Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 31) Cũng khó mà quên được…

Người nách thước kẻ tay đao

Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi

Khi tôi từ chỗ bùng binh chợ Bến Thành băng qua đường, hướng về phía “Quỹ Tiết Kiệm” – “Con Gà Ấp Trứng Vàng” cũ – thì thấy một ông già băng qua đường Phạm Hồng Thái, cũng vừa tới chỗ tôi định tới. Thấy ông, thấy cái dáng quen thuộc của ông, tôi gọi thầm trong trí “Ông Già Nho”. Rồi tôi bươn bả đi tới gặp ông để chào hỏi.

Kể từ khi tôi gặp ông lần đầu tiên cho tới giờ, tính ra đã mười mấy năm. Mười mấy năm rồi! Nhanh thật! Tôi còn nhớ rõ như in hôm gặp ông lần đầu tiên ở trường Taberd.

 Ông còn quắc thước, mạnh bạo, mập mạp, da dẻ hồng hào tuy tóc ông đã bạc. Đầu tóc đẹp như kiểu tài tử ciné Đoàn Châu Mậu nhưng gọn và trông sạch sẽ hơn.

Đêm ấy là đêm 24 tháng 6 năm 1975. Theo lệnh của Ban Quân Quản Thành Phố Saigon, chúng tôi tập trung đi “học tập cải tạo” mười ngày, trình diện tại trường Taberd nầy: Địa điểm dành cho các quân nhân biệt phái.

Ông Năm Nho là sĩ quan Cảnh Sát biệt phái Hạ Nghị Viện, còn bọn chúng tôi phần đông là quân nhân biệt phái theo các bộ, phủ. Lần đầu tiên gặp nhau, ai nấy đều lạ lẫm nhau.

Với ông Năm Nho, người già nhất đám, chúng tôi nhường ông vài ưu tiên: Cái bàn thầy giáo để ông ngủ, mời ông ăn bánh kẹo chúng tôi mang theo hoặc mua lén bánh mì và mời ông cùng ăn. Những ngày ở đây, tuy chính quyền có cho cơm ăn nhưng không đủ thiếu vào đâu cả.

Tối đó, ông Năm Nho không chịu ngủ trên bàn thầy giáo. Cái bàn cao, ông sợ té. Ông xuống nằm với chúng tôi trên cái bục gỗ trước bảng đen lớp học. Một số đông ngủ trên băng ghế học trò hay trên nền xi-măng.

Trước giờ ngủ, chúng tôi ngồi quanh ông nghe ông kể chuyện.

Vì ông làm Trưởng phòng Công xa ở Hạ Nghị viện, nơi cung cấp xe cộ cho các ông dân biểu đi đây đi đó, nên chúng tôi tò mò hỏi về các ông dân biểu. Ông dân biểu nào “di tản chiến thuật” trước thiên hạ, ông nào ôm khăn gói mang của cải vàng bạc dọt lẹ trước đồng bào, ông nào tự tử và ông nào ba thành phần, chờ một cái ghế ngon lành trong chính phủ “hòa hợp hòa giải”… Dĩ nhiên, không thiếu những “Chuyện tình “nàng kiều lá đổ” với “Anh Châu ơi!” hay bà tự  xưng là “Ba thành phần có bầu trong khám Chí Hòa  khi chồng vào thăm”.(1) Bấy giờ thì “cháy nhà ra mặt chuột”! Không hẳn trong anh em chúng tôi không có tiếng chưởi tục cùng với nhiều tiếng thở dài.

Cộng Sản nhìn vấn đề rất khác chúng ta.

Chúng cho rằng “biệt phái” có nghĩa là thành phần tình báo biệt phái qua các phủ bộ để theo dõi, kềm kẹp những người ở phủ bộ đó. Khác với miền Nam, người được biệt phái vì có khả năng chuyên môn. Ai cũng là “tài nguyên quốc gia” hết và đều gọi bị động viên đi lính cho bộ Quốc Phòng. Vì nhu cầu, nhiều người từ quân đội được biệt phái về cơ quan cũ. Chẳng hạn bác sĩ, sau khi bị trưng tập có thể trở về lại bộ Y Tế, bệnh viện; kỹ sư thì về bộ Công Chánh, giáo sư, giáo viên thì về bộ Giáo Dục.

Cái “kẹt” của ông già Nho là sĩ quan Cảnh Sát biệt phái Hạ Nghị Viện. Cộng Sản có thể nghĩ rằng ông Năm Nho qua Hạ Nghị Viện đâu có phải để lo xe cộ cho dân biểu khi họ cần. Đó chỉ là bề ngoài, bên trong là theo dõi các dân biểu, nhất là những dân biểu thiên Cộng, thiên tả, ba thành phần, v.v… Biết đâu, ông ta lại chẳng đã có tên trong sổ đen trong mật khu rồi.

Khi trình diện, chúng tôi chưa nghĩ ra điều đó. Ai lại có thể có nghĩ ra một chuyện động trời như thế. Nhưng vào trại được một thời gian ngắn, làm xong bản tự khai, bị cán bộ kêu lên “làm việc”, điều tra, “hành tỏi” đủ điều thì bấy giờ mới sáng mắt ra. Văn Vĩ còn chạy xe ôm nữa là.

Các người khác có thể lấy bằng cấp chuyên môn chứng minh chuyện biệt phái được. Ông già Nho chứng minh ra sao?!

Ông nói rằng ông Chủ Tịch Hạ Viện rút ông về vì là bà con. Cộng Sản làm sao tin được. Vã lại, khai có liên hệ đến mấy ông lớn, ông già Nho càng thêm sợ liên lụy. Chức càng lớn thì “nợ máu với nhân dân” càng nhiều. Khai liên hệ càng thêm nguy hiểm. Có thể ông già Năm sợ như thế.

Chỉ một năm sau mà thôi, sau khi mỗi người phân tán mỗi trại rồi gặp nhau ở trại Suối Máu, Biên Hòa, thấy lại ông Năm tôi mừng thiệt nhưng tôi thấy lo cho ông lắm. Ông xuống lắm, xuống lắm rồi, không chắc ông qua khỏi cái “đại hạn” nầy.

Nước da hồng hào của ông bây giờ xám ngoét như da người chết. Má hóp lại làm cho cái miệng hô ra. Hai con mắt chui sâu vào hai cái hố, lờ đờ như mắt con bò già. Đầu tóc bạc đẹp và gọn hồi trước bây giờ bờm xờm như ổ quạ. Râu! Nhất là râu: sợi bạc, sợi đen lẫn lộn, lổm chổm; sợi thẳng, sợi vênh như cái bàn chải đánh răng cũ bị quăn vì bỏ vào nồi nước sôi. Da mặt, da tay nhăn nhúm trông như mớ giẻ rách đùn lại.

Ông không còn đi đứng nhặm lẹ như hồi mới gặp ông lần đầu tiên nữa. Ông lụm cụm, khó nhọc khi đứng ngồi, khi đi lại. Tay ông run run chống chiếc gậy tre. Đã có cái gậy mà ông đi cũng không muốn nỗi. Mỗi khi đi nhà xí, ông phải lọng cọng chống gậy đi ngang trước nhà tôi ở. Thấy ông, tôi chợt nghĩ dại: “Có ngày ông ngã ngoài cái cầu tiêu cao đó”.

Thôi hết! Cuộc đời ông có thể chấm hết ở đây, trong trại cải tạo nầy. Ngày đi thì có mà ngày về thì không! Ông già rồi, ốm yếu như thế, làm sao qua khỏi. Người ta trẻ trung cũng còn bỏ xác đâu đó, huống chi ông! Chỉ một năm trong trại, ông già đi hơn mười năm.

Thế mà không!

Cái bản năng sinh tồn Tạo Hóa ban cho con người thật là kỳ diệu!

Ông ta đi cùng với tôi thêm ba trại cải tạo nữa. Ông ta không chết như tôi đã lo. Cuối cùng, ông “được tha ra khỏi trại cải tạo” (như lệnh tha đã ghi), trước tôi một năm, vì can tội “Đại-úy” (Giấy tha cũng ghi như vậy).

&

Tôi đi thẳng tới trước mặt ông Năm, nắm tay ông, chào hỏi:

– “Bác Năm, khỏe không?”

Ông ta dừng lại, nheo nheo mắt nhìn tôi tới nửa phút, nhận ra người cũ, mừng rở:

– “Ủa! Anh Sáu! Trời! Về hồi nào?”

Tôi cười:

– “Về gần ba năm nay rồi. Nhiều khi muốn lên thăm bác mà không có dịp đi trên ấy!” – Ông Năm Nho ở Biên Hòa. Trước khi về, ông ấy có cho tôi địa chỉ – “Không ngờ hôm nay gặp bác ở đây, mừng lắm.”

Ông Năm nhìn tôi, mặt hơi nghiêm lại, nói:

– “Hôm nay tôi về thăm thằng con trai tôi. Nó ở bên Tây về được nửa năm nay chớ ít khi tôi đi Saigon lắm. Lâu ngày, gặp anh em, thiệt là mừng. Nhiều khi nhớ anh em lắm”.

Nói chuyện một chút, khi tôi dợm đi thì ông Năm bảo:

– “Có bận gì không? Lại tôi chơi. Gần đây thôi. Con tôi nó mới chuộc lại căn nhà của nó. Mình nói chuyện chơi”.

Tôi cũng chẳng có việc gì gấp. Tôi thất nghiệp ba năm nay, từ hồi cải tạo về tới giờ nên đi theo ông Năm.

&

Nhà con trai ông Năm chẳng có ai, ngoại trừ ông ta và tôi. Đây là căn nhà cũ của con ông trước 1975. Hồi đó, anh ta làm việc cho một công ty người Pháp tại Việt Nam. Sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam, anh ta đem vợ con vượt biên khoảng cuối thập niên 1970, rồi định cư ở Pháp. Nay công ty cũ của anh ta làm việc chuẩn bị trở lại Việt Nam đầu tư, nên anh ta cùng với ông giám đốc cũ về Saigon để làm việc trở lại. Khi anh ta vượt biên, căn nhà cũ bị chính quyền tịch thu, nay thì, theo ông Năm, con trai ông đã “chuộc” lại nhà.

Sao gọi là “chuộc”?

Có bán, cầm, thế mới gọi là chuộc! Đây là họ tịch thu, nay trả lại. Sao gọi là “chuộc”? Tôi hỏi ông Năm những ý như thế.

Ông Năm cười:

– “Tôi sinh trưởng ở trong Nam nầy, từ nhỏ chí lớn, chưa bao giờ thấy luật pháp nó kỳ cục như đời bây giờ. Người ta có nói đời bây giờ không có luật lệ gì cả cũng được. Mạnh ai nấy làm quyền. Ai có quyền nấy! Lớn có quyền lớn, nhỏ có quyền nhỏ. Ai cũng có quyền, ai cũng làm chủ. Hễ có chức thì có quyền. Bản chất, tôi nói là bản chất người Việt mình có c1ái tính nô lệ”.

Tôi ngạc nhiên nỏi:

– “Việc đòi nhà có chi liên hệ đến Tây, Tàu mà bác Năm nói tới chuyện làm nô lệ”.

Ông Năm giải thích. Ông ta đã già mà giọng nói vẫn còn sôi nổi:

– “Chớ sao không? Tôi hỏi anh có ai vì lý, vì luật mà đòi được nhà không?  Con tôi lấy được nhà là nhờ Tây, không phải do người Việt mình hiểu mà thông cảm, mà giúp đỡ nhau, giải quyết theo luật lệ, có lý có tình. Tại sao người Việt mình không nói với nhau, không thể nói trên cái… (ông ta ngập ngừng tìm chữ)… cái chỗ công bằng, bình đẳng và tôn trọng luật pháp, tôn trọng quyền lợi của nhau. Kể từ hồi Cộng Sản vô tới giờ, luật lệ là do ai có súng trong tay. Luật lệ là của người có quyền lực, là để bảo vệ quyền lợi của người có quyền lực. Họ nhân danh “cách mạng”, nhân danh nhân dân rồi muốn lấy cái gì của ai thì lấy. Cứ có cái tiếng “cách mạng” là được rồi. “cách mạng” yêu cầu cái nầy. “cách mạng” yêu cầu cái kia. Cái nhà anh đang ở, cái xe anh đang đi. Nếu “cách mạng” yêu cầu thì anh phải giao nhà, giao xe mà không có một sự đáp ứng nào cho hợp tình, hợp lý. Nếu anh không chịu! “cách mạng” sẽ hỏi anh một câu: “Do đâu mà anh có nhà. Do đâu mà anh có xe?”. “Tay sai đế quốc”, “bám gót thực dân”, “bóc lột nhân dân”, v.v… mới có nhà, có xe. Hỏi thế có nghĩa là anh sẽ bị tịch thu nhà, tịch thu xe. Không chừng còn phải đi cải tạo nữa để từ bỏ những tư tưởng ăn bám, bóc lột. Chi bằng họ đòi gì, mình giao nấy, may ra còn có giữ được cái mạng sống. Thế nhưng, chính họ mới là bóc lột, ăn bám. Chính họ là người có tinh thần nô lệ, chịu làm tay sai. Điều nầy, trong trại, anh em mình bàn bạc nhau đã nhiều, anh biết rồi chớ gì?”

Tôi cười nói:

– “Điều đó, mấy năm bác Năm ở chung trại với tôi, biết hết rồi. Cái mà Cộng sản “cải tạo” chúng ta đều có kết quả ngược hết. Tôi muốn biết chuyện cái nhà nầy tại sao lại dính tới chuyện tinh thần nô lệ?”

– “À!” – Ông Năm cười nói tiếp. – “Có gì đâu! Có lệnh trung ương trả nhà cho những ai ở ngoại quốc về phục vụ tại Việt Nam, nên con tôi xin nhà lại. Nhưng luật thì có luật mà cho lại không cho. Con tôi phải nói với thằng chủ Tây của nó. Thằng chủ Tây can thiệp thẳng với Trung ương. Trung ương cần Tây, sợ mất lòng Tây. Trung ương đang “bắt giò” Tây nên OK liền. Nhưng đến khi lấy nhà thì phải chuộc.”

– “Nó bắt chuộc thì nó sợ gì Tây?” Tôi nói.

Giọng ông Năm vẫn sôi nổi:

– “Tại sao không?! Trả nhà là do chánh sách. Chánh sách do đâu mà có. Đâu có phải họ thấy việc trả nhà là hợp tình, hợp lý. Họ thấy công khó người ta, mồ hôi nước mắt người ta mà trả lại cho người ta. Trả nhà, có nghĩa là nuốt không trôi nên phải trả. Trả cái nầy để được cái khác lớn hơn. Không bao giờ có sự hợp lý, công bằng, có tình cảm hay thông cảm trong việc nầy cả. Cũng giống như hồi ba mươi tháng Tư không có “tắm máu”. Chẳng qua “Giết không được tha làm phúc” chớ chẳng có chi là “khoan hồng nhân đạo”. Không giết thì cho đi cải tạo, là giết lần giết mòn con người ta, có tha về thì cũng là “xương bậu nát, thì da bậu mòn.” (2) Vậy mà mình cũng không chết! Hay chưa?”

Nói xong, ông Năm cười hề hề!

Trong khi đó, tôi đọc một câu trong “Cung Oán Ngâm Khúc” cho ông Năm nghe:

“Giết nhau chẳng cái Lưu Cầu

Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa?!

Một lúc, ông Năm lại tiếp:

– “Anh xem có kỳ không? Phải chờ Tây nó can thiệp họ mới trả nhà cho con tôi. Có phải vậy là sợ Tây, là tinh thần nô lệ không? Hồi trước mình có sợ Tây sợ Mỹ gì đâu?! Láng cháng có thằng bị mình “quýnh” bỏ mẹ luôn. Cộng Sản có dám đụng tới “đại ca” của họ không?”. Ông Năm nói tiếp: “Nói thiệt, con tôi không muốn nhờ Tây. Nó muốn người mình nói chuyện với nhau, hay hơn. Nhưng con tôi nói thì ai nghe. Ai them nghe?! Vậy nó mới kêu Tây đòi nhà cho nó. Thành ra, anh xem “tình dân tộc, nghĩa đồng bào” cái con mẹ gì đâu, “hòa hợp hòa giải” mẹ gì đâu?!”

– “Còn chuộc?” Tôi hỏi.

– “Thì mạnh ai nấy làm, mạnh ai nấy quyền. “Rừng nào cọp nấy”. Trung ương biểu trả nhưng địa phương thấy cái nhà ngon quá, trả thì tiếc, bèn bày ra cớ nầy cớ kia để trì hoãn, làm khó. Con tôi phải “ló” tiền ra mới lấy được nhà. “Có ba trăm lạng việc nầy mới xong”. Anh thấy có đúng không?”

Nói xong, ông nhìn tôi. Cả hai chúng tôi đều cười.

Một chốc ông Năm nói:

– “Thôi! Mời mời! Ham nói chuyện để lâu mất ngon.”

Con trai ông Năm phải đi Hà-Nội gấp với chủ Tây, chỉ kịp mua cho ông Năm con vịt quay và mấy ổ bánh mì. Nước uống có sẵn trong tủ lạnh.

Ăn xong miếng thịt, ông Năm lại hỏi:

– “Anh nghĩ thằng cha coi nhà đất ở Saigon hồi nầy có giàu không?”

Tôi ngừng ăn, nói: “Ông Năm nói sao, tôi chưa hiểu.”

Ông Năm giải thích:

– “Hễ mà hòa bình, xây dựng nhiều thì nhà cửa, đất đai lên giá. Ở cái đất Saigon nầy, xưa giờ, giá nhà đất bao giờ cũng lên. Tôi thấy chỉ mấy tháng gần ba mươi tháng Tư, người ta lo bán nhà mà chạy lấy thân nên nhà cửa mới xuống. Nhưng nó chỉ như cơn lốc. Cộng Sản ngất ngư, ngoại quốc tới, Việt kiều về thì giá nhà đất lại lên. Ai nắm trong tay nhà đất Saigon thì người ấy giàu. Triệu phú, tỉ phú dễ như trở bàn tay. Chỉ có sau đó thì lộn xộn lắm, người ta tranh giành nhau. Tài sản của người ta, nhà nước cướp bóc trắng trợn đâu có được.”

Một lúc sau tôi nói:

– “Như bác Năm nói thì sau nầy, khi Cộng Sản sụp đổ rồi thì việc tranh tụng nhà đất rắc rối lắm. Người ta đòi nhà, đòi đất mà nhà nước, cán bộ thì bán hết rồi, lấy chi trả?”

– “Làm gì được ông nhà nước, làm gì được ông cán bộ. Dù chế độ có sụp đổ thì người ta cũng cao chạy xa bay… ”

Bỗng ông Năm chợt hỏi tôi:

– “Anh biết vụ “đánh tư sản” chớ?”

– “Thì cũng như bác vậy. Mình ở trong tù. Chỉ nghe nói lại.” Tôi trả lời.

– “Đúng là anh em mình ở trong trại, không biết gì. Ngoài nầy, nghe nói mần dữ lắm, nhứt là ở miệt Chợ-Lớn. Tới những mười lăm, mười sáu chú Ba tự tử vì bị cướp tài sản một cách trắng trợn, có luật pháp nhà nước Cộng sản yễm trợ.” Ông Năm nói.

– “Việc nầy tôi có nghe nói. Mấy anh chị tôi là nạn nhân. Giống y như trong Kiều.” Tôi nói.

– “Giống y như trong Kiều là giống làm sao?” Ông Năm hỏi.

Tôi không trả lời ông mà đọc một hơi mấy câu Kiều:

“Hàn huyên chưa kịp dãi dề

Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao

Người nách thước kẻ tay đao

Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi

Già giang một lão một trai

Một giây vô lại buộc hai thâm tình

Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh

Rụng rời giọt liễu tan tành gối mai

Đồ tuế nhuyễn, của riêng tây

Sạch-sành-sanh vét cho đầy túi tham.”

Ông Năm cười đắc ý, nói:

– “Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi”. Bộ ông Nguyễn Du là tiên tri hay sao mà ông tả y chang vậy, không sai một chút nào như người ta kể lại.”

– “Không phải đâu bác Năm. Chuyện cô Kiều cả ngàn năm trước, chuyện ông Nguyễn Du cả mấy trăm năm trước với đời bây giờ cũng rứa thôi, có khác chi nhau. Nghe nói ở bên Tây, bên Mỹ, dân chủ mới không có chuyện cướp bóc, lộng quyền. Chưa dân chủ là còn có kẻ cai trị, kẻ bị trị.

Kẻ cai trị thì cướp bóc kẻ bị trị, cướp bóc có luật pháp hay cướp bóc không có luật pháp cũng là cướp bóc cả thôi.” Tôi nói.

Ông Năm than thở:

– “Thiệt đời bây giờ chẳng còn “nhứt điểm lương tâm”. Người ta ăn ở tàn tệ quá!”

Tôi nói:

– “Khi đã không có lương tâm thì người có học, người không có học đều như nhau. Đậu ông nghè, ông cống ra làm phụ mẫu chi dân mà chỉ có lòng tham thì cũng giống như anh hoạn heo.”

Ông Năm cau mặt hỏi tôi:

–  “Bộ hoạn heo thiệt không?”

– “Tôi nói với ông Năm một điều rất khẳng định. Không có cái chi dấu ai được hết. Trước sau người ta cũng biết. Đời xưa còn “Ở đây tai vách mạch rừng” nữa là. Đó là không nói như người xưa “lương tâm mình biết”.

Ông Năm băn khoăn nói:

– “Hoạn heo thì biết chi mà cai trị đất nước. Cộng Sản họ dùng những người gì đâu không! Tội nghiệp cho dân mình thiệt!”

– “Không biết thì học. Vừa làm vừa học, khắc biết. Hồ Chí Minh nói vậy mà. Chỉ khổ cho dân bị đem ra làm vật thí nghiệm.”

Một lúc, ông Năm nói, giọng hơi trầm xuống:

– “Ở bên Âu Mỹ, người ta đi làm tổng thống, thủ tướng là mưu cầu cái danh, không phải mong cái lợi. Chết để cái tiếng là ông tổng thống giỏi, thủ tướng giỏi. Bên xứ mình, ra cầm quyền cốt là để tìm cái lợi trước tiên. Thành ra, hễ có quyền thì có tham nhũng, hối lộ… Dân mình không ngóc đầu lên được là vì người mình như vậy. Nói dân chủ, tự do bên xứ mình khó lắm.”

Tôi hỏi:

– “Ông Năm có nghĩ rằng cũng vì cái lợi mà người ta phản bội, dối trá, lật lọng, v.v… ”

– “Đương nhiên!” Ông Năm nói. “Anh không thấy theo Tàu rồi chưởi Tàu. Chưởi Tây rồi lại theo Tây. Chưởi Mỹ rồi ôm chân Mỹ. Cái đó nhục nhã lắm. Không những nhục nhã cho họ mà còn nhục nhã cho dân mình. Người Nhật đầu hàng Đồng minh. Cho vậy là nhục nhã. Nhưng chính họ cũng nhờ Mỹ mà lên hàng cường quốc kinh tế, họ có làm chi nhục nhã như người Việt mình đâu!”

Tôi góp ý:

– “Người Cộng Sản họ thực tế lắm! Chính Hồ Chí Minh cũng nói với cán bộ “Có thực mới vực được đạo”. Có thể vì vậy mà họ chấp nhận những cái xấu. Xấu không quan trọng. Bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ bền vững mới là quan trọng. Dù như thế nào thì sau nầy, bản thân họ, con cái họ cũng sướng. Chỉ tội cho người mình. Hồi xưa thì cũng tham nhũng lắm, nhưng cũng nhiều người rất trong sạch. “Đứt phim” rồi, biết bao nhiêu người đói khổ. Như mấy ông tướng, tá, sĩ quan “Vị Quốc Vong Thân”. Con cái họ bây giờ chắc khổ cực lắm!”

– “Cái đó là sự vô ơn của đồng bào mình. Những ai hy sinh, ai còn sống nhưng tật nguyền, vợ con họ tội nghiệp hết sức. Tôi thường nghĩ những người dám tử ở trận tiền là người có khí phách. Họ có cái tiếng mà không có miếng nên bây giờ vợ con khổ”.

Tôi hỏi:

– “Tôi nhớ ông Năm có kể chuyện ông Ngoại của ông Năm ngày xưa là chủ điền. Cháu ngoại ông chủ điền ruộng cò bay thẳng cánh. Vậy mà khi vào trại cải tạo, hột cơm không có mà ăn. Phi lý thiệt.”

Nghe vậy, ông Năm kể chuyện cũ:

– “Ông ngoại tôi, hồi tôi còn nhỏ, hay rầy tôi dữ lắm.  Nhà chủ điền, lúa đầy sân, bạc đầy nhà. Vậy mà khi tôi biết khôn, ăn xong, còn dính hột cơm trong chén là bị rầy. Ông tôi gọi hột cơm là hột ngọc trời cho, phải biết quý trọng, không được phí phạm”.

Tôi góp ý:

– “Văn hóa người Việt mình là vậy đó. Không được phí phạm, phải biết quý trọng công khó người khác, quý trọng công lao người nhà nông, quý trọng ơn nghĩa, thủy chung. Ông bà mình ngày xưa hay vậy mà sao bây giờ người ta để mất cả. Chiến tranh nầy, “cách mạng” nầy, “cách mạng xã hội chủ nghĩa” nầy, “cách mạng Văn hóa” nầy, đều đem lại những kết quả đảo ngược. Chắc rồi văn hóa tiêu ma hết ông Năm ạ”.

Ông Năm lại kể:

– “Hồi tôi lớn, mỗi năm đi học về, – Trước tôi học ở Saigon, sau ra “du học” ở Hà-Nội, – cách sống cởi mở hơn. Xong vụ mùa, tôi lên Saigon kêu gánh hát về hát cho tá điền của ông ngoại tôi coi chơi. Năm nào trúng mùa, hát cả tuần lễ mới dứt. Thấy tôi biết thương tá điền, ông bà ngoại tôi vui lắm. Hai ông bà thường nói: “Mình giàu có cũng là nhờ họ” cho nên ông bà ngoại tôi không để cho tá điền đói rách bao giờ, sợ người ta chê là thất đức.”

Tôi hỏi:

– “Trong trại, mình không có cơm ăn, bác Năm có nghĩ là do nhơn quả không. Tự mình gây ra cái nhơn ác.”

Ông Năm suy nghĩ một hồi lâu rồi nói:

– “Có chớ anh! Tôi kiểm điểm lại đời tôi, ông bà cha mẹ tôi, có ai làm điều chi thất đức mà giờ nầy tôi khổ làm vậy? Già rồi không có chén cơm mà ăn. Quả thật tôi thấy ông bà ngoại tôi nhơn đức lắm. Giống như người dân trong Nam nầy vậy, ông bà thường nghĩ tới chuyện tu hiền, không phải chỉ nói miệng mà cốt ở việc làm. Người bình dân cứ nghĩ ăn chay là tu, có chuyện gì xuống tóc là tu. Ông ngoại tôi biết vậy là không đúng. Tu là tu ở cái ý của mình trước, cái tâm của mình trước, cái miệng của mình trước và làm việc gì giúp đỡ cho ai hoạn nạn, nghèo khó. Căn bản là ở chỗ đó chớ. Đó là cái gương cho ba má tôi, cho bản thân tôi. Tôi nghĩ cái gian khổ bây giờ không phải là tự mình anh à! Đó là cái nạn nước. Mấy chục năm nay, từ sau hồi Tây – Nhựt đánh nhau tới giờ, đúng là dân mình mắc nạn”.

Ngưng một chút, ông Năm lại nói tiếp:

– “Tôi nghĩ như ở trong Nam nầy, đó là cái vựa lúa của cả nước. Mấy năm hòa bình còn dư thừa xuất khẩu, vậy mà bây giờ người dân không có chén cơm ăn. Cái nầy đâu phải lỗi một người dân mà lỗi ở chế độ. Cái nạn nước tạo ra cái chế độ ấy”.

Thấy tôi ham ngồi nghe, nảy giờ ngưng ăn, ông Năm lại nói:

– “Thôi, mời, mời. Ăn chút đi”. Rồi ông gắp một miếng thịt bỏ vào chén cho tôi, nói: “Miếng ức nầy ngon.”

Tôi nói:

– “Hồi nầy trông ông Năm khỏe lắm. Rán sống với con cháu”.

Ông ta cười:

– “Cũng nhờ con! Hồi còn ở bên Tây, nó gởi tiền về nuôi. Về thì nó đem tiền về cho. Tôi chỉ có hai vợ chồng, sống dư giả… ”

Tôi lại hỏi:

– “Anh ấy vô dân Tây chưa?”

– “Vô, vô rồi.” Trả lời tôi, ông Năm cười. “Không tin mấy thằng Việt Cộng nầy được. Vô dân Tây, lỡ có gì kẹt, Tây nó can thiệp. Dân của Tây mà. Tụi Cộng Sản có nhiều cái chủ quan lắm. Nó đẩy người ta vào cái thế phải chống lại nó.”

Tôi ngồi nói chuyện với ông Năm, nhắc chuyện cũ hồi còn trong trại cải tạo, nhắc tới người nầy người nọ. Có người ra khỏi trại đã lo vượt biên, đi lọt hay lại vào tù, v.v… Chúng tôi nói lu bu rất nhiều chuyện. Dù sao, ngồi nhắc lại chuyện cũ, buồn vui lẫn lộn.

Hồi về trại Xuân Lộc, trong đội của tôi, ông Năm Nho và ông Âu Văn Minh là hai người già nhất đội. Cả hai được liệt vào thành phần lao động nhẹ, nghĩa là khỏi ra ngoài rừng phá rừng lấy đất, khỏi ra bãi cuốc đất trồng sắn, trồng khoai như mọi người trong đội. Hai ông được ở nhà lo việc quét nhà, quét sân, v.v…

Năm 1979, khi Trung Cộng đánh 6 tỉnh dọc biên giới Việt-Trung, đội của tôi bị bọn cán bộ theo dõi gắt gao hơn những đội khác vì trong đội có nhiều thành phần “an ninh, tình báo”. Chúng thay quản giáo. Thằng cán bộ mới nầy tên là Lở, không phải là “Lỡ Chuyến Đò” hay “Lỡ Bước Sang Ngang” gì đâu, mà chính là lở đất, lở đá hay lở ghẻ, lở mụt gì đó. Nó chưa tới hai mươi tuổi, theo chân “bác” vào Nam không phải để “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” gì cả mà vì thấy người ta đi Nam về, ai cũng có cái đài, cái đổng, cái đa (3) nên ham mà vào Công an. Nó tưởng vào “Thành phố Bác” kiếm chác, ai ngờ bị “trên” đưa vào nơi khỉ ho cò gáy nầy, trông coi mấy thằng tù rách rưới, ăn mặc người không ra người, ngợm không ra ngợm, nên y đâm chán. Chán thì y hành hạ tù cho đỡ chán. Hành hạ tù là chánh sách của “đảng” cho mấy thằng tù khỏi được tha về mà quậy phá “cách mạng”.

Đội tôi bây giờ không được cho đi xa vào gần bìa rừng, sợ chúng tôi trốn. Công việc hằng ngày chỉ quanh quẩn kế hàng rào trong, đặc biệt là công việc đào hầm phân người mới hoai, đem phơi khô để các đội khác tới lấy đem bón rau muống, làm giàu “xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa”.

Trong khi chúng tôi lội xuống hầm moi phân lên phơi thì thằng cán bộ Lở bắt hai ông già ngồi đập nhỏ những cục phân phơi vài ba nắng đã khô. Cục phân khô phải đập cho nhỏ ra để bón vào gốc rau cho khỏi… hao cứt! Cục cứt cũng phải tiết kiệm!!!???

Một hôm, đến kiểm soát việc làm của hai ông già, thằng cán bộ Lở bảo ông Năm:

– “Anh kia (Bọn Cộng Sản lớn bé, già trẻ gì chúng đều gọi bằng anh, chị hết. Ai cũng là “Cháu ngoan Bác Hồ” nên mọi người đều ngang nhau), tại sao anh cầm cái cây mà đập phân?”

– “Thưa cán bộ, tôi phải lấy cái cây nầy…”

Tên cán bộ Lở lớn tiếng:

– “Không được. Anh không được dùng cái cây. Anh phải lấy tay mà bóp cho nát ra”.

Nghe thế, ông Năm lúng túng nói:

– “Thưa cán bộ, tôi lấy cái cây nầy… ”

Ông Năm nói chưa dứt câu thì thằng cán bộ Lở xông tới, với một thái độ thật hung dữ, nó giật phắt cái cây trên tay ông Năm mà quẳng ra xa. Vừa làm miệng nó vừa la lối:

– “Không được dùng cái cây. Anh nghe rõ chưa. Tôi không cho phép anh dùng cái cây”.

Ông Năm chần chừ, ông sợ dơ, ông sợ bệnh. Phân người thiếu gì vi trùng. Trong trại có biết bao nhiêu người bệnh, nhiều bệnh rất nguy hiểm, ngặt nghèo. Phân của họ đổ cả vào hầm phân.

Thấy thái độ ông Năm, thằng cán bộ Lở bèn xấn tới, tay vung lên, hăm dọa:

– “Tôi ra “nệnh” cho anh. Anh có chấp hành không thì bảo? Hay để tôi “xử ný” bây giờ. Vừa nói, tay kia của nó chụp vào cây súng lục đeo bên hông.

Thấy nó hung dữ quá, ông Năm sợ. Ông từ từ đưa tay ra nắm cục phân khô, trong khi nơi mắt ông hai dòng nước mắt tuôn ra.

Thằng cán bộ Lở thấy ông Năm khóc, quay mặt đi và cười sung sướng, đểu cáng.

&

Câu chuyện ấy và cái cười của thằng cán bộ Lở làm xôn xao anh em trong trại mấy hôm liền. Dĩ nhiên, ai cũng thấy rõ cái lưu manh, đểu cáng của đám người tự xưng “cách mạng”, “giải phóng”.

Trong khi nói chuyện với ông Năm, tôi nhắc tới thằng cán bộ mà tôi gọi là “thằng mất dạy” ấy. Rồi tôi hỏi ông một cách thẳng thắn:

– “Người miền Nam như bác Năm, vốn dĩ tính tình hiền hòa, chất phác. Nhưng liệu bác Năm có quên được câu chuyện đó hay không?”

Ông Năm không trả lời liền câu hỏi của tôi. Ông nhìn tôi một lúc rồi nhìn ly nước đang cầm trên tay, chậm rãi nói:

– “Gia đình tôi mấy đời thờ Phật, cũng muốn lấy ân báo oán chớ không muốn lấy oán báo oán làm chi. Chắc rồi mai đây, thế nào thằng Cộng sản Hà Nội nó cũng kêu gọi “hòa hợp hòa giải”. Tôi không biết những người mà cha mẹ, anh em họ bị Cộng Sản giết, họ có “hòa giải” được không! Chớ còn riêng tôi, cái chuyện thằng “cán bộ” bắt tôi ngồi bóp cứt khô để mà cười mai mỉa, tôi đau lòng lắm anh à! Ông bà cha mẹ ăn ở bất nhơn thất đức, con cái mới phải đi xúc cứt như vậy. Vì vậy, nhiều khi tôi muốn quên nhưng “Cũng khó mà quên được”.

hoànglonghải

(1)  Giám thị khám Chí Hòa cho biết bà Ngô B. Th. Khi bị giam ở khám nầy xin được khám thai sau khi chồng vào thăm.

(2) Ví dầu tình bậu muốn thôi

      Bậu gieo tiếng ác cho rồi bậu ra

      Bậu ra cho khỏi tay choa

      Thì xương bậu nát, thì da bậu mòn

(Ca dao)

(3) Đài: Radio; Đổng: Đồng hồ; Đa: Xe Honda

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

3 Comments on hoànglonghải – Vết Nám (Bài 31) Cũng khó mà quên được…

  1. Kính Thầy Hải,Bút ký về “Tù VC” nhưng bọn giặc Cờ Đỏ thì dùng những câu mỹ miều “Học tập cải Tạo” như thể khoe mẽ là họ “nhân đạo gấp triệu lần bọn Tư Bản “,nhưng nếu so với hoàn cảnh của mấy anh chị cán binh VC hồi chánh phe ta ,thì nó hoàn toàn ngược lại trăm chiều !! Với những anh chị em hồi chánh này,từ cái ăn,cái mặc,đến sức khoẻ đều được đối xử một cách đầy tình người .Nếu so tù VC với phát xít Đức,họ còn hơn mấy ông CSVN,vì họ không hề giết dân họ,mà chỉ tội cho dân Do Thái mới lãnh đủ trăm cay nghìn đắng (chắc vì ganh ghét người Do Thái giỏi hơn ?),một điều hiển nhiên nữa, gần đây nhất,chẳng những người tây Đức,đâu cần mở ra hàng trăm trại tù để nhốt những quan ,công chức Đông Đức,mà bà Thủ Tướng Engelo Markel hiện nay cũng là dân Đông Đức đấy?! Hồi ký “cải tạo”,thì rất nhiều tác giả viết thành sách,và giờ đây,với hồi ký của Thầy Hải vẫn chưa gọi là thừa,hoan hô Thầy và cám ơn nữa chứ,bởi đọc văn Thầy,bộ óc bã đậu tui càng thêm sáng sủa. Chúc Thầy luôn được an vui và mạnh khoẻ.

    Số lượt thích

  2. Cám ơn Anh đã đoc
    Và cho ý kiến
    Thành that cám ơn
    hoànglonghải

    Số lượt thích

  3. Thưa ông,
    Hồi Ký Vết Nám chúng tôi đã theo dõi đến bài 31.
    Khi nào thì ông tiếp tục post lên trang mạng những bài kế tiếp ?

    Số lượt thích

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: