc tạo dựng Trời Đất của Tạo Hóa để tạo dựng Con Người Mới ( Anh Nhi ) hay ăn trộm Khí Tiên Thiên của Tạo Hóa để sống Trường Sanh Bất Tử cùng Trời Đất.

Trong thời gian qua chúng ta thấy có nhiều nhục thân của các đại sư đã tồn tại vài trăm năm mà vẫn bất hoại trong lúc đó nền khoa học hiện đại cho rằng lực của hạt thế nào thì lực của Phản Hạt thế ấy. Phải chăng nhục thân của các đại sư bất hoại nên phần Phản Con Người ( Anh Nhi ) của các đại sư cũng bất hoại để sống trường sanh bất tử cùng trời đất.

Họ làm cách nào ? Đó là tâm điểm bài viết này trong trình độ khoa học hữu hạn của người viết nhắm mục đích đơn giản hóa lời dạy nằm trong phần Hữu của người xưa còn phần Vô tức là phần của Phản Thế Giới, Phản Con người, Phản Vật Chất, Hạt Higgs hay Nguyên Thần, Nguyên khí. Pháp Thân, Anh Nhi thì người viết cũng đành … Bó tay.

  1. Nguyên Nhân Vấn Đề Thành Rắm Rối

Nguyên nhân đưa vấn đề này vào rối rắm là do lòng thương con người bao la của các bậc vĩ nhân ngày xưa. Họ nhìn thấy chúng sanh đọa lạc trong nhiều kiếp trôi nổi trong vòng Luân Hồi làm mất thân mình trong loài khác hay gởi hồn qua loài khác và họ nói mà chẳng ai tin. Họ nhìn thấy chúng sanh sử dụng cái vốn sẳn có của mình là con người mưu cầu danh lợi mà đến lúc chết chẳng mang theo được cái gì để rồi tự làm suy vi cái Sinh Đạo hay làm mất một cơ hội được sống Trường Sanh Bất Tử cùng Trời Đất, họ nói …. cũng chẳng ai tin.

Các bậc vĩ nhân ngày xưa dạy người đại sự nhân duyên, dạy người biết chỗ khứ lai, phát triển giáo lý rậm rịt dày đặc để mong mọi người lãnh ngộ để trở thành Chân Nhân. Nào ngờ tên càng nhiều thì sự càng phiền, sách càng nhiều thì đạo càng tối. Cả thế giới ngày nay đang hỗn loạn vì chân và giả trộn lẫn vào nhau, toàn nhân loại đang loanh quanh trong cánh rừng rậm rịt đầy chữ nghĩa, chẳng ai tin ai.

Nguyên nhân đưa vấn đề này vào rối rắm là cũng do những thứ mà các bậc vĩ nhân nói đến là những thứ không thể diễn tả được bằng những ngôn từ của thế giới chúng ta. Những điều họ thấy đã mơ hồ mà những thứ cần diễn tả lại không thể diễn tả nên họ phải kèm nó trong các tỷ dụ thiếu chứng minh làm cho điều họ trình bày biến thành hoang tưởng.

Ngày nay nền văn minh của nhân loại đang tiến những bước dài nhất là lãnh vực tin học đưa con người đến bên nhau đem ra ánh sáng những vấn đề bàn luận để cùng nhau tìm cho ra sự thật.

5.- Những Thứ Mơ Hồ Đang Được Khoa Học Xác Nhận Tồn Tại

Toán học là một bộ môn khoa học chính xác nhất không ai đủ khả năng phản bác. Chính toán học đã đi tiên phong trong việc tìm ra Chiều Thứ Tư và Phản Vật Chất. Ngày nay một vùng trời bí mật mà các bậc vĩ nhân ngày xưa đã thấy được và đã đề cập đến đang lộ dần ra và được các nhà khoa học xác nhận sự tồn tại của nó. Họ đã biết được trong vùng trời bí mật đó có những loại vật chất và năng lượng khác với loại vật chất và năng lượng trong thế giới chúng ta gọi là Vật Chất Tối và Năng Lượng Tối nằm trong một khoảng không gian nhưng khác thời gian với chúng ta gọi là Chiều Thứ Tư.

Khoa thiên văn lại nhìn thấy trong vũ trụ có những Lỗ Đen ( Black Hole) to lớn hút mọi vật chất chung quanh nó và các Sao Mới ( Nova ) bùng ra những vật chất như vô hạn. Vật chất bị hút vào Lỗ Đen rồi sẽ đi về đâu, vật chất như vô hạn từ đâu bùng ra từ các Sao Mới là những thứ chưa thể giải thích được đang làm các nhà khoa học có quan niệm Lỗ Đen và Sao Mới là những cánh cửa qua về của hai thế giới.

Chiều Thứ Tư hay Chiều Thứ Năm, Chiều Thứ Sáu hay Vật Chất làm biến đổi không gian, lực hấp dẫn của vật chất làm biến đổi thời gian hay thế giới có nhiều tầng trời nhiều cửa địa ngục v.v… là những thứ đang được con người bàn cải. Họ đang làm cái việc như đám người mù sờ voi. Họ có thể sai khi diễn tả về voi nhưng điều quan trọng là con voi đang hiện diện đứng trước đám người mù, sẽ có ngày họ hết mù để nhìn con voi trong cái hình dáng thật của nó.

Điều mới nhất và quan trọng nhất là các nhà khoa học đã xác nhận được sự tồn tại của Hạt Của Chúa ( hạt Higgs), một loại Phản Vật Chất đưa đến sự hình thành khối lượng của các loại vật chất khác trong vũ trụ từ đó làm tăng tính chính xác của vài thuyết của người xưa như thuyết Tam Thân, thuyết Nhất Điểm Linh Quang, thuyết Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể, thuyết Huyền Đồng v.v… của Đạo Phật và của Đạo Lão.

Những phát hiện của nền khoa học hiện đại chưa đủ cho chúng ta biết gì về Phản Thế Giới nhưng cũng đủ cho chúng ta giải thích được những hiện tượng trong thế giới chúng ta mà trước đây ta không thể giải thích được.

6.- Các Hiện Tượng Liên Quan Đến Việc Khước Từ Sự Chết và Trường Sanh Bất Tử.

Hiện tượng nhiều tàu bè và máy bay biến mất trong các tam giác quỷ có thể giải thích là bị hút vào một lỗ đen đi qua một vùng trời khác.

Hiện tượng người của nhiều đoàn quân hay nhiều làng mạc biến mất khi đi qua một cánh đồi hay trong một đêm tối có thể giải thích là họ bị đi lạc hay bị chuyển vào một thế giới khác.

Hiện tượng người hành tinh và các vật thể bay không xác định (UFO) xuất hiện liên tục khắp hành tinh có thể giải thích có một nền văn minh cao hơn đang hiện hữu trong một thế giới khác bên cạnh chúng ta.

các phát hiện của khoa học và hiện tượng xảy ra trên thế giới đưa đến việc xác định có một thế giới khác, có thể là khác thời gian, đang tồn tại và diễn ra song song bên cạnh thế giới chúng ta.

Như thế :

Hiện tượng các vị đại sư để lại những nhục thể bất hoại có thể giải thích là các vị đại sư đó đang như con chuồn chuồn, con ve ve để lại cái vỏ hóa đá để chuyển thể sang loài khác sống Trường Sanh Bất Tử trong một thế giới khác là có thật.

Bởi con người là một tiểu vũ trụ, cái gì có trong vũ trụ đều có trong con người, cái gì xảy ra trong vũ trụ đều có xảy ra trong con người. Khoa học nói cho cùng chỉ là những thứ hiểu biết và phát minh của con người nhờ nhìn vào và hiểu được thế giới tự nhiên hay bắt chước được những thứ có sẳn trong thế giới tự nhiên.

Các bậc vĩ nhân ngày xưa đã nhìn vào thế giới tự nhiên thấy được việc tạo dựng mọi vật trong thế giới tự nhiên của Tạo Hóa, thấy trong thế giới tự nhiên có chuyện chuyển thể của những loài khác nên đã bắt chước cách tạo dựng vũ trụ của Tạo Hóa, bắt chước hiện tượng chuyển thể của những loài khác, để phát minh ra chuyện Khước Từ Sự Chết để cho thân xác mình hóa đá để chuyển thể qua một hình thái sống khác để sống Trường Sanh Bất Tử cùng Trời Đất trong một thế giới khác.

Họ là những khoa học gia ưu tú nhưng sinh lầm thế kỷ nên phải trình bày những luận án và những phát minh của mình về những thứ vô hình cho một thế giới hữu hình, trong đó chẳng có cái thứ gì diễn tả hay chứng minh đúng được luận án phát minh của họ cả.

7.- Lời Dạy Của Lão Tử.

Trước khi cởi trâu đi vào sa mạc, theo sách vở nói ngài đi vào sa mạch để ẩn cư nhưng theo tôi thì sa mạc chẳng có cái gì ăn cả để mà ẩn cư mà ngài đã đi tìm một chổ thanh tịnh để chuyển thể. Ngài bị ông quan giữ thành Doãn Hỉ chặn lại năn nỉ xin ngài viết lại những gì ngài biết để lại cho hậu thế.

Ngài đã viết cuốn Đạo Đức Kinh dày khoảng 15 trang giấy tổng cọng gần 5.000 chữ để lại cho hậu thế. Sách của ngài được dịch ra nhiều thứ tiếng được diễn giải nhiều cách khác nhau và cũng từ sách ngài mới sinh ra 96 bàng môn 3600 tà đạo. Tên ngài được đặt cho một tôn giáo lớn đang tàn phai, Đạo lão.

Sách ngài đến Việt Nam được các nhà Nho rành chữ Tàu dịch ra Hán Tự và diển giải ý nghĩa sách bằng chữ quốc ngữ. Tôi lớn lên vào cái thuở Nho học đã tàn, Hán tự chẳng ai học và dùng nửa. Tôi đọc Đạo Đức Kinh của ngài và hiểu theo ý của một người Nho không biết, Hán chẳng rộng, Tây Mỹ chẳng ra hồn. Tôi xin ghi lại vài lời dạy của ngài về phương pháp luyện tập để được Trường Sanh Bất Tử của ngài, và tôi diễn giải những lời dạy đó theo sự hiểu biết của tôi, nếu tôi diễn giải sai thì cũng chẳng chết thằng Tây nào cả.

– ( ĐĐK- C1) – Cố thường vô dục dĩ quán kì diệu, thường hữu dục dĩ quán kì khiếu.

Chữ Dục có nghĩa là dục vọng. Chữ khiếu có nghĩa là các huyệt đạo trong con người (huyền quan khiếu, minh linh khiếu, trung hữu khiếu, tam tạng khiếu ).

Câu này Lão Tử dạy : thường  khi ngồi thiền nếu người đã không còn dục vọng thì hướng tư tưởng mình ( quán không ) vào không, người còn dục vọng thì hướng tư tưởng mình vào các huyệt đạo trong con người mình.

– (ĐĐK-C5) – Đa ngôn số cùng bất như thủ trung

Chữ Thủ Trung : theo Đạo gia chỉ 1 vị trí vửa ở trong trời đất vừa ở ngoài trời đất, vừa ở trong thân ta vửa ở ngoài thân ta : Huyệt đan điền.  Thích Gia gọi là Không Trung. Nho Gia gọi là Thời Trung hay Chấp Trung. Riêng chữ Trung đã có nghĩa là huyệt đan điền nên chữ Thủ Trung cũng có thể dịch Giữ Huyệt Đan Điền.

Câu này Lão Tử dạy : Càng nói nhiều càng vô cùng không bằng giữ huyệt đan điền hay dịch rõ hơn là người tu thiền không nên dựa nhiều vào giáo lý hay lời dạy mà nên luyện khí công cho huyệt đan điền có điện.

– (ĐKK-C16) –  Trí hư cực, thủ tỉnh đốc, vạn vật tịnh tác, ngộ dĩ thị quang kỳ phục

 Nhiều bản không có chữ thị, nhiều bản không có chữ kỳ, riêng bản của Hà Thượng Công có chữ thị và có luôn chữ kỳ nên người viết tin vào bản này vì thấy nó không tối nghĩa và dịch câu nói nầy ra bằng văn xuôi như sau ” trí óc không nghĩ gì cả, giữ yên tỉnh lên tối đa, vạn vật sinh, ta có thể thấy được điểm sáng kỳ lạ (ẩn phục) sinh”.

Chữ Phục trong câu này có thể nghĩa là ẩn phục và có thể nghĩa là quẻ Phục là quẻ Dương Sinh ( 5 Âm 1 Dương), Đây có thể là cách chơi chữ của người xưa nhưng rất chính xác vì ánh sáng đó xuất hiện nhiều nhất vào thời điểm thế giới chuyển Dương ( giờ tý, mồng 3, đông chí ).

Người viết hiểu lời dạy này của Lão Tử cũng giống lời dạy của Lục Tổ Huệ Năng về Tọa Thiền và Thiền Định là hành giả phải giữ nội bất xuất ngoại bất nhập. Tuy nhiên lời dạy này có giải thích thêm là khi ta giữ tỉnh lên cực điểm thì động manh nha ( động sinh ) là lúc vạn vật sinh hay Dương sinh và điểm sáng ấy cũng sinh mà hành giả thấy được.

7.- Tôn Sư Trọng Đạo

Lão Tử tên là Lí Nhĩ tự là Đam làm quan sử, giữ kho chứa sách của nhà Chu, thấy nhà Chu suy vi nên bỏ đi. Cuốn sách Đạo Đức Kinh do ngài để lại nếu hiểu được và phân tích ra cho kỷ thì đúng là một chủ thuyết vì trong đó có Thế Giới Quan, Nhân Sinh Quan.

Vì cái Thế Giới Quan của Lão Tử có liên quan đến Phản Hạt và Phản Thế Giới là những thứ không thể diễn tả được bằng chữ nghĩa hay ngôn ngữ trong thế giới chúng ta nên Lão Tử đã xen vào trong cuốn sách phần luyện tập để cho ai đó nhờ luyện tập mà vào được Phản Thế Giới thấy được Phản Vật Chất  mới hiểu được sách ngài viết ra.

Ba lời dạy của ngài trên nếu người đọc là một người đã từng luyện khí công đả thông được kinh mạch hoặc là một người từng ngồi thiền và thấy được điểm sáng trước mắt thì hiểu được dễ dàng và hiểu lần luôn cả nghĩa của cuốn sách. Điểm sáng ấy không là cái gì huyền bí mà là Hạt Higgs, bởi lẽ cả vũ trụ được bao phủ một dạng lưới như Trường Điện Từ gọi là trường Higgs, theo cơ học lượng tử thì tất cả các trường lượng từ đều có một hạt đi kèm. Hạt đi kèm trường higgs là hạt higgs.

Ai nhờ cơ duyên và có luyện tập nên người có điện hòa nhập vào trường Higgs thấy được hạt Higgs, giữ được hạt Higgs thì giữ được giềng mối của Đạo, tức là biết được con đường đi qua Phản Thế giới. Bởi trong vũ trụ có một vùng trời mới, có nhiều hiện tượng cho thấy có sự qua lại giữ hai thế gìới thì phải có con đường đi qua đi về, Lão tử là bậc vĩ nhân đầu tiên chỉ cho chúng ta con đường đi qua Phản Thế Giới.

Ngài còn đi sâu thêm trong phần luyện tập bằng những câu : Hư tâm thực phúc, nhược chí cường cốt (ĐĐK-C3) tỏa nhuệ giải phân (ĐĐK-C56) Chuyên khí trí nhu (ĐĐK-C10)  Hòa quang đồng trần (ĐĐK-C4) Chuyên khí trí nhu (ĐĐK-C10) Tri hùng thủ thư (ĐĐK-C28) tri bạch thủ hắc (ĐĐK-C28) Bão Nhất vô ly (ĐĐK-C10) v.v……

Thuở ngài sống sách được viết trên những thẻ tre nên cần tiết kiệm chữ. Ngày nay sách được viết trên màn hình nên số chữ không hạn chế. Điều muốn trình bày của ngài trong sách lại được đặt vào vị trí không thứ tự trước sau như chơi trò trốn tìm hay đố chữ.

Sau ngài có nhiều bậc vĩ nhân khác hiểu được ngài nên viết những cuốn sách khác mạch lạc đầy đủ hơn và có những phương pháp luyện tập hữu hiệu hơn nhưng người ta luôn luôn tôn ngài là sư tổ bởi ngài là người đầu tiên chỉ cho nhân loại con đường sinh qua Phản Thế Giới ( Phản Phục ).

Có một điều kỳ lạ là trong 5000 chữ của sách chẳng có chữ nào để cập đến tôn giáo mà người đời sau vẫn gọi Lão Tử là Thái Thượng Hoàng đứng đầu một tôn giáo lớn là Lão Giáo. Phải chăng con người không muốn người khác hiểu mình là kẻ ăn cháo đá bát không biết tôn sư trọng đạo.

                          CHƯƠNG 10

    Thuật Luyện Đan Thế Kỷ XXI

            ( Trường Sanh Bất Tử – Bài 4 )

1.- Gia tài đồ sộ :

Thuật Luyện Đan hình thành từ hồi nào không rõ, văn tự diễn tả Thuật Luyện Đan xưa nhất là từ cuốn sách Đạo Đức Kinh của Lão Tử. Theo truyền thuyết trước Lão Tử có rất nhiều bậc kỳ nhân dị sĩ đã biết được Thuật Luyện Đan.

Về sau có nhiều học giả như Doãn Chân Nhân, Lưu Nhất Minh, Thiệu Khang Tiết, Ngụy Bá Dương v.v… tham gia, nhiều cuốn sách trình bày Thuật Luyện Đan rất công phu và có thứ tự. Họ nâng Thuật  Luyện Đan lên ngang hàng với những bộ môn khoa học khác gọi là Đan Học.

Nền văn minh Phương Tây xâm nhập vào xã hội Trung Hoa vào thế kỷ XVI đã đào thải những gì thiếu thực dụng, mơ hồ, huyền bí, không thể chứng minh nên Đan Học, Thuật Luyện Đan và cả Lão Giáo đi vào suy tàn.

Thuật Luyện Đan thế kỷ XXI thừa hưởng một gia tài đồ sộ trong đó có phần lý thuyết và những phương pháp luyện đan hữu hiệu của các bậc vĩ nhân ngày xưa, họ đã bỏ cả cuộc đời để tìm kiếm và thực hành mới có được.

Thuật Luyện Đan thế kỷ XXI khác với Thuật Luyện Đan ngày xưa ở chỗ người luyện đan nhờ được nền khoa học hiện đại hổ trợ nên đã biết được Hống hay Nguyên Khí không là cái gì đầy huyền bí và mơ hồ mà là hạt Higgs, một loại Phản Hạt có đặc tính kết hợp những nguyên tử đi qua trường Higgs nhập vào nó mà sinh khối lượng.

Người luyện Đan còn biết được vũ trụ được bao phủ bằng một dạng lưới giống như Trường Điện Tử gọi là trường Higgs. Người luyện Đan muốn ” Ăn Trộm” hạt Higgs kia để luyện cho nó đủ khả năng kết hợp các Phản Vật Chất thành Đan tức là thành một Phản Con Người để sống Trường Sanh Bất Tử cùng trời đất thì trước tiên phải luyện cho con người mình có điện để mong hòa nhập vào trường Higgs mới thấy được hạt Higgs mà “Ăn Trộm”.

Nhờ tin học phát triển nên người luyện Đan ở thế kỷ XXI cũng thấy được những bậc vĩ nhân luyện Đan ngày xưa đã để lại những nhục thân bất hoại để chuyển thể sang hình thái sống khác trong một thế giới khác mà nền khoa học ngày nay đã xác nhận sự hiện hữu là Phản Thế Giới trong đó có những loại Vật Chất Tối và Năng Lượng Tối khác với vật chất và năng lượng trong thế giới chúng ta.

Từ đó người luyện Đan ở thế kỷ XXI tự tin và biết được sự chuyển thể hay chuyển qua hình thái sống khác của con người là có thật là một hiện tượng trong thế giới tự nhiên cũng giống như sự chuyển thể của loài chuồn chuồn hay loài ve ve đã để lại những cái vỏ hóa đá.

2.- Hành Trang Của Người Luyện Đan :

Muốn luyện cho con người có điện người luyện Đan cần biết những thứ sau đây :

a.- Mạch Kín : Con người là một tiểu vũ trụ. Trong vũ trụ có nhà máy điện và các đường dây dẫn điện thì trong con người cũng có nhà máy điện và đường dây dẫn điện. Nhà máy điện trong con người nằm ở Huyệt Đan Điền, các đường mạch dẫn điện trong con người chạy ra các đầu ngón tay và đầu ngón chân, ở giữ thân con người có hai mạch Nhâm Đốc.

Muốn cho điện chạy khắp châu thân thì mạch phải kín nên người luyện đan hay dùng thế ngồi thiền bán già hay kiết già hoặc ngồi đứng kiểu nào đó để cho tay giao tay chân giao chân. Khi hít thở thì thường co lưỡi và nhíu hâu môn để cho hai chổ hở ở của Nhâm Đốc Mạch được liền lại. Mạch Kín thì luồng điện chạy được khắp châu thân mới mong con người có điện để hòa nhập vào trường Higgs thấy được hạt Higgs mà “Ăn trộm”.

b.- Vòng Chu Thiên : là cách dùng ý chuyển tải lực của hơi thở qua Nhâm Đốc Mạch, tức là hít nhẹ và đẩy hơi thở xuống huyện đan điền rồi đưa qua Đốc Mạch sau lưng vòng lên đỉnh đầu ra lại mũi. Thở theo vòng chu thiên là nhắm mục đích dùng lực của hơi thở để đưa dòng điện từ nhà máy điện ở huyệt đan điền qua hai mạch Nhâm Đốc để rồi lan qua các mạch khác và đi khắp châu thân. Khi người luyện đan mất cảm giác ở hai tay là lúc điện đã truyền qua được hai tay hay qua các mạch khác và chạy được khắp người, là lúc sắp hòa nhập vào trường Higgs. Nếu thấy được hạt Higgs và “Ăn Trộm” được hạt Higgs đưa vào giấu ở huyệt Đan Điền để hợp cùng một hạt Higgs khác (Nguyên Thần) có sẳn trong con người mà luyện thành Đan tức là thành Phản Con Người thì sau đó cũng phải nhờ Vòng Chu Thiên đưa chúng lên đỉnh đầu ở huyệt Nê Hoàn mà thoát ra ngoài cái vỏ con người để chuyển thể qua một hình thái sống khác ở một thế giới khác.

3.- Đi Tìm Hạt Higgs :

Khi con người đã có điện đã hòa nhập vào trường Higgs và muốn tìm thấy hạt Higgs thì người luyện Đan cần biết những thứ sau :

a.- Giờ Hoạt Tý : chỉ vài giây hay vài phút nằm trong giờ Tý, là lúc người luyện đan thấy được hạt Higgs, một ánh sáng tròn tròn yểu yểu minh minh, là lúc mặt trời nằm chính Bắc đang chuyển qua ngày mới thông với huyệt vỹ lư trong con người, là lúc vũ trụ thông với tiểu vũ trụ. Vài giây vài phút đó là lúc cả vũ trụ chuyển từ Âm sang Dương (Dương sinh ) nên Hống hay hạt Higgs cũng sinh, vũ trụ đang thông với tiểu vũ trụ nên tiểu vũ trụ cũng thấy được hạt Higgs.

Chúng ta cần tìm hiểu tại sao có Giờ Hoạt Tý để tự tạo ra Giờ Hoạt Tý khác cho sớm thành công trong việc tìm hạt Higgs.

b.- Tự Tạo Giờ Hoạt Tý : Dịch có nghĩa là chuyển, chuyển ở đây có nghĩa là chuyển từ Âm sang Dương hay từ Dương sang Âm đối với vũ trụ hay chuyển từ Tĩnh sang Động hay từ Động sang Tĩnh cũng có nghĩa là chuyển từ Âm sang Dương hay từ Dương sang Âm đối với tiểu vũ trụ :

– Vũ trụ chuyển từ Âm sang Dương : Giờ Tý ( bắt đầu ngày mới ); Mồng 3 ( Mặt trăng ló dạng chiếu sáng trái đất); Đông Chí ( Mặt trời từ Nam đi lên Bắc).

_ Vũ trụ chuyển từ Dương sang Âm : Giờ Ngọ ( chấm dứt buổi sáng); 16 Âm Lịch ( Mặt trăng hết tròn bớt sáng); Hạ chí ( mặt trời từ Bắc về Nam ).

Khi vũ trụ chuyển từ Âm Sang Dương trong Giờ Hoạt Tý thì Hống ( hạt Higgs)  xuất hiện thế thì khi tiểu vũ trụ chuyển từ Âm sang Dương tức là chuyển từ Tĩnh sang Động thì Hống (hạt Higgs ) có xuất hiện hay không ?

Xin trả lời : CÓ

Câu trả lời này chỉ có những người luyện Đan đã từng thấy hạt Higgs không ở trong giờ Tý xác nhận được mà thôi. Tuy nhiên chúng ta có thể chứng minh điều này qua nguyên lý : Con người là một tiểu vũ trụ, cái gì có trong vũ trụ thì có trong con người nên vũ trụ chuyển Dương tạo ra Giờ Hoạt Tý thì tiểu vũ trụ chuyển Dương ( từ Tĩnh sang Động) cũng tạo ra được Giờ Hoạt Tý.

Phần này không cần dài dòng để chứng minh mà cần viết ra để trình bày cho người luyện đan thế kỷ XXI biết được khi Thủ Tĩnh Đốc ( giữ Tĩnh lên đến tối đa) thường bị  buồn ngủ thì người luyện đan cần tự tạo Động ( lắc người ) vì tự tạo Động là tự tạo Dương ( Dương Sinh ) thì hạt Higgs cũng có thể xuất hiện.

Nếu tự tạo Động mà không thấy được hạt Higgs thì nên luyện Đan trong giờ Tý vì bản thân chưa có đủ điện, chưa hòa nhập được vào trường Higgs. Nếu luyện Đan trong giờ Tý mà không gặp được Giờ Hoạt Tý là do ngoại cảnh hay do nội tâm và nội lực mà ra.

4.-Thời Gian, Không Gian và Cách Luyện Đan

Người xưa thường dạy Dần Thân Tý Ngọ là những giờ tốt nhất để luyện Đan. Mùa Xuân quẻ Tốn hướng Đông Nam, mùa Hạ quẻ Khôn hướng Tây Nam, mùa Thu quẻ Kiền hướng Tây Bắc, mùa Đông quẻ Cấn hướng Đông Bắc là những hướng phát ra chính khí theo bốn mùa mà người luyện Đan cần biết để nạp vào Thai Trung, là Chân Chủng , tích tụ khí đó lâu ngày Tâm sẽ định.

Thuật Luyện Đan thế kỷ XXI thừa hưởng những lời dạy bảo và thừa hưởng luôn những cách luyện Đan hữu hiệu của người xưa. Người luyện Đan luôn xem trọng những lời dạy bảo trên nhưng không đặt nặng để làm vấn đề thành rắm rối.

Người luyện Đan còn là một thành viên trong xã hội nên có nhiều món nợ cần phải trả nên Thuật luyện Đan thế kỷ XXI không quá chú ý đến thời gian và không gian mà chỉ chú trọng làm sao cho con người có điện.

Người luyện Đan có thể áp dụng Thuật Luyện Đan vào những lúc rãnh rổi khi ĐI ĐỨNG NẰM NGỒI trước là để giết thời gian sau là để tăng cường sức khoẻ mà sống trường thọ còn việc luyện thành Đan thì còn tùy cơ thể, cơ duyên và ĐỨC của người luyện.

Khi ĐI thì có phép luyện Thiền Hành; Khi Đứng thì có phép luyện Dịch Cân Kinh và Pháp Luân Công; Khi NẰM thì có phép luyện Công Phu Chu Thiên Thái Cực Huyền Môn; khi NGỒI thì có phép luyện Hành Công Bát Quái của đạo sĩ Lý Thanh Vân.

Những phép luyện này là những phép luyện nổi tiếng có hiệu quả hiện nay để đưa điện vào huyệt đan điền mà bạn có thể đọc lại ở các bài trước hay tìm thấy trên Youtube hay trong cuốn sách Khí Công Toàn Thư để thực hành riêng phép luyện NGỒi của đạo sĩ Lý Thanh Vân thì tôi chép lại nguyên văn ở phần ghi chú bài này để tặng các bạn muốn thực hành.

Xin bạn đừng hối hả, xin bạn đừng nôn nao, xin bạn đừng kinh sợ và nhất là xin bạn đừng dựa vào kinh sách hay lời nói của bất cứ ai. Một mình bạn ngồi yên thỏa mái thở nhè nhẹ thật sâu theo vòng chu thiên, tay bạn mất cảm giác là lúc luồng điện đã chạy khắp châu thân, là lúc bạn đang hòa nhập vào trường Higgs để trổ tài ” ăn trộm”

Trong cơ may bạn gặp Giờ Hoạt Tý mà thấy được Đạo hay Hống hay hạt Higgs thì xin bạn hít nhẹ đưa nó vào thật sâu giấu kín trong huyệt Đan Điền, bạn sẽ thấy cái điểm sáng yểu yểu minh minh ấy bị bạn kéo dài thành một luồng sáng đi vào mủi bạn như trong những phim ảnh của Hollywood diễn tả ma quỉ hút linh hồn con người.

Bạn không phải là ma quỉ vì bạn không hút linh hồn kẻ khác mà bạn đang hút khí tiên thiên. Bạn đang “ăn trộm” khí tiên thiên của tạo hóa hay bạn đang “ăn trộm ” Âm Dương Tạo Hóa Chi Quyền hay bạn đang bắt chước việc tạo ra trời đất của tạo hóa để tạo cho bạn thành một Con Người Mới để sống trường sanh bất tử cùng trời đất.

Đà la Tôn Giả nói ” Đức Thế Tôn dạy ta phải nhìn thấy đầu mủi trắng, ta bắt đầu nhìn, qua 21 ngày, thấy khí trong mủi, vào ra như khói. Trong lòng trong sáng, hết sức hư tỉnh, y như lưu ly, khói dần dần tiêu, hơi thở thành trắng, tâm được mở ra, hết còn phiền não, hơi thở vào ra, trở nên sáng láng, chiếu sáng mười phương, thành A La Hán”.

Trong cơ may nào đó bạn gặp Giở Hoạt Tý và thấy được Hống hay luồng sáng như Đà La Tôn Giả là bạn đã bắt đầu biết từ chối sự chết, từ chối cơ thể mình hủy diệt để tìm cách cho nó hóa đá để chuyển thể sang một hình thái sống khác vĩnh cữu cùng trời đất hay bạn đang gõ đúng cánh cửa dẫn bạn vào con đường lên cảnh thiên thai, Con đường nhân loại mơ tưởng ngàn năm trước, nay đang được nền khoa học hiện đại xác nhận và đang trở thành hiện thực.

5.- Giải Thích Theo khoa Học

Theo thuyết của Peter Higgs thì các nguyên tử đi qua trường Higgs nhập vào hạt Higgs mà sanh ra khối lượng.

Theo thuyết Nhất Điểm Linh Quang của Lão Giáo thì con người được tạo ra do cái nhất điểm linh quang của tạo hóa gieo vào bào thai khi cha mẹ giao hợp. Cái nhất điểm linh quang ấy được gọi là Diên là Nguyên Thần,

Theo Thuật Luyện Đan thì cái diểm sáng mà bạn thấy được trong Giờ Hoạt Tý gọi là Hống hay Nguyên Khí mà bạn cần phải đem giấu vào huyệt đan điền để luyện thành Anh Nhi hay Phản Con Người.

Nói chung Nguyên Thần tạo ra con người, Nguyên Khí tạo ra Anh Nhi hay Phản Con Người. thì Nguyên Thần và Nguyên Khí đều có chung nhiệm vụ giống hạt Higgs, tạo ra khối lượng

Vật chất từ cái thuở vũ trụ bùng nổ là một đống hổn mang trong dạng Phasma cực nóng, trong đó các vật chất đều bị ion hóa mạnh, các phân tử và nguyên tử chỉ còn lại hạt nhân, các electron chuyển động tự do giữa các hạt. Chính hạt Higgs đã kết nối chúng tụ lại và tạo thành muôn vật trong vũ trụ như thiên hà, mặt trời, trái đất và cả con người. Đây là phần HỮU là phần mà nền khoa học hiện đại và các hiện tượng thấy được trong thế giới đang nhúng tay vào xác nhận tính chính xác.

Nhưng còn phần VÔ là phần là phần từ Hống từ Đạo từ hạt Higgs kết hợp với Diên ( một hạt ngọc trong con người ) thành một Thánh Thai để từ đó tạo ra Phản Con Người sống trường sanh bất tử cùng trời đất thì nền khoa học hiện đại chưa có được gì để xác nhận mà chỉ được biết qua các hiện tượng thấy được ngày nay và lý thuyết của các bậc vĩ nhân ngày xưa và họ đã diễn tả phương pháp luyện để đi vào phần VÔ theo thứ tự như sau :

5.- Thứ Tự Công Phu :

Các bậc vĩ nhân ngày xưa vốn có lòng thương con người bao la nên đã đem hết bí quyết luyện Đan phô bày cho nhân loại chẳng chút giấu diếm để cho ai hữu duyên đi vào được thiên giới không sa vào khổ hải nên đã chia Thuật Luyện Đan thành 9 giai đoạn :

– Giai đoạn 1 : Hàm dưỡng bản nguyên, cứu hộ bản mệnh.

– Giai đoạn 2 : An thần Tổ Khiếu. Hấp thụ Tiên Thiên

– Giai đoạn 3 : Chấp tràng khí huyệt, chúng diệu qui căn

– Giai đoạn 4 : Thiên nhân hợp phát. Thái dược qui hồ

– Giai đoạn 5 : Kiền khôn giáo cấu. Khử khoáng lưu kim

– Giai đoạn 6 : Linh đơn nhập đỉnh, Trường dưởng thánh thai

– Giai đoạn 7 : Anh nhi hiện hình. Xuất ly khổ hải

– Giai đoạn 8 : Di thần nội viện. Đoan cũng minh tâm

– Giai đoạn 9 : Bản thể hư không. Siêu xuất tam giới

Thuật Luyện Đan thế kỷ XXI thừa hưởng phần lý thuyết và những phép luyện Đan của các bậc vĩ nhân ngày xưa và lấy đó làm căn bản trên bước đường tu luyện nhưng cần đơn giản hóa phần lý thuyết và không đặt nặng những phần không thể giải thích được.

Mục tiêu đầu tiên của người luyện Đan ở thế kỷ XXI là luyện cho huyệt Đan Điền có điện hay luyện cho con người có điện. Muốn có điện ở Đan Điền thì phải đưa lực của hơi thở vào huyệt đan điền. Hơi thở là Khí. Khí đi đâu thì Thần theo đấy. Khí vào huyệt đan điền thì Thần cũng vào tổ khiếu ( cũng ở trong huyệt đan điền ) Vô hình dung người luyện Đan thế kỷ XXI vì muốn cho huyệt đan điền có điện mà đã đưa Khí vào huyệt đan điền gọi là Hàm Dưỡng Bản Nguyên, đưa thần vào tổ khiếu hay là An Thần Tổ Khiếu, tức là đã thực hiện được giai đoạn 1 và 2 của các bậc vĩ nhân ngày xưa dạy.

Đạt Ma Sư Tổ dạy ” Thai do tụ Khí mà kết. Khí là do hơi thở của thai. Khí nhập vào thân là sinh, thần ly hình là tử. Biết nhờ Thần Khí nên mới trường sinh thì phải lấy hư vô mà dưỡng Thần Khí. Thần hành thì Khí hành, Thần trụ thì khí trụ, Muốn được trường sinh. Thần Khí phải quán trú. Tâm bất động niệm, vô khứ, vô lai, bất xuất, bất nhập, tự nhiên thường trụ, cứ siêng năng thực hành, thì đó là Chân Đạo Lộ”.

Khi bạn “ăn trộm” khí tiên thiên để đưa nó vào giấu ở huyệt đan điền, Khí đi đâu thì Thần theo đấy, Khí vào huyệt đan điền thì Thần cũng vào huyệt đan điền. Trong Khí có Hống là Phản Vật Chất đến từ phản Thế Giới, Như thế là bạn đang thực hiện lời dạy của Đạt Ma Sư Tổ ” Lấy hư vô mà dưỡng Thần Khí”, và bạn cũng đang đem Khí Tiên Thiên giấu thật sâu ở tổ khiếu hay đang thực hiện Chấp Tràng Khí Huyệt, tức là bạn đang thực hiện giai đoạn 3 của các bậc vĩ nhân ngày xưa dạy.

Các bậc vĩ nhân ngày xưa gọi cái điểm sáng ấy là Hống là Nguyên Khí là Khí Tiên Thiên là Đại Dược ( thái dược) để luyện thành Đan nên hành động “ăn trộm” Khí Tiên Thiên còn được gọi là hái thuốc được diễn tả trong giai đoạn 4.

Chỉ nhắm vào mục đích làm cho người có điện mà bạn đã thực hiện được 4 giai đoạn của các bậc vĩ nhân ngày xưa dạy. Bạn thành công hay không là do sự siêng năng thực hành của chính bạn.

Từ giai đoạn 5 đến giai đoạn 9 là những giai đoạn đem Nguyên Khí vào giao hợp cùng Nguyên Thần để tạo một thánh thai, cách luyện thánh thai thành hình, cách hàm dưỡng nuôi nấng thánh thai để biến nó thành Anh Nhi hay Phản Con Người thoát ly khổ hải để sống trường sanh bất tử cùng trời đất. Giai đoạn này là giai đoạn thuộc phần VÔ, là một phân đoạn mà nền khoa học hiện đại chưa có được tiến bộ nào để xác nhận và tùy thuộc rất nhiều vào cơ thể, cơ duyên và tiến trình tu luyện cũng như sự hiểu biết của người luyện Đan.

Chúng ta có thể chia giai đoạn này thành 3 hoàn cảnh :

Hoàn Cảnh 1 : Ngưởi luyện Đan không đủ khả năng đi vào được phần VÔ.

Có hàng trăm lý do làm cho người luyện Đan không đủ khả năng đi vào được phần  VÔ trong đó có 2 lý do chính là cơ thể yếu và Tâm chưa định.

Hoàn Cảnh 2 : Người luyện Đan đủ khả năng đi vào được phần VÔ nhưng không biết cách tiến hành những giai đoạn kế tiếp.

Xin đọc lại 3 bài trước và toàn bộ sách này cũng như vào trang mạng của bác sĩ Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ để đọc thêm những cuốn sách về Đan Kinh do bác sĩ Nguyễn Văn Thọ dịch để có một khái niệm và cách ứng phó.

Hoàn Cảnh 3 :  Người luyện Đan đủ khả năng đi vào được phần VÔ nhưng không đủ trình độ đọc những cuốn sách của Đan Kinh.

Đừng lo, cứ tiến bước trong con đường tu luyện vì đã có cái thai thì cái thai phải sinh, đã sinh ra thì Phản Con Người phải lớn lên, trong tiếng Anh có một câu nói mà chúng ta cần tin tưởng “Life finds the ways “. Tiến trình lập thai, dưỡng thai và lớn lên của Phản Con Người có thể cũng giống như con người ở trong thế giới chúng ta, nó tự tìm đường để đi mà tồn tại.

Bạn sẽ có một vị thầy đến dẫn dắt bạn trên con đường tu luyện vị thầy đó là cái thai mà bạn đang cưu mang. Bạn sẽ thông hiểu nhiều điều mà trước đây bạn không có được vì bên bạn có một Phản Con Người của bạn.

6.- Những vấn đề trong khi luyện Đan :

Vấn Đề 1 : Trở ngại to lớn nhất mà không ai ngờ tới là cái Bồ Đoàn kê dưới đít bạn phải có độ cao thế nào đó cho hai chân giao nhau mà không đè nặng lên nhau.

Vấn Đề 2 : Có phải ăn chay khi luyện Đan hay không ? Trong những cuốn sách về Đan Kinh mà tôi đọc không đề cập đến ăn chay hay ăn mặn nhưng có đề cập thánh thai rất kỵ những thứ hôi hám, ô uế, nhớp nhúa.

Vấn Đề 3 : Mục tiêu chính là tạo cho con người có điện nên phải sử dụng lực của hơi thở, Hơi thở là Khí tức là Hỏa, Hỏa vào trong người nhiều nên người luyện Đan thường bị Tâm Hỏa mà sanh phiền táo, không thể ngừng suy nghỉ ( chỉ niệm) . Nơi giấu Tâm Hỏa nằm ở sau lưng người luyện Đan ( Quẻ Cấn  – Cấn kỳ Bối ) nghĩa bóng – Tạm gác mọi việc đời sau lưng.  (Phép Mộc Dục).

7.- Lời Bàn Của Người Viết :

Các bậc vĩ nhân ngày xưa có quan niệm : Con người là một tiểu vũ trụ. Vũ trụ sinh Thiên Địa Nhật Nguyệt cho nên Thiên Địa là Chân Thai, Nhật Nguyệt là Chân Tức( hô hấp). Con người có thể cùng Thái Hư (vũ trụ ) đồng thể, thì Thiên Địa là Thai ta, Nhật Nguyệt là Hơi Thở ta. Vũ trụ bao la thì ta cũng bao la. Như vậy con người có thể siêu xuất Thiên Địa Nhật Nguyệt mà hòa hợp với Thái Hư trở thành con người có Hỗn Độn Nhất Khí vậy.

Thuật luyện Đan nói cho cùng là phép Hô Hấp thật sâu của các bậc vĩ nhân hay của những người luyện khí công ngày xưa để đoạt Thiên Địa Chính Khí. Khi Hô thì Nguyên Khí trong người đi ra hai lỗ mủi. Khi Hấp thì Chính Khí Thiên Địa từ ngoài đi vào cơ thể qua hau lỗ mủi. Nếu có căn nguyên kiên cố và hô hấp thật sâu con người có thể đoạt Thiên Địa Chính Khí mà trường thọ.

Thoạt đầu các bậc vĩ nhân dùng phép hô hấp thật sâu để đoạt Thiên Địa Chính Khí mà sống trường thọ. nào ngờ khi Hô Hấp thật sâu thì Khí đi vào tổ khiếu, một cái nhân trong huyệt đan diền, Khí đi đâu thì Thần theo đấy như thế vô hình dung họ đã An Thần Tổ Khí. Nhờ An Thần được trong Tổ Khí mà Tâm Định ngưng được mọi suy nghĩ ( chỉ niệm).

Trong mục đích cố đoạt Thiên Địa Chính Khí để trường thọ, người xưa nào ngờ trong Thiên Địa Chính Khí có Nguyên Khí hay Hống hay hạt Higgs đi theo. Hống này hòa hợp với Diên kết thành một cái thai sanh ra Phản Con Người. Từ đó người xưa mới biết được ngoài thế giới chúng ta đang sống còn có một thế giới khác gọl là Phản Thế Giới nơi Phản Con Người cư ngụ nên Thuật Luyện Đan ra đời.

Trong một thí nghiệm chưa hoàn tất mới nhất các khoa học gia của CERN còn phát hiện trong hạt boson Higgs có lực hấp dẫn và bên hạt boson Higgs còn có một hạt boson  Higgs khác nhỏ hơn.

Bốn bài viết này là những gì tôi hiểu biết về Đan Học trong một tinh thần khoa học. Nếu tôi trình bày luộm thuộm làm các bạn trẻ khó hiểu thì nên đọc thêm những cuốn sách khác về Đan Kinh. Đừng để đến khi tuổi già đến lực không còn lại hối tiếc vì đã không biết sử dụng cuộc đời mình để bước vào cảnh giới của Thần Tiên mà đã sử dụng cuộc đời mình để ganh đua nhau trong môi trường ảo ảnh và giành giựt những thứ không mang theo được khi rời cuôc đời.

________________________________________________

Phép Hành Công Bát Quái

Phép luyện công này trong cuốn sách ” Mật quyết trường thọ không già ” của đạo sĩ Lý Thanh Vân ( 1766- 1933 ) sống 256 tuổi có 24 bà vợ.  sáng tác.

1.- Ngồi Nhắm Mắt Nghĩ Thầm : Nhắm mắt để dưỡng Thần, lòng thầm thu dẹp mọi ý nghĩ lan man. Phép ngồi xếp bằng. chỗ ngồi có đệm dày, cột sống lưng thẳng, không tựa,  huyệt Vĩ Lư phải ngay ngắn, qui ý nghĩ về ” Không”. lòng thơi thới, rọi chiếu ánh sáng láng.

2.- Giữ Chặt Tĩnh, Tư, Thần : Nắm chặt 2 tay quyền ( hai nắm đấm ) để thu góp Khí, giữ chặt Tinh, đóng chặt cửa quan, trừ bỏ tà là phép hay nhất. Khi hành công thì 2 nắm đấm phải nắm thật chặt, lòng bàn tay ngữa lên trời, đặt lên hai đầu gối sao cho toàn thân thẳng ngay, bằng bặn. để giữ tĩnh trong lòng xua hết mọi ý nghĩ lan man. cốt là giử Thần.

3.– Gõ Răng 36 Lượt : Gõ răng chầm chậm nhè nhẹ chi hơi thành tiếng có thể xua được Tâm Hỏa, tập hợp thần lại trong mình. Gõ răng mạnh, nhanh và thật kêu là khua động tâm hỏa tổn hai thân ( bạn đọc nên đặc biệt lưu ý điểm này )

4.- Hai Bàn Tay Ôm Côn Luân :    Côn Luân là phần đầu. là nơi tập trung thần trong cơ thể để cho ngưng tụ Khí. Chiêu này cho 2 tay đan vào nhau thật chặt chẽ ôm ra sau hậu nảo ( phần sau đầu so trên gáy ) lòng bàn tay ấp chặt lấy góc tai hai ngón tay cái quặp xuống, hai khủy tay gặp lại thành hình tam giác đặt cao ngang vai. Giữ chắt như thế hít thở 69 lượt thì ngưng. Khi hít thở phải cực chậm cực nhẹ không được nghe tiếng vì thở thành tiếng là Khí làm tan Thần.

5.- Trái Phải Gõ Trống Trời : Phép luyện cốt để thông tai làm ” ngoại ma” không thể lọt vào quấy nhiểu, cách luyện là hai bàn tay áp thẳng vào cửa 2 tai bằng bặn, ngón tay trỏ và ngón giữa chồng lên nhau dùng sức bật xuống sao cho trên tai phát ra tiếng kêu ùng ùng. hai bên cùng bật 24 lần.

6.- Tai Nghe 24 độ : Úp lòng bàn tay vào lỗ tai, ngón tay châu đầu vào nhau, dùng sức bật đè ưúng lòng bàn tay vào lỗ tai rồi nhấc lên nhè nhẹ sau cho có hơi lùa vào lỗ tai là đúng, làm 24 lần là số của Vô Cực để giữ cửa mênh và xua trừ hư Hỏa thông Nê hoàn khiếu.

7.- Khẻ Lay Cột Chống Trời : Cột trời là xương sống cổ móc tiếp vào cột sống, khẻ lác lư khẻ đưa vai lắc lư cột chống trời tức là lắc đẩy sau xương sống cổ. làm 24 lần. cốt để tan Hỏa.

8.- Rồng Đỏ Đảo Bến Nước : Rồng đỏ chỉ đầu lưỡi, lưỡi là công cụ sinh ra nước dãi,. Cách luyện là đưa đầu lưỡi chầm chậm đảo đi đảo lại trong miệng sẽ tạo ra nước bọt đầy miệng.

9.- Xúc Miệng 36 Lần : Phép luyện này đưa tân dịch ra đầu lưỡi rồi thu lại vào tận gốc lưỡi rồi lại đẩy ra, cứ thế một thu một đầy là một lần, cho đến khi làm đủ 36 lần.

10.- Một Miệng Thành 3 ngụm : Nước dãi đầy trong miệng, chia làm 3 ngụm nuốt xuống thật kêu thật mạnh.

11,- Nín Khí Xát Bàn Tay : Nín khí làm Khí trong thân tụ lại ở bàn tay. Xát bàn tay thật nóng.-

12.- Xoa Tinh Môn Sau Lưng : Tinh môn còn gọi là Thận Đường ở vị trí lõm hai bên hông sau lưng. Áp bàn tay cực nóng vào tinh môn xoa từ ngoài vào trong làm đủ 24 lần.

13.- Một Hơi Thở Tân Cùng : Lấy hết sức dồn khí toàn thân xuống đan điền

14.- Tưởng Tượng Có Lửa Cháy Quanh Rốn : Tưởng tượng có ngọn lửa chân Dương tụ lại tại đan diền. Khi thấy đan điền nóng như có lửa hơ thì thu khí ngồi yên dẹp lửa, tĩnh tâm ngồi Thiền ( chờ Giờ Hoạt Tý mà ‘ăn trộm”).

(Sau khi thiền nhớ xả thiền để các cơ bắp được trở lại bình thường).

                                                     Atlanta 22/4/2016

                                           Nhất Hướng Nguyễn Kim Anh 

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

1 Trackback / Pingback

  1. Nhất Hướng Nguyễn Kim Anh – Đường Lên Thiên Giới – Quán Văn

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: