Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Trần Thanh Tâm – HỒI ỨC VỀ QUẢN LỢI

Cứ mỗi lần về lại Quản Lợi, tôi cứ hay dừng ở đầu con dốc Núi Gió, đứng nhìn về phía xa xa, nơi ngọn đồi đi về hướng Technique, bắt đầu nghe thoang thoảng cái mùi nồng khai của khí Amoniac hòa trộn với cái mùi khu khú của mủ cao su.

Thả dài theo con dốc xuống ngay đầu chợ, chỗ bến xe lam ngày xưa, bây giờ không còn nữa, những dãy nhà mới xây lên, đã che khuất tất cả những dấu vết cũ của một thời, nơi bến xe ngày xưa mà mỗi lần đi học chúng tôi thường túm tụm đứng dưới những gốc phượng già trú nắng, trong lúc chờ xe.

Tôi còn nhớ những đêm, có chiếu phim lưu động, người ta dựng hai cây tre, căng cái màn trắng, ở ngay cái sân rộng tại bến xe, chúng tôi háo hức chen nhau, đứng xem những đoạn phim, binh ốm cai tròn, nghệ sĩ cải lương Hữu Phước ẵm Hương Lan ca vọng cổ, ngày đó có biết thưởng thức là gì, chỉ là cái dịp để được đi chơi khuya, và ăn quà vặt, đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in cái mùi nồng nồng thơm ngát, của ông tàu bán khô mực nướng, quyện với cái hương vị chua chua ngọt ngọt, của bà bán chùm ruột, xoài, cóc, ổi, ngâm cam thảo, gói trong miếng lá chuối, cho thêm một muỗng muối ớt nồng nồng cay cay, ngồi chồm hổm bên ngọn đèn dầu hột vịt, vừa chấm mút vừa suýt xoa, ngày xưa tiệm nào có cái đèn măng-xông là sang ghê lắm, bây giờ không thể tìm đâu ra cái cảnh ấy.

Đi dài lên con dốc về hướng nhà thờ xưa, không còn những hàng phượng vĩ, trồng dài theo con đường, rợp bóng phượng bay, bây giờ chỉ còn trơ trọi mỗi con đường và những căn nhà san sát.

 Lên đến đầu dốc nơi mà ngày xưa là ngôi nhà thờ thơ mộng, nằm cạnh những hàng dương, thanh thoát và trầm mặc, thì bây giờ chỉ còn là một khoảnh đất hình tam giác và được dựng lên một đài liệt sĩ tổ quốc ghi công.

Từ góc đài liệt sĩ thả dài theo con đường mà ngày xưa lúc nào cũng rợp bóng mát của hàng cây cọ dầu, là ngôi trường tiểu học Quản Lợi, chứa đựng cả một thời thơ ấu, trường có 2 dãy trên và dưới, dãy trên lợp ngói dành cho lớp nhì và lớp nhất, dãy dưới lợp tole dành cho lớp ba lớp tư.

Nhớ làm sao những cái bàn học, bằng gỗ ánh lên màu nâu đỏ không biết là màu gỗ hay là màu đất đỏ thấm đẫm vào từng thớ gỗ, mỗi chỗ ngồi, trên mặt bàn ở phần cạnh phẳng, đều có khoét một cái lổ tròn, đường kính 3cm, để treo lọ mực tím, làm bằng chai thuốc Péniceline. Lúc nào đi học về, tay chân quần áo đều lấm lem mực tím. Ngày ấy mỗi lần xin tiền mẹ, mua ngòi viết và giấy chậm là cả một niềm vui háo hức, những tờ giấy chậm màu hồng, thơm thơm mùi giấy mới, những cái ngòi viết mới sáng bóng, còn bọc giấy dầu chống rỉ sét. Nào là ngòi lá tre, ngòi bầu, ngòi tam giác, tôi thích nhất là cái ngòi tam giác, vì nó cứng, chắc, ít bị rè. Ngày xưa đi học mà lỡ làm rớt viết là coi như tiêu. Khi lên lớp nhì mới có bình mực nhựa, có cái phễu chặn không cho mực sánh ra ngoài. Tôi nhớ khi ấy mỗi tuần, vào ngày thứ Ba, học sinh phải xếp hàng uống thuốc ký ninh (quinine) chống sốt rét, đắng ơi là đắng, nên đứa nào cũng thủ trong túi, cục kẹo dừa hay viên kẹo đục. Mổi lớp đều có một cái thùng thiếc đựng nước trà, do bác lao công của trường nấu sẵn, có 3 cái gáo múc nước để uống, bằng lon sữa bò, gắn cái que bằng tre làm tay cầm. Lúc ấy tôi học lớp Ba, do sœur Thérésa dạy, sở dĩ tôi chỉ học từ lớp ba, là do trước đó tôi ở Cambodge chuyển về năm 1965. Mỗi lần uống thuốc, ma sœur cầm cây thước bảng vàng óng trong tay, đứa nào mà trốn là ăn đòn ngay.

Khi đi học, mẹ tôi cho mỗi đứa 5 cắc, cái đồng xu bằng niken có hình ông Ngô Đình Diệm. Ở trường chỉ có dì Sáu Mun là em của ông Ba Của, bán quà vặt cho học sinh. Tôi còn nhớ cái gánh quà của dì Sáu, nào là me ngào, me ngâm, cóc ngâm, chùm ruột, chuối sên đường, bánh mì chan nước mắm, kẹo dừa, kẹo đục, bánh cây… Những món bình thường dân dã, nhưng rất thu hút bọn học trò nhỏ.

2Lên lớp Nhì tôi học sœur Anna, lớp Nhất là sœur Honorine, dì Kim Hoa làm hiệu trưởng. Khi ấy, Mỹ bắt đầu vào Technique lập căn cứ, nên bọn học trò tụi tôi cũng được chăm sóc theo chương trình viện trợ dân vận, mỗi sáng xếp hàng uống sữa, thỉnh thoảng được phát bánh kẹo, tập vở mới.

Năm cuối của bậc tiểu học, khoảng năm 67-68, trường đã trở thành cái đồn lính, với lô cốt chi chít bao chung quanh, hàng rào kẽm gai vây kín. Chiến tranh bắt đầu dồn dập,  cái làng xã nhỏ bé Quản Lợi trở nên ồn ào náo nhiệt, với mọi dịch vụ ăn theo, phục vụ cho đoàn quân viễn chinh. Tiếng xe GMC, thiết giáp M113, tiếng máy bay Caribou ầm ầm, ào ào; tiếng trực thăng phành phạch… khuấy tung mọi sinh hoạt của cái làng quê yên ả. Thêmvào đó là những đêm ngồi ngắm pháo sáng, hỏa châu đỏ rực cả vùng trời. Thỉnh thoảng những chùm đạn lửa vung vãi lên bầu trời, những tiếng rít của đạn pháo của cả hai bên. Có những gia đình bắt đầu đổi đời, giàu lên nhờ chiến tranh. Thời điểm 69-70 là cao trào của những sinh hoạt quay cuồng trong cơn lốc, mọi thứ cứ căng lên vì guồng máy chiến tranh.

Bụi đỏ mịt mù trong mùa khô và nhão nhoẹt, quánh đặc trong mùa mưa, đó là đặc trưng của vùng đất đỏ. Mổi lần đi học từ trong Quản Lợi ra Bình Long, ngồi trên chiếc xe lam, chịu trận với những cơn gió thổi bụi tốc lên, hoặc gặp những chiếc xe GMC chạy ào qua, quần áo mặt mũi phủ một lớp bụi đỏ au, nhưng vẫn nhìn nhau cười toe toét. Những hôm trời mưa thì chuyện trợt té là điều bình thường, quần áo lấm lem không là gì cả, vì khi ấy còn chưa biết mắc cở, chỉ đến khi bắt đầu biết mơ mộng, biết chải chuốt thì mùa hè đỏ lửa đã ập đến.

 Còn nhớ cái dịp mà trường THBL tổ chức thi đua mỗi lớp trang trí, trồng và chăm sóc một vườn hoa, lúc đó vui dễ sợ, phân công nhau đi tìm hoa cỏ để trang trí cho vườn hoa. Lúc ấy mình lại phát kiến ra, phải tìm một cây dừa để trồng, thế là cả bọn kéo nhau vào khu nhà Tây của chủ đồn điền để tìm, vì khi ấy các khu nhà Tây, đa số chủ đã bỏ về nước, hoặc là ở SG, nên nhà cửa đều bỏ trống, chỉ có ông gác dan coi sóc. Các bạn biết không, tụi nầy leo lên một cây dừa đèo, đốn nguyên cái ngọn đem ra tận Bình Long để trồng cho khu vườn của lớp, vừa chặt vừa canh chừng ông gác dan vì ổng có mấy con chó dữ lắm. Tuy hồi hợp lo sợ nhưng mà vui, đúng là …thứ ba học trò. Mình nhớ lớp 9P1 lúc ấy được phân công ở vị trí gần hố nhảy cao và nhảy xa phía ngó qua bệnh viện.

Những đêm giật mình thức giấc vì tiếng chó sủa râm ran, những đêm phải ngủ gà ngủ gật dưới hầm tránh pháo, thời điểm của những năm 71-72 là lúc thực thi Hiệp định Paris nên Mỹ đã rút quân đi, nhưng lúc ấy thì những cái chết không báo trước bắt đầu xảy ra, cho đến đỉnh điểm của mùa hè năm 72, thì tất cả chỉ còn là ký ức, hoài niệm của một thời…

Tặng các bạn và các anh chị cư dân của Quản Lợi – Bình Long

Thanh Tâm – 08/04/2009

(Trích Biên Khảo Tỉnh Bình Long)

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: