Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 28) Một ngày Chủ Nhật, “Vui chơi, tắm giặt, nghe đài” (1)

1-“Đ. mẹ! Mấy thằng chèo (2) nầy đểu thiệt.”

            Đang ngồi lặt rau muống với anh Lã Trung Tâm, nghe anh chưởi một câu như thế, ba bốn người chúng tôi cười to.

            Tôi nói: “Cóc mở miệng là trời sắp mưa! Mưa nầy to lắm.”

            Là người lớn tuổi, đứng đắn, anh Lã Trung Tâm ăn nói dè dặt hơn chúng tôi. Bữa nay anh chưởi tụi “chèo”, lại còn mở đầu bằng tiếng chưởi thề, mấy anh em chúng tôi không cười sao được!

            Tôi hỏi:

            -“Răng mà “tặc-ziăng” nổi giận rứa?

            Anh Lã Trung Tâm nói:

            -“Mớ rau nầy, tao xin ở trại chăn nuôi. Vậy mà khi vô trại, tụi nó cũng làm khó.”

            Ngọc “thiến” cười:

            -“Nó “bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa” đó anh à! Anh phải “góp xức làm giàu xã hội Cộng Sản chớ!”

            Trắc cười:

            -Ỉa cục cứt cũng đem bón phân “làm giàu đất nước”. Rau có giá trị hơn cứt nhiều!”

            Tôi bỗng nhớ hồi còn ở Huế, bèn nói:

            -Trong Nam người ta trồng rau muống khô. Ngoài Huế, người ta ăn rau muống nước. Trời mưa, qua đêm, cọng rau dài cả tấc.”

            Ngọc “sùi” cất tiếng ca giởn: “Cái con nhỏ, đau làm sao?..” (3)

            Anh Tâm cười:

-“Bắc kỳ mới rau muống. Người Huế cũng ăn rau muống hả mầy?”

-“Huế là trung tâm đất nước. Người làm quan Trung Nam Bắc về Huế thiếu chi, nên có “ảnh hưởng” nhau thì cũng thường. Hồi nhỏ, tui thường nghe nói “ăn Bắc mặc Kinh”. Chắc là món rau muống do người Bắc vô làm quan ở Huế mang theo.” Tôi nói.

Anh Tâm hỏi:

-“Làm vua, làm quan ăn ngon mặc đẹp, sơn hào hải vị. Này, ông Diệm chắc ăn uống sướng lắm. Mới về nước, ổng ốm; mấy năm sau, mập ù!”

-“Không anh à!” Tôi nói. “Ông Diệm ăn uống đơn giản lắm.”

-“Ai nói mầy biết?” Anh Tâm hỏi.

Tôi trả lời:

-“Ông chú tui. Chú họ. Ông là “đệ tử” của cụ thời cụ còn “lê gót nơi quê người” (4). Anh biết không! Sau khi ông Diệm về cầm quyền, “cậu út trầu” (5) tìm bà già nổi tiếng làm bánh nậm ngon ở Huế, đưa vô Dinh Độc Lập để làm bánh nậm mỗi sáng cho ông Diệm. Ổng khoái ăn bánh nậm.”

-“Bánh nậm là bánh gì? Tao chưa từng ăn!” Anh Tâm hỏi.

-“Làm bằng bột gạo xay, tôm khô trên mặt, dẹp, gói lá chuối, chắm nước mắm.”

Bỗng tôi nói tiếp:

-Người Trung, người Nam ăn nước mắm khác nhau!”

-“Khác sao?” Anh Tâm lại hỏi.

-Ngoài tui ăn nước mắm đặc, nhiều ớt, không pha. Trong Nam người ta pha nước lạnh, bỏ nhiều đường, ớt rất ít.”

Bỗng Chiếu hỏi:

-Bánh bột lọc xong rồi, chút nữa làm nước mắm pha hay không pha!”

-“Theo số đông!” Tôi nói.

Sáng nay chủ nhật, khỏi đi lao động, sau khi tắm giặt xong, tôi và Chiếu lấy bột lọc, tôm khô làm bánh bột lọc trần ăn chơi với vài anh em. Vợ tôi “tiếp tế” cho tôi một gói một lọc đã lâu, sợ không ăn hư mất uổng.

Anh Lã Trung Tâm lại hỏi:

-“Mấy ông kia thì sao?”

-“Ông nào?” Tôi hỏi.

-“Ông Bảo Đại, ông Hồ Chí Minh.” Anh Tâm trả lời.

-“Ông Hồ Chí Minh là “dân cá gỗ” (6), không phải “xứ Huế tui”. Ai rồi cũng làm người Huế “thất vọng não nề.”

-“Thất vọng não nề” là sao?” Trắc hỏi.

Tôi giải thích:

-Mất nước, Huế là nơi chứng kiến tận mắt nhiều cuộc thay bậc đổi ngôi, vua bị bắt, bị tù, bị đày. Quan thì kẻ theo Tây, kẻ lui về quê quán, không chịu làm quan với Tây…Những biến cố như “thất thủ kinh đô” làm người Huế đau xót không ít, cho nên mỗi khi có ai làm cho họ hy vọng giành lại độc lập hay gì đó, họ hoan hô dữ lắm. Cuối cùng là “thất vọng não nề.”

Anh Tâm nói:

-“Mày nói rõ ra đi!”

-“Tui nói từng người một, từng sự kiện một, từ khi tui khôn lớn. Chuyện cũ thì chỉ nghe nói mà thôi. Tui kể từ chuyện ông Hồ Chí Minh.”

Tôi kể tiếp:

-“Ông Hồ Chí Minh tới Huế khi ông còn trẻ, rồi vì chuyện ông Nguyễn Sinh Sắc bị phạt năm mươi trượng, cách chức, đuổi về, cha con ông ta buồn tình bỏ đi vô Nam, mặt mũi nào mà về quê (7). Nhưng những người do ông Hồ Chí Minh cử về Huế nhận ấn kiếm thoái vị của ông Bảo Đại được người Huế hoan hô cũng dữ. Thế rồi người ta cũng chán mấy ông nầy.

-“Mấy ông nầy là ai?” Anh Tâm hỏi.

-“Ba ông: Nguyễn Lương Bằng là một, Trần Huy Liệu là hai, Cù Huy Cận là ba. Ông Bằng là Cộng Sản gộc, Trần Huy Liệu là “đạo theo”, (8), mới theo Cộng Sản khi bị tù, bị Cộng Sản tuyên truyền, gốc là Việt Quốc. Cù Huy Cận được “ăn theo”, vì ông là nhà thơ nổi tiếng, từng học sinh Khải Định, được nhiều người Huế ngưỡng mộ. Chuyện buồn cười lắm.”

-“Buồn cười sao?” Anh Tâm lại hỏi tôi.

-“Trần Huy Liệu “có lời” nhất. Ông ta cướp được vợ của Phạm Giao, con trai lớn của Phạm Quỳnh. Bà nầy từng là hoa khôi của Huế.”

-“Cướp vợ người ta?” Ngọc “thiến” hỏi.

-“Cũng như Gia Long nói vậy thôi: “Nước của nó ta còn lấy được, huống chi vợ nó.” (9). Ba tay nầy về Huế là cướp nước từ tay Bảo Đại thì sá chi vợ Bảo Đại hay vợ Phạm Giao. Phải chi Trần Huy Liệu tài giỏi hay đẹp trai cho cam. Anh chàng nầy “bắn máy bay dữ lắm!”

-“Bắn máy bay? Tao không hiểu?” Anh Tâm nói.

Chiếu cười:

-“Bắn máy bay là lé đó, người ta còn gọi là mắt lác, thường ngó nghiêng nghiêng như người ta nhắm bắn máy bay.”

Ai nấy cùng cười!

Tôi kể tiếp:

-“Hôm tới Huế, lên lầu Ngọ Môn, nhận ấn kiếm thoái vị, cả ba cũng mặc vét-tông, thắt cà vạt đàng hoàng. Khi ông Bảo Đại trao cái ấn vàng cho Trần Huy Liệu, ông ta nhận cái ấn mà khịu người xuống. Cái ấn nặng gần hai ký lô vàng ròng. Trần Huy Liệu thì ốm nhom mà lại nhỏ con, không biết có chịu nỗi cô vợ Phạm Giao không!”

-“Sao anh rành vậy?” Trắc hỏi tôi.

-“Trắc nhớ tui là thằng tò mò chuyện thiên hạ. Chuyện nầy, mấy ông già già, ai không biết. Hôm đó biểu tình đông lắm. Anh biết cái sân cỏ giữa cửa Ngọ Môn với Kỳ Đài rộng lắm. Dân chúng đứng chật cứng.”

-“Dân chúng hoan hô cách mạng?” Anh Tâm lại hỏi tôi.

-“Dân chúng biết gì mà hoan hô. Chẳng qua tại cái đám Hướng Đạo cả.” Tôi lại nói.

Một lúc tôi kể tiếp:

-“Chuyện dài dòng như vầy. Mấy ông để tui kể lần cho nghe. Đầu đuôi là do “Mặt Trận Bình Dân” ở bên Tây.”

-“Chuyện nọ xọ chuyện kia. Chuyện Việt Nam chưa xong, mày nhảy qua bên Tây!” Anh Tâm cằn nhằn.

-“Như vầy.” Tôi nói tiếp. “Năm 1936, “Mặt Trận Bình Dân” cầm quyền bên Tây, Léon Blum làm thủ tướng. Bọn nầy thiên tả, nới rộng vòng nô lệ chút xíu. Tới năm 1941 thì Pétain lại đầu hàng Đức. Tây ở Đông Dương lạnh giò, mở ra nhiều trò vui chơi để mỵ dân. De Couroy, lo việc Thể Dục Thể Thao, tổ chức đá banh, vòng đua xe đạp Đông Dương… cố ý làm cho người Việt Nam coi đá banh mà quên cái hận mất nước – cũng giống như bây giờ Dziệt Cộng tổ chức đá banh để dân chúng coi mà quên đang ăn khoai mì trừ cơm – Tây mở thêm trường học, cổ động phong trào Hướng Đạo… Cái nầy là “gậy ông đập lưng ông.”

-“Hướng Đạo cũng hay lắm.” Trắc nói.

-“Tui nhớ hồi đó, ba tui làm việc ở Sở Học Chánh, có đem về cho tui mấy tấm tranh tường vẽ chuyện “Hai Bà Trưng chống Tô Định”, “Bóng Cờ Lau”…  Sau nầy lớn lên, tui mới biết tụi Tây đổi hướng mục tiêu; nghĩa là, thay vì chống Tây, tuyên truyền như thế thì dân mình sẽ nhắm mục tiêu vào thằng Tầu thay cho thằng Tây. Người mình nắm ngay cơ hội đó. Hoàng Quý, Hoàng Giác, Lưu Hữu Phước… soạn những bài hát chống Tầu: “Đây Bạch Đằng Giang sông hùng dũng…” Hồi đó tui vô Sói Con, đoàn của tui là đoàn Ái Tử. Trong Hướng Đạo, người ta cổ võ tinh thần yêu nước bằng những bài hát lịch sử. Huế là mạnh nhứt.”

Tôi lại kể tiếp:

“Đoàn lớn tuổi là “Tráng Đoàn Lam Sơn”, có các ông Tạ Quang Bửu, Hoàng Đạo Thúy, mấy ông nầy dạy tại Khải Định. Tui nhớ còn có Cung Giũ Nguyên, Trần Văn Tuyên, Trần Điền, Lâm Toại, Võ Thành Minh. Mấy ông nầy về sau một số theo Cộng Sản, một số theo Quốc Gia. (10)… Người trẻ hơn thì tui không biết hết, nhưng Đặng Văn Việt, – là con hùm xám đường số 4 – với Cao Phan là hai người treo cờ Việt Minh ở Ngọ Môn trước ngày “Việt Minh cướp chính quyền” ở Huế. Số đông Hướng Đạo nầy, sau trở thành “Thanh Niên Tiền Phong” của Phan Anh thời chính phủ Trần Trọng Kim.

Ngưng một lúc, tôi nói:

-“Bọn họ nông dân không biết gì” là như thế nầy. Họ cũng có lòng yêu nước như người ta vậy, nhưng vừa dốt, vừa quê mùa, họ biết làm cái chi? Trước ngày “Việt Minh cướp chính quyền”, chính là đám Hướng Đạo nầy, sau là “Thanh Niên Tiền Phong” về các làng quê ở Phú Vang, Hương Trà, Hương Thủy, vận động nông dân lên Huế “cướp chính quyền”. Tuy Tố Hữu được cái tiếng lãnh đạo việc cướp chính quyền ở Huế, thực chất là do đám thanh thiếu niên nầy. Họ đâu có tranh giành danh tiếng với Tố Hữu, thành ra Tố Hữu nhờ “cướp công cách mạng” mà được cái tiếng ngon. Có điều buồn cười là chỉ bốn năm sau thôi, người dân Huế đi đón “Quốc Trưởng hồi loan”, đông không thua gì ngày hoan hô vua Bảo Đại thoái vị.”

-“Vậy là sao? Mới hoan nghênh “vua Bảo Đại thoái vị” đó rồi bây giờ lại “hoan nghênh Quốc Trưởng hồi loan”? Vua, Quốc Trưởng cũng là một ông mà thôi.” Anh Tâm lại hỏi.

-“Cái giả hiệu thì mặt nạ rơi rất mau. Ban đầu, người ta tưởng “Việt Minh giành độc lập”, chỉ mấy năm sau, người ta biết Việt Minh là “Cộng Sản độc tài”. Tui nói “thất vọng não nề” là ý đó.

-“Rồi người ta lại “thất vọng não nề” lần nữa?” Anh Tâm hỏi.

-“Không phải một lần đâu anh. Cứ thấy như thế nầy thì biết. Người dân đi đón thật đông, tức là hy vọng người được đón đó làm gì cho đất nước. Sau hoan hô là tới đả đảo, ông nào cũng như ông nào!”

-“Ông nào?” Anh Tâm hỏi.

-“Ông Bảo Đại! Năm 1949, hoan nghênh “Quốc Trưởng hồi loan”. Năm 1955 “Xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ bì”. (11). “Hoan hô Chí Sĩ Ngô Đình Diệm” năm 1954, chín năm sau “Đả đảo Ngô triều.”

-“Tao ở trong Nam, chẳng biết ông Ngô Đình Diệm là ai. Ngoài đó, tại sao người ta hoan hô?” Anh Tâm hỏi.

-“Không những biểu tình hoan hô. Dọc dường phố Trần Hưng Đạo, Gia Long, người ta còn đặt bình trầm, chưng hình chí sĩ nữa kia. Còn như đón “Ngô Thủ Tướng” thì cũng như hồi “Quốc Trưởng hồi loan” vậy. Phú Văn Lâu (12) chen chân không lọt.” Tôi nói.

“Ở Huế, người ta ghét cậu Cẩn, ghét ông Thục hơn ông Diệm. Có ba cái nầy: Chế độ độc tài là do ông Nhu, người ta ghét ông Nhu. Tham nhũng, bóc lột dân Huế là do ông Cẩn, người ta ghét ông Cẩn. Đàn áp Phật giáo là do ông Thục, người Huế ghét ông Thục dữ lắm! Ông Diệm gánh hết tội cho ba người đó. Cũng có người thông cảm, thương ông Diệm là vì vậy. Nói cho đúng, người phản lại dân Huế là ông Cẩn, tội nặng nhứt, nào là “vụ gạo Ưng Bảo Toàn”, độc quyền gạo ở miền Trung, độc quyền thầu xây cất… Ông Cẩn tham lắm (13). Ông Thục, ông bà Nhu, ông Cẩn ai cũng tham, tham quyền, tham lợi, ai cũng làm tổng thống mà ông Diệm chịu tội với đồng bào. Cũng tội nghiệp cho ông ấy chứ!”

-“Tội nghiệp gì. Mầy không thấy có tin “đảo chánh ông Diệm” dân Saigon đổ ra đầy đường “hoan hô Quân Đội.” Anh Tâm nói.

-“Ở đâu cũng vậy, riêng chi Saigon. Không có Quân Đội lật đổ nhà họ Ngô là coi như Phật giáo tiêu tùng luôn. Ông Diệm là “tổng thống đầu tiên”, ông Thục là “hồng y tiên khởi”. Tham vọng lớn quá! Mấy ông thầy chùa ngồi tù hết. “Thần quyền đè thế quyền” mà. Cái tinh thần cổ lỗ sĩ của Tây phương thế kỷ 17, 18 lại thịnh lên ở Việt Nam giữa thế kỷ 20. Đạo Thiên Chúa La Mã bao giờ cũng đi “giật lùi.”

-“Ở Huế, người ta còn hoan nghênh ai nữa không?” Anh Tâm lại hỏi tôi.

-“Ông Dương Văn Minh, khi ông Minh làm Quốc Trưởng, ra Huế. Người ta khen ông Minh mặt mày phúc hậu. Người ta có đi đón ông Mc Namara khi Tướng Nguyễn Khánh chỉnh lý cầm quyền. Còn như bắt phải đi đón thì học trò đi nhiều nhất. Năm tôi học lớp Đệ Nhất, trường tổ chức cho bọn học sinh chúng tôi đi đón Hồng Y Spellman. Mấy năm sau, chính tôi theo lệnh ông hiệu trưởng dẫn học sinh đi đón ông Hồng Y Aganianian.”

-“Tại sao lại phải đi đón hai ông ấy?” Ai đó hỏi tôi.

-“Những ai ở ngoại quốc mà được đưa về cầm quyền, không phải chuyện khơi khơi mà có. Có thế lực ngoại bang nào đó chống lưng cho. Sau lưng ông Nguyễn Hải Thần là ai, chắc là ông Tầu Tưởng. Xưa hơn nữa, sau lưng Lê Chiêu Thống là Tôn Sĩ Nghị. “Quốc Trưởng hồi loan” là giải pháp của Tây. Ông Diệm gánh nặng hai vai: Một vai là Đế Quốc Mỹ, một vai là Đế Quốc Vatican. Ông ta không thể bỏ những cái gánh nặng trên vai đó được. Sau nầy, nếu có ai về nước cầm quyền, chắc cũng phải mang những cái gánh nặng như thế, chắc chi vì Dân Tộc!”

Một lúc sau, tôi lại nói:

-“Có một người được người Huế hoan nghênh dữ lắm, nhưng sau nầy lại kẹt với người Huế. Anh có biết người đó là ai không?”

-“Ai?” Hai ba người cùng hỏi tôi.

-“Cha Luận. Linh mục Cao Văn Luận. Khi ông về lại Huế, học sinh, sinh viên công kênh ông từ Morin lên tới Tòa Viện Trưởng. Người ta đón ông cũng đông nghẹt. Mấy năm sau, ông lặng lẽ ra đi. Ông ta bị kẹt.”

-“Kẹt là sao?” Anh Tâm lại hỏi tôi.

-“Phải dông dài như vầy. Cầm quyền, ông Diệm thực hiện được nhiều việc lợi ích cho Miền Nam. Thành lập khu kỹ nghệ, xây dựng nhiều nhà máy: Cogido, Sicovina, Ximăng… Khu Trù Mật, Dinh Điền, mở mang giáo dục… Ông muốn làm một việc như vua Thành Thái với ông Khả mở trường Khải Định, ông Diệm mở Viện Đại Học Huế…”

-“Ông Ngô Đình Khả mở trường Quốc Học chớ!” Ngọc “thiến” ngắt lời tôi.

-“Sau nầy người ta vơ vào để lập công cho ông Khả đấy. Cái ý tưởng mở “Pháp Tự Học Đường” là của Vua Thành Thái. Ông Thành Thái bắt chước Minh Trị, “canh tân nước nhà”. Không thấy ông đặt niên hiệu cho Vĩnh San khi ông nầy lên nối ngôi là Duy Tân đó không. Hồi đó, ông Khả là tay chưn thân cận của vua Thành Thái, vua sai ông xin Khâm Sứ mở trường. Một người ra lệnh, môt người đi xin Tây. Để lập công cho ông Khả, người ta cố “quên cái ý muốn canh tân nước nhà” của ông Thành Thái.”

-“Ông Diệm làm gì?” Trắc lại hỏi tôi.

-“Học trò Huế, sau khi đậu tú tài, thì xin đi làm, xin đi dạy, nhà nào giàu có cho con học bác sĩ, dược sĩ ở Hà Nội, sau nầy thì vô học ở Saigon. Một số vô Cao Đẳng Sư Phạm, có học bỗng, hay vô trường Quân Y. Có lẽ mấy năm trước, khi chưa cầm quyền, ông Diệm có nghĩ tới việc mở một viện đại học cho Huế, nên khi mới làm tổng thống mới có hai năm, ông lo mở Viện Đại Học Huế cho học sinh Huế. Tui nghĩ cái công ơn đó của ông Diệm với học sinh Huế như bọn tôi là lớn lắm. Không có cái viện đại học đó, phần đông học tới tú tài rồi thôi. Việc mở viện đại học nầy cũng có nhiều cái lộn xộn.”

Chiếu nói: “Thôi! Ăn đi rồi kể tiếp.”

Chúng tôi chia nhau mỗi người mấy cái bánh quai vạc, chấm nước mắm, nói cười vui vẻ.

Ăn bánh xong, tôi vừa cầm ly nước trà nóng lên, anh Tâm đã giục tiếp: “Kể chuyện đi mày.”

Tôi nói:

-“Mới đầu, thời đó, ông Trần Hữu Thế làm Bộ Trưởng Giáo Dục, mới thay ông Nguyễn Dương Đôn, chọn Giáo Sư Nguyễn Quang Trình làm viện trưởng. Ông nầy đậu tiến sĩ vật lý. Ở Saigon người ta chọn ông nầy là để gây cái uy tín cho một viện đại học mới thành lập. Ông Trình về Huế, xem cơ ngơi đâu đó rồi, mới sai ông em, thay mặt ông ra Huế, liên lạc với ông Nguyễn Văn Hai, Giám Đốc Nha Giáo Dục, chuẩn bị mọi việc thì ông Cẩn gọi ông Hai lên gặp, biểu ông Hai nói với ông em ông Trình chia hai số tiền bốn trăm triệu.”

-“Tiền gì?” Có người hỏi tôi.

-“Tiền chính phủ cấp cho để chuẩn bị mở trường. Ông em ông Trình hẹn để về Saigon hỏi ông Trình đã. Dĩ nhiên là ông Giáo Sư Nguyễn Quang Trình không chịu. Ông ta đâu có thể làm một việc tai tiếng như thế được. Việc coi như xù, thì ông Cẩn đề nghị cha Luận làm viện trưởng. Cha Luận ừ liền. Cha mới có bằng cử nhơn, “Á Châu Học Đường” tại Paris. Bọn học trò chúng tôi cười vì cái bằng của cha. Qua tới bên Tây mà đậu cái bằng “Á Châu Học Đường” thì có chi hay. Ở Việt Nam người ta cũng đậu cái bằng đó được, qua tới bên Tây chi cho mất công…”

Tôi mới kể tới đây thì tới giờ chia cơm. Mỗi tuần mới được ăn cơm một lần, bằng sét chén. Được ăn cơm, ai nấy vui vẻ đi lãnh phần, chuyện tôi kể ngang đó phải ngưng. “Dĩ thực vi tiên” mà…

(xin xem tiếp phần sau…)

hoànglonghải.

(1)-“Vui chơi, tắm giặt, nghe đài” là câu bọn Công An thường nói với chúng tôi khi có ngày nghỉ lao động.

(2)-Kể từ 1980, những người “tù cải tạo” bị đưa ra Bắc, nay được đưa trở lại miền Nam. Họ gọi bọn Công An là bọn “chèo”. Có thể vì hát chèo là “dân ca Bắc Bộ”, người Bắc rất thích như người miền Nam thích cải lương vậy?

(3)-“Cái con nhỏ đau làm sao? Sau đít có cọng rau! Người Nam Dziệt đâu có kỳ như dzậy. Chắc là Bắc Kỳ, chớ gì?” Câu hát đùa cải lương của người Nam Bộ. Xin coi lại bài số 2.

(4)-“Lê gót nơi quê người” Lời bài ca đầu tiên “Suy tôn Ngô Tổng Thống” của nhạc sĩ Nguyễn Hiền. Sau đổi “lê gót” thành “tranh đấu”. Lê gót nghe thê thảm quá hay chăng?

(5)-Người Huế thường gọi ông Ngô Đình Cẩn là “cậu Út trầu”. Họ tưởng lầm “cậu Cẩn” là con Út. Ông thường nhai trầu bỏm bẻm.

(6)-Ngày xưa, “học trò Nghệ” (Nghệ An) vô Huế thường đem theo một con cá làm bằng gỗ, nước cho cháy nám như con cá thật. Đến bữa, sang nhà hang xóm, đưa cái dĩa đựng con cá gỗ ra, “xin chút nước nắm để ăn.” Xin xong, về nhà lấy nước mám ăn với cơm. Con cá gỗ rửa sạch, để còn dùng lần sau. “Dân cá gỗ” là tiếng để dung gọi “dân Nghệ An.” “Bác Hồ” cũng được gọi là “dân cá gỗ” vì ông quê ở làng Kim Liên (làng Sen), huyện Nam ĐÀn, tỉnh Nghệ An.

Người miền Nam gọi người Trung là “dân cọc cạch”. Trong túi thường để hai cục đá để đánh lửa hút thuốc. Khi đi, hai cục đá vướng vào nhau kêu cọc cạch.

(7)-Năm 1905, ông Nguyễn Sinh Sắc, sau đổi là Huy, được bổ làm thừa biện bộ Lễ, sau được bổ làm tri huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định. Ông say rượu, sai lính đánh chết dân. Bị dân thưa ra tới triều đình Huế, bộ Lễ điều tra, vua Thành Thái phê “Trảm giam hậu”. Sau nhờ cụ Võ Văn Giáp, thân phụ nhà cách mạng Võ Bá Hạp (thân sinh ông Võ Như Nguyện), xin với ông Ngô Đình Khả, thượng thư bộ Lễ, xét giảm tội cho. Ông Nguyễn Sinh Huy chỉ bị phạt đánh 50 trượng, cách chức, đuổi về. Mất mặt với xóm làng, ông Nguyễn Sinh Huy bỏ lưu lạc vô phía Nam. Ông Nguyễn Sinh Cung (Cuông – tức Nguyễn Tất Thành) đi theo…

(Xem “Quan hệ Ngô gia – Hồ gia”

cùng tác giả trong “Theo Dòng” Văn Mới xuất bản,

hoặc “Văn Tuyển.net”)

(8)-“Đạo theo”, tiếng để gọi người mới theo đạo, khác với “đạo dòng” là theo đạo đã nhiều đời. Trong bài nầy, tg dùng theo nghĩa bóng.

(9)-Ngọc Bình, một người con gái của vua Lê Hiển Tông, (chị hay em Ngọc Hân công chúa, vợ Nguyễn Huệ), được vua Gia Long tuyển làm phi. Người Huế, tưởng lầm bà Ngọc Bình là Ngọc Hân nên ở Huế ngày trước có câu ca dao:

                        Gái đâu có gái lạ lùng,

                        Con vua mà lấy hai chồng làm vua!

Người ta còn kể, một hôm có “đình thần” khuyên vua Gia Long đùng lấy Ngọc Hân. Vua Gia Long trả lời: “Nước nó ta còn lấy, huống chi vợ nó.”

(10)-Tạ Quang Bửu, Hoàng Đạo Thúy sau theo Cộng Sản. Cung Giũ Nguyên, Trần Văn Tuyên, Trần Điền… sau theo Quốc Gia. Trong Hội Nghị Genève 1954, “tráng sinh” Võ Thành Minh dựng lểu bên bờ hồ Leman ở Thụy Sĩ, thổi sáo đòi hòa bình cho Việt Nam, yêu cầu gặp cả hai phái đoàn Việt Nam (Quốc Gia và Việt Nam Dân Chủ Công Hòa) để bày tỏ yêu cầu. Đại diện cho Phái đoàn Quốc Gia là ông Trần Văn Tuyên, Cung Giũ Nguyên có đến. Giáo sư Tạ Quang Bửu của Phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì “lặn” mất tiêu.

(11)-“Xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ bì” là câu cán bộ chính quyền Ngô dình Diệm “dạy” cho cử tri phải làm theo. Xanh là phiếu ông Bảo Đại. Đỏ là phiếu ông Ngô Đình Diệm.

(12)-Phú Văn Lâu là một “công trường” trên bờ sông Hương, phía ngoài cột cờ Ngọ Môn. Những lần đón Quốc Trưởng hồi loan” hay “Chí sĩ Ngô Đình Diệm chấp chánh”, dân Huế tham gia rất đông. Từ Thương Bạc lên tới Phú Văn Lâu, người đông “chen chân không lọt”.

(13)-Vụ Gạo Ưng Bảo Toàn:

a)-Tệ Trạng

Tham Nhũng

“… Nhưng trong khi chính sách bài trừ tham nhũng, bài trừ tệ đoan xã hội đang như một luồng sinh phong thổi khắp trời Nam thì một tiếng sét dữ dội nổ ra từ Cố Đô Huế năm 1956, làm chấn động niềm tin mà mọi người đang đặt nơi chế độ của chí sĩ Ngô Đình Diệm: đó là vụ buôn lậu hàng ngàn tấn gạo ra Bắc Việt do chính hai người em của Tổng thống là bả Cả Lễ và ông Ngô Đình Cẩn chủ trương. Vụ tiếp tế gạo cho Bắc Việt ngụy trang dưới hình thức buôn lậu này bị Tòa đại sứ Mỹ phát giác và thông báo cho ông Diệm nên ông không thể dấu nhẹm được, và đành phải đưa nội vụ ra tòa. Nhưng thay vì hai người em của ông Diệm phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật thì họ đã khôn khéo bắt một thuộc hạ thân tín của họ là ông Bùi Quang Sơn, Phó Tỉnh trưởng Quảng Nam, ra làm vật tế thần. Vì Mỹ đã biết rõ nội vụ và vì ông Diệm mới cầm quyền cho nên ông Diệm ra lệnh phải thẳng tay trong việc xét xử. Tòa kết án ông Bùi Quang Sơn 12 năm khổ sai. Tại Huế, ông Ngô Đình Cẩn không ngờ ông Sơn bị án quá nặng làm mất luôn cả sự nghiệp, lại sợ vì vậy mà ông Sơn có thể uất ức khai ra chính phạm nên ông Cẩn vội vã năn nỉ ông anh Tổng thống. Trước áp lực của người em và dù án lệnh đã chính thức thành văn, ông Diệm cũng bắt Tòa phải xử lại. Nhờ đó, từ cái án khổ sai 12 năm, ông Bùi Quang Sơn chỉ còn bị sáu tháng tù treo. Chỉ tội nghiệp cho ông Trần Văn Mẹo bị mất chức Bộ trưởng Kinh tế và ông Ưng Bảo Toàn bị đày ra Côn Đảo cho đến cách mạng 1-11-1963 thành công mới được trả tự do.

Và đây lại còn là điều tàn ác của anh em ông Diệm. Số là sau khi ông Bùi Quang Sơn bị Tòa án phạt mười 12 năm khổ sai, để cứu vớt thuộc hạ mình, ông Ngô Đình Cẩn bèn nói với ông Diệm là chính ông Ưng Bảo Toàn, Giám đốc Nha Kinh tế, mới là thủ phạm. Ông Cẩn tráo trở bằng cách dùng những bao gạo trống của Bộ Kinh tế mang nhãn hiệu E.N. (Economie Nationale) để chứng minh rằng chính ông Toàn bán gạo cho Việt Cộng trong lúc ông Toàn là người miền Nam vốn xa lạ với miền Trung, vốn không có liên hệ nhân sự nào tại miền Trung để có thể âm mưu làm những việc phi pháp. Thử hỏi làm sao ông Toàn có thể bán gạo cho Việt Cộng tại miền Trung được trong lúc ông Ngô Đình Cẩn nắm toàn quyền sinh sát có nhân viên thuộc hạ, có đảng viên Cần Lao tai mắt khắp nơi từ thành thị đến thôn quê. Vụ hạm gạo này không chỉ dân chúng, đảng phái miền Trung biết rõ ràng mà còn có hai nhân vật là ông Trần Ngọc Liễn (hiện ở Pháp) Trưởng ty Kinh tế miền Trung có văn phòng đặt tại Đà Nẵng lúc bấy giờ, và ông Lâm Lễ Trinh (hiện ở Mỹ) là đại diện Bộ Tư Pháp đến Huế để xin Ngô Đình Cẩn chỉ thị. Tuy là những nhân chứng trong cuộc, biết rõ việc gian manh của nội vụ nhưng ông Liễn và ông Trinh làm sao có thể làm trái ý lãnh chúa Ngô Đình Cẩn nên đành phải im lặng để cho Ưng Bảo Toàn và ông Trần Văn Mẹo phải chịu oan khiên, mang thân tù tội. Tuy nhiên, dù anh em ông Diệm đã dùng quyền lực làm điều thất đức, nhưng việc tham nhũng và tàn bạo đầu tiên này đã đem đến hậu quả tai hại cho họ Ngô. Đối với dân chúng miền Trung thì cái huyền thoại “Thế gia Vọng tộc” của họ Ngô bắt đầu sụp đổ ngay từ đó. Còn đối với trí thức miền Nam kỳ cũ, cảm thông nỗi oan khiên và thống khổ của ông Trần Văn Mẹo và ông Ưng Bảo Toàn, hai nhân vật đồng hương với họ, họ thấy rõ bộ mặt tráo trở và kỳ thị của nhà Ngô nên từ đó dần dần xa lánh chế độ Diệm và có cảm tình với những người kháng chiến.

Vụ buôn lậu gạo cho Cộng Sản làm rúng động nhân tâm miền Nam và làm sụp đổ uy tín của ông Diệm ngay từ năm 1956, khốn nỗi những người Mỹ thân với ông Diệm, những ký giả hoài Ngô như kiểu Marguerite Higgins, như kiểu Phạm Kim Vinh, có bao giờ đề cập đến những tội ác của anh em nhà Ngô đâu.

Vì mấy triệu bạc mà đã sẵn sàng giao thương với địch, lại chà đạp ngành Tư Pháp để đổi trắng thay đen án lệnh, làm quần chúng, đặc biệt là tại miền Trung, nơi các thủ phạm vẫn ung dung hể hả, cảm thấy niềm tin vào chế độ bắt đầu lung lay. Việc ông Diệm khống chế và xử dụng luật pháp quốc gia như một dụng cụ riêng để bênh vực gia đình, lúc ông chỉ mới lên cầm quyền, đã làm cho niềm hy vọng của quần chúng về một miền Nam dân chủ, tự do, công bằng bắt đầu tan thành mây khói.”

Những người đối xử với đồng bào của mình ngay trong địa phương mà đã như thế, lại tự nhận là người Yêu Nước, Yêu Tổ Quốc thì cũng lạ kỳ!

Người ta thấy rõ họ yêu cái gì chứ! Không thể gọi là Ái Quốc được!

b)-Khẩu cung Phan Quang Đông

Năm một ngàn chín trăm sáu mươi ba, ngày ba mươi tháng 12 hồi chín giờ.

 Chúng tôi Trần Văn Cư, Chủ sự phòng Cảnh Sát, Nha Cảnh Sát Quốc Gia Miền Bắc Trung Nguyên Trung Phần, Tư Pháp Cảnh Lại có ông Nguyễn-văn-Mão giúp việc thư ký có hỏi cung tên: Phan Quang Đông.

Hiện can: cán bộ Việt-Cộng lộn sòng trong hàng ngũ Quốc Gia.

Hỏi về lý lịch, “bị can” đã khai:

Vấn đáp:

   Tôi tên là Phan-quang-Đông, 37 tuổi quốc tịch Việt-Nam, con của ông Phan Quang Cù (chết) và bà Đậu-thị-Ba, sanh chánh quán: Lê Định, Hương Sơn Tỉnh Hà-Tĩnh, hiện trú ngụ tại 9 đường Lê Lợi, Huế nghề nghiệp: Công chức, Sĩ quan đồng hóa Sở Nghiên cứu Chính trị, học lực tương đương Tú tài, công giáo, đảng viên Cần Lao Nhân Vị từ năm 1955, gia cảnh: vợ là Nguyễn thị Tòan và 1 con, anh em: Phan quang Mai, Phan quang Khuê, Phan quang Quê hiện cùng với mẹ ở Bắc Việt, tiền án: không.

Hỏi về qúa trình họat động, bị can khai:

Vấn đáp:

Từ 1939 đến 1944, tôi là học sinh trường Saint Baptiste de la Salle Nha Trang, Năm 1944-45, tôi học trường Chính-Hóa, Vinh. Sau 9/3/45 tôi ở nhà. Thời Việt Minh, tôi gia nhập giải phóng quân đến năm 1946, giải ngủ vì lý do sức khỏe. Từ 9/1946 đến 1950, tôi tiếp tục học tại trường Hùynh Thúc Kháng, Hà Tĩnh (Vùng Việt Minh). Từ 1950 đến 1953, tôi dạy học tại trường Tư Thục Công giáo Thiên Khải đường Nghệ An, tháng 12/1953 tôi cùng các tên Phan Quang Điều, Phan Đình Phúc và Phan Quang Chính trốn qua Lào.

– Từ tháng tư 54 đến tháng 9/54 tôi về Sàigon, học trường sinh viên Sĩ quan Thủ Đức rồi đào ngủ.

– Tháng 2/55, tôi vào làm cho Sở nghiên cứu Chính trị của Bác sĩ Tuyến và đựơc ông nầy chọn đi học khóa Tình báo Phi Luật Tân, đến 6/55 mãn khóa, trở về sở Nghiên cứu phụ trách việc dịch các bản tin Việt ra Pháp.

– Từ 3/56 đến 10/56 tôi làm Trưởng Ban Phỏng vấn di cư vượt tuyến tại Quảng Trị và từ 10/56 đến 7/57, tổ chức tình báo tìm hiểu họat động VC từ Đông Hà vào Quảng Nam liên hệ với Nha Công An Trung Phần thu thập tin tức VC gởi về cho Sở Nghiên cứu Sàigon.

– Từ 7/57, tổ chức người vượt tuyến để lấy tin tức VC, tháng 10/57 Sở Nghiên cứu chỉ thị cho tôi thành lập Trung Tâm Tiếp Cư tại Huế họat động đến 9/63 thì Trung Tâm nầy gỉai tán.

– Tháng 5/61 được lệnh xây dựng Trung Tâm Kiểm Thính Huế họat động cho đến ngày tôi bị bắt.

Hỏi khi ra đi bị can giao phó người mẹ cho ai và từ ngày vào Nam đã nhận tin tức gia đình như thế nào bị can khai:

Vấn đáp:

 Khi ra đi tôi có giao mẹ tôi cho lại mấy người em trông nom về tin tức gia đình tôi biết qua bưu thiếp của những người ở vùng VC vào cho hay.

Hỏi về sự liên hệ giữa bị can với 3 tên xuất thú bị can khai:

Vấn đáp:

   Tôi với ba tên ấy đều có bà con với nhau: tôi gọi Phan Quang Điều bằng chú, Phan Bình Phúc bằng anh con ông Bác, Phan Văn Chính bằng chú (Phan Văn Hóa chú của Phan Văn Chính, tôi gọi bằng ông) việc vào Nam vì trong vòng bà con nên có bàn định với nhau.

Hỏi về hành trình xuất thú và lý do chọn hành trình ấy bị can khai:

Vấn đáp:

Khỏan 12/53 tôi cùng 3 tên nói trên vượt biên giới Lào Việt, gặp một đơn vị quân đội Liên Hiệp Pháp đưa chúng tôi về Savannakhet và Vientiane giao cho phòng II khai thác về tình hình Việt Cộng, sau chừng 1 tháng ông Phan Văn Hóa, thân sinh của Phan Văn Chính lúc ấy làm ở Comrep Lào, bảo lãnh chúng tôi về. Chúng tôi chọn hành trình nầy vì tin tưởng ở sự giúp đở của ông Phan Văn Hóa. Ông Hóa sau về làm Tỉnh trưởng Pleiku vào khỏang 1957, đã chết trong một tai nạn xe hơi.

Hỏi về việc đã vận động cho bị can và tên kia nhập hoc trường sinh viên Sĩ quan Thủ Đức và tại sao khi về Sàigon lại phân tán, cũng không cùng học một khóa Thủ Đức bị can khai:

Vấn đáp:

Thời gian tôi ở Lào, nhờ có ông Phan Văn Hóa làm ở Comrep vận động cho chúng tôi về học Sĩ quan Thủ Đức Sàigon. Chúng tôi làm đơn nhờ ông Hóa xin cho chúng tôi về Sàigon trừ

Phan Văn Chính thì về sau. Tất cả chúng tôi đồng xin học một khóa, nhưng khi về Sàigon Phan Quang Điều và Phan Bình Phúc bị đau không học được sau lên Đà Lạt học. Phan Quang Điều  hiện là Trung Úy An Ninh Quân Đội, Phan Bình Phúc Trung úy Công Binh còn Phan Văn Chính khoảng 1957 mới đi Mỹ học Không quân hiện là Thiếu Úy.

Hỏi khi dự định đào ngủ đã bắt liên lạc với bác sĩ Tuyến chưa và đào ngủ với dụng ý gì bị can khai:

Vấn đáp:

   Sau khi hiệp định Genève ký kết tình trạng trong quân đội hơi phức tạp và lại như đa số người công giáo di cư, tôi muốn tham gia những họat động ủng hộ ông Ngô Đình Diệm nên tôi đào ngũ. Với Bác sĩ Tuyến, tôi chỉ biết qua giới thiệu của ông Đỗ La Lam. Ông Đỗ La Lam khi ở vùng VC, chủ bút tờ Tiến Hành, cơ quan ngôn luận của Liên đòan Công giáo Nghệ Tĩnh Bình vào năm khoảng 1951 làm ở tờ báo Xã Hội của ông Nhu.

 Khi ở Lào nhờ tờ báo nầy tôi mới biết ông Lam và khi về Sàigon tôi có trực tiếp đến gặp ông ấy.

Hỏi về trường hợp hợp tác với Bác sĩ Tuyến bị can đã khai:

Vấn đáp:

Từ 7/55 đến 3/56 tôi làm việc tại Sở Nghiên Cứu Sàigon phụ trách dịch những bản tin bằng Việt ngữ ra Pháp. Từ 3/56 đến 7/56 tôi được chỉ định làm ban thẩm vấn di cư tại Quảng Trị, trụ sở đặc tại Ty CA. Thành phần ban nầy gồm 2 nhân viên của Nha Tổng Giám Đốc CS và CA và hai nhân viên của Sở Nghiên Cứu. Nhiệm vụ ban nầy là thẩm vấn những người di cư vượt tuyến.

Từ 7/56 đến 10/56, tôi về Sàigon tường trình công việc và làm việc tại đây. Từ 10/56 đến 1/57 tôi nhận chỉ thị của Bác sĩ Tuyến ra nghiên cứu tổ chức Tình báo tìm hiểu họat động của VC từ Đông Hà vào Quảng Nam đến tháng 1/57 Bác sĩ Tuyến ra lệnh đình chỉ công việc ấy lại.

Từ 3/57 đến 5/67 tôi được chỉ thị liên lạc với Nha Công An Trung phần để lấy tin gởi về Sở Nghiên Cứu Chính Trị Sàigon.

Từ 7/57 tôi được chỉ thị tổ chức người vượt tuyến để lấy tin tức Việt Cộng tại vùng giới tuyến, hàng tháng tổ chức được phụ cấp 40.000$, công việc nầy đến tháng 3/61 thì chấm dứt. Tháng 10/59 tôi được chỉ định thành lập Trung tâm tiếp cư để tiếp đón và thẩm vấn sơ khởi những người vượt tuyến. Đến tháng 9/63 thì Trung tâm nầy giải tán vì người vượt tuyến thưa dần, mỗi tháng Trung tâm tiếp cư được phụ cấp 60.000 $.

Khoảng tháng 5/61 Sở Nghiên cứu chỉ thị cho tôi xây dựng Trung Tâm Kiểm Thính, có nhiệm vụ theo dõi các di chuyển và họat đông quân sự VC tại Lào và miền Nam, xây cất Trung tâm nầy phí tổn trên 3 triệu đồng do ông Tôn Thất Hường đứng tên và ông Trần Tuyên Cáo, thực hiện kinh phí do Nha Tổng Giám Đốc Kiến Thiết đài thọ.

Hỏi về trường hợp hợp tác với Ngô Đình Cẩn, bị can khai:

Vấn đáp:

 Linh mục Cao Văn Luận biết rõ gia tộc tôi từ khi tôi vào ở Hà Tĩnh. Thời gian tôi vào Sàigon có gặp cả ông Phan Văn Hóa nên biết rõ chúng tôi. Khoảng tháng 3/57, sau khi được chỉ thị liên lạc với Nha Công An Trung Phần như đã khai trên tôi nhờ sự tiến dẫn của linh mục Cao Văn Luận nên được các ông Ngô Đình Cẩn để có phần dễ dàng làm việc và tiến thân trong tương lai.

Hỏi về việc nhận lệnh của Ngô Đình Cẩn để khai thác vụ gọi là gián điệp Pháp bị can đã làm như thế nào, bị can khai:

Vấn đáp:

 Khỏan 8/57 Ô. Hồ Đắc Trọng tìm gặp tôi, bảo lên Ô. Cẩn để ông ấy giao tôi một vụ gọi là gián điệp Pháp và ông Vũ Đình Ban đang phụ trách. Ông Cẩn không giao cho tôi một hồ sơ tài liệu nào mà chỉ nói rằng ngòai nầy đã bắt ông Tống Văn Đen khai thác chưa có kết qủa, tôi phải làm gấp cho có hồ sơ gởi vào Sàigon. Tôi lại được nghe các ông Lê Khắc Duyệt, Trần Văn Hương và Hồ Đắc Trọng cho biết thêm là ông Nguyễn Đắc Phương, làm kinh tài cho gián điệp Pháp nhảy lầu tự tử. Ông ấy liên lạc với Pháp ở Lào và Pháp Nhà Đèn Huế. Vụ ông Nguyễn Đắc Phương bị bắt và bị thẩm vấn do ông Vũ Đình Ban và Dương Văn Hiếu phụ trách.

Sau khi lãnh chỉ thị Ô. Cẩn tôi sang lầu Hòa Bình gặp Ô. Tống Văn Đen, ông ấy bị câu lưu và khai thác từ 9-10 ngày rồi nhưng chưa khai báo gì, thuyết phục không được, tôi nghỉ tới việc bố trí một cuộc thủ tiêu giả tạo để áp đão tinh thần Ô. Tống Văn Đen. Vì qúa sợ, Ô. Tống Văn Đen khai có nhận làm gián điệp cho Pháp có nhận thư của hai tên Pháp ở Nhà Đèn Huế, giao lại cho hai ông Phan Văn Thí và Nguyễn Văn Yến. Tôi cho ông Đen làm tờ khai xong, vào gặp Ô. Cẩn để trình bày về kết quả khai thác. Ông Cẩn lộ vẻ vui mừng, chỉ thị bắt hai ông Phan Văn Thí và Nguyễn Văn Yến vào, bảo tôi “hai người đó làm kinh tài, khai thác cho được”

Do đó Ty Cảnh Sát Huế phụ trách việc bắt và khám nhà hai ông Thí và Yến, nhưng không bắt gặp được một tài liệu gì về họat động gián điệp của họ cả.

Bằng vào lời khai của ông Đen, tôi hỏi ông Thí có nhận thơ hai người Pháp ở Nhà Đèn do ông Đen đưa lại không, ông Thí phủ nhận. Tôi dùng biện pháp mạnh như tra điện, cho uống nước dơ do Nguyễn Văn Trị và Bùi Kế đảm nhận liên tiếp trong 1 tuần. Cuối cùng, Ô. Thí nhìn nhận có nhận thơ của hai người Pháp ở Nhà Đèn Huế, và làm kinh tài cho tổ chức gián điệp Pháp, và còn khai thác mấy ông Võ Văn Quế, Châu Đình Chương và Nguyễn Văn Nhiệm ở Đà Nẵng. Có lẽ vì bị đau quá nên ông ấy khai tên những người quen biết. Tôi cho làm bản khai xong trình lên cho ông Cẩn.

 Riêng ông Yến cũng bị bắt một lần với ông Thí do Nha An Ninh Quân Đội nhận hàng đầu khỏang 1, 2 tháng gì đó, kết quả khai thác như thế nào không rõ, thì ông Yến đưa sang cho tôi làm tại lầu Hòa Bình. Tôi căn cứ vào lời khai ông Thí để thẩm vấn, ông Yến không chịu nhìn nhận gì hết, tôi phải dùng đến những biện pháp mạnh, như ngó đèn 500Watt, tra điện trong mấy ngày, ông Yến mới chịu nhận có làm gián điệp cho Pháp. Tôi giao cho Nguyễn Văn Trị và Bùi Kế hướng dẫn cho Ô. Yến làm bản khai, căn cứ theo lời khai của ông Thí, cũng như ông Thí trong thời gian lấy lời khai ông Yến cũng phải chịu những cực hình.

Ngay sau khi ông Thí khai ba người là các ông Võ Văn Quế, Châu Đình Chương và Nguyễn Văn Nhiệm, đối với ông Chương và ông Nhiệm tôi đặt giả thuyết làm kinh tài, còn riêng ông Võ Văn Quế là một cựu nhân viên Công An Pháp chuyên môn về tình báo tôi nghỉ rằng trong tổ chức kinh tài có cả tình báo nữa; nên tôi bảo nhân viên, không những khai thác về kinh tài mà còn chú trọng khai thác về tình báo nữa. Bằng vào lời khai của các nạn nhân trên kết hợp với sự suy nghĩ của tôi, tôi hệ thống hóa thành tổ chức kinh tài và gián điệp Pháp, xin chỉ thị của ông Cẩn để lần lượt bắt một số người gồm đủ các giới, quân nhân, công chức thương gia. Những người nầy bị bắt, vì tra đánh quá sức không chịu đựng được, nên mới khai những người mình quen biết, do đó con số người dính líu vào vụ gọi là gián điệp Pháp, càng ngày càng tăng bao trùm hết các tỉnh ở Trung phần và Sàigon. Đi đôi với tổ chức gọi là gián điệp Pháp nầy là một cơ sở kinh tài mà sau đó tôi buộc các nạn nhân phải nạp tiền; tổng số tiền tôi thu được lên đến bốn triệu năm trăm ba mươi bảy ngàn. Những người bị bắt trong cái tổ chức gọi là kinh tài và gián điệp Pháp lên đến trên 50 người.

Tôi công nhận vụ gián điệp Pháp mà tôi lập hồ sơ là một vụ gỉa tạo nhằm mục đích tống tiền và triệt hạ một số Sĩ quan, công chức bất phân tôn giao.

Nói về những hậu qủa khốc hại của vụ gián điệp Pháp gỉa tạo, bị can khai:

Vấn đáp:

 Vụ gián điệp Pháp giả tạo nầy đã làm cho ba người phải thiệt mạng là các ông Nguyễn Đắc Phương, Võ Côn, Trần Bá Nam, một số người vô tội bị đánh đập tra tấn đến thành thương tật hoặc bức họ đến nổi phải tự vận (nhưng may cứu sống kịp) một số nạn nhân phải chịu tù đày, vong gia bại sản, đời sống ê chề điêu đứng một số lớn công chức vô cớ bị hàm oan.

Hỏi về hồ sơ tiền kinh tài bị can có lạm dụng một sốn lớn đã xử dụng vào việc riêng thế nào bị can khai:

Vấn đáp:

Số tiền kinh tài tôi không có lạm dụng, tôi đã chỉ dùng vào các việc như: trả tiền mua sắm vật liệu và dụng cụ văn phòng, trả tiền ăn cho các nạn nhân bị giữ tại trung tâm trừ các công chức, sửa xe cộ, phụ cấp cho nhân viên đi công tác v.v… Tất cả các việc chi tiêu trên đây đều có giấy tờ chứng minh, nhưng bây giờ tôi đã thiêu hủy sau ngày 1/11/63 cùng một lần với hồ sơ vụ gián điệp Pháp, vụ 11/11/60, 27/2/62 và các vụ VC.

Trên mục đích tiến thân, bị can đã thụ hưởng gì với quá trình phục vụ bên Ngô Đình Cẩn, bị can đã khai:

Vấn đáp:

Tôi không được hưởng thụ một ân huệ gì trong suốt thời gian phục vụ với Ngô Đình Cẩn, ngay cả gia đình tôi cũng vậy, sở dĩ sau nầy tôi với ông Cẩn vì nghĩ đến thủy chung dù sao tôi cũng là người đã làm việc với ông ta, hơn nữa cũng nhận có sự mâu thuẩn giữa Ô. Cẩn và bác sĩ Tuyến ở Sàigon.

Hỏi về việc làm vừa qua trong vụ gọi là gián điệp Pháp bị can thấy thế nào, bị can khai:

Vấn đáp:

Tôi công nhận trong thời gian qua, trong vụ án gián điệp Pháp gỉa tạo tôi đã gây ra bao nhiêu là tội ác như:

– Vu khống, hảm hại một số người vô tội, bức họ đến tự vận chết.

– Dùng cực hình tra tấn nạn nhân các nạn nhân đến thành thương tật.

– Tống tiền các nạn nhân làm cho họ phải vong gia bại sản

– Triệt hạ một số quân nhân, công chức bất phân tôn giáo (1).

– Gây đau thương tang tóc cho biết bao nhiêu gia đình.

Hỏi bị can còn muốn khai thêm gì nữa không:

Vấn đáp:

Thưa tôi không khai thêm gì nữa

Khẩu cung nầy đã được lập xong hồi mười sáu giờ ngày tháng như trên gồm có chín trang đã được trao cho Phan Quang Đông đọc lại nhận đúng y cung, và bằng lòng ký tên dưới đây với chúng tôi

BẢN SAO

VIỆT NAM CỘNG HÒA

NHA CẢNH SÁT QUỐC GIA VN

Huế, Ngày 8 tháng 5 năm 1964

TRUNG NGUYÊN TRUNG PHẦN

            ———————–

Số:  95/CSQG/ĐS/

GIÁM ĐỐC NHA CẢNH SÁT QUỐC GIA

MIỀN BẮC TRUNG NGUYÊN TRUNG PHẦN                                                                                                                                                                                                    ——————

Kính gởi Ông:

TỔNG GIÁM ĐỐC CẢNH SÁT QUỐC GIA

(KHỐI CẢNH SÁT) SAIGON

TRÍCH YẾU:

Vụ án gỉa tạo gián điệp Pháp do Phan Quang Đông  tay sai đắc lực Ngô Đình Cẩn  đã hòanh hành từ 1957 đến 1963

THAM CHIẾU:

Quý chuyển văn số 083/ TCSQG/ TA ngày 29.1.64 và mật văn số 11182/ TCSQG/ CSTP/5 ngày 14-4-64

Thừa thiệp các mật văn dẫn thượng, nha tôi xin kính phúc trình Qúy Tổng Nha rỏ kết qủa điều tra về vụ giả tạo gián điệp Pháp do Phan Quang Đông trùm mật vụ của Ngô Đình Cẩn đã hòanh hành từ 1957 đến 1963.

Vụ án giả tạo nầy phát sinh vào khỏang đầu năm 1957, bởi sự tranh chấp quyền lợi giữa bà Cả Lễ (chị Ngô Đình Cẩn tên là Ngô Đình Thị Hoàng (2) và ông Nguyễn Đắc Phương, thầu khóan ở Huế trong việc đấu thầu sửa chữa Điện Thái Hòa (Thành nội) Huế.

Sở dĩ ông Nguyễn Đắc Phương trúng thầu hồi đó là do sự chủ quan của ông Ngô Đình Cẩn tưởng không ai còn dám tranh thầu với bà Cả Lễ, nên không ra lệnh bố trí để bà nầy được trúng thầu.

Vì vậy khi được tin bà Cả mất mối lợi quan trong, Ngô Đình Cẩn liền dùng uy quyền bao quát của y hồi đó ra lệnh bắt giữ ông Nguyễn Đắc Phương về tội đã liên lạc buôn thuốc phiện lậu làm kinh tài cho tổ chức gián điệp Pháp. Sở dĩ Cẩn viện lý do để buộc tội ông Phương vì ông nầy đã mua gỗ của một Pháp kiều ở Đông Hà (Quảng Trị) để dùng trong công tác vừa thầu được.

Để pháp lý hóa việc bắt giữ nầy, ngày 12-5-57 Ngô Đình Cẩn ra lệnh cho Trần Văn Hương, một trong những tay chân thân tín của y, lúc bấy giờ giữ chức Cảnh sát trưởng thành phố Huế, trình Biện lý cuộc xin án lệnh soát nhà ông Phương và bắt giam ông nầy luôn.

Mặt khác Ngô Đình Cẩn ra lệnh cho Vũ Đình Ban lúc đó làm tại Nha Học Chánh Trung Việt và giao cho tên nầy phụ trách thẩm vấn Nguyễn Đắc Phương. Sở dĩ có sự chỉ định nầy là vì Ngô Đình Cẩn căn cứ vào thành tích lắm thủ đọan của Vũ đình Ban lúc đó còn làm Trưởng ty Công an VC tại Bình Thuận. Chính tên nầy đã được VC giao công tác giả tạo một vụ án gián điệp Pháp tại nhà thờ “Kim Chua” với mục đích triệt hạ và sát hại giới trí thức có tư trưởng Quốc gia chống đối ngụy quyền VC hồi ấy.

Riêng Trần Văn Hương phụ trách sắp đặt nhân viên tìm địa điểm làm việc và chu cấp phương tiện cho Vũ Đình Ban trong việc thẩm vấn.

Ban đầu ông Nguyễn Đắc Phương bị giữ tại phòng Công an Lưu động của Lê Hoác, sau chuyển qua giữ tại lầu Canh Nông (Thành nội) Huế.

 Dưới quyền Vũ Đình Ban, một số nhân viên Cảnh sát và Công an sau đây được Trần Văn Hương biệt phái:

– Lê Văn Dư, nhân viên công an lưu động của Lê Hoác

– Phan Văn Huệ

– Nguyễn Văn Châu, nhân viên Nha Công An Trung Việt

– Nguyễn Văn Lộc (tức Lộc Xồi), nhân viên Ty Cảnh Sát Huế

– Nguyễn Văn Long, nhân viên Ty Cảnh Sát Huế phụ trách An Ninh

– Huỳnh Niêm                      –

– Võ Đại Nong                     –

– Trần Văn Quang                –

Vì không chịu đựng nỗi sự tra tấn quá dã man của Vũ Đình Ban và nội bọn sau 4, 5 hôm ông Nguyễn Đắc Phương phải nhận liều có buôn thuốc phiện lậu, liên lạc với 1 Pháp kiều tại Đông Hà, đồng thời cũng khai luôn làm kinh tài cho tổ chức gián điệp Pháp, do sự hướng dẫn gian ngoan của bọn nầy, ông Phương đã làm khai xuất một hệ thống gián điệp Pháp tưởng tượng có liên lạc từ Seno (Lào) về Huế, đến tận Sàigon và qua cả Tân Gia Ba, trong đó có liên hệ đến vài người Việt Nam, trong số có ông Tống Văn Đen thầu khoán, Nguyễn Cao Khanh và Hoàng Yến nhân viên Sở Thủy Điện Huế

Nhưng vào ngày 16-5-57 trong khi đứng khai chưa hết phần tổng quát thì ông Nguyền Đắc Phương chết. Cái chết nầy có phần mờ ám; bè lũ mật vụ hồi đó phao tin rằng ông Phương đã nhảy từ lầu Canh Nông xuống sân để tự sát. Nhưng dự luận cho rằng ông Phương đã bị tra tấn đến chết, và đã bị bọn tay sai của ông Ngô Đình Cẩn đem quăng xác từ lầu xuống để phi tang tránh trách nhiệm.

Để trấn áp mọi dư luận và cũng để chứng tỏ vụ gián điệp có thật, Ngô Đình Cẩn ra lệnh cho Vũ Đình Ban tiếp tục khai thác vụ nầy bằng cách bắt giữ thầu khóan Tống Văn Đen (ngày 29-6-57) mà theo lời khai của Nguyễn Đắc Phương đã tham gia tổ chức gián điệp Pháp tại miền Trung.

Bị câu lưu tại lầu Hòa Bình (Thành nội), ông Tống Văn Đen tuy chịu mọi cực hình, khủng bố, dọa nạt, vẫn khăng khăng không chịu nhận tội làm gián điệp mà bọn Vũ Đình Ban, Dương Văn Hiếu, Trần Văn Hương, Phan Khanh và Lê Văn Dư thay phiên nhau tra tấn và gán cho.

Cái chết của Nguyễn Đắc Phương đã gây dự luận không hay đối với Vũ Đình Ban nên Ngô Đình Cẩn ra lệnh Vũ đình Ban giao lại nội vụ gián điệp cho Phan Quang Đông, nhân viên Nha Nghiên Cứu Chính Trị ở Sàigon biệt phái ra Huế. Tên nầy đã trực tiếp gặp Ngô Đình Cẩn nhận chỉ thị thẩm vấn Tống Văn Đen, làm sao cho có đủ tài liệu để gởi vào Sàigon bổ túc hồ sơ của tên Armagnao lúc bấy giờ bị câu lưu tại Nha Công An Nam Việt.

Tuy biết vụ nầy giả tạo, nhưng Phan Quang Đông vì muốn lập công với Ngô Đình Cẩn, nên đã bố trí với sự phụ giúp của Dương Văn Hiếu, Lê Văn Dư, Phan Khanh, Trần Văn Hương, Nguyễn Văn Trí và Bùi Kế, một cuộc thủ tiêu giả tạo để áp đão tinh thần của ông Tống Văn Đen, làm ông nầy vì quá khiếp sợ và cũng không chịu nỗi sự tra tấn, tàn bạo, đã khai bừa có làm liên lạc cho tổ chức gián điệp Pháp. Ngòai ra, do sự hướng dẫn của bọn nầy, ông Đen có khai có nhận thư từ của các Pháp kiều sở Thủy Điện Huế để giao cho hai ông Phan Văn Thí (Chủ hiệu Đức Sinh) và Nguyễn Văn Yến (Chủ hiệu hảng Morin)

Ngày 13-4-57 Phan Quang Đông trình Ngô Đình Cẩn kết quả khai thác Tống Văn Đen đồng thời được Cẩn ra lệnh bắt câu lưu hai ông Phan Văn Thí và Nguyễn Văn Yến để xét hỏi và việc hai ông nầy đã làm kinh tài cho Pháp và Cẩn buộc Đông phải làm cho được.

Cũng như các nạn nhân trước, ông Phan Văn Thí lúc đầu không nhận, nhưng sau một thời gian bị các cực hình khổ nhục (tra điện, đổ nước vào mũi, ăn xà phòng, nhìn ánh đèn 500W, v.v..) không thể chịu đựng nỗi, đành phải nhận làm cho tổ chức gián điệp Pháp với chức vụ Trưởng ban kinh tài Trung Phần, kiêm miền Bắc Trung Nguyên Trung Phần, do ông Nguyễn Văn Yến làm phó trưởng ban kiêm miền Nam Trung Phần. Do đó, về hệ thống kinh tài miền Bắc ông Thí đã khai do sự hướng dẫn của Phan Quang Đông và nội bọn, như sau:

– Quảng Trị:

               – Ngô Đa Mỹ, thương gia (hiệu Mỹ Phát – tg)

               – Ngô Khôn Hà (tục danh là Nộn, tg)

– Huế:

               – Châu Đình Chương, thương gia

               –  Võ Văn Quế, cựu công chức công an

– Đà Nẵng:

– Nguyễn Văn Nhiệm, thương gia

– Bành Hiệp Nguyên          –

Riêng ông Nguyễn Văn Yến cũng như Phan Văn Thí vì bị tra tấn quá tàn nhẫn nên cũng đã nhận liều chức vụ đã bị gán ép đồng thời cũng khai một số cơ sở kinh tài giả tạo ở các tỉnh miền Nam Trung Nguyên Trung Phần , như sau:

– Quảng Ngãi:

– Bùi Công Thuận, thầu khóan

– Du Hau (không bắt)

– Qui Nhơn:

– Trần Văn Thăng, thương gia

– Phan Kiêm (không bắt)

– Nha Trang:

– Quách Chuyên, thợ vàng

– Phan Thiết:

– Phạm Bờ (không bắt)

Do đó các thương gia và thầu khóan trên đều lần lượt bị Phan Quang Đông và bè lũ bắt giữ từ 1957 đến 1960 và không một người nào chịu nỗi sự tra tấn đến phải thú nhận đã nhận tiền của hai ông Thí và Yến để hoạt động kinh tài cho tổ chức gián điệp Pháp.

Vào khoảng đầu năm 1958, Phan Quang Đông đã nhận chỉ thị của Ngô Đình Cẩn phải thu hồi số tiền kinh tài ấy để nộp cho “đoàn thể” và chi phí cho ban thẩm vấn.

Sau khi giải thích cho các nạn nhân trên là số vốn của Pháp phải nộp lại cho Chính phủ và buộc họ phải làm một tờ tình nguyện xin nạp tiền mà chúng gọi là chính sách “cởi áo thực dân”. Kết quả Phan Quang Đông đã thu được các số tiền sau đây:

Đợt I:

Ô. Châu Đình Chương       nạp 250.000$00

    Trần Tuyên Cáo            –       220.000$00

    Phan Văn Thí                –    1.500.000$00

    Nguyễn Văn Nhiệm      –       200.000$00

    Trần Văn Thăng            –       150.000$00

    Võ Văn Quế                  –       100.000$.00

    Ngô Đa Mỹ                   –       500.000$00

    Bùi Công Thuận            –       200.000$00

Đợt II

Ô. Ngô Đình Lan              –       300.000$00

     Võ Văn Quế                 –       150.000$00

      Phan Hoàng                –       300.000$00

      Bùi Công Thuận          –      197.000$00

      Nguyễn Văn Liên         –      200.000$00

      Nguyễn Văn Nhiệm     –      100.000$00

      Tống Văn Đen              –        60.000$00

      Bành Hiệp Nguyên      –        40.000$00

      Lê Văn Châu                –      100.000$00

                                               _______________

                                 Cọng       4.597.000$00

Tổng số thu được bốn triệu năm trăm chín mươi bảy ngàn đồng (4.597.000$00) để nạp cho Ngô Đình Cẩn 2 triệu, còn lại 2.597.000$00 đương sự chi hỉ cho ban thẩm vấn của y.

x

x x

Ngoài ra Phan Quang Đông có đưa lời phát giác của hai ông Phan Văn Thí và Nguyễn Văn Yến trong đó có khai ông Võ Văn Quế nguyên nhân viên Công an liên bang Pháp ở Huế, đã đặt giả thuyết rằng trong tổ chức kinh tài gián điệp còn có tổ chức tình báo nữa, nên Đông đã ra lệnh cho nhân viên thuộc hạ của y khai thác cho được cơ sở tình báo.

Do đó, sau khi liên tiếp bị tra tấn hành hạ đủ mọi cách, các ông Phan Văn Thí, Nguyễn Văn Yến và Châu Đình Chương lần lượt khai xuất riêng ông Võ Văn Quế ban đầu cương quyết từ chối không chịu khai nhưng sau một thời gian bị các biện pháp cứng rắn đến năm 1960 mới chịu để cho chúng hướng dẫn cung khai. (Sau đó ông Võ Văn Quế cắt gân máu ở tay tự tử được chở đi bệnh viện cứu sống)

Phan Quang Đông đã bằng vào các lời khai trên, hệ thống hóa thành 1 tổ chức gián điệp Pháp, họat động từ Đông Hà vào đến Phan Thiết, y liền trình Ngô Đình Cẩn và lần lượt câu lưu tất cả những nạn nhân vào khoảng 50 người gồm có các thành phần quân nhân, công chức, thương gia và thường dân.

– Quảng Trị:

               Ô. Nguyễn Cao Hưởng, công chức hành chánh Tỉnh

               Nguyễn Văn Chiêu, giáo viên tiểu học

               Lê Viết Sư, thường dân

               Nguyễn Dung, nhân viên Công an

– Thừa Thiên

               Ô. Trần Bá Nam, thương gia

               Võ Văn Quế, cựu nhân viên Công an

               Phan Văn Nghĩa, cựu thông ngôn quân đội Pháp

               Trần Ngọc Liên, nhân viên Công an

               Phạm Văn Khôi           –

               Nguyễn Văn Long       –

               Nguyễn Văn Tùng       –

               Đào Văn Minh, thường dân

               Nguyễn Cửu Hựu, chủ tịch hội đồng Hương Chính phường Phú Hòa Huế

               Nguyễn Văn Tích, thợ may

               Phan Hoàng, thường dân

               Ưng Dụng         –

– Đà Nẵng:

               Ô. Nguyễn Trường Sinh, thương gia

               Nguyễn Trường Nguyên, thương gia

               Tôn Thất Đôn, nhân viên Công an

– Quảng Nam:

               Ô. Lê Hữu Chất, nhân viên tòa hành chánh Tỉnh

– Quảng Ngãi:

               Ô. Nguyễn Xuân Giáo, nhân viên Công an

– Bình Định:

               Ô. Võ Côn, chánh văn phòng Tòa hành chánh Tỉnh

               Lê Quang Sóc, nhân viên Công an

               Lê Lưu Di

               Nguyễn Thượng Đông, quận trưởng hành chánh

               Trần Tuyên Cáo, thầu khoán

               Đặng Hữu Tiến, thương gia

– Tuy Hòa:

               Ô. Đoàn Đình Thuyết, nhân viên Công an

– Nha Trang:

               Ô. Đoàn Văn Chân, nhân viên Công an

               Võ Triều                 –

               Nguyễn Mừng, thương gia

               Trần Đình Lang, thương gia

– Phan Thiết:

               Ô. Lê Miên, nhân viên Công an

Một số sĩ quan quân đội VNCH do cơ quan An ninh quân đội bắt trong thời gian ấy cũng được giao cho Phan Quang Đông giam giữ và thẩm vấn:

               Ô. Trần Đình Hùng, đại úy

               Đỗ Duy Kỳ, Trung úy

               Vĩnh Nhơn,        –

               Nguyễn Hòa       –

               Trần Minh Vọng, trung sĩ

Ngoài ra Phan Quang Đông còn bắt giữ một số người có

Pháp tịch ở Saigon, tra vấn ép buộc có tham gia họat đông cho gián điệp Pháp tại Sàigon, như:

               – Bùi Đắc Lữ, cựu Đại úy Pháp

               – Hồ Trọng Khôi, cựu nhân viên Công an Huế

               – Nguyễn Thêm                      –

               – Nguyễn Trọng                     –

Số nầy đã bị Phan Quang Đông truy tố trước tòa án quân sự vào khoảng đầu năm 1959 và bị kết án từ 2 đến 5 năm, nhưng sau đó đều được “khoan hồng” và trục xuất ra khỏi Việt Nam.

Một số khác lại bị bắt đưa về Huế giam giữ như các ông:

               – Trương Hồ Báu, cựu Đại úy quân đội Pháp

               – Nguyễn Nhân, thường dân

               – Nguyễn Hữu Đức, thường dân

               – Đỗ Tràng Độ, công chức (hiện ở Mỹ)

và cũng bị tra khảo đánh đập đến nỗi ông Trương Hồ Báu không chịu đựng được, phải nhận liều là giữ chức trưởng ban gián điệp Thành phố Saigon – Chợ Lớn và do sự hướng dẫn của bè lũ Phan Quang Đông, khai xuất một hệ thống gián điệp Pháp giả tạo tại Sàigon – Chợ Lớn .

Tất cả các nạn nhân trên, Phan Quang Đông hoặc đã nhờ cơ quan chính quyền bắt, hoặc tổ chức cho nhân viên bắt cóc giữa ban ngày, đưa về tận địa điểm giam cầm bí mật (ban đầu ở nhà vôi Long thọ, sau đến Mang Cá nhỏ) dùng cực hình tra tấn tàn bạo, khủng bố tinh thần, để sau cùng hướng dẫn họ khai trình một bản thú nhận tội lỗi đã họat động cho tổ chức gián điệp Pháp và một bản khai đầy đủ chi tiết trong tổ chức gián điệp trên mà chúng đã sắp đặt sẵn.

Vì sự tra tấn quá dã man độc ác, mà sức người không thể chịu đựng nỗi, nên hầu hết các nạn nhân dù can đảm đến đâu cũng đành bất lực và phải nhận tất cả các tội lỗi mà bè lũ Phan Quang Đông đã gán cho.

 Hậu quả của sự tra tấn ấy, đã làm một số nạn nhân như ông Trần Bá Nam (bị bắt vào khoảng tháng 5/1958) và Võ Côn (ngày 4/9/1958) đã phải chết trong các trại giam (ông Trần Bá Nam ở nhà vôi Long Thọ, ông Võ Côn ở Mang Cá nhỏ).

 Một số khác khi được trở về, phải mang các chứng bệnh như gan, lá lách, phổi, v.v…

 Trước khi được trả tự do, tất cả các nạn nhân đều phải tuyên thệ tuyệt đối giữ bí mật, không được tiết lộ việc cung khai và giam giữ, nếu không sẽ bị thủ tiêu, nhưng một số thương gia và quân nhân đã tìm mọi cách để chứng minh sự oan ức của họ bằng cách gởi đơn khiếu nại vào “Tổng Thống phủ” và các cấp chỉ huy quân sự.

 Sự kiện trên đã gây dư luận sôi nổi và vì có thể có ảnh hưởng tai hại đến địa vị và uy tín cá nhân của y đối với Ngô Đình Cẩn, nên Phan Quang Đông đã xin Cẩn đình chỉ vụ bắt giữ thêm số người có tên trong danh sách gián điệp giả tạo của y, mà theo chương trình sẽ lần lượt bị bắt giữ.

 Vì vậy ông Võ Văn Quế (hiện ở California) là nạn nhân cuối cùng rời khỏi trại giam Mang Cá nhỏ vào khoảng đầu năm 1963.

 Hầu hết số thương gia và một số thường dân sau các phiên tòa xử Phan Quang Đông tại Huế (ngày 26, 27, 28 /3/ 64) và Ngô Đình Cẩn tại Sàigon từ ngày 16 đến 22/ 4/ 64 đã đựợc Tòa án Cách mạng truyền hai trên nầy bồi thường tất cả các sự thiệt hại trong thời gian bị giam giữ.

 Riêng một số công chức thuộc các tòa Hành chánh và Nha Cảnh sát Quốc gia Miền Bắc Trung Nguyên Trung Phần phóng thích vào khỏang 1961 đã được tiếp tục phục vụ tại nhiệm sở cũ một thời gian sau ngày được trả tự do .

 Một số khác, phóng thích khoảng 1962, mãi sau ngày Cách mạng 1/ 11/ 63 thành công, mới được Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia Sàigon cho phục hồi nguyên ngạch, nhưng đến nay bộ Nội Vụ vẫn chưa ra quyết định hủy bỏ Nghị định tạm cách chức các đương sự của chế độ cũ (xin tham chiếu các mật văn số 9692,1503, 1702, 1233, 1044, 3384/ CSQG/ HC/ A ngày 28 /12 / 63, 16, 20, 21, 27 và 28/ 4/ 1964 của Nha tôi). Các nhân viên nầy tuy hiện đang phục vụ tại Nha Cảnh Sát Quốc Gia Miền Bắc TNTP, nhưng chưa được hưởng lương bỗng từ ngày được lệnh nhận việc (30/ 11/ 63 và 9/ 12/ 63) trong khi các sĩ quan bị bắt trình trên đã được bộ Quốc Phòng cho tái ngũ với cấp bậc cũ đồng thời được truy lãnh tất cả quyền lợi lương bổng từ ngày bị ngưng chức.

x

x x

Sau đây là thành phần Mật vụ phụ trách án gián điệp Miền Trung do Phan Quang Đông điều khiển:

               – Chủ sở: Phan Quang Đông

               – Phó Chủ sở: Lê Duy Cần, Đại úy quân đội VNCH

Bộ phận Văn Phòng

               – Lê Bá Huấn, nhân viên Ty Công an Thừa Thiên biệt phái (sau do Nguyễn Châu, nhân viên Tòa Hành chánh Thừa Thiên thay thế).

               – Trần Đình Sứ, nhân viên Tòa Hành chánh Thừa Thiên biệt phái.

               – Nguyễn Quang Hân, nhân viên Ty Công an Thừa Thiên biệt phái.

               – Đinh Ngọc Hòa, nhân viên Nha Công an Huế biệt phái.

Bộ phận thẩm vấn

               – Trần Đình Sứ

               – Nguyễn Văn Trí, phụ trách thẩm vấn, chuyên dùng biện pháp mạnh (nhân viên Cảnh sát Huế biệt phái).

               – Nguyễn Văn Cương, nhân viên Ty Cảnh sát Huế biệt phái

               – Nguyễn Hữu Nùng        – nt –

               – Bùi Kế, phụ trách cung tiêu, chuyên dựng cung, nhân viên Ty Cảnh sát Huế biệt phái

               – Nguyễn Ngọc Huyên, phụ trách thẩm vấn (Ty Cảnh sát Thừa Thiên biệt phái)

               – Lê Bá Huấn                   – nt –

               – Nguyễn Vinh Thiết       – nt –

               – Nguyễn Đình Thung     – nt –

               – Nguyễn Hoan                – nt –

               – Nguyễn Bình, nhân viên Nha Cảnh sát Huế biệt phái

               – Phan Thanh Bình          – nt –

               – Cao Đăng Quế               – nt –

Bộ phận An ninh

               – Nguyễn Chánh, nhân viên Ty Cảnh sát Huế biệt phái

               – Trần Ngữ                       – nt –

               – Phan Văn Vọng             – nt –

               – Đoàn Đình Gioang         – nt –

               – Nguyễn Văn Đức, nhân viên Ty Cảnh sát Quốc gia Thừa Thiên biệt phái.

 Bộ phận tài xế

               – Hồ Ngọc Hiệp, nhân viên Nha Cảnh sát Quốc gia Huế biệt phái

               – Nguyễn Văn Mầu, nhân viên Ty Cảnh sát Huế biệt phái

               – Nguyễn Sơn Khuyến, nhân viên Nha Cảnh sát Huế biệt phái

 Ngòai ra, có bộ phận điện đài để liên lạc với bác sĩ Trần Kim Tuyến ở Sàigon do một số Bảo An viên Tỉnh Thừa Thiên biệt phái

 Tại Trung tâm Mang Cá nhỏ, còn có một trung đội Bảo an do Thượng sĩ Nguyên chỉ huy, có trách nhiệm giữ an ninh chung cho các nạn nhân vụ gián điệp.

Trong khỏang đầu năm 1963, bộ phận Mật vụ của Phan Quang Đông tuy đã được lệnh Ngô Đình Cẩn giải tán, nhưng Đông chỉ trả các nhân viên biệt phái về nhiệm sở cũ khỏang 6 /63 mà thôi.

Phan Quang Đông cùng 1 số tay sai đắc lực thân tín đã bị bắt giữ sau ngày Cách mạng 1/11/ 63.

Y danh đã bị Tòa án Cách mạng kêu án tử hình sau phiên tòa xữ tại Huế.

 Vậy xin kính trình qúy Tổng Nha thẩm hành. / –

Sao kính gởi:

   – Thiếu tướng Tư lệnh vùng I CT (Tướng Tôn Thất Xứng, hiện ở Canada- tg)

(Phòng Dân Sự Vụ)    – Huế – “Kính Tường”

Bản sao 3/4

BẢN SAO

Tài Liệu Tội Ác Ngô Đình Cẩn

Lê Hồng Phong, NDVN, ngày 3/11/07

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: