Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 28) Một ngày Chủ Nhật, “Vui chơi, tắm giặt, nghe đài” (1) (tiếp theo 2)

(tiếp theo -2)

            Tuy khỏi lao động, cuốc đất, trồng bắp, trồng mì, ở nhà “vui chơi, tắm giặt, nghe đài”, nhưng chúng tôi chỉ “vui chơi” vào buổi sáng mà thôi.

            Buổi chiều… dù khi trời mây âm u hay bóng chiều êm ả, nắng phai dần, có khi tưởng như những ánh nắng vàng trong “Hai buổi chiều vàng” của Nhất Linh, cũng làm cho lòng kẻ tha phương buồn nhớ cố hương. Huống chi bọn chúng tôi, xa nhà đã năm, bảy năm; tù tội cũng đã năm, bảy năm; xa vắng cha mẹ, vợ con cũng đã năm, bảy năm.

Ai không nhớ con đường làng, hàng phố cũ, những con hẽm quanh co tưởng như bất tận của Saigon, hay “con đường quê” nơi làng cũ, nhớ bến đò đìu hiu, nhớ con đò máy xành xạch chạy qua con kinh vắng lặng, hay bóng chiếc thuyền lênh đênh ngoài cửa biển. Tất cả là những nỗi nhớ khôn cùng, đè nặng lên tâm hồn người tù cải tạo. Nỗi buồn nhớ cha mẹ, vợ con, người thân… không phải là những bâng khuâng nhẹ nhàng của tuổi thanh xuân khi mới biết yêu.

            Có khi người tù nhìn lên ngọn núi Chứa Chan. Núi đụng tới mây, mây đụng tới trời mà nỗi buồn, nỗi nhớ của người tù lên cao vun vút, cao hơn cả những ngọn mây, hơn cả khung trời xanh thẳm trên đầu núi, và ai cũng như ai, cũng ngậm ngùi, chua xót nghĩ tới ngày về.

Biết bao giờ mới được tha về?!

            Tôi nằm bên nầy võng, anh Tâm nằm bên kia. Hai đầu võng nối vào nhau ở cái cột xi măng ngoài hàng hiên. Hai cái võng hơi chéo nhau, tôi có thể thấy mặt anh Tâm. Anh Tâm nằm bên kia cũng thấy tôi được, nhưng suốt một thời gian lâu, anh và tôi không ai nói với nhau một lời nào cả. Có lẽ anh em chúng tôi cùng một tâm trạng:

Nhớ nhà.

“Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Đây không phải khói của Thôi Hiệu, không có “Hoàng Hạc Lâu”, đây không có Huy Cận, chỉ có những bức tường cao, làm sao nhìn “giang thượng” để thấy “yên ba”; dù không thấy “khói hoàng hôn”, không thấy gì, chúng tôi cũng thấy nhớ nhà.

            Nỗi nhớ nhà như một viên đá tảng, đè nặng lên tâm hồn mỗi người, khiến tôi nhớ một câu trong “Pensée d’ Automne” của Anatole France: “Tôi không muốn nói gì cả! Tôi chỉ có một ý nghĩ. Thế nào cũng phải lên đường.” Không phải lên đường để ra đi mà lên đường để trở về. Trở về với gia đình.

            Tôi nhìn qua anh Tâm. Mắt anh vẫn mở, nhìn hững hờ đâu đó lên trời cao, và anh cũng chẳng nói với tôi một lời. Khuôn mặt buồn, thờ thẫn và im lặng của anh làm tôi nhớ tới bài thơ của ông Bùi Khánh Đản.

            Trong một số báo “Bách Khoa” nào đó, xuất bản sau khi chế độ Nhà Ngô bị lật nhào, ông Bùi Khánh Đản kể lại câu chuyện, rằng trước khi bị Tổng Thống Ngô Đình Diệm đưa ra tòa, xử về tội chống chế độ vì ông có “dính líu” trong vụ đảo chánh ngày 11 tháng 11 năm 1960 của ông Đại Tá (cấp bậc lúc đó) Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù thất bại.

            Khi đến thăm ông Bùi Khánh Đản, ngoài câu chào xã giao thông thường, ông Nguyễn Tường Tam không nói với chủ nhà một lời. Hai người ngồi đối diện, trầm ngâm. Được một lúc, Nhất Linh đứng dậy, chào người bạn rồi ra về.

            Nhất Linh đi đã lâu, ông Bùi Khánh Đản vẫn không dứt dòng suy nghĩ về người bạn thơ, về hoàn cảnh chính trị khó khăn bấy giờ Nhất Linh đang gánh chịu.

            Buồn và thương bạn, ông Bùi Khánh Đản làm bài thơ “Thiếu Một Lời” nói về lần thăm viếng hôm ấy:

                        “Chiều nào hiu quạnh đến thăm tôi,

                        Anh đã quên không nói một lời.

                        Tám hướng dần buông vào tịch mịch,

                        Hai lòng vẫn nghĩ chốn xa xôi.

                        Mắt theo dĩ vãng mơ hồ hiện,

                        Tai lắng thời gian thánh thót rơi.

                        Tất cả chìm sâu, sâu xuống mãi

                        Vì anh chỉ thiếu một lời thôi.

&

            Một lúc sau, anh Trần Phú Trắc đến, ngồi xuống thềm, kế bên võng tôi. Anh nói:

            -“Bọn trẻ nó làm vầy là vô tình giết ông Điệp đó anh à!”

            Tôi hỏi:

            -“Ông Điệp mới ra “cát-xô” tối qua?”

            -“Ông ta đấy!” Trắc trả lời.

            Ông Điệp là người nổi tiếng của trại tôi. Nếu Việt Cộng hay ca ngợi “kiên cường”, “bất khuất” thì đó chính là ông Điệp, một người chống Cộng “kiên cường, bất khuất” chớ không phải đó là người Cộng Sản.

            Trước 1975, ông chưa nhập ngũ. Tôi không rõ lý do. Sau tháng Tư năm đó, ông dính líu vào một tổ chức “Phục Quốc” hay “Công giáo chống Cộng”, tôi không rõ lắm, bị bắt. Sau thời gian giam ở Biên Hòa, ông bị đưa về đây, để “sản xuất, lao động”, để giác ngộ chủ nghĩa Cộng Sản, để thấy “lao động là vinh quang.”

            Vậy nhưng không mấy khi ông đi lao động, bởi vì thời gian ông “nằm ở cát-xô” chiếm gần hết thời gian ông ở tù. Đầu tiên, ông có tín ngưỡng rất mạnh. Hình như, tôi nói là hình như vì tôi không rõ và cũng không tò mò chuyện nầy, gia đình ông thuộc một họ đạo ở Hố Nai, có nghề “điêu khắc truyền thống” thường khắc hay nặn tượng Chúa, Mẹ cho nhà thờ, cho các gia đình theo đạo Thiên Chúa trong giáo xứ. Do đó, mới vào tù, ông kiếm một ít gốc củi tốt, cứng, sắm một con dao nhỏ, khắc tượng để đeo hoặc biếu tặng anh em chung trại. Phần đông họ là những thanh niên còn trẻ: “Phục Quốc”.

            Việc làm đó, có hai kết quả. Nhiều người khen ngợi anh, không chỉ vì cái tài khắc tượng đẹp, nhanh, và vì anh có tín ngưỡng mạnh mẽ.

            Thứ hai, bọn Công An theo dõi anh chặt chẽ hơn, tịch thu tượng, dụng cụ anh dùng khắc tượng, giam anh vào “cát-xô”, buộc anh làm cam đoan không tái phạm. Nhưng không bao giờ anh chịu làm theo mệnh lệnh  của chúng, nên anh “nằm cát-xô” dài dài. Được thả ra khỏi “cát-xô”, anh lại “tái phạm”, lại vô “cát xô”. Cứ cái vòng luẩn quẩn ấy diễn ra, kéo lại hoài, làm anh trở thành “khách không mời mà đến” thường xuyên các gian nhà ngói đỏ ở phía sau “Trại Đá”.

            Tối qua, anh mới được tha ra khỏi “cát-xô”. Đám “Thanh Niên Phục Quốc” tôn vinh anh như một thần tượng sống. Vừa thấy anh vào cổng, bọn họ ùa ra “Hoan hô anh Điệp”, chạy đến ông, bắt tay, nắm áo. Ông vừa về phòng, đã có người mời ông đi tắm, nước đã múc sẳn trong thùng, người lo nấu mì, người lo pha trà ông uống. Đám “Thanh Niên Phục Quốc” xúm lại quanh ông, chúc, mừng hỏi thăm, ca ngợi ông là người dũng cảm, kiên trì, bất khuất, coi bọn Công An chẳng ra cái thá gì, v.v… và v.v…

            Trắc nói:

            -“Làm như thế là chúng đẩy ông đi tới, mà ông không lùi lại được, đưa ông cao lên mà ông không xuống được. Với bọn Cộng Sản nầy, làm như thế là nguy cho ông ta lắm.

            -“Leo lưng cọp khó mà xuống”. Tôi góp ý.

            -“Xuống làm sao?! Xuống là mất đi cái tiếng dũng cảm, người hùng, người số một…” Trắc nói.

            -“Vậy là bọn Công An lại cho vô “cát-xô” như rước kia.” Tôi nói.

            -“Vô hoài cũng có ngày không còn ra được nữa.” Trắc kết luận.

            -“Có ai khuyên đám trẻ nầy được không?” Tôi hỏi.

            Anh Tâm nói:

            -Bộ người ta muốn bị chụp mũ là “ăng-ten”, muốn bị chưởi là thằng hèn? Mày không nhớ vụ ông Huy sao?”

            Ông Đào Quang Huy là giáo sư nổi tiếng giỏi ở trường Luật Saigon. Khi Đại Tướng Dương Văn Minh chọn Giáo Sư Vũ Văn Mậu làm “thủ tướng ba ngày”, ông Huy được ông Mẫu mời làm Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng. Ông Huy nhận lời nhưng chưa nhậm chức thì… “đứt phim”.

Ông không bị Cộng Sản bắt đi “học tập cải tạo”, nhưng chúng có âm mưu bỏ tù ông. Chúng cho người giả danh Phục Quốc, đến mời ông tham gia. Ban đầu, ông nghi, ngờ từ chối. Tên cò mồi lui tới nhà ông nhiều lần, năn nỉ, khích tướng ông hèn nhát, nên ông bèn “nổi máu anh hùng”, tình nguyện tham gia. Chúng mời ông đi họp và đưa ông thẳng vô… Chí Hòa.

Sau khi “điều tra”, bọn Công An đưa ông trại Giá Rây “học tập lao động”, cuốc đất, trồng khoai “làm giàu đất nước”. “Lao động thực tế” ích lợi hơn mớ sách vở kinh tế mà ông đã học bên Tây nhiều.

            Về trại Gia Rây, vì “tội Phục Quốc”, ông được “biên chế” chung với đám Phục Quốc, phần nhiều là những thanh niên trên dưới hai mươi tuổi, còn đầy nhiệt huyết với Dân Tộc, Đất Nước.

            Tuy nhiên, họ không hiểu ông. Một hôm họp đội, kiểm điểm lao động, ông bị quản giáo phê phán là “chây lười”. Ông phản bác một cách mai mỉa: “Tôi không may mắn nên được sinh ra trong một gia đình giàu có và trí thức ở Hà Nội trước năm 1954, thành ra cha mẹ tôi không cho tôi làm việc gì nặng nhọc, để có thể hiểu giá trị “lao động là vinh quang”.

            Nghe ông phát biểu như thế, đám thanh niên bồng bột chê ông là người nói xấu cha mẹ, bất hiếu, v.v… và v.v…

            Từng nghe tiếng ông, nghe câu chuyện đó do Trắc kể lại, một hôm, chủ nhật, tôi nhờ anh Nguyễn Đình Niệm, quê ở Quảng Bình, cùng quê với Ngô Văn Vinh là học trò của một người bạn tôi. Qua Vinh, tôi quen anh Niệm, anh Niệm lại thân thiết với Giáo Sư Đào Quang Huy. Anh Niệm gọi tôi tới chơi, cùng uống cà-phê với giáo sư Đào Quang Huy. Hai người nầy, cùng là trí thức với nhau cả. Anh Niệm hoc khóa 2 Võ Khoa Thủ Đức, giải ngũ khi còn là trung úy, qua Nhựt làm gì anh không nói rõ, nhưng có vợ Nhựt, sau làm cho Tòa Đại Sứ Mỹ ở Saigon, không di tản hồi tháng Tư / 75 và đi ở tù. Tôi là người thường học thêm Anh Văn ở anh vì anh giỏi cả hai sinh ngữ, anh và Pháp. Qua cuộc thăm viếng ấy, tôi tin là tôi hiểu Giáo Sư Đào Quang Huy hơn đám trẻ.

            (Ghi chú: Trở lại chuyện ông Điệp, vì cái vòng quay như tôi nói trên kia, sau khi tôi ra tù được vài năm thì nghe tin ông qua đời. Một buổi sáng, trật tự mở “cát-xô” đem thức ăn và nước uống vào cho ông thì xác ông đã lạnh tanh, không biết ông qua đời vào lúc nào.)

&

            Một lát sau, Ngọc “thiến” tới. Trắc hỏi Ngọc:

            -“Ông ở Huế, “ông” có biết nhiều chuyện Huế như “mệ” Hải không?”

            -“Tui thì chịu,” Ngọc nói. “Chuyện đâu trên trời dưới đất, ông kể từ ngày nầy qua ngày khác không hết. Nghe cũng vui!”

            -“Vui gì? Tao đang muốn nghe nó kể tiếp chuyện ông cha Luận cho tao nghe. Ông đi tu, không biết có bồ không? Có không mầy! Hải?”

            Tôi nói trống lãnh sang chuyện khác:

            -“Huế nhiều chuyện lắm. Chuyện mấy ông vua trong cung. Chịu chơi, đa tình nhất là ông Thành Thái. Ông Phan Văn Giáo cũng bắt chước, chơi bời không thua gì vua. Chuyện ông Nguyễn Cao Thăng là một quái kiệt không những Huế mà cả Saigon cũng giật mình. Một mình ông xoay chuyển việc chính trị như trở bàn tay. Ông nầy chết sớm chớ không nếu còn thì Saigon chắc có thêm nhiều chuyện vui! Ông Thăng là “dân Quảng Trị tui”. Cha Luận là dân Hà Tịnh. Cậu Cẩn là gốc Quảng Bình. Thủ Hiến Phan Văn Giáo gốc Khánh Hòa. Mấy ông nầy đến Huế “quậy” dữ lắm, chuyện kể sao cho hết.

            -“Mày kể chuyện cha Luận trước đi.” Anh Tâm bảo.

            -“Cha Luận là cha nuôi của Như Hà, rất có thế lực vì một, ông là linh mục, hai là giáo sư, ba là viện trưởng Viện Đại Học Huế, bốn là thân cận với gia đình họ Ngô, dài dài lắm chuyện…”

            “Ông có công lớn với việc thành lập Viện Đại Học Huế, khó nhứt là việc mời giáo sư. Hồi đó, người Việt Nam tốt nghiệp đại học bằng cấp cao đâu có nhiều, mỗi năm, ông phải đi một vòng Âu – Mỹ để mời giáo sư, xin các viện đại học Âu – Mỹ giúp đỡ. Khi mở Y Khoa, một số bác sĩ Đức qua dạy ở Viện Đại Học là nhờ ông. Ông “Gun” (Wulff) là bác sĩ đầu tiên đến dạy ở Y Khoa Huế. Ông nầy cùng một số giáo sư, sinh viên là cái “kẹt” của Cha Luận đấy. Mặc dù có sự cam kết giúp đỡ giữa hai nước Đức và VNCH, nhưng về tình riêng, giữa Cha Luận với những người nầy khá sâu đậm. Sau vụ Đài Phát Thanh, ông bác sĩ cùng một số giáo sư, sinh viên đứng về phía Phật Giáo, chống lại chính quyền, Cha Luận kẹt cứng. Ông bác sĩ bị đuổi về Đức, một số giáo sư và sinh viên bị bắt bỏ tù. Cha Luận đứng giữa, một bên là những người đầy tình nghĩa với Cha, họ đến với Viện Đại Học, một phần cũng vì Cha; bên phía kia là ông Ngô Đình Thục, – một người không “thuận thảo” gì với Cha -, đã “hạ quyết tâm” triệt hạ đám Phật Giáo “phản loạn” Huế, dám chống lại Ngô Triều…”

            Có kẻng gọi lảnh cơm…

            Tôi cười nói:

            -“Thôi đi lấy cơm mà “vô chuồng”, “chuyện dài Nhân Dân Tự Vệ”

để lại tuần sau…”

            Anh Tâm nói:

            -“Tao đang muốn nghe chuyện Huế của mày.”

            Tôi cười nói giả lả với anh bằng hai câu thơ đầu trong bài “Uống Rượu Tiêu Sầu” của Cao Bá Quát:

                        “Thế sự thăng tram quân mạc vấn,

                        Yên Ba thâm xứ hữu ngư châu…”

            Anh Tâm bèn hỏi:

            -“Nguyễn Công Trứ phải không?”

            -“Cao Bá Quát đó.” Ngọc “thiến” trả lời.

            Anh Tâm nói thật tình:

            -“Tao đi lính mới học thêm thi tú tài, tụi bây sướng hơn, học sinh nên học được kỹ.”

            -“Tui không được như “rứa” đâu ông ơi! Tui “dân Quảng Trị”, mồ côi cha, con nhà nghèo, lang bạt ở Huế mấy năm trời, vừa kiếm cơm ăn vừa học, khi làm “rề-xếp-tơ” (précepteur), khi ăn cơm tháng rẻ tiền, không như anh nghĩ đâu!”

            Trắc cười:

            -“Chương trình chiếu phim hôm nay đến đây chấm dứt, hẹn khán thính giả tuần sau.”

            -“Tuần sau không bao giờ tới, lỡ mai “mệ” Hải được tha về thì sao? Thôi lo lãnh bắp đi. Chiều nầy ăn bắp.” Ngọc “sùi” cười nói.

            Tôi nghe anh Tâm chưởi thề “đ. m.” một tiếng như hồi sáng, khi chúng tôi mới họp mặt nhau.

            Tôi nghĩ chắc không phải anh Tâm chưởi tôi!”

Phụ lục

TRỞ LẠI VIỆT NAM
Hồi ký BS. ERICH WULFF – Minh Nguyện (Việt dịch)

Lời người dịch : Đây là bài thứ tư được trích dịch từ quyển hồi ký tiếng Đức Vietnamesische Lehrjahre (Những năm dạy học tại Việt Nam), Suhrkamp Verlag, Taschenbuch Nr. 73, Frankfurt a.M., Germany, 1972, từ trang 211 đến 214, với tên tác giả Georg W. Alsheimer, bút hiệu của Erich Wulff. Ông này là một bác sĩ người Đức dạy tại trường Đại học Y khoa Huế từ năm 1961 đến 1967, trong khuôn khổ viện trợ giáo dục của Tây Đức. Vì một sự tình cờ, tác giả đã chứng kiến biến cố tại đài phát thanh Huế đêm 8/5/1963 làm 8 Phật tử bị chết một cách thê thảm và đã được mời trình bày sự kiện này trước Uỷ ban điều tra đàn áp Phật giáo Việt Nam của Liên hiệp quốc vào tháng 9/1963.
 
Bài thứ tư này nói về chuyến trở lại Việt Nam vào tháng 4/1964 của tác giả sau khi chế độ Ngô đình Diệm bị lật đổ và được tiếp đón trọng thể tại Sài gòn và Huế. 

Trong suốt chuyến bay từ Paris về Sài gòn tôi chỉ biết nằm ngủ. Hai chỗ ngồi bên cạnh tôi bị bỏ trống. Khi máy bay dừng lại tại New Delhi tôi thấy bước vào một hành khách là một vị tăng sĩ tròn trịa, khoảng 50 tuổi vận áo vàng ; khi đi ngang qua chỗ tôi ngồi, tôi nghe hình như vị ấy thì thầm vài chữ tiếng Việt. Lúc ăn sáng tại một quán ăn ở phi trường Bangkok tôi đến ngồi bên vị ấy và gợi chuyện. Vị ấy đúng là một người Việt và đã sống 12 năm vừa qua tại Ấn độ. ‘Nếu vậy, chắc Thầy là Thượng tọa Thích Minh Châu’. Vị ấy cười. ‘Còn ông, chắc ông là Bác sĩ Wulff phải không?’. Vị ấy đã nhìn thấy sổ Thông hành Đức của tôi khi tôi trình giấy tờ cho cảnh sát phi trường, do dó đã suy luận ra như thế.

Bức thư của tôi viết vào tháng 5/ 1963 đã đến tay Thầy (1) và Thầy đã báo động liền đến Tổ chức Phật giáo Thế giới. Sau đó Thầy cũng đã đọc được một vài bài báo khác của tôi. Thời gian còn lại trên chuyến bay về lại Sài gòn quá ngắn ngủi để tôi có thể kể lại cho Thầy nghe hết những gì tôi đã chứng kiến tại Việt Nam trong những năm vừa qua. Vì đã xa quê hương hơn 12 năm nên Thầy cũng khó hình dung được tình hình hiện nay như thế nào. Thầy đã hỏi tôi về tình hình, về dư luận, về những tàn phá của cuộc chiến tranh, về sức khoẻ của người anh ruột đang làm Chủ sự tại Tòa Viện trưởng Viện Đại học Huế. Thầy tỏ vẻ thông cảm với những câu trả lời chưa được hoàn hảo lắm của tôi. Thầy Minh Châu là một con người trầm tĩnh, sâu sắc ; phong cách thoải mái và đượm nhiều hóm hĩnh của Thầy rõ ràng chứng tỏ Thầy không phải là một nhà tu khổ hạnh hay là một người xách động chính trị. Nhưng Thầy là một người quan sát tinh tường, đã đi thăm nhiều nơi tại Đông Nam Á cũng như đã ghé qua Trung hoa lục địa. Với những kinh nghiệm giao thiệp quốc tế như thế của Thầy, điều rất còn thiếu sót nơi các vị lãnh đạo Phật giáo Việt Nam, hẳn sẽ giúp Thầy làm nhịp cầu đối với bên ngoài. Thầy nói cho tôi biết rằng trước hết Thầy muốn xem tình hình tại quê nhà như thế nào. Thầy cũng không biết sẽ ở lại hay lại ra đi. Nhưng khi về lại Sài gòn, Thầy đã nhận lãnh nhiều vinh dự và công tác đến nỗi không còn nghĩ đến chuyện rời xa khỏi nước. Thầy đã được bổ nhiệm vào chức vụ Viện trưởng của Đại học Phật giáo Vạn Hạnh vừa mới được thành lập.

Khi máy bay hạ cánh tại Sài gòn, tôi thấy sân bay đông nghịt cả người. Một ban quân nhạc đứng dàn chào; phía dưới cầu thang máy bay tôi thấy đã có mặt các người bạn Hoàn, Tuân (2) và thầy Trí Quang cùng các vị lãnh đạo Phật giáo khác. Thời tiết nóng bức dữ dội, tôi lại mặc bộ đồ veston và cầm áo choàng vì không còn chỗ để trong vali và để tránh quá kí. Khi bước ra máy bay, tôi lại cầm tay hộ thùng đồ to tướng của thầy Minh Châu, nên trông tôi có vẻ nực cười. Một viên đại tá giơ tay chào và xin tôi giao giấy phiếu lãnh hành lý và giành lấy thùng đồ to tướng ra khỏi tay tôi, trước khi tôi giải thích được rằng thùng đó không thuộc về của tôi. Sau đó tôi mới có thể chào hỏi bạn bè. Tôi phải bắt tay lia lịa bên phải và bên trái của tôi. Các bạn Fritz và Miên (3) không ra đến được sân bay. Khi chúng tôi được đưa ra khỏi Phòng khách đặc biệt, tôi chợt thấy họ đứng bên cạnh xe Con Cóc 2 CV lọc cọc của Miên. Tôi muốn đi về nhà cùng với xe của họ, nhưng thầy Trí Quang nhất định mời tôi vào ngồi trong một chiếc xe Mercedes được mướn để đưa về nhà Lý, người anh của Tuân để dự một bửa tiệc tại đó.

Những ngày tiếp theo là những buổi tiếp tân và chiêu đãi liên miên. Các chùa mời những bửa ăn chay thịnh soạn, còn các người bạn Hoàn và Oánh, Miên và Quát (4) thì mời những bửa cơm tối thân mật. Những lúc rổi rãnh tôi đều qua biệt thự của Tuân, nhỏ hơn ngôi nhà của họ ở Huế nhưng lúc nào cũng đầy ập cả người giống như một chỗ cắm trại camping vào lúc cao điểm. Bà con và bạn bè từ Huế vào đều tá túc tại đây, Tuân và người vợ Phương nhiều lúc cũng không có một căn phòng dành riêng cho mình. Quát vẫn ở tại ngôi nhà cũ đẹp đẽ, vì không muốn dọn vào một tòa nhà của chính phủ với nhiều điều phiền toái. Riêng Oánh và Hoàn thì dọn vào những toà lâu đài với vườn hoa rộng lớn như công viên, có những bức tường cao bao bọc chung quanh. Đó nguyên là các tòa nhà của những nhân viên cao cấp của thực dân Pháp trước đây để lại. Bà vợ của Hoàn, trước đây làm nghề y tá tại Paris, nay đeo đầy hột xoàng, đang tìm cách vô vọng thế vào vai trò của một Đệ Nhất Phu nhân của bà Nhu trước đây. Người chồng không lấy làm gì vui vẻ cho lắm, nhưng không dám nói gì.

Trong những ngày đầu tiên sau khi trở lại Việt Nam tôi không có thì giờ cho những buổi đàm luận nghiêm chỉnh. Tôi vừa mới hoàn tất những buổi gặp mặt cần thiết thì quý Thầy Trí Quang và Minh Châu muốn đi cùng tôi ra Huế. Tuân cho rằng một chuyến đi chung như vậy có lợi về mặt chính trị. Tại phi trường Phú Bài các sinh viên và các đồng nghiệp người Đức đã chờ đón tôi. Nhưng mà họ không có cơ hội để chào đón tôi một cách đàng hoàng. Hàng ngàn Phật tử đã chiếm lấy sân bay, hoan nghênh nhiệt liệt quý Thầy Trí Quang, Minh Châu và tôi, và vẫy lá cờ năm màu của Phật giáo quốc tế trên tay. Chúng tôi tiến vào thành phố trên những chiếc xe mui trần, đoạn đường dài 13 cây số đi qua những phong cảnh quen thuộc đang sang xuân vào lúc hoàng hôn đã làm biến mất đi dần những biên giới không gian như trong một bức tranh Tàu. Tại mỗi thôn xóm đi qua đều có các đoàn thanh niên phật tử hân hoan đứng chào trước những căn nhà trang hoàng đầy hoa và cờ. Đoàn xe đi vào Huế, chạy dọc dòng sông Hương, đi ngang qua cư xá của chúng tôi và dừng lại tại chùa Từ Đàm, trung tâm tranh đấu chống chế độ Diệm và là nơi khỏi đầu của phong trào chấn hưng Phật giáo 30 năm trước đây. Các em thiếu nhi phật tử đứng tập hợp bên cạnh các thiếu nữ áo dài tím nhạt và các thanh niên trong đồng phục của Gia đình phật tử. Đứng trên tầng cấp của chùa, quý Thầy Trí Quang, Minh Châu và tôi nói những lời phát biểu ngắn (5).

Trong lúc đứng trên khán đài tôi cảm nhận được niềm hân hoan phấn khởi của quần chúng. Ở nơi đây tôi có cảm giác rất mạnh mẻ nhiều hơn so với Sài gòn về nồng độ biểu dương bề ngoài, vì thực tại chợt đến như một giấc mơ. Đó là một sự hoà nhịp giữa những tình cảm nồng cháy trộn lẫn với tâm trạng hãnh diện của những người chiến thắng trở về lại nơi chốn mà trước đây người ta đã gieo sợ hãi và đã trục xuất tôi đi. Nhưng trên đường trở về lại căn phòng, tôi đâm ra suy nghĩ về sự say men chiến thắng của các giới Phật tử. Điều này làm cho tôi liên tưởng đến những gì đã xẩy ra trước đây do người Thiên chúa giáo gây ra, những điều mà tôi không đồng tình và chống đối. Tuy nhiên sau khi chịu nạn kỳ thị trong 10 năm vừa qua, nay có lẻ đám đông quần chúng cần một biểu thị tự chứng tỏ sức mạnh. Một sự biểu dương lực lượng hẳn nên được chấp nhận. Nhưng điều này sẽ kéo dài bao lâu ? Tôi mong mỏi rằng sự say men chiến thắng và biểu dương quyền lực mới giành được này của các Phật tử không làm mờ đi những nhiệm vụ quan trọng hơn đang đợi chờ họ.

BS WULFF 
Minh Nguyện (dịch Việt, tháng 5/2004)

Ghi chú của người dịch : 

(1) Bác sĩ Wulff đã biên thư cho Thầy Minh Châu kèm theo lá thư của Thầy Trí Quang báo động về vụ đàn áp tại đài Phát Thanh Huế đêm 8/5/63. Xin xem bài thứ nhất phổ biến trên các trang nhà : http://www.quangduc.net/phatdan/86bsiwulff.html  http://thuvienhoasen.org/qd-tuongniem-12.htm 

(2) Lúc này các người bạn của tác giả đang tham gia chính quyền : Phó thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn, bộ trưởng giáo dục Bùi Tường Huân (Xin xem ghi chú 1 của bài thứ nhất ghi lại trên đây).

(3) tức Đại sứ Bùi Diễm, Fritz là Tuỳ viên văn hóa toà Đại sứ Hoa kỳ.

(4) tức Thủ tướng Phan huy Quát, và Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh sau này.

(5) Xin xem hình ảnh và bài viết của BS Wulff nhân kỷ niệm 40 năm nhìn lại Pháp nạn 1963 : http://khuongviet.com/PD63/Kyuc_Wulff.htm

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: