Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 28) Một ngày Chủ Nhật, “Vui chơi, tắm giặt, nghe đài” (1) (tiếp theo)

            Chúng tôi đem về anh em mỗi người một phần cơm. Thấy chén cơm lưng lẻo, anh Tâm nói:

            -“Có chút xíu vầy mà ăn cái chi! Làm sao cho no đây trời!”

            Ngọc “xùi” nói:

            -“Nấu thêm một ít mà ăn!”

            Chiếu nhanh nhẩu:

            -“Chờ tui nấu thêm. Lâu lâu nên “bồi dưỡng” cái xác phàm một chút cho có lòng nhân đạo.”

            Anh Tâm hỏi:

            -“Mày có gạo không?”

            -“Đừng lo! Tui mới thăm nuôi. Gạo dưới tui bây giờ ăn không hết. Công An không cho đem ra khỏi tỉnh. Tui nấu bốn “loon” nghe! Đủ không!”

            Ngọc “xùi” cười:

            -“Bốn “loon”! Quá đã! Quá đã!”

            Quê Chiếu ở Cần Đước. Cần Đước, Cần Giuộc là hai nơi sản xuất gạo của Long An. “Ngăn sông cấm chợ” thì Saigon không có gạo, mặc dù Long An kế cận Saigon.

            Anh Tâm hỏi Chiếu:

            -“Gạo không lên được Saigon à? Qua khỏi cầu ông Thìn là tới bót Ký Thu Ôn rồi mà gạo không đi được?”

            -“Vợ tui nói, tụi Công An Kinh Tế xét dữ lắm. Đem cho tui ba chục lon gạo, có giấy đi thăm nuôi mà cũng bị tụi nó bắt, năn nỉ thiếu đường lọi lưỡi.” Chiếu kể.

            Bỗng anh Tâm hỏi tôi:

            -“Hải! Mầy có học kinh tế không?”

            -“Có chớ. Tui học với bà Trai ở Huế.”

            -“Tao thấy có một nguyên tắc, mà Cộng Sản làm chuyện lạ đời. Mậu dịch càng lớn càng rộng, kinh tế mới phát triển. Nước nầy nước kia còn phải vậy, huống chi trong một nước.” Anh Tâm nói. Anh đang học luật thì “đứt phim” (tức ngày 30 tháng Tư)

            -“Anh không nhớ Lê Duẫn, Phạm Văn Đồng tuyên bố à?” Tôi nói. Trong “Hội nghị các nước không liên kết” họp ở Ấn Độ sau 1975, ông Đồng tuyên bố hách một câu: “Phát triển đất nước, phải dựa vào sức mình là chính”. Hội nghị vỗ tay hoan hô. Hoan hô thiệt hay hoan hô giả, ai mà biết, nhưng phát triển kinh tế mà “dựa vào sức mình” thì nước người ta đi hia bảy dặm, còn mình đi bộ phía sau. Lê Duẫn thì bảo: “Tỉnh nào có người chết đói là tỉnh ủy ấy phải chịu trách nhiệm” nên nơi nào sản xuất thực phẩm thì giữ lấy mà ăn. Tỉnh nào lo tỉnh đó thì kinh tế phát triển sao được!? Không có cái “học huyết kinh tế” nào mà u mê kỳ lạ đến như vậy. Vậy mà y còn nói, chỉ sau một vài “kế hoạch năm năm” thì nhà nào cũng có TV, tủ lạnh. Có bằng cách nào, tui không hiểu được. Lúa làm ra không bán được thì nông dân trồng lúa làm chi, ruộng bỏ hoang. Hàng công nghiệp làm ra không bán được thì sản xuất làm chi, hãng xưởng đóng cửa. Cái chết rõ ràng như dzậy mà tụi nó không thấy được là sao?”

            Chiếu đi nấu cơm rồi. Ngọc “xùi” lo luộc rau. Y hỏi anh Tâm:

            -“Tui luộc hết mớ rau lặt hồi sáng nghe không, anh Tâm.”

            Anh Tâm bảo:

            -“Mày luộc hết đi.”

            Rồi anh đi vô nhà. Một lúc sau, anh cầm ra ba con khô nục, nói với Ngọc “xùi”:

            -“Luộc rau xong mầy nướng luôn, chút nữa ăn với nước mắm!” Xong anh dặn:

            -“Mày nhớ luộc rau bỏ vào chút muối. Đừng đậy nắp.”

            Tôi nói:

            -“Thằng đó “xuất sắc trong vi tỳ nữ”. Anh đừng lo.”

            Một lát sau chúng tôi bày cơm rau ra giữa thềm nhà, quay quần ngồi ăn. Tôi nói:

            -“Bữa nay mình ngon dữ. Một bữa thịnh soạn.”

            Bỗng anh Tâm nói to:

            -“Ngọc “xùi” cho muối nhiều quá, nước canh mất ngon.”

            Tôi nói đùa: “Nó học nghề “Chú Ba-Tô” mà anh!”

            “Chú Ba Tô” là tên gọi đùa ông cựu đại úy Cảnh Sát Trần Thanh Tuấn, nguyên Chủ Sự Phòng Công Xa Bộ Tư Lệnh CSQG. Hồi còn học ở Cao Thắng, đóng kịch, chú thường đóng vai hề Charlo, nên bạn bè gọi đùa là “chú Ba Tô”. Cái tên ấy đi theo anh ta mấy chục năm nay.

            Một hôm, thấy tôi nấu chè, chú bảo:

            -“Này Hải! Mầy nấu chè nhớ bỏ vô ít muối, cho “lại đường”, mới ngọt.”

            Xong, tôi mời chú một chén.

Mấy hôm sau chú nấu chè mời lại tôi. Tôi đùa:

            -“Chú bỏ ba muỗng muối một muỗng đường phải không? Mặn quá! Chú ướp muối chớ nấu chè chi?”

            Mấy anh em chung quanh nghe tôi nói đùa đều cười. Từ đó mới có câu chuyện Chú Ba Tô nấu chè bỏ muối nhiều vì muối rẻ hơn đường.

            Chưa hết màn “đãi ngộ” cái xác phàm ngày chủ nhật. Sau khi cơm nước xong, chúng tôi còn bày trò uống “Cà-phê Ban Ma Thuột”.

            Nói “Càphê Ban Ma Thuột” là nói thật, chính hiệu.

            Khi còn ở “trại trong” – tức Trại B rồi Trại A, tôi thường ăn chung với Ngô Văn Tăng, cụ Trần Văn Niệm và Phan Thành Long. Long lo việc nấu nướng vì tôi thì lớn tuổi, ông Tăng và cụ Niệm đã già. Long tận tình lo cho “cụ Niệm già” hơn ai hết.

            Cụ Niệm vui tánh! Những bữa ăn với “Cụ Niệm”, nhất là vào những ngày nghỉ, tôi được nghe không ít những chuyện vui do cụ kể. Nhìn mặt cụ đã thấy vui, nói chi chuyện cụ kể. Cụ để râu như Hồ Chí Minh. Mắt cụ to, nhưng trông hiền, không sắc và dữ như mắt ông Hồ. Bình thường mắt cụ đã to, như mắt “Con nai vàng ngơ ngác” xứ Ban Ma Thuột. Khi vui, cụ cười, mắt híp lại, trông thật hay! Ngồi chơi ngoài hiên nhà, gió thổi mơn man, râu cụ bay trông rất hay.

            Có lần, tôi nói đùa:

            -“Cụ chừa râu như “già Rô” – tiếng lóng anh em chúng tôi gọi đùa Hồ Chí Minh – “tụi nó ghét, chờ cụ ngủ say, chúng nó cắt râu cụ có ngày.”

            Cụ nói:

            -“Tao đâu muốn bắt chước ai. Đây là cái tục của ông bà, tao làm theo. Chừa râu như vầy, tao là người Việt Nam, “già Rô” thì chưa hẳn là người Việt Nam. Ổng là “Quốc tế Vô Sản” rồi, “ngụy trang” đấy, Việt Nam gì nữa!”

            Rồi cụ kể:

            -“Hồi trẻ, tao ghét chừa râu lắm. Già, tao lại bày đặt. Đàn ông chừa râu, làm đàn bà có người ưa, người ghét.”

Ông Ngô Văn Tăng góp ý:

-“Ông Diệm không râu, không có ông tướng nào dám chừa râu. Ông Diệm chết rồi, mấy ông tướng đua nhau chừa râu! Báo chí hỏi, mấy ông trả lời không ra!”

-“Tự vì báo chí hỏi mấy ông tướng.” Tôi nói. “Tui thì tui hỏi ngay mấy bà tướng, bà Khánh, bà Kỳ… Mấy bả cho biết lý do ngay, lý do rất rõ ràng!”

Cụ Niệm cười:

-“Mày nói móc. Ai không biết mấy bà ưa “Nhứt lưỡi, nhì râu, tam đầu, tứ củ”. Bài bản nầy có từ Đường Minh Hoàng với Dương Quí Phi bên Tầu. Đường Minh Hoàng thì già. Dương Quí Phi vừa trẻ vừa sexy.”

Nghe cụ Niệm nói, tôi hỏi:

-“Hồi trẻ, chắc cụ cũng bay bướm lắm?”

-“Còn hỏi! Tao bây giờ già, người ta còn ưa nhìn, huống gì còn trẻ. Hồi đó tao làm Cảnh Sát ở Hải Phòng, người làng ở Thái Bình lên, muốn ở lại hay trễ xe, cứ tới nhà tao ở lại, khỏi ở khách sạn, tốn tiền.”

-“Hồi đó cụ chưa có vợ?” Tôi hỏi.

-“Vợ con đâu! Tao thuê nhà ở một mình, cũng để người làng lên Hải Phòng có nơi trú chân!” Cụ Niệm nói.

Tôi vừa nói vừa cười:

-“Cụ mà không léng phéng với cô nào, tui không làm người!”

Cụ Niệm cười:

-“Được cái là tao không léng phéng cô bà nào có chồng rồi. “Trai tân, gái góa thì chơi. Đừng nơi có vợ, đừng nơi có chồng.” Tội lỗi lắm, thất đức.”

-“Cụ chộp được mấy cô?” Tôi hỏi.

Bỗng cụ nói khác đi:

-“Này, “ông” biết không? Tụi nó còn con gái mà nhiều đứa mất trinh. Hồi xưa mà vậy, làm sao có chồng!”

-“Thời Việt Minh cụ ơi! “Giải phóng phụ nữ” mà. Đi họp hành, vô đoàn thể, vô du kích, canh ngày, gác đêm, tụi nó chơi “tét mẹ cái ong bầu”, con nào mà còn trinh!” Tôi nói.

-“Tao sợ hai điều. Một là con gái còn trinh. Mình thì chơi bời, làm nó mất trinh mà không cưới nó thì tội cho nó. Còn con nào mất trinh rồi, lỡ nó có bầu, phải cưới thì “chết cha tao!” Nói xong, cụ Niệm cười hề hề.

-“Có vợ rồi, cụ còn léng phéng với cô nào nữa không?” Tôi hỏi.

-“Cái tánh “dê” cũng không chừa, chỉ ít lại thôi.” Cụ nói, thật thà.

Cụ Niệm kể rất nhiều chuyện bay bướm của cụ như thế cho bọn tôi nghe. Bao giờ cụ cũng kết luận bằng câu:

-“Tôi nghiệp. Tao làm khổ bà ấy nhiều lắm!”

Bà ấy, tức là vợ của cụ chớ ai!

Cụ cũng hay kể chuyện về đứa con trai út của cụ, Thằng ấy tên Bảo.

-“Nó thương tao lắm! Tao đi làm về trễ, bao giờ nó cũng chờ tao về, “Ăn với ba!” Khi nào không “ăn với ba” được thì nó cũng ngồi trước mặt tao, khi tao ăn. Nó vừa nhìn tao, vừa lượm những hột cơm rơi trên bàn, bỏ mồm nhai. Vừa nhai vừa hát câu: “Giết người đi…”, “Giết người đi…” Bực mình, tao nói: “Ăn gì dơ! Bộ chết đói hả?”

-“Me có để đói bao giờ! Ăn cho vui mồm.” Nó trả lời!

Tao lại hỏi:

-“Cái gì mà “Giết người đi…” Giết người là sướng lắm hả? Không nên giết ai hết, giết người là có tội.”

-“Giết là giết người trong mộng. Chỉ là trong mộng thôi bố à! Phạm Duy còn bảo: “Giết người đi thì ta ở với ai?!”

-“Câu ấy hay đấy!” Tao bảo nó.

Kể xong, cụ Niệm nói:

-“Tao thương thằng út lắm.”

Bỗng cụ hỏi:

-“Mày biết ông anh tao không?”

-“Ông nào?” Tôi hỏi.

-“Trần Văn Ứng.” Cụ trả lời.

-“Tui có nghe tên một ông Trần Văn Ứng, danh thủ bóng tròn đất Bắc Hà. Phải ông nầy không?” Tôi hỏi.

-“Chính hiệu con nai vàng.” Cụ Niệm cười.

Một lúc, cụ kể:

-“Hôm tranh giải vô địch ở sân Hàng Đẫy, Nha Công An Bắc Việt cho xe về Hải Phòng đón tao lên xem đấy. Mấy chã thật là điệu đời.” Cụ khen.

-“Dân Hà Nội mà ông! Có vậy mới là đất văn vật, ở với nhau chí tình.” Tôi tán thán.

&

Ba bốn tháng Cụ Niệm mới được thăm nuôi một lần. Gia đình cụ ở tận Ba Ma Thuột. Cậu con trai út của cụ bao giờ cũng đi theo mẹ. Và thường thì cụ được một gói “Càphê Ban Ma Thuột” chính hiệu. Thế nào, ngày chủ nhật kế đó, bọn tôi cũng được cụ đải cho một chầu càphê. Dĩ nhiên, lời đồn thiên hạ không sai. Thứ càphê nầy là càphê số một trần gian.

Một lần đang uống càphê với nhau, tôi hỏi cụ:

-“Thứ nầy có phải là “càphê cứt chồn” không?”

-“Đâu phải!” Cụ trả lời. “Càphê cứt chồn” ngon hơn nhiều.” Cụ trả lời.

-“Nó có giống như “trảm mã trà” không?” Tôi lại hỏi.

-“Khác chứ. “Trảm mã trà” là lá trà non tẩm với dịch vị trong bao tử con ngựa. “Càphê cứt chồn” không phải vì cứt chồn ngấm vào càphê mà ngon. Cứt thấm vào thì hôi chứ ngon mẹ gì!” Cụ Niệm nói.

-“Vậy nó ngon vì sao?” Tôi lại hỏi.

-“Cứt chồn khô hay tươi đều hôi. Người ta đi lượm hột cà phê lẫn trong cứt chồn, đem về rửa thật sạch, phơi khô để hết mùi hôi. Còn như hột càphê nó kén lắm. Hột phải chín đủ, càphê mới ngon. Con chồn nó ăn hột càphê, hột chín. Nó chỉ tiêu thụ cái vỏ lụa. Còn hột cà phê cứng, nó ỉa ra ngoài. Khi ăn, chồn chỉ ăn những hột đã chín đỏ, là lúc hột càphê đạt tới cái độ chín nhất, ngon nhất. Càphê mình thường uống, là cà phê hột già, xanh đậm chứ chưa chín hẳn. Tới đó người ta phải hái rồi, không chờ cho nó chín đỏ được, càphê rụng mất.”

-“Cụ uống càphê cứt chồn” lần nào chưa?” Tôi hỏi.

-“Thiếu gì lần. Khi tao làm “xếp pô-lít”, tới mùa, thằng Tây chủ đồn điền biếu nửa kí-lô “càphê cứt chồn”. Nửa ký thôi nhé, không có nhiều đâu. Mỗi người được biếu nửa ký, phải là người đang cầm quyền mới được chủ nó biếu cho. Tới mùa, mỗi sáng, mấy đứa con gái Thượng được lệnh chủ đi tìm hột càphê trong cứt chồn. Ngoài số biếu, còn lại thằng chủ đem về Tây.” Cụ Niệm giải thích.

-“Đem về cho ai bển?” Tôi tò mò hỏi.

-“Gia đình bạn bè nó. Vợ con nó ở bên đó, đâu có qua bên nầy. Mỗi năm nó về thăm nhà một lần, với lại đem tiền về.”

-“Tiền gì?” Tôi lại hỏi.

-“Tiền nó kinh doanh làm ăn. Phải qua hối đoái nó mới đem tiền về được.” Cụ Niệm nói.

-“Nhiều không?” Tôi lại tò mò.

-“Bạc triệu. Đổi ra đô-la hoặc Franc. Đem tiền Việt Nam về bên đó không xài được.” Cụ Niệm nói.

-“Cụ nghĩ có cách nào mà đem tiền về Tây được! Khó lắm. Ông bạn tui, có con du học bên Đức, được đổi tiền, cũng đủ giàu.” Tôi nêu ý kiến.

-“Tao biết! Có cách hay lắm. Hỏi được thì mày hỏi ông Ngô Đình Thục với ông Huỳnh Văn Lang, đệ tử ông Thục nên được làm Viện trưởng Viện Hối Đoái đấy.”

Tới đó thì tôi chịu thua, đành làm thinh, nói lãng sang chuyện khác:

-“Càphê vợ tui bới cho không ngon. Đông nó có bảo càphê Saigon bây giờ phần nhiều là càphê Long Khánh, hơi chua. Tụi nó pha với cơm dừa rang cháy xay nhỏ với hột cau, đắng, khó uống, có khi pha với bột bắp nữa.” Tôi nói, một hơi.

Cụ Niệm cười cười:

-“Mày biết pha hột cau để làm gì không?”

-“Biết rồi! Khổ lắm! Nói mãi!” Nói xong, tôi và cụ Niệm cùng cười.

Một lúc, cụ nói:

-“Mày biết không?”

-“Có chuyện gì hay?” Tôi hỏi.

-“Không hay thì tao không nói với một đứa tò mò như mày. Nghề trồng càphê nầy giàu lắm. Có đứa chết đấy. Ghê lắm.” Cụ Niệm nói.

-“Vàng và Máu” của Thế Lữ hay “Càphê và Máu” đây?” Tôi cười hỏi.

-“Tao điều tra môt vụ cướp càphê, rợn người luôn.” Cụ Niệm nói.

Tôi lại đùa:

-“Cướp tiền cướp bạc, ai lại cướp càphê.”

-“Để tao kể cho nghe. Tới mùa, càphê hái rồi, mấy thằng chủ Tây chất đầy trong kho. Đám lính chi khu, tổ chức đem một chiếc xe Dodge vô cướp càphê. Bọn nó phá cửa kho, chất đầy xe, rồi dọt lẹ. Ban đêm chủ Tây không dám đuổi theo. Bữa đó, phe ta gặp ngay tụi Cộng. Hai bên nổ súng. Việt Cộng rút chạy. Phe ta chết một trung sĩ. Tụi nó lén chôn trong rừng, không dám báo cáo. Vậy rồi việc cũng vở lở ra. Quân Cảnh Tư Pháp với tao điều tra, bắt giam mấy thằng. Tụi nó khai thiệt. Hôm đi lấy xác thằng trung sĩ, mới đào lên, trúng đôi giày “bốt-đờ-xô”. Đứa con gái hơn mười tuổi biết ngay là bố nó. Nó khóc nức nở: “Bố ới! Bố ơi!” Nghe con bé khóc, tao xúc động muốn vở tim ra luôn, tao tưởng như có ai bóp tim tao lại. Tao chảy nước mắt. Làm ăn cái gì mà tội nghiệp vậy hả trời. Bây giờ kể lại, tao còn lạnh mình.”

-“Việt Cộng cũng đi cướp càphê!” Tôi hỏi.

-“Tụi nó đi thu thuế, chớ không phải cướp càphê. “Tao ngộ chiến” mà.”

-“Tự thằng chủ nó không đóng đủ hay chưa kịp đóng. Bọn kinh tài Việt Cộng là kinh lắm. “Tiền và Máu” là tụi nó đấy.” Tôi nói.

-“Mày cũng rành dữ.” Cụ Niệm nói.

-“Cụ biết không?” Tôi nói. “Tui ở Rạch Giá, ai làm ruộng trong vùng sâu mà không đóng thuế cho Việt Cộng là tui cùi luôn. Làm rừng, làm gỗ cũng vậy thôi.”

-“Mày biết TrungTá Thứ quận trưởng Ph. A. không? Chả đi cải tạo mới hơn một năm mà được tha về rồi.” Cụ Niệm nói.

-“Tui có gặp ông ta với vợ ông ở Saigon một lần, ở nhà ông xếp tui. Giàu lắm, vừa làm quận trưởng, vừa có đồn điền càphê. Cái ghế quận trưởng của ổng bắt vít kỹ lắm.” Tôi nói.

-“Mày nghĩ tại sao chả về sớm vậy?” Cụ Niệm hỏi.

-“Sĩ quan Cảnh Sát mà không biết chuyện đó sao được! Đóng thuế, kinh tài Việt Cộng, tiếp tế thuốc men, vợ chạy chọt khi vô tù… Biết bao nhiêu lý do! Cháy nhà ra mặt chuột. Trung tá Thứ mặt chuột, không phải mặt người.”

-“Mày thì thôi!” Cụ Niệm vừa mắng tôi vừa cười.

Có lần, cụ Niệm hỏi tôi:

-“Mày biết “Vương Quốc Sedang không?”

-“Biết chút chút.” Tôi nói. “Lâu lắm, khi còn nhỏ, tui đọc một bài trên báo Phổ Thông của ông Nguyễn Vĩ, nói về một ông Tây làm vua ở xứ mọi nào đó trên Cao Nguyên. Ông Tây nầy sao lại có tên là Marie? Marie là tên đàn bà chớ!”

-“Mấy thằng Tây chủ đồn điền càphê cũng là vua một xứ đấy. Nó không xưng vua mà thôi, chứ sống như vua.” Cụ Niệm nói.

-“Cụ nói sao? Tui không hiểu.”

-“Việc điều hành thu hoạch, buôn bán có người của nó lo hết. Nó chỉ việc hưởng thụ, hú hí với con vợ mọi, có thêm mấy con hầu, như vua vậy!” Cụ Niệm giải thích.

-“Tây qua làm vua ở xứ ta, sướng nhỉ. Nhưng nó có vợ bên Tây mà?” Tôi nói.

-“Bên Tây là vợ chính thức. Vợ bên nầy nó cưới theo tục lệ xứ Thượng, hạ trâu heo ra ăn nhậu là xong, không cần giấy tờ. Con vợ nó sexy lắm. Thỉnh thoảng, con nầy nó bỏ tiền ra, mua một vài con nhỏ Thượng còn con gái đem về cho chồng nó chơi. Xong, nó cho về hay ở lại hầu hạ.” Cụ Niệm kể.

-“Có tiền mua tiên cũng được, huống gì mấy con nhỏ mọi.” Tôi tiếp lời.

-“Trong đồn điền của nó, chính quyền ít khi đụng vô. Có chuyện gì, chúng nó giàn xếp với nhau hết, không có thưa kiện, không làm phiền mình.”

-“Vậy chớ nó làm chi cũng được hay sao? Tụi nó có buôn bán ma túy thuốc phiện như ở Quảng Đức, Phước Long hay không?” Tôi lại hỏi.

(Sở dĩ tôi hỏi câu đó là vì có mấy sĩ quan trong số “Vườn Đào” chuyển lên, kể cho tôi nghe, khi họ phục vụ ở Phước Long, cứ vài tuần một lần, có một chiếc máy bay loại Cessna từ Lào qua, bay thấp xuống, thả một vài kiện hàng trong rừng cao su. Tỉnh trưởng cho xe Dodge ra nhặt lấy, đem về dinh tỉnh trưởng, bỏ vô tủ lạnh hư, cột kỹ cho trực thăng chở về trụ sở Quốc Tế Quân Viện ở đường Trần Quốc Toản, Quận 10, nói là đem tủ lạnh đi sửa. Hàng từ đó, chuyển đi đâu, họ không biết. Người ta nghi là đó là bạch phiến từ Tam Giác Vàng. Việc buôn lậu nầy có liên hệ với Tây ở bên Lào, và cả chính quyền Miền Nam nữa đấy, kể cả đường dây của ông Tuyến, ông Nhu và tướng Quang sau nầy. Tôi có kể lại cho cụ Niệm nghe).

-“Không biết được đâu. Nếu có thì ở cấp trên với nhau, mình là tép riu, đoán chừng vậy thôi. Nhưng về tình báo, làm Cảnh Sát, tao cũng có nghi!” Cụ Niệm nói.

-“Nghi sao?” Tôi hỏi.

-“Mày nghĩ xem. Xịa với “đơ-dèm buy-rô” có quan hệ gì với nhau không mà các đồn điền càphê của Tây, mình thường “đứng ngoài ngó vô”.

Trước khi mất Ban Ma Thuột, Sư Đoàn 10 của Việt Cộng biến mất tăm. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn tìm không ra. Tao cũng có đọc công điện hỏi việc mất dấu Sư Đoàn 10 nầy. Thế rồi đêm 10 tháng 3, Việt Cộng tấn công vào thị xã Ban Ma Thuột mà mình không biết trước, không phòng bị gì cả. Nếu tụi nó ém quân trong rừng, trong các buôn Thuợng, mình biết chứ. Nó ém quân ở đâu mà mình không biết. Đùng một cái, nó tấn công ào ào vô thị xã.”

            -“Cụ nghi nó ém quân trong các đồn điền càphê?” Tôi hỏi.

            -“Trước kia thì tao không thấy, nhưng trận mất Ban Ma Thuột thì tao nghi lắm. Hốt cú chót mà, chơi đòn bất ngờ, mình nghi gì được?” Cụ Niệm nói, vẻ cay đắng.”

            -“Cụ nói tui mới nhớ. Nguyễn Quảng Thành cùng đội với tui đây nè. Anh chàng nầy khóa 22 Võ Bị với “Hùng móm”, em út anh em tui. Thành “thuộc một lẻ một”, phụ trách tình báo ở phía Tây Ban Ma Thuột. Y kể không phát hiện ra Việt Cộng ém quân ở đó trước khi tụi nó đánh vô thị xã. Thành có tình báo ở đó sang tuốt bên Lào luôn mà, không lý anh ta không biết gì. Anh ta cũng nghi như cụ mà không dám chắc thì “đứt phim”. Tôi nói lại ý của Thành gù. (Thành gù là tiếng lóng chúng tôi gọi Nguyễn Quảng Thành, anh bị gù lưng như Quasimodo).

            -“Không sai đâu mày!” Cụ Niệm xác định.

            -“Tui không biết khi cụ Diệm đuổi Tây về nước năm 1955, có giao ước chi về cơ sở kinh tế của Tây không mà nhiều nơi mình không dám “rớ” tới. Tức thiệt.” Tôi nói.

            -“Mình là nước nhược tiểu, kẹt nhiều thứ mày à.” Cụ Niệm góp ý.

            -“Đâu có phải chỉ có tụi Mỹ mới “đâm sau lưng chiến sĩ”. Tụi Pháp thương chi miền Nam…” Tôi góp ý.

            Hôm chuyển trại, cụ Niệm, ông Tăng và tôi thì ra “trại ngoài”, Long thì qua “Trại Cây”. Thành ra, khi ra ngoài nầy, không ai lo việc nấu nướng cho ông già. Ông vừa già, vừa yếu, lụm cụm, lò bệ, củi lửa không có, thành ra, tuy có được tiếp tế nhưng ông không tự nấu ăn được. Trong khi đó, ông Âu Văn Minh, cũng già yếu, lại không được ai thăm nuôi cả. Hai ông già, một người có lương thực, một người không, đành chịu chết đói cả, kéo nhau ra nằm ngoài Vườn Xoài, nghĩa địa tù.

            Trước khi cụ qua đời, tôi có đến thăm. Cụ lục trong bao đựng đồ ăn gói “càphê Ban Ma Thuột.” Cụ bảo: “Tao không còn uống được nữa. Mày lấy mà dùng.”

            Nhờ đó mà bữa nay tôi có “càphê Ban Ma Thuột” uống với bạn bè.

&

            Uống càphê gần xong thì Ngọc “xùi” đi đâu đó về, dẫn theo Nghiêu và Lịch. Ngọc pha càphê cho hai người. Lịch thì uống một ly nhỏ, còn Nghiêu thì không uống.

            Anh Tâm, nói giọng Nam, thay vì gọi là Nghiêu thì anh gọi tên Nghêu. Nghêu nói: “Tui là Nghiêu, không phả Nghiêu.”

Tôi giải thích: “Nghiêu là vua Nghiêu, vua Thuấn. Còn Nghêu là Nghêu Sò Óc Hến (tên vở kịch Việt Cộng đang diễn ở trên TV). Nghiêu là thời thiên hạ thái bình, no ấm. Còn Nghêu Sò Ốc Hến chỉ ăn được thôi.” Rồi tôi đọc câu ca dao:

                        Ở đời Nghiêu Thuấn khổ thay!

                        Giếng đào mà uống, ruộng cày mà ăn.

                        Ở đời Kiệt Trụ sướng sao,

                        Có rừng nem béo, có ao rượu đầy.

            Nghe xong, anh Tâm cười:

            -“Mày lại nói móc lò.”

            Tôi cải chính:

            -“Không phải tui. Không phải tui mấy ông ơi!” Ca dao đó.”

            Anh Tâm hỏi đùa:

            -“Vậy thì thằng nầy tên là Nghiêu hay Nghêu?”

            -“Nó mà Nghiêu gì? “Chính danh thủ phạm” là Nghêu!” Tôi cười.

            Lịch nói:

            -“Anh nói móc thằng nầy coi chừng. Anh không thấy tui sao?”

            -“Nó mà Nghiêu, thì nó không cuốc vào đầu ông như vậy. Mà lạ. Gia đình nó đạo dòng, sao không đặt tên Phao Lồ, hay Mác Tin, Phan xi cô mà lại Nghiêu Thuấn.” Tôi thắc mắc.

            -“Ba tôi giỏi chữ Nho lắm đó. Rành Nho nên ông mới đặt tên tui là Nghiêu, theo gương Nghiêu Thuấn.” Nghiêu giải thích.

            Tôi nói đùa:

            -“Vậy là “Con gà Tây Ba Lê” thành “Vịt Bắc Kinh” rồi.

            Thấy không khí không vui, hai ngưòi đỏ đi.

            Anh Tâm nói:

            -“Mày thấy không? Choảng nhau một trận mà bây giờ cũng đi chơi với nhau được! Hay thật.”

            Cách nay khoảng hai tháng, một hôm đội tôi đi cuốc đất sau đồi Phượng Vĩ. Chúng tôi đang dàn hàng ngang, để cuốc đất tới dần phía trước thì bỗng Nghiêu đang đứng bên cạnh Lịch, quay ngang cây cuốc, cuốc vào đầu Lịch một cái thật mạnh. Nhờ Lịch đội cái mũ vải rộng vành do anh tự may bằng vải mui xe GMC, nên lưỡi cuốc chỉ làm Lịch rách da, chảy máu. Anh không bị bất tỉnh. Đội Trưởng Đông xin quản giáo Hoành cho Lịch về trạm xá. Tôi không nhớ bữa đó ai dìu Lịch về.

            Về tới sân, chúng tôi thấy Lịch đang cầm nồi và củi “nấu nướng linh tinh”, (như lời cán bộ thường mắng chúng tôi). Thấy vậy, Đỗ Trọng Khiêm nói đùa:

            -“Tao cứ dòm trên mái nhà, bị thằng Nghiêu cuốc cho một lát, tao nghi mầy leo lên mái nhà ngồi chơi!”

&

            Sau khi Nghiêu và Lịch đi rồi, anh Tâm nói:

            -“Thằng Nghiêu to như voi, thằng Lịch như con chuột. Nó kẹp cổ thằng Lịch cũng chết, cần chi dùng cây cuốc?”

            -“Thằng “đô” con ít khi tự tin. Thằng nhỏ con tự ty nên khi nào cũng muốn gồ ghề lên cho người ta sợ. Anh không thấy thằng Lịch miệng lưỡi nó ghê lắm. Nhiều thằng “ngán” nó. Thằng Nghiêu phải “cầu viện” tới cái cuốc cho có tự tin.” Tôi giải thích.

            Anh Tâm hỏi:

            -“Chuyện chi mà hai đứa đụng độ dữ vậy?”

            -“Việc tôn giáo gì đó. Hai đứa ý kiến mâu thuẫn rồi đã kích nhau. Thằng Nghiêu thua cái miệng thằng Lịch, tức quá, phang cho một cuốc.”

Tôi giải thích.

            -“Gì mà ghê vậy!” Anh Tâm nói.

            -“Anh không thấy trường hợp nhà Ngô a?” Tôi nói. “Người Huế đón “Ngô Chí Sĩ” đông như vậy mà đến khi xảy ra “đàn áp tôn giáo”, người ta lại hoan hô Quân Đội lật đổ ông Diệm. Gì chứ về tôn giáo phải cẩn thận.” Tôi nói.

            -“Việt Cộng tụi nó cẩn thận gì đâu! Nó triệt hạ luôn, “làm gì được nhau?” Anh Tâm nhận xét.

            -“Cộng Sản cũng là một tôn giáo. Nó phải triệt tiêu các tôn giáo khác. “Cách mạng triệt để” mà! Anh thấy cái nhà thờ phía con đường đi Võ Đắt Võ Xu không? Từ hồi chuyển ra trại nầy, tôi không nghe tiếng chuông nhà thờ. Nhiều bữa cuốc đất trên ngọn đồi nhỏ phía sau “Đồi Phượng Vĩ”, không khi nào tôi thấy bóng người ở đó. Nhà thờ vắng hoe.” Tôi bày tỏ ý kiến.

            -“Buồn há?” Anh Tâm nói.

            Tôi nói nho nhỏ, theo câu hát “Chuyện Tình Buồn” của Phạm Văn Bình:

                        Cỏ hoang chân giáo đường,

                        Chúa buồn trên thánh giá…

            -“Còn chùa thì sao?” anh Tâm hỏi.

            -“Chùa cũng vậy thôi!” Tôi nói. “Nhưng chùa bỏ hoang lâu hơn, từ khi Tây đô hộ nước ta. Anh biết không?”

            -“Chuyện gì?” anh Tâm hỏi.

            Tôi đọc:

Chùa không sư tụng cảnh buồn teo
Cốt Phật còn đây chuỗi Phật đâu?
Réo rắt cành thông thay kệ đọc
Lập loè bóng đóm thế đèn treo
Hương sầu khói lạnh nằm ngơ ngác
Vách chán đêm suông đứng dãi dầu
Rứa cũng trơ gan cùng tuế nguyệt
Bên thềm khắc khoải tiếng quyên kêu.

            “Bàn thơ nầy của Hàn Mặc Tử. Hồi tôi còn đi dạy, dạy về Hàn Mặc Tử cho học sinh, tôi dạy nhiều bài thơ của ông nầy. Trước đó thì không sao? Sau khi ông Ngô Đình Thục về Huế, ông hiệu trưởng trường tôi nhắc khéo tôi đừng dạy bài nầy nữa. Chắc ông bị bọn Công An nắn huyệt. Thời Diệm Nhu bọn ấy cũng nhạy bén đấy!”

            Một lúc sau, tôi nói:

            -“Thằng Nghiêu nầy có tướng giết người!”

            -“Mày biết coi tướng?” Anh Tâm hỏi tôi. Tôi trả lời:

            -“Biết đâu! Trịnh Xuân Chính nói đấy.”

            -“Nói sao?”

            -“Thằng nầy,” tôi ngập ngừng, “có hai bàn tay to quá khổ. Tướng giết người đấy.” Rồi tôi nói tiếp:

            -“Việc ông Chính nói làm tôi nhớ một câu chuyện. Năm 1974, khi tôi còn ở Hà Tiên, có hai cô con gái Tàu lai, nhà ở Hòn Chông, khi hai chị em nó lăn tay làm căn cước, thấy hai bàn tay, tôi hết sức kinh ngạc. Hai bàn tay to quá chừng. Tôi nói với thiếu úy trưởng cuộc Cảnh Sát: “Mặt đẹp như dzầy, thấy hai bàn tay mà khiếp.” Nay nghe ông Chính nói vậy, tôi tìm ra một điều.”

            -“Điều gì?” Anh Tâm tò mò hỏi tôi.

            -“Anh biết”, tôi nói, “Biển Đông với Vịnh Thái Lan là “đất thánh” của bọn cướp biển hồi các thế kỷ trước, phần nhiều là dân Hải Nàm. Về già, giải nghệ, bọn nó đâu có về quê mà theo Mạc Cửu kêu gọi, lập nghiệp ở vùng Hà Tiên – Rạch Giá. Hai cô con gái tôi nói là “hậu duệ” đám cướp biển ấy đấy. Cướp biển nào mà không giết người.”

            -“Mày nói có gì làm chứng?” Anh Tâm hỏi khắc tôi.

            -“Làm chứng? Anh làm như tôi là nhà nhân chủng học. Nếu anh có đọc Sơn Nam, “Kho vàng hòn Tre”, anh đồng ý với tui đấy. Cài gene trong cơ thể, chắc truyền lâu được nhiều đời chớ.”

            Ngồi chơi một lúc, Ngọc “thiến” hỏi tôi:

            -“Tui cũng lớn lên ở Huế, sao tôi không thấy người Huế đi đón ông Ngô Đình Thục?”

            -“Có chớ! Dân Phú Cam đón ông, cũng không đông lắm, chỉ ngoại trừ bọn “theo gió phất cờ”. Trả lời xong cho Ngọc, tôi nói:

            -“Anh Tâm nầy!”

            -“Gì?” Anh Tâm hỏi.

            -“Có một người, người Huế ngưỡng mộ lắm, muốn hoan hô lắm, nhưng ông ấy tui không thấy đến Huế bao giờ!”

            -“Ai dzậy?” Anh Tâm hỏi.

            -“Ông Nguyễn Tường Tam.” Tôi nói.

            -“Năm ông ở trên Đà-Lạt về, dân Saigon không ai đi đón ông, nói chi tới Huế.” Anh Tâm trả lời tôi.

            -“Huế khác Saigon chớ!” Tôi phản bác.

            -“Khác làm sao?” Anh Tâm lại hỏi tôi.

            -“Từ trước 45 trở về sau, có bao nhiêu thế hệ ngưỡng mộ ông Nhất Linh. Người Huế, phần đông, biết đọc biết viết, biết đọc tiểu thuyết là người ta đọc Nhất Linh, Khái Hưng, ngưỡng mộ hai ông nầy. Thế hệ tôi thì khỏi nói, vừa học Nhất Linh, vừa ngưỡng mộ “nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam”. Áo blouson da, ngậm ông dzố, trông sao mà ngon lành vậy không biết. “Thần tượng cách mạng” của bọn tui đấy. Thằng Nguyễn Tường Thiết, ra học ở Huế, được người ta thương, cũng là nhờ cái hào quang của bố nó đấy. Còn như thế hệ sau tôi, vì cái chương trình 12 tháng 8 của Bộ Giáo Dục, học sinh phải học kỹ Nhất Linh với Tự Lực Văn Đoàn, thì tụi học sinh chịu ảnh hưởng văn chương nhóm nầy là không thể tránh được. Thi tú tài 1 dễ dính đề thi Tự Lực Văn Đoàn.” Tôi giải thích.

            -“Mày nói chương trình 12 tháng 8 là chương trình gì?” Anh Tâm hỏi tôi.

            -“Là chương trình cải cách, đưa các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn vào chương trình Việt Văn lớp Đệ Nhị. Có mục đích chính trị đó.” Tôi nói.

            -“Mục đích gì?” Anh Tâm lại hỏi.

            -“Lấy “văn hóa tư sản chống văn hóa vô sản”. Ngoài Bắc tụi đó dạy văn hóa vô sản thì trong Nam phải làm ngược lại. Đó là một trong những guyên tắc căn bản chống Cộng. Nhưng cái đó thì “gậy ông đập lưng ông.”

            -“Mày nói ông Diệm chớ gì?” Anh Tâm nói.

            -“Phải rồi. Cho học trò học Nhất Linh mà lại đưa Nguyễn Tường Tam ra tòa vì tội phản loạn. Ông Nhu, ông Diệm không tiên liệu được tương lai. Vậy mà ông Diệm còn nói một câu rất bậy.

            -“Nói sao?” Anh Tâm lại hỏi tôi.

            -“Nghe tin ông Nguyễn Tường Tam tự vẫn, ông Diệm nói: “Ra tòa rồi cũng tha, có gì mà phải tự tử.” Vậy là ông Diệm nghĩ ông Tam sợ chết. Nghe câu nói của ông Diệm, cụ Lâm Toại, một ông giáo sư có tiếng ở Huế, nói với các giáo sư dạy cùng trường, một câu, giống như câu Tào Tháo nói với quan huyện Trần Cung vậy: “con chim sẻ không thể nào hiểu được con chim đại bàng.”

            Một lúc sau, tôi lại nói:

            -“Ông Diệm còn nói bậy một câu nữa.”

            -“Câu gì nữa?” Anh Tâm lại hỏi.

            –“Nếu tôi chết hãy trả thù cho tôi.” Tôi nói.

            -“Câu ấy thì bậy quá. Tao cũng không ưa.” Anh Tâm góp ý.

            -“Người Huế lại không hơn. Anh không thấy Huế chùa chiền tùm lum sao! Dù gì thì người Huế cũng từng nghe “Lấy oán báo oán, oán chồng chất; Lấy ân báo oán, oán tiêu tan.” Nghĩ lại thì ông ta cũng là người theo đạo Thiên Chúa.

(còn tiếp)

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: