Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Đỗ Thành – HÀ NỘI TRƯỚC, HÀ NỘI SAU (Phần 6)

1Có thể bố tôi chủ quan nghĩ rằng việc cho tôi theo đến Khâm Thiên không có gì quá đáng, nhất là lại nhân có bác tôi từ quê lên.  Trong tâm tư ông đã là trai thì thứ gì cũng cần trải qua biết chút ít, miễn là đừng đam mê đến bỏ bê cả mọi việc.  Thế nhưng, dưới con mắt mẹ tôi thì sự việc lại không đơn giản như vậy.

Mẹ tôi vốn quan niệm cũ kỹ xướng ca vô loại, lại thêm khi nghe dư luận thêm mắm thêm muối vào thì bà cứ luôn hình dung cái tên Ngã Tư Sở, Khâm Thiêm vốn là nơi không được tốt lành gì, nhất lại là với một đứa trẻ.  Lại thêm, bố tôi ơ hờ gửi tôi lại nhờ các cô chăm nom một thời gian, đó là điều bà không sao chấp nhận được.

Phương chi bà dì lên đón tôi về lại còn kể lể với mẹ tôi nào là tôi bị lơ là, thiếu sự trông nom nên sinh ra ghẻ, bà và các dì cậu phải lo đun nước nóng với mướp đắng tắm mãi mới làm tôi dứt được các mụn cóc li ti trên da.  Thế là một hai, mẹ gọi bố khẩn khoản đưa chị em tôi về.  Được cái, bố tôi cũng không ương ngạnh, nên sau thời gian 2 năm sống tại Hà Nội thì cả gia đình đành từ giã đất nghìn năm văn vật trở vào Nam.

Việc học của tôi thêm một phen bỏ dở, cả chị tôi cũng vậy.  Xa mái trường học chung với các bạn Bùi Xuân Phái ở đường Thành, tôi không mấy tiếc mà chỉ tiếc về những chuyến ô tô ray chiều chiều chạy qua phía sau trường bấm còi tí te khiến cho cái tính mơ mộng phiêu lưu của tôi tràn đầy ước muốn.

Dạo ấy trường tôi học có hai cổng ra vào, một phía trước, một phía sau.  Tôi luôn chọn cái cổng nhỏ quay ra sau lưng đường Thành làm lối đi về, bởi vì không hiểu sao cứ đúng vào thời gian tan học là có chuyến ô tô ray chạy qua.  Dù tàu chạy trên cầu vượt, nhưng với tôi hình ảnh những toa lố nhố hành khách chạy lướt nhanh khiến tôi luôn bồi hồi xúc động.

Tôi nhớ những chuyến đi đêm cùng với bố về quê, về ngụ nơi ngôi từ đường của tộc họ, được hai bác và anh tôi cưng chiều hết mức.  Hai bác đã ít con, lại thêm tôi lăng xăng khiến hai bác rất thích, anh Quang tôi thì luôn bày têu cho em.  Tôi còn nhớ những đêm nằm nghe tiếng gió luồn qua vách lá kêu rột rẹc mà cảm thấy giọng quê hương len lách dài dài.

Tôi cũng trải qua một lần phiên chợ Tết tại quê nội.  Hàng quán che dựng tạm dài theo lối đi.  Dân làng nội rủ rê nhau vào Saigon làm ăn, ai cũng có của ăn của để nên vun vén gửi về quê sửa sang cho đẹp.  Thuở ấy việc đường làng láng xi măng đã hiếm, vậy mà tất cả các con đường quanh co trong làng nội tôi đều được lát gạch tàu vuông vức to bản.  Hai bên đầu làng sừng sững hai cơ ngơi to đùng của hai ông chú họ chuyên buôn hàng vải ở phố Sabourain, bên hông chợ Bến Thành về cất nhà lớn ở quê.

Đình làng cũng được cơi nới và thuê thợ khéo tay từ xa về đẽo đục, khảm các bàn linh, các câu rèm, trông rất trang trọng và quí giá.  Ngày lễ Thánh Gióng, làng tổ chức tế, các quan viên dâng hương vẻ trang trọng và kéo con ngựa gỗ to đùng đi quanh khắp làng.  Trẻ con có dịp đi theo hô hào nhặng xị và lẽ dĩ nhiên tiệc tùng kéo dài đến hai hôm mới dứt.

Tôi cũng đã qua một mùa rét ngọt ở quê.  Nghe tiếng gió u u nhè nhẹ mà ví như những lưỡi dao bén buốt ngót vào người.  Tôi xuýt xoa, hai hàm răng tự động va vào nhau lộp cộp, bác gái tôi phải vội lấy khăn dầy ủ cho tôi và tỏ vẻ thương thằng bé.  Trời mưa phùn nghe buồn lạ, từ giọt ranh lắc rắc tiếng mưa rơi, trong như những hạt pha lê từ trời phả xuống.  Tôi nằm thun người ngoan ngoãn như con mèo con trốn lạnh, bác gái tôi thường an ủi tôi bằng cách kể chuyện cho nghe : ấy là hồi này trời đã bớt, chứ ngày trước mỗi lần vào đông đến khổ, quấn chân chặt mà vẫn bị nứt thịt da ra.

Tôi chỉ mới nghe kể thôi đã vô cùng hãi, thương cho dân quê mình vất vả làm sao.  Tôi thường nghĩ điều gì khiến cho không một ai tính chuyện bỏ đi cho dù cực thế chứ cực nữa cũng chịu được.  Tôi lại nhớ về cái đất Saigon dường như khác hẳn, quanh đi quẩn lại vỏn vẹn chỉ hai mùa nắng và mưa.  Nhưng lòng người Saigon luôn mở rộng nên bao nhiêu dân Bắc cùng rủ nhau vào góp tay làm ra sự nghiệp.  Lâu dần người nào cũng đổi giọng lơ lớ và có người còn nhận luôn mình đã thành dân Nam Kỳ là khác.

Đó là năm 1944, ba bố con lại kéo nhau lếch thếch vào Nam.  Bố tôi biết lỗi nên khi gặp gia đình mẹ tôi nói gì bố cũng im không đáp lại.  Cũng vào thời gian đó, bố tôi đang bù đầu tiếc của nên càng giữ kín tiếng để mẹ tôi bớt âu lo.  Sau này tôi mới nghe biết là bố tôi dám cả gan thuê nguyên một goong chở loại tuýt xo, định làm một chuyến vớt vát khi bỏ đất Hà Nội nhưng chẳng may bị bắt khám xét nên bố tôi bỏ lơ, đành mất của thay người.

Sau chuyến làm ăn thất bại đó, bố tôi phải bán căn nhà 2 tầng ở số 106 Lagrandière, lủi thủi đưa cả gia đình đi ở tạm nơi nhà một người trong họ.  Mẹ tôi hết sức cằn nhằn, tôi loáng thoáng nghe bố hứa hẹn chỉ vài hôm sẽ lại có nhà khác.  Lúc ấy nào ai tin, nhất là mẹ tôi, không khí gia đình nặng chình chịch và u ám.

Vậy mà bố tôi đi đâu mất biệt đúng 2 hôm, rồi chợt buổi tối về giục cả nhà dọn về chỗ mới.  Tưởng bố sẽ đưa đi đâu xa, nào dè cũng trên con đường Lagrandière, nhưng số nhà là 120 thay vì 106.  Từ đó anh chị em tôi đều phục tài xoay sở của bố, và hẳn nhiên mẹ tôi càng ngưỡng mộ bố hơn nữa.  Chúng tôi lại nhởn nhơ sống lớn dần lên ở con đường mà phần lớn người dân quê tôi ở Bắc kéo nhau vào tương trợ và chỉ vẽ cách làm ăn, cưu mang, đùm bọc nhau mãi mãi lâu dài.

Chính từ đó mà chẳng bao lâu một hội tương tế được lập ra lấy tên làng Phù Lưu làm danh xưng và bố tôi được cử giữ chân thủ quỹ của hội.  Chị em tôi chấm dứt 2 năm sống nơi chuồng cu ở sân sau căn nhà số 65 Hàng Bông Đệm của hai ông bà An Phong.  Từ biệt Hà thành, từ biệt đất Tràng An, từ biệt Thăng Long.

Đôi khi trong nỗi nhớ tôi vẫn nghĩ mình vẫn còn để rơi lại chút gì đó nơi 5 cửa ô xưa, nơi 36 phó phường, nơi Khâm Thiên, Ngã Tư Sở và hầu hết những con phố bắt đầu với tên gọi bằng chữ “ Hàng “.  Tuy thời gian ngắn ngủi chỉ 2 năm nhưng cung cách Hà Nội đã ăn sâu vào tâm trí tôi khiến tôi thành mụ mị và say đắm.

Một hôm nào bất chợt lại nhớ đến một chút phố sá Hà Nội, tôi lại nhớ đến bát cháo đêm bố cho ăn ở ga Hàng Cỏ, khi vữa ra khỏi chuyến ô tô ray từ quê nội lên.  Hà Nội hồi đó so ra không lớn, sầm uất và ồn ào, đông đúc như Saigon, nhưng trong nét âm thầm lặng lẽ thì Hà Nội luôn ủ ấp một điều gì đó khiến ai một lần đã ghé thăm thì khi đi khó quên hết được.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: