Bài 22. Ẩn quan hệ bừa bãi với ít nhất là 4 người giao liên… mà không lộ – và 4 giao liên của Ẩn kể chuyện láo.

Chương 6. Siêu điệp viên chúng là ai?

Bài 22. Ẩn quan hệ bừa bãi với ít nhất là 4 người giao liên… mà không lộ – và 4 giao liên của Ẩn kể chuyện láo.

I. Người giao liên ban đầu của Phạm Xuân Ẩn.

  1. Ẩn đến chơi nhà Tám Thảo để theo đuổi cô tiểu thư Chín Chi xinh đẹp.

                “Tám Thảo, Chín Chi và Phạm Xuân Ẩn ở cùng một cụm chính trị. Ông dạy tiếng Anh cho các cô gái và đến chơi nhà họ để theo đuổi cô tiểu thư Chín Chi xinh đẹp. Họ đã vẫy tay tạm biệt tại sân bay khi ông lên đường sang Mỹ, và họ chào đón ông tại Sài Gòn khi ông quay trở về. Sau khi Phạm Xuân Ẩn đã nằm im mấy tháng trời, Tám Thảo đưa ông tới khu địa đạo ở Tây Bắc Sài Gòn và giới thiệu ông hoạt động trở lại trong mạng lưới tình báo, vốn đã được xây dựng lại sau khi Mười Hương bị bắt.” (The Spy Who Loved Us, page 129)

                Nhận xét: “Tám Thảo, Chín Chi và Phạm Xuân Ẩn ở cùng một cụm chính trị. Ông dạy tiếng Anh cho các cô gái và đến chơi nhà họ để theo đuổi cô tiểu thư Chín Chi xinh đẹp. Họ đã vẫy tay tạm biệt tại sân bay khi ông lên đường sang Mỹ, và họ chào đón ông tại Sài Gòn khi ông quay trở về.

  1. 2. Tám Thảo là người giao liên ban đầu của Phạm Xuân Ẩn.

                “Bà là người giao liên ban đầu của Phạm Xuân Ẩn. Trong căn hộ của bà có một bức tường giả được xây để lẩn tránh cảnh sát, và chỗ ẩn náu này được người đứng đầu cụm tình báo của họ sử dụng trong những lần ông đến Sài Gòn. Bản thân Tám Thảo cũng là một điệp viên, làm thư ký và bạn tâm tình của một số sĩ quan quân đội Mỹ. Chín Chi cũng làm công việc tương tự cho đến khi bà được gọi vào chiến khu năm 1965. Bốn năm sau Tám Thảo cũng được chuyển vào chiến khu, ở đó bà tìm được một người chồng với sự ủng hộ của Đảng và được phép kết hôn.” (The Spy Who Loved Us, page 129)

  1. Chín Chi đã từng vào chiến khu một năm để được huấn luyện cách mạng.

Sinh cách nhau một năm, hai cô gái đang là những thiếu nữ học tiếng Anh và tiếng Pháp tại trường lycée Gia Long ở Sài Gòn khi họ gặp Phạm Xuân Ẩn, người lớn hơn Tám Thảo bốn tuổi. Ông dạy kèm tiếng Anh cả hai chị em và phải lòng cô em Chín Chi. Sau khi các cô gái tham gia phong trào đấu tranh sinh viên Trần Văn Ơn năm 1951, Chín Chi vào chiến khu một năm để được huấn luyện cách mạng. Khi quay trở lại để học nốt trung học, bà được thuê làm phiên dịch cho phái bộ tác chiến Mỹ, cơ quan chỉ đạo chương trình ấp chiến lược của Nam Việt Nam. Bà đi khắp nơi bằng trực thăng, đi cùng các bác sĩ và y tá ra chiến trường. “Tôi trao đổi với Phạm Xuân Ẩn và kể cho ổng nghe tất cả những gì tôi nhìn thấy,” bà nói. “Tôi là một điệp viên.”

Sau khi từ chối lời tỏ tình của Phạm Xuân Ẩn, Chín Chi hoạt động tình báo cho đến khi bà trốn khỏi thành phố năm 1965 để theo đuổi cuộc sống của một chiến sĩ trong chiến khu. ” (The Spy Who Loved Us, page 130)

  1. Ẩn và “người giao liên ban đầu” muốn cưới nhau.

 “Bà sống độc thân cho đến năm 1968 mới kết hôn với một đại tá người miền Bắc và sinh được một người con gái. Khi tôi hỏi Chín Chi là Phạm Xuân Ẩn có bao giờ phải lòng bà và muốn kết hôn với bà không, thì Tám Thảo cười tủm tỉm và Chín Chi cũng mỉm cười.

“Ổng muốn cưới tôi sau khi ổng ở Mỹ về,” bà nói. “Hồi đó là năm 1959. Gia đình tôi đồng ý, nhưng tôi nói không. Tôi từ chối ổng. Tôi muốn đi ra nước ngoài. Tôi muốn sang Anh học, nhưng ông Mười Hương, chỉ huy của chúng tôi, không ủng hộ việc tôi đi ra nước ngoài. Thế là tôi vào chiến khu.

“Vợ ổng sẽ không muốn nghe tôi nói chuyện này,” bà nói thêm. “Đó là một câu chuyện tình lâu rồi. Ông Mười Hương cũng ủng hộ cuộc hôn nhân, nhưng tôi còn quá trẻ. Dạo đó tôi không hề nghĩ gì đến tình yêu cả.”” (The Spy Who Loved Us, page 131)

  1. Siêu Điệp Viên đi tán gái.

“Về sau trong buổi chiều, sau khi thêm rất nhiều tách trà nữa, Chín Chi mới đưa ra một lời giải thích khác về việc tại sao bà từ chối lời cầu hôn của Phạm Xuân Ẩn. “Hồi đó có lệnh giới nghiêm, và mọi người đều phải về nhà trừ Phạm Xuân Ẩn, vì ổng có thẻ báo chí và có thể đến rồi đi bất kỳ lúc nào ổng muốn. Thế là ổng ở lại rất khuya, nói chuyện mãi. Không có cách nào để ổng ngừng nói.”

“Bảy tháng sau khi tôi từ chối ổng, ổng cưới bà Thu Nhạn,” bà nói. “Một điệp viên phải có cái tựa như là một cuộc sống gia đình hạnh phúc bình thường và một người vợ để lo vun vén gia đình, trong trường hợp anh ta bị bắt. Mặc dù vậy có một vấn đề, vì Thu Nhạn không phải là người của tổ chức. Nếu như Phạm Xuân Ẩn bị bắt, những tài liệu mật trong nhà ổng phải được chuyển cho Tám Thảo. Chị ấy là người biết chúng được giấu ở đâu.”” (The Spy Who Loved Us, page 131)

                Nhận xét:Siêu điệp viên cộng sản” hay một thằng ất ơ?

  1. “bà Ba là giao liên duy nhất của ông Ẩn.(31)
  2. Kẻ nào đúng?

“…Từ năm 1961 tới 1975, bà Ba là giao liên duy nhất của ông Ẩn.(31) Mỗi tháng tôi gặp ông Ẩn ba hoặc bốn lần để nhận tài liệu,” bà Ba, bí danh là Nữ tình báo viên B3, nhớ lại. “Khi tình hình khẩn cấp, ông ấy có thể gặp tôi năm tới sáu lần mỗi tháng.

(31) Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, do Trung tâm Từ điển Bách khoa Quân sự (thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam) biên soạn; chủ biên: Trung tuớng Trần Độ (Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 1996), trang 567. ” (Điệp viên hoàn hảo, kỳ 12 – chương 1.)

Ông Ẩn đã chọn bà Ba làm giao liên với niềm tin rằng chỉ có một nữ sứ giả mới bảo vệ được một người sinh nhằm cung xử nữ trước những điều tà ác. Lớn hơn ông Ẩn mười hai tuổi và thường bỏm bẻm nhai trầu, bà Ba ít gây chú ý đối với mọi người. Trước khi chọn bà Ba thì ông Ẩn đã loại tới chín ứng viên khác.(30) “Trước lúc tôi đi gặp ông Ẩn lấn đấu, người ta bảo tôi rằng ‘cha này hổng giống ai’ nên có bị loại thì cũng đừng thất vọng”, bà Ba kể với tôi. “Ông ấy rất đặc biệt và luôn đòi hỏi cao”. Nhớ lại lần đầu gặp mặt, lúc đó bà Ba giả làm người mang hoa đi lễ chùa. Theo mật khẩu đã giao ước, ông Ẩn cất tiếng, “chào chị Bảy Ba”, và bà đáp lại, “chào anh Ba Ẩn”. Nếu hai con số trong các lời chào có tổng là mười, cả hai sẽ biết họ đều là người của cách mạng.

…(30) Phỏng vấn bà Nguyễn Thị Ba.” (Điệp viên hoàn hảo, kỳ 12 – chương 1.)

                Nhận xét: Ai đúng? Thomas A. Bass hay Larry Berman?

Thomas A. Bass: “Tám Thảo …Bà là người giao liên ban đầu của Phạm Xuân Ẩn.“, “Họ đã vẫy tay tạm biệt tại sân bay khi ông lên đường sang Mỹ, và họ chào đón ông tại Sài Gòn khi ông quay trở về. “…

                – Larry Berman: “Từ năm 1961 tới 1975, bà Ba là giao liên duy nhất của ông Ẩn.(31)

                Ai đúng? Bà Ba hay “Tám Thảo, Chín Chi”, Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Thị Sê… ?

                “Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam” – Thật hay bố láo?

  1. có đến 27/45 người đã bị bắt và giết hại. ” nhưng Ẩn và “giao liên duy nhất ” vẫn còn nguyên vẹn!

Trong suốt sự nghiệp của mình, Phạm Xuân Ẩn làm việc với Nguyễn Thị Ba, một nữ giao liên có mái tóc búi lại sau gáy. Từ năm 1961 đến năm 1975, bà nhận những báo cáo mật và những cuộn phim của ông. Kiếm sống bằng nghề bán rong đồ chơi và đồ lặt vặt, bà sống xa con cái và thường xuyên bị ốm vì những cơn sốt rét. “Cả ông Ẩn cũng hay bị bệnh… Tôi thương ổng vô cùng,” bà Ba kể với nhà văn Tấn Tú, người là đồng tác giả một trong ba cuốn tiểu sử của Việt Nam viết về Phạm Xuân Ẩn. Trong nhiều năm liền, bà Ba và Phạm Xuân Ẩn là những người duy nhất trong mạng lưới thực sự biết về nhau.

Sử dụng những hộp thư sống, hộp thư chết, giao liên và truyền phát điện đài giấu trong rừng là cách kết nối ông qua Trung ương Cục miền Nam tới tổng hành dinh quân đội ở miền Bắc. Phạm Xuân Ẩn được hỗ trợ bởi hàng chục điệp viên tình báo được chỉ định làm việc thay cho ông. Trong số 45 giao liên chuyên việc nhận những báo cáo của ông từ bà Ba và chuyển chúng ra khỏi Sài Gòn, có đến 27 người đã bị bắt và giết hại. “Có những lần trước khi lên đường làm nhiệm vụ tôi và vợ tôi đã thỏa thuận rằng, trong trường hợp tôi bị bắt, cách tốt nhất là tôi sẽ chết,” Phạm Xuân Ẩn nói với nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải. “Sẽ còn kinh khủng hơn nếu chúng tra tấn tôi để moi những thông tin có thể gây nguy hiểm cho tính mạng của người khác. Nhiều lần còn nguy hiểm đến nỗi, mặc dù tay tôi vẫn vững vàng, nhưng chân tôi run không thể nào kìm nổi. Dù có cố giữ bình tĩnh đến mấy, phản xạ tự động của cơ thể vẫn khiến tôi run lên vì sợ.”” (The Spy Who Loved Us, page 170)

                III. Siêu Nguyễn Văn Thương – Giao liên thứ 3 của siêu Ẩn.

  1. Chuyển tin tức cho nhiều mạng lưới tình báo khác nhau.

                “Vào một ngày ẩm ướt của tháng 1 năm 2006, người phiên dịch và tôi đi xe máy ra ngoại thành về phía sân bay phỏng vấn Nguyễn Văn Thương, một trong những giao liên trước kia của Phạm Xuân Ẩn.

…Chúng tôi vào phòng khách với sàn gỗ bóng loáng, những chiếc ghế xô pha lớn bọc nỉ, và một chiếc ti vi màn hình lớn, thì thấy ông Thương đang ngồi trên ghế. Ông là một người vạm vỡ, với khuôn mặt vuông vức và lồng ngực lực lưỡng. Nhưng ông chỉ có nửa thân người – nửa phía dưới của ông đã bị cắt bỏ. Kẻ địch bắt đầu cưa bàn chân phải của ông rồi chuyển sang những lần cưa cắt liên tiếp sau đó từ dưới lên. Chân trái của ông Thương đã bị cắt bỏ hoàn toàn. Chân phải bị cắt thành một cục bướu kết thúc ở đầu gối. Sau mỗi lần cắt, ông lại được cho cơ hội để đầu hàng, nhưng cuối cùng ông vẫn khăng khăng rằng mình là một anh nông dân mù chữ đi lang thang khắp vùng nông thôn để trốn quân dịch. Ông Thương ngồi thẳng người lên khi ông kể lại việc ông đã trở thành một Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân như thế nào.

Ông sinh năm 1938 tại vùng châu thổ sông Mê Công gần biên giới Campuchia. Mẹ ông bị Pháp bắt năm 1947 và qua đời ở Côn Đảo. Cha ông, giao liên của Việt Minh, bị bắt và hy sinh trong tù dưới chế độ của Ngô Đình Diệm. Tiếp nối công việc của cha mình, Nguyễn Văn Thương gia nhập ngành tình báo và bắt đầu chuyển tin tức cho nhiều mạng lưới tình báo khác nhau, gồm cả mạng lưới của Vũ Ngọc Nhạ và Ba Quốc – hai điệp viên cấp cao trong chính phủ miền Nam Việt Nam – và Phạm Xuân Ẩn.…” (The Spy Who Loved Us, page 171)

  1. Năm 1961, ông Ẩn được gọi vào cứ hai tuần để học

““Tôi là người giỏi nhất,” ông Thương khẳng định một cách điềm nhiên. “Họ giao cho tôi nhiệm vụ chuyển tất cả những tin tức quan trọng từ thành phố ra nông thôn.”

Tháng 11 năm 1962, ông được giao nhiệm vụ chuyển tin tức của Phạm Xuân Ẩn. Vì những lý do an ninh, ông chỉ biết rất hạn chế về việc mình đang làm cho ai, và ông vẫn nhắc tới Phạm Xuân Ẩn bằng nom de guerre (bí danh trong chiến đấu) Hai Trung. Thực ra ông đã gặp Phạm Xuân Ẩn một năm trước đó, khi Phạm Xuân Ẩn được gọi vào trong cứ để giao nhiệm vụ. “Năm 1961, ông Ẩn được gọi vào cứ hai tuần để học,” ông Thương nói. “Tôi nấu ăn cho ổng và thu xếp mọi việc khi ổng ở đó.”

“Hồi đó ông ấy học cái gì?” tôi hỏi. “Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương,” ông Thương nói. “Đó là điều mà đảng viên nào cũng phải học.”

Nguyễn Văn Thương đứng đầu một mạng lưới đủ cả nam lẫn nữ, họ gặp nhau ba lần một tuần trong vườn hoa phía trước nhà thờ Công giáo bên cạnh tượng Đức Bà. Sau khi lấy những tin tức được giấu dưới một ghế đá, ông đi theo hướng phía Bắc ra đường 13 vào trong rừng. Ông mang theo một loạt giấy tờ tùy thân. Một cái thì ghi ông là đại úy trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Một cái khác thì ghi ông là nông dân. Trong những trường hợp đặc biệt, là kế sách cuối cùng, ông chìa ra một tấm chứng minh thư xác định ông là một sĩ quan cảnh sát mật. “Thỉnh thoảng tôi mang tin của ông Ẩn trực tiếp từ Sài Gòn ra Củ Chi. Những lần khác, chúng được chuyển qua rất nhiều tay,” ông nói với tôi.” (The Spy Who Loved Us, page 172)

                Nhận xét: Biết mặt Ẩn: ““Năm 1961, ông Ẩn được gọi vào cứ hai tuần để học,” ông Thương nói. “Tôi nấu ăn cho ổng và thu xếp mọi việc khi ổng ở đó.”“.

                Thế thì lộ mất!

  1. Nguyễn Văn Thương bắn cháy cánh quạt bằng khẩu súng ngắn của mình. Chiếc trực thăng đâm sầm xuống…

“Ông Thương thò tay vào một chiếc hộp thiếc, một chiếc hộp trà Lipton cũ, và chìa cho tôi xem một bức ảnh của mình. Trong ảnh là một thanh niên đẹp trai mặc áo len trùm bên ngoài áo sơ mi trắng và quần đen. Đôi mắt giấu sau cặp kính râm, trông ông giống như một trí thức trẻ đang trên đường đi làm. Năm 1969, sau 15 năm hoạt động, ông bị một điệp viên cộng sản đã rời bỏ hàng ngũ sang phía bên kia chỉ điểm. “Nhiều năm sau, sau khi tôi đã ra tù, có người cho tôi biết là những tài liệu tôi mang theo khi đó liên quan đến kế hoạch tấn công Campuchia. Còn một tài liệu khác mang tên của 36 gián điệp đã cài cắm vào bộ máy của đằng mình.”

Một ống của chiếc quần pyjama kẻ sọc nâu mà ông Thương mặc quét lủng lẳng xuống sàn nhà. Ống quần kia được nhét dưới người ông, nhưng lớp vải mỏng đến nỗi tôi có thể nhìn thấy phần thịt cụt từng là chân ông trước kia chuyển động phía dưới. Tôi cố tập trung nhìn vào mắt ông Thương trong khi một chiếc quạt lùa không khí nóng nực vào người chúng tôi và ông kể tiếp câu chuyện của mình. Ông Thương đang đi xe máy trên đường xuống Củ Chi thì một chiếc trực thăng lượn vè vè trên đầu. Tên chỉ điểm “hồi chánh” đang ở trên máy bay, chỉ tay vào ông. Một giọng nói oang oang cất lên qua loa, gọi ông bằng bí danh, trong khi tụi lính dùng thang dây tụt xuống đất. Nguyễn Văn Thương bắn cháy cánh quạt bằng khẩu súng ngắn của mình. Chiếc trực thăng đâm sầm xuống một cánh đồng và nổ tung. Thương giấu tài liệu của mình cùng một nghìn đô la tiền mặt trong một con mương rồi bắt đầu chạy băng qua cánh đồng lúa.

Một tiểu đoàn lính dù săn lùng ông. Ông bị bao vây bởi 400 lính Mỹ và 300 lính Nam Việt Nam. Với 21 viên đạn còn lại, ông tiêu diệt 21 lính địch. Ông nhảy vào một công sự để trốn nhưng rồi lại bị lùa ra bằng khí ngạt và bị bắt sống rồi cho lên trực thăng đưa về một căn cứ quân sự của Mỹ. Tại đây ông phải đối mặt với cám dỗ. “Một đứa con gái đẹp đến phục vụ tôi. Nó mời tôi tham gia chương trình ‘chiêu hồi’. Thêm những đứa con gái xinh đẹp khác đến, thủ thỉ, cố tìm cách thuyết phục tôi khai nhận tên tuổi của mình. Một tên đại tá Mỹ bắt đầu tra khảo tôi bằng tiếng Việt. Tôi khai với hắn tôi là một nông dân, nhưng chúng kiểm tra bàn chân để xem tôi có đi dép cao su không. Chúng thấy là tôi toàn đi giày. Chúng kiểm tra cả tay tôi. Tay tôi không có vết chai của một người làm ruộng.”

Viên đại tá hứa hẹn cho Nguyễn Văn Thương một trăm nghìn đô la và một biệt thự lộng lẫy nếu ông chịu khai ra đồng đội mình và đứng về phía Mỹ. Họ sẽ phong cho ông quân hàm trung tá. Họ sẽ cho ông một chiếc Mercedes và rất nhiều gái.” (The Spy Who Loved Us, page 173)

                Nhận xét: “Với 21 viên đạn còn lại, ông tiêu diệt 21 lính địch….

                4.Một số phiên bản.

“Tôi có thể cứu được mình, nhưng tôi chọn cách cứu mạng lưới của tôi,” ông Thương nói. “Thực ra tôi biết tên của nhiều người liên quan trong một số mạng lưới. Điều này trái với những quy định chung của chúng tôi, tức là tôi chỉ được phép biết về một mạng lưới mà thôi, nhưng tôi lại biết nhiều mạng trong số đó. Tôi có thể chỉ cho chúng lần đến tận cùng, cho chúng biết tên của những điệp viên quan trọng nhất làm việc cho cách mạng. Chúng biết tôi là chìa khóa để triệt phá những mạng lưới tình báo của chúng tôi ở miền Nam.”

Thùy Dương, cô gái xinh đẹp nhất trong số những kẻ đến quyến rũ, đến thăm ông một lần cuối cùng, van xin ông đứng về phía Mỹ. Sau khi cự tuyệt, ông bị đẩy sang một căn phòng khác, nơi màn đánh đập bắt đầu. Cuối cùng những kẻ giam giữ đập nát hai bàn chân của ông và bắt đầu cưa chân. Đến đây câu chuyện trở nên hơi mơ hồ, vì những lý do có thể hiểu được, nhưng tôi ngờ rằng nó cũng phải khoác thêm bất kỳ màu sắc nào khác tùy thuộc vào đối tượng thính giả của ông Thương. Trong một số phiên bản, một bác sĩ người Nam Hàn đã cắt chân của ông. Trong những câu chuyện khác, một bác sĩ Nam Việt Nam và trong phiên bản khác nữa thì lại là một bác sĩ người Mỹ. Khi tôi gặng hỏi các chi tiết, ông nói với tôi rằng các bác sĩ Nam Hàn và Mỹ thay phiên nhau cắt chân ông.”(The Spy Who Loved Us, page 174)

  1. Hai người nhận ra nhau nhưng cả hai đều không để lộ danh tính của người kia.

“Chúng cắt cụt bàn chân phải của tôi. Tôi ngất đi. Chúng cắt nốt bàn chân trái của tôi. Hai tháng sau chúng lại cắt tiếp. Cứ hai tháng một lần chúng lại cắt thêm một phần cơ thể tôi. Tổng cộng chúng đưa tôi lên bàn và cưa chân tôi sáu lần.” Tên đại tá người Mỹ bảo chúng: ‘Các anh cứ cắt bỏ hết cả người nó đi. Chỉ cần để lại cái lưỡi trong miệng nó là được.’”

Tôi cảm thấy chếnh choáng khi chiếc quạt tiếp tục lùa hơi nóng vào mặt tôi còn ngôi nhà thơm phức mùi cơm và thịt rán. Nguyễn Văn Thương được đưa tới một nhà tù nơi Ba Quốc làm việc. Đây là bí danh của Đặng Trần Đức, một điệp viên tình báo cộng sản cũng làm việc cho bác sĩ Trần Kim Tuyến và mật vụ. Hai người nhận ra nhau nhưng cả hai đều không để lộ danh tính của người kia. Cuối cùng ông Thương bị đày ra Phú Quốc, một trại tù trên đảo giống như Côn Đảo. Năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, sau “bốn năm và bốn ngày trong tay kẻ thù”, ông được trả tự do.

“Nhiều năm sau tôi gặp Phạm Xuân Ẩn, và ổng cám ơn tôi,” ông Thương nói. ‘Chắc chắn là anh đã cứu mạng tôi khi giấu những tài liệu đó,’ ổng nói.” ” (The Spy Who Loved Us, page 174)

  1. I Nguyễn Thị Sê – Giao Liên Thứ 4 của Ẩn.

                “Sau khi đi qua một trạm kiểm soát của cảnh sát trước kia, Tư Cang bảo người lái xe dừng lại. Chúng tôi dừng lại trước một ngôi nhà nhỏ quét vôi trắng với hàng hiên lát gạch. Khoảng sân trước phủ kín những khung tre phơi bánh tráng làm từ bột gạo vẫn được dùng để làm chả giò. Một người phụ nữ tóc bạc mặc bộ quần áo lụa in hoa ra chào chúng tôi. Bà mỉm cười với Tư Cang khi ông khoác tay quanh người bà. Đó là cái khoác tay của những người đồng đội cũ, gắn bó với nhau qua ký ức về cái chết và ngỡ ngàng nhận ra mình vẫn còn sống. Bà Nguyễn Thị Sê là một trong những giao liên của Phạm Xuân Ẩn. Bà đã giấu Tư Cang trong nhà mình và cho ông ăn. Sau khi bị bắt quả tang đang mang điện đài đến cho ông, bà bị tống giam và tra tấn ba năm trời.” (The Spy Who Loved Us, page 208)

                Nhận xét: “Bà Nguyễn Thị Sê là một trong những giao liên của Phạm Xuân Ẩn. ” và cũng “bị tống giam”

1

Đã xem 11 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
1 Comment
Oldest
Newest Most Voted
Inline Feedbacks
View all comments