Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Hồi ký Tết Mậu Thân ở Huế: Bài 3 “Phản công”

            Tôi không rõ lực lượng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh bắt đầu phản công từ lúc nào.

            Thật ra, ngày đầu tiên, khi gia đình chúng tôi chạy tới đường Hàng Me thì lính Mỹ đã từ Phú Bài kéo về tăng cường phòng thủ Huế, căn bản là giữ khu vực Khách Sạn Thuận Hóa.

            Bên phía Hữu Ngạn sông Hương nầy, Mỹ chỉ giữ được khu vực Khách Sạn Thuận Hóa. Phía Việt Nam Cộng Hòa thì cũng chỉ giữ được Tiểu Khu Thừa Thiên – Huế, (tức “Bản Doanh Phan Sào Nam” cũ), Ty Cảnh Sát QG Thừa Thiên/ Huế và Đài Phát Thanh Huế.

Ngay doanh trại CSDC trước mặt nhà tôi, chỗ có cái lô-cốt, bị Việt Cộng tấn công dữ dội, mấy ngày sau, khi gia đình tôi chạy khỏi nơi nầy rồi, lính CSDC ở đây cũng rút về ty, bỏ trống doanh trại nầy. Ngoài ra, toàn bộ “Quận Hữu Ngạn” đều bị Việt Cộng chiếm hết.

            Trong Thành Nội, nghe nói còn giữ được thành Mang Cá, gồm Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 và Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương.

            Ngay hôm đầu, vài tên du kích Việt Cộng vào được trường Đại Học Khoa Học (Khách Sạn Morin cũ). Chúng xuất hiện tại mấy cái cửa sổ trên lầu khu đại học nầy, phía đường Duy Tân, bắn xuống Tiểu Khu.

Quân phòng thủ Tiểu Khu bắn trả dữ dội, bằng nhiều loại súng, đại liên 30 đặt trên bờ thành cao, sát trường Kiểu Mẫu, và cả M-79, nên bọn chúng hốt hoảng rút lui, không dám xuất hiện bắn lén nữa.

            Có lẽ lực lượng vào được Morin quá ít, nên chúng không tấn công, bắn phá gì nhiều. Ngay cả đài phát thanh, ngang với khách sạn Morin, bên kia đường Lê Lợi, cũng không bị Việt Cộng khuấy rối.

Phần đông, Việt Cộng chiếm Kho Bạc (Ty Ngân Khố), như người ta nói, có lẽ là để lấy tiền, và Bưu Điện, lẻ tẻ một ít tên ở Ty Y-Tế. Người nói lại rằng Việt Cộng tưởng Ty Y Tế có nhiều thuốc men nên tính vào đó lấy thuốc. Chúng không biết rằng ở đó chỉ là bộ phần hành chánh, chỉ toàn giấy tờ mà thôi.

Anh Đoàn Công Lập Trưởng Ty Cảnh Sát, hôm tôi chạy lên trường Kiểu Mẫu, gặp tôi, anh cũng cho biết hai hôm đầu, anh ở tại Đài Phát Thanh Huế. Sau đó, tình hình khá hơn, anh về lại trụ sở ty cùng với các anh em khác hiện đang phòng thủ ở đó.

Thấy tình cảnh gia đình tôi đang chạy giặc, anh sai lính mang đến cho một bao gạo năm chục ký. Nhờ vậy nên trong những ngày đầu chạy giặc, tôi khỏi lo gạo ăn.

            Khi đồng bào được lệnh tập trung về trường Kiểu Mẫu, vài xe tăng Mỹ, loại M-24/ Chaffee, trí súng canon Beauford 75 ly có sức tàn phá dữ dội, từng nổi tiếng trong Thế Giới Chiến Tranh thứ Hai, xuất hiện ở ngã tư Duy Tân – Lê Lợi, ngay đầu cầu Trường Tiền.

            Hôm sau, trên đường Lê Lợi, hai chiếc xe tăng (tank M-24), một chiếc phía trái, một chiếc phía phải yểm trợ nhau, có “bộ binh tùng thiết”, dọc theo đường Lê Lợi mà tiến dần lên phía ga xe lửa.

Để ý, một hai ngày đầu, không hiểu vì thiếu lực lượng hay vì lý do gì, tôi thấy buổi sáng thì xe tăng và bộ binh Mỹ từ từ tiến lên, cứ nhắm vào cửa sổ những ngôi nhà lầu hai bên đường Lê Lợi như Nha Công Chánh, Ty Y Tế, bắn phá ầm ầm. Bộ binh núp sau xe tăng tiến theo.

Cứ đại bác bắn phá dữ dội như vậy, Việt Cộng nào chịu nỗi mà không rút lui.

Tuy nhiên, cũng những ngày đầu, tôi có cảm tưởng lính Mỹ đi đánh giặc mà giống như công chức đi làm việc: Sáng tiến lên, chiều rút về, tập trung phòng thủ ở vườn hoa bên bờ sông, ngang tòa Khâm Sứ cũ. Cứ mỗi sáng tiến lên lại bắn phá vào những ngôi nhà cao hai bên đường, nhà cửa nào mà còn, lại hao hụt lính tráng chết hoặc bị thương. Chỉ mấy ngày sau, mới thấy họ tiến đi luôn, buổi tối không rút về nữa.

            Tôi chỉ quan sát được bên phía gần bờ sông, còn phía trong, phía Trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Bán Công Huế, (nơi tôi dạy học), Kho Bạc, nhà Giây Thép thì không rõ tình hình như thế nào.

            Có điều đáng buồn là khi quân Mỹ tấn công theo đường Hoàng Hoa Thám, ngang trường Tiểu Học Lê Lợi thì họ bắn sập hoàn toàn Lớp Mẫu Giáo mới xây của ngôi trường nầy.

Đây là lớp học năm đầu tiên của con gái đầu lòng của tôi. Vì vậy, sau khi yên giặc, đưa con đi học lại, không bao giờ tôi đi ngang qua chỗ lớp Mẫu Giáo đó. Tôi sợ khung cảnh ấy sẽ gây nên một ấn tượng buồn bã trong tâm hồn trẻ thơ của con tôi. Có ai vui gì khi thấy lớp học đầu tiên trong đời mình đã bị chiến tranh tàn phá đổ nát, tan hoang như vậy.

Nhìn chung, dù con tôi hay những đứa trẻ khác, chiến tranh là nỗi kinh hoàng của trẻ thơ Việt Nam, ở ngoài Bắc hay trong Nam cũng vậy thôi.

Có điều khác, tôi chỉ muốn tránh cho con tôi thấy khung cảnh chiến tranh tàn phá ấy chớ không dạy cho con lòng hận thù những người phe bên kia!

Những người cầm súng chiến đấu, xông pha tên đạn, chết chóc hay bị thương, ai cũng đáng thương cả. Đáng trách, chính là ở những người hậu phương yên bình nhưng chính là người gây ra chiến tranh, là người xô đẩy người khác đem thân vào cảnh chết chóc ấy, thay cho bản thân họ hay con cháu họ, nhưng lại ngụy danh bằng những mỹ từ.

&

            Quân Mỹ giải tỏa tới đâu, đồng bào ở đó bồng bế nhau chạy về tập trung ở Trường Kiểu Mẫu. Ban đầu là dân chúng ở khu vực Nha Công Chánh, khu Bến Trảng Hề, khu nhà lao động phía sau Kho Bạc, – tức khu lao động có tiệm bún bò Chị Lợi nổi tiếng ngon -, rồi dần tới khu Bệnh Viện Trung Ương Huế.

            Bệnh viện dời về, chiếm tầng dưới của một tòa nhà trường Kiểu Mẫu, bệnh nhân cũng được đưa về đó. Tất cả nhân viên, bác sĩ, y tá cũng về đây.

Ngày mồng 9 Tết, khu vực Bến Ngự được giải tỏa, đồng bào lũ lượt kéo về tập trung ở trường Kiểu Mẫu.

            Thật ra, mấy ngày hôm trước, đồng bào có nghe được lời kêu gọi của Tướng Lãm phát trên máy bay, nhưng không ai thoát ra khỏi khu vực được vì Việt Cộng cấm không cho ai đi đâu cả.

Trong số đồng bào chạy về lánh nạn ở đây, người ta nói có em gái Hoàng Phủ Ngọc Tường, cô nầy đang làm giáo viên Trường Tiểu Học Bến Ngự. Các em gái của Trịnh Công Sơn và gia đình y cũng chạy về đây!

Dân chúng không thích những người nầy vì anh em Tường, Phan thì theo Việt Cộng, Sơn thì viết nhạc phản chiến, (lúc ấy, mấy ngày đầu, người ta chưa rõ lắm chuyện người Huế bị giết oan hay những hành động tàn ác của Việt Cộng cũng như đám Tường, Phan khi Việt Cộng chiếm thành phố Huế gần một tháng dài).

Vì không thích, vì không ưa, không muốn thấy mặt họ nên mới có chuyện bàn tán trong dân chúng về sự có mặt của các gia đình nầy trong khu vực những người chạy nạn Cộng Sản. Theo Cộng Sản để rồi chạy nạn Cộng Sản. Điều người ta muốn nói là ở chỗ đó. “Cõng rắn cắn gà nhà”, mà em út mình bị rắn cắn trước!

            Trong số đồng bào từ Bến Ngự chạy về, tôi gặp một vài người bạn rất thân.

Gặp được nhau, lại mừng rỡ và kể “chuyện chạy giặc”.

Anh bạn đồng nghiệp Nguyễn Trọng Từ kể: Ông Quận Trưởng Cảnh Sát Võ Phú đoán biết thế nào Việt Cọng cũng vào bắt ông, nên ông Võ Phú leo tường qua trốn bên nhà bếp của Từ. Khi Việt Cộng đến xét nhà, nhà Từ không bị xét vì tên học sinh làm giao liên cho Việt Cộng nói rằng “hai nhà nầy là hai ông giáo sư”. Tên cán bộ – nói giọng Bắc – không biết giáo sư là gì, phải hỏi lại. Tên giao liên phải nói rõ “giáo sư là thầy giáo”. Bọn chúng bỏ đi. Nhờ vậy mà ông Võ Phú thoát. Mạng ông còn to, dù sau 1975, ông qua đời trong tại cải tạo, cũng còn có được một chỗ đất chôn, chứ không bị chôn sống, không biết chôn nơi nào như những người bị bắt hồi Tết Mậu Thân. (Con trai đầu của ông Cụ Võ Phú là dược sĩ Võ Thành Tân, nguyên là học sinh của tôi niên khóa 1958-59, hiện làm chủ nhà Thuốc Tây Saigon ở Toronto).

            “Hai ông giáo sư”, một là Nguyễn Trọng Từ, một là anh Hoàng Văn X., (xin được giấu tên). Anh X. lớn tuổi hơn tôi và Từ, học trước một lớp, cùng dạy học một trường, là người tôi và Từ rất yêu kính.

            Trong cuộc bầu cử Tổng Thống và Thượng Nghị Viên năm 1967, anh cùng với Ông Nguyễn Hữu Trí, Giáo Sư Đại Học Huế và Cụ Hồ Ứng Dần, nguyên Phó Tỉnh Trưởng Thừa Thiên, thời kỳ Ngô Đình Diệm, làm “Đại diện cho Liên Danh 9” là Liên Danh ứng cử tổng thống và phó tổng thống của Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ. Nhờ anh làm việc trong “Ban Tham Mưu”, không xuất hiện trước quần chúng, nên bọn Việt Cộng nằm vùng không biết việc làm của anh. Nếu biết, chắc anh ấy nay không còn.

            Khi anh X. cùng vợ con chạy về trường Kiểu Mẫu, gặp tôi anh mừng lắm. Mấy ngày sau, tôi nói với anh rằng tôi hết tiền, mượn anh một ít tiêu đỡ. Anh bảo: “Moa còn 9 trăm, “moa” đưa cậu 5 trăm. Khi nào trả cũng được.”

            Sau đó, tôi nhập ngũ, không trả món nợ cho anh. Sự việc không phải là mấy trăm bạc. Trong hoàn cảnh đang chạy giặc, dĩ nhiên tiền bạc khó khăn, mà chia nhau như vậy thì cái tình cảm ấy quí hiếm lắm. Sau nầy, bạn bè biết chuyện, ai ai cũng khen anh ấy có lòng với bạn bè. Quả thật, sau nầy “làm lớn” trong Phủ Tổng Thống, có quyền, anh giúp đỡ bạn bè hết lòng. Chuyện đó là “hậu Mậu Thân” nên không kể vô đây làm chi.

            Điều đáng buồn là chúng tôi, bạn bè đồng nghiệp, dạy cùng một trường trên dưới 10 năm, gian nan cùng gánh, vui buồn cùng chia. Sau biến cố Tết Mậu Thân, chúng tôi lần lượt bỏ trường, mỗi người một nơi. Tôi đi xa nhất, về tận Hà Tiên. Bạn bè biết tôi đi quá xa, ai cũng thương tình.

            Trong số những người chạy từ Bệnh Viện Huế về, tôi cũng gặp hai vợ chồng anh Đào Hải. Cả hai vợ chồng đều là y tá bệnh viện. Vợ anh là bà con bên vợ tôi.

Anh Hải cùng vợ đang làm việc ở bệnh viện thì trận giặc xảy ra. Sợ pháo kích, hai vợ chồng về núp ở một cái hầm xây ximăng rất lớn, phía sau Ty Bưu Điện. Hầm nầy được xây từ thời Nhựt để nhân viên và gia đình Bưu Điện núp máy bay Mỹ đến oanh tạc.

Khi lính Mỹ bắt đầu phản công, có hai cán binh Việt Cộng hớt hãi chạy vào núp ở hầm nầy với đồng bào. Được môt buổi, hai cán binh đem súng B-40 dấu ngoài hàng rào, cởi bỏ quần áo bộ đội, xin áo quần của dân chúng mặc vào, cùng chạy giặc với đồng bào. Tuy nhiên, khi về tới trường Kiểu Mẫu, hai anh cán binh nầy biến mất. Người ta nói là hai anh cán binh nầy sợ bị đồng bào tố giác.

            Lính Mỹ phản công hai mặt. Mặt tiến lên hướng tây, giải tỏa từ Ty Y Tế lên dần tới Bến Ngự, Nam Giao, Ga Huế và đi sâu về phía Tân Nam… Một mặt, tiến về hướng đông, xuống Sân Vận Động Tự Do, chợ Cống. Suốt ngày đêm súng nổ ì ầm. Vợ chồng con cái tôi, ngày thì về nhà ăn uống, tắm rửa. Tối lại thì lên trường Kiểu Mẫu ngủ cho an toàn.

&

            Ngay bữa đầu tiên mới về nhà, anh Vĩnh Nghị, học trò cũ của tôi, hiện là CSDC đến thăm.

Anh ta nói:

            – “Mấy hôm đầu, Việt Cộng tấn công. Em núp trong lô-cốt, bắn M-79 vào nhà thầy.”

            Tôi cười, nói đùa:

            – “Cám ơn anh. Hèn chi nhà tui cửa nẻo vách tường, chẳng cái nào còn nguyên.”

            Nghị nói, sôi nổi:

            – “Tại vì có ba bốn thằng núp ngay nhà thầy. Hai đêm liền như rứa (vậy). Không bắn vào đó là không yên với chúng. Chúng núp trong nhà thầy bắn ra chính xác lắm.”

            Tôi cũng lại đùa:

            – “Tụi nó bắn chính xác đâu không thấy nhưng anh bắn cũng không dở lắm đâu. Năm sáu cái xác Việt Cộng nằm ngay trong sân nhà tôi.”

            Một chốc, tôi hỏi tiếp:

            – “Cái thằng “Tôi ra hàng nhé” đâu rồi?”

            Nghị đáp, mặt khá tĩnh:

            – “Chết rồi!”

            – “Sao vậy?” Tôi hỏi.

            – “Bọn em giải giao cho Tiểu Khu.” Nghị nói. “Bên đó có thằng lính vừa nghe tin anh nó bị Việt Cộng giết, nổi sùng, nó lấy rựa chém chết thằng Việt Cộng.”

            Tôi bàng hoàng:

            – “Sao ác vậy! Nguời ta đầu hàng thì thôi. Ai lại vác rựa chém chết. Làm như vậy là vi phạm luật pháp quốc tế đó.”

            – “Cũng có người can nó! Ai cũng nói như thầy.” Nghị giải thích. “Nhưng nếu như ai có người anh bị Việt Cộng giết như nó, chắc cũng làm như nó thôi. “Máu chảy ruột mềm” mà thầy! Thầy làm nghề dạy văn chương, luân lý, hay nói lý thuyết. Thực tế, nhiều khi trái ngược.”

            Tôi làm thinh, cũng thấy thông cảm phần nào cho người lính có anh bị giết.

            Một lúc, để tránh sự im lặng nặng nề, tôi lãng sang chuyện khác:

            – “Ông” đi đâu mà bữa nay mang súng Garant? M-16 đâu rồi?”

            – “Súng nầy bắn được xa. Thấy mấy thằng Việt Cộng chạy lui chạy tới bên đường Trần Hưng Đạo mà ngứa mắt. Em ở bên nầy sông, thấy thằng nào, em ngắm súng Garant thiệt kỹ, nã cho một phát, nó biến mất. Mười thằng như một!”

            Tôi nói đùa:

            – “Chắc nó đi gãi ngứa chớ gì?”

            – “Không đâu!” Nghị cười. “Tụi nó về chầu tổ Mác-Lê hết.”

            Ngồi chuyện vãn với tôi một lúc, vợ tôi dọn cơm cho Nghị ăn.

Đang ăn, Nghị khen:

            – “Cơm ngon quá, mấy bữa nay, em không về Vĩ Dạ được, ăn uống tào lao không!”

            Nghị là người Hoàng phái, cha mẹ ở Vĩ Dạ, xóm của mấy ông hoàng, bà chúa.

Tôi hỏi:

            – “Hai đòn bánh tét, anh có ăn không?”

            Nghị nói, hào hứng:

            – “Ngon quá! Ngon quá! Em chưa bao giờ ăn bánh tét ngon như bữa đó.”

            – “Tại “ông” đói quá chớ gì?” Tôi góp ý.

            – “Vừa đói lại vừa ai làm bánh ngon quá.” Bỗng Nghị hỏi vợ tôi: “Cô mua hay cô nấu?”

            Vợ tôi chỉ cười mà không nói. Tôi trả lời thế cho vợ:

            – “Cô nấu đấy. Năm nào cô cũng nấu. Nhà có bao nhiêu người đâu, nhưng cô ưa nấu, đãi bạn bè ăn chơi. Cô chẳng học nghề ai cả mà nấu cũng ngon. Tài không?”

            – “Ngon thiệt! Em thiệt tình, không nịnh cô đâu!”

            Nói xong, anh ta cười, tôi cũng cười theo!

&

            Một lúc sau, Nghị hỏi tôi:

– “Ông Trưởng Ty là bạn thầy phải không?”

– “Bạn sao được!” Tôi nói. “Ông hơn tui cả chục tuổi, sao có thể bạn bè. Nhưng có quen thân.”

– “Tụi bạn em nó “xì xầm” về ông ta đấy.” Nghị nói.

– “Xì xầm gì? Chuyện ông ta có vợ bé chớ gì. Cô ấy là học trò cũ tui.”

– “Em biết! Không phải chuyện đó. Chuyện ông ta tránh mặt qua Đài Phát Thanh khi Việt Cộng tấn công.” Nghị giải thích.

– “Tui có nghe ông ấy nói với tui chuyện ông ở bên Đài! Tui hiểu rồi; đừng nói nữa, mất lòng.”

Cuối năm rồi, trong cuộc vận động tranh cử giữa “Liên Danh 9 Thiệu -Kỳ” với “Liên Danh Bông Lúa” của Đại Việt, ở quận Phú Vang, có sự xung đột gay gắt giữa hai phe; ông Lập đứng ra giải quyết rất khéo léo, những người trong cuộc, ai cũng khen ngợi ông. Đêm mồng một Tết, không rõ trước hay sau khi Việt Cộng tấn công, ông tránh mặt qua đài Phát Thanh, Huế. Ông ta đề phòng, lỡ khi Việt Cộng chiếm được Ty Cảnh Sát, thế nào cũng tìm trưởng ty, thì ông đã “lặn” rồi. Còn như Việt Cộng chiếm Đài Phát Thanh, ông ta khai là nhân viên gì đó của đài, “an toàn tính mệnh” hơn không?

Bỏ anh em, đồng sự dưới quyền mà “dọt” lẹ, quả thật người ta “xì xầm” cũng phải. Tuy nhiên, sau nầy, ông Liên Thành nói ông Lập là “Việt Cộng nằm vùng” nghe càng trái tai hơn.

&

            Chiều hôm đó, có một toán Thủy Quân Lục Chiến của ta đến khu vực tôi. Vài người vào sân nhà tôi. Hình như có một tiểu đoàn vừa từ Saigon ra tăng cường cho Huế. Một anh đang lui cui bên hè nhà. Tôi đứng hỏi chuyện anh.

Bỗng anh ta hỏi:

            – “Có nước sôi cho xin một ca.”

            Tôi vào nhà lấy nước sôi cho anh ta. Anh mở bao sạo sấy, đổ nước vào, chuẩn bị ăn tối. Thấy vậy, tôi đi vào nhà hỏi vợ tôi có gì thì “tiếp tế” cho anh lính môt ít. Khi tôi cầm gói bánh chưng đi ra chỗ anh thì thấy anh ta đang cột bao gạo sấy lại, bỏ vào ba-lô.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

            – “Sao không ăn?”

            Anh ta trả lời:

            – “Có lệnh di chuyển gấp, không ăn kịp.”

            Tôi đưa cái bánh chưng cho anh ta.

            Nghe chuyện người lính chưa kịp ăn đã đi, ai ai cũng xót xa. Từ trước đến nay, chiến tranh diễn ra ở thôn quê, ở rừng già, người dân thành phố chỉ nghe nói chứ chưa thấy tận mắt. Nay thì rõ. Từ sáng đến giờ chưa ăn gì – như anh ta vừa nói – Bao gạo sấy chưa kịp ăn thì đã mang súng đạn lên vai, nặng nhọc bước đi. Ai không khỏi xúc động.

“Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu” chỉ là cái hay trong văn chương. Việc ấy xưa quá, xa quá. Bây giờ, ở đây là đời thực, là hình ảnh người lính chưa kịp ăn, phải bỏ bao gạo sấy vào ba-lô mà lên đường hành quân. Điều nầy rõ ràng là rất đau xót, không thi vị một chút nào, không “văn chương thi phú” chút nào.

            Anh cùng đồng đội tiến ra đường Hàng Me, hướng bờ sông, rồi quẹo về ngã Vĩ Dạ. Tôi chợt thấy đại úy Ngộ, một người bạn học cũ, ở lớp Đệ Tứ, là cấp chỉ huy đơn vị. Tôi kêu tên anh ta, thảng thốt. Anh quay lại nhìn tôi và cũng nhận ra tôi.

Tôi chạy ra, vừa kịp nắm tay thì Ngộ bảo:

            – “Tao đi gấp, phải đem đơn vị qua Mang Cá gấp.”

            Vì ngã cửa Thượng Tứ và Đông Ba chưa giải tỏa được nên tôi đoán hướng đi của đơn vị, hỏi:

            – “Đi ngã Cồn Hến?”

            Ngộ chỉ ừ rồi tất tả bỏ tôi, theo đoàn quân của anh.

            Có lẽ toán quân của anh vượt sông Hương ở Vĩ Dạ, tàu Hải Quân sẽ đưa thẳng qua Bao Vinh rồi vào ngã cửa Trài của thành Mang Cá.

            Ngộ đi rồi, tôi mới biết mình ngu! Ai người ta nói cho mình biết con đường người ta chuyển quân bao giờ. Nếu anh ta không nghi tôi là Việt Cộng thì ít ra, anh ta cũng có thể ngại tôi vô tình nói ra nên Việt Cộng biết được. Bí mật quân sự mà!

            Đó là lần cuối cùng tôi gặp Ngộ, không biết về sau, cuộc đời chinh chiến của Ngộ như thế nào!

                        “Những người chinh chiến bấy lâu…

Nhẹ xem tính mạng như mầu cỏ cây”

                                                            (Chinh phụ ngâm)

&

            Mấy hôm đó trời Huế mưa dầm nhưng ít có gió bấc nên trời không lạnh lắm.

Buổi trưa, tôi ra đầu đường Hàng Me, chỗ ngã ba nối với đường Lê Lợi, ngồi bên cột đèn ximăng, ngó qua cột cờ Ngọ Môn bên kia sông.

Trời mưa và không có gió nên “ngọn cờ nửa đỏ nửa xanh” rủ xuống, buồn thảm. Hình ảnh ấy làm tôi nhớ tới mấy câu thơ của Trần Dần trong bài “Nhất Định Thắng”:

            Tôi bước đi
————-        không thấy phố
——————–           không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
—————–                                       -trên màu cờ đỏ

            Đó là ngọn cờ trừ ma, là ngọn cờ ở Hà Nội, còn ở đây, Ngọ Môn, ngọn cờ ấy là ngọn cờ ma. Ma Việt Cộng, ma quỷ ám thành phố nầy trong những tết Mậu Thân.

&

            Mấy hôm sau, đại bác từ Trường Bia bắn qua phố Trần Hưng Đạo, qua Thượng Thành, hai bên cửa Thượng Tứ để yểm trợ cho tiểu đoàn 2/3 (?) của thiếu tá Đính (?) đang giải tỏa khu vực nầy. Chiều lại, hai chiếc máy bay Phantom của Mỹ bay ngang thật thấp, bên phía nầy, bắn hỏa tiển và bỏ bom lên cửa Đông Ba. Cụ Chất (thân sinh của Tướng Toàn, như tôi có nói ở bài 1), đứng ở trong sân nhà cụ, thấy tôi đứng bên nầy sân, lầu bầu: “Bắt con chí mà phải cạo trọc cái đầu.”

            Sau việc đơn vị Thủy Quân Lục Chiến của bạn tôi đã di chuyển, nhiều người dân ở phố Phan Bội Châu, Trần Hưng Đạo, chạy thoát được qua phía bên nầy sông.

Bên ấy, Tiểu Đoàn 39 Biệt Động Quân của Đại Úy Võ Vàng (1) đang đụng nhau với Việt Cộng dữ dội ở Chùa Áo Vàng, kế bên đường Võ Tánh (tên nôm na là Ô Hồ), rồi sau đó, cũng đơn vị ấy đánh bật quân Việt Cộng ra khỏi phi trường Tây Lộc.

Tiểu Đoàn 39 Biệt Động Quân ghi được những chiến công vẻ vang trong những ngày phản công chiếm lại thành phố Huế, là một đơn vị nổi tiếng, ai ai cũng biết và hết lời khen ngợi.

            Tình hình phía bờ sông bên kia, – đường Trần Hưng Đạo – dần dần được yên. Quân Việt Cộng bị đánh đuổi ra khỏi khu vực tả ngạn, ngoại trừ khu Gia Hội.

            Hai ngày sau khi đơn vị Thủy Quân Lục Chiến rút đi, có một chiếc xe tăng có 6 nòng đại bác, mỗi bên 3 nòng. Chiếc xe tăng chỉ lớn hơn chiếc xe Jeep chút đỉnh mà có tới 6 nòng đại bác. Chiếc xe lục cục chạy ra bờ sông, phía dưới “Tân Cảng” của lính Mỹ một chút, gần khách sạn Hương Giang của “cậu” Cẩn.

Chiếc xe tăng quay về hướng nhà thờ Gia Hội và lần lượt hết nòng súng nầy đến nòng súng khác, nổ từng phát về phía đó.

Tôi tò mò đứng ở phía bên nầy đường coi thử xe tăng bắn cái gì.

Một chốc, cái tháp chuông nhà thờ Gia Hội không còn nữa. Như vậy có nghĩa là quân Việt Cộng núp ở tháp chuông bên ấy, bắn lén sang bên nầy, hay chỉ điểm cho Việt Cộng pháo kích bên nầy.

Khi đạn nổ ngay vào tháp chuông, không biết ông cha nhà thờ bên ấy lo lắng sợ hãi ra làm sao! Mới năm trước, vì chuyện ứng cử của “Liên Danh Sư Tử Cầm Bút” của giáo sư Vũ Quốc Thúc, vào Thượng Nghị Viện Việt Nam Cộng Hòa, vì là đại diện cho liên danh nầy, tôi có qua gặp ông linh mục ấy để nhờ một chuyện.

Linh mục rất tử tế, niềm nở chuyện trò với tôi. Rất tiếc là sau khi tôi đưa cho ông một số bích chương, theo lời dặn của Giáo Sư Phó Bá Long và Trần Long, thì số bích chương ấy không được dán lên như ông linh mục đã hứa, chẳng qua “Liên Danh Sư Tử Cầm Bút” không phải là “Liên Danh Bông Huệ” của mấy ông theo đạo Thiên Chúa ở Việt Nam.

Dù sao, ấn tượng gặp gỡ ấy làm cho tôi lo lắng cho ông khi thấy xe tăng Mỹ nhắm bắn sập tháp chuông nhà thờ bên ấy. Rồi còn đồng bào ở đường Trung Bộ – con đường chạy ngang trước nhà thờ – nữa chi.

Ở đó, tôi có biết bao nhiêu người quen biết.

hoànglonghải

(1) Năm – 1975, ông là trung tá, bị Việt Cộng giết ở Quảng Ngãi. Ông nổi tiếng là sĩ quan tài ba thuộc binh chủng Biệt Động Quân, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông là học trò mà cũng là chồng của chị Nguyễn Thị Đường, nhà ở dốc Nam Giao. Chị là bạn học của tôi năm Đệ Nhất (1957-58), chị tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm và có thời gian làm hiệu trưởng trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: