Bài 15. Quá tài và may mắn – Chuyện con rắn vuông.

Chương 3. Cộng sản ăn cháo đá bát? Không! Sự thật là một cái gì đó nhiều hơn thế!

                Bài 15. Quá tài và may mắn – Chuyện con rắn vuông.

                “Ngang tàng – không tuân lệnh” …Nhưng: sau 30/4 thì Ẩn lại …tuân lệnh đến chết!

I. Tóm tắt:

  1. Ẩn kể chuyện làm điệp Viên.
  2. Chuyện hài: Tuyển Điệp viên Cộng Sản vừa xong – thành ngay nhân viên Phòng Nhì của Pháp.
  3. Chuyện “Phạm Xuân Ẩn” đi lính VNCH.
  4. năm 1954 Phạm Xuân Ẩn vẫn phải đi quân dịch.

                Nhận Xét: “Bất chấp công việc làm thêm tại sở dây thép cho Phòng Nhì Pháp, năm 1954 Phạm Xuân Ẩn vẫn phải đi quân dịch vào Armée Nationale Viemienne (Quân đội Quốc gia Việt Nam). “

  1. Lớn nhanh như thổi.
  2. Là một điệp viên bốn mang,
  3. Ổ Nhền Nhện.
  4. Phạm Xuân Ẩn thất nghiệp.

Nhận xét: Đang là “một điệp viên bốn mang” có nên đi học Mỹ, để  rồi “thất nghiệp“?

II.Phạm Xuân Ẩn: Quá tài và may mắn – Chuyện con rắn vuông.

  1. Phạm Xuân Giai phải đi trốn – Ẩn thăng tiến.
  2. Sếp và em trai bị bắt – Ẩn không sao!
  3. Trần Kim Tuyến mắc tội – Ẩn không mắc tội!
  4. 25 nhân viên trong đơn vị của ông đã hy sinh” – “Cả gia đình Phạm Xuân Ẩn không ai bị gì”
  5. Tôi thúc giục Việt Cộng tổ chức một đợt phản công.
  6. Tôi yêu cầu họ ngừng oanh tạc
  1. Ẩn thuyết phục họ rằng cuối cùng thì cũng đã đến lúc chiếm lấy Sài Gòn.
  2. “Ngang tàng – không tuân lệnh” – Nhưng đến năm 1975 – Ẩn sợ.
  3. “Ngang tàng – không tuân lệnh”
  4. Tôi chỉ việc phủi tay bỏ đi là xong.

                “Nếu họ không tin thì tôi cũng không quan tâm,”

  1. “Vì lúc ấy tôi quá bận,”
  2. But until 1975 – An was afraid.

Ông đang hành động theo lệnh của cấp trên.”

**. Nhận xét: Chuyện là không thế!

***. Chi tiết.

  1. Ẩn kể chuyện làm điệp Viên.
  2. Chuyện hài: Tuyển Điệp viên Cộng Sản vừa xong – thành ngay nhân viên Phòng Nhì của Pháp.

                “Vấn đề đầu tiên Phạm Xuân Ẩn đối mặt khi bí mật trở lại Sài Gòn trên cương vị một điệp viên mới được tuyển mộ là làm thế nào để tránh bị bắt quân dịch vào lực lượng thuộc địa của Pháp. Những người cộng sản sợ rằng Phạm Xuân Ẩn cuối cùng sẽ chỉ là một đại tá – không đủ cao về chức vụ để có thể trở thành một nguồn tin tốt. Thế giới buồn ngủ của sở quan thuế Đông Dương cũng mang lại những tin tức ít ỏi, nên Phạm Xuân Ẩn bắt đầu làm thêm với tư cách là chuyên viên kiểm duyệt tại sở dây thép Sài Gòn. Tại đây ông được giao kiểm duyệt những bài viết gửi cho các tờ báo Anh và Pháp của Graham Greene, một kẻ gây rắc rối mà người Pháp nghi là đang làm việc cho tình báo Anh.

Ngồi dưới những chiếc cột thép vươn cao lừng lững và những chiếc quạt trần quay vù vù tô điểm cho tòa nhà ấn tượng do Gustave Eiffel thiết kế, Phạm Xuân Ẩn làm việc ở sở dây thép vào buổi chiều tối. Các ký giả gửi bài đi từ Sài Gòn đối mặt với sự chậm trễ do trục trặc đường truyền và các vấn đề kỹ thuật , nhưng rào cản lớn nhất của họ nằm tại văn phòng kiểm duyệt. Phạm Xuân Ẩn, một người tự học tiếng Anh một cách bập bõm, lỗ bỗ, lại được giao kiểm duyệt bài viết của Graham Greene, một trong những nhà văn châm biếm vĩ đại của thế kỷ 20.

“Người Pháp ra lệnh cho chúng tôi canh chừng Graham Greene thật cẩn thận,” Phạm Xuân Ẩn nói. “Ông ấy đã làm việc cho tình báo Anh trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau đó ông ấy tới Đông Dương để đưa tin về chiến tranh. Khi ông ấy ở châu Á, hút thuốc phiện và giả vờ là một ký giả, thì Phòng Nhì khẳng định với chúng tôi rằng ông ấy là điệp viên của MI6, tình báo Anh. Chúng tôi cũng được lệnh phải canh chừng cẩn thận bất kỳ ai làm việc cho CIA.” (The Spy Who Loved Us, page 54)

                Nhận xét: “trên cương vị một điệp viên mới được tuyển mộ Phạm Xuân Ẩn bắt đầu làm thêm với tư cách là chuyên viên kiểm duyệt tại sở dây thép Sài Gòn.”?

                ““Một hôm Graham Greene đến sở dây thép để gửi bài. Phóng sự của ổng được đặt trên bàn tôi. Đó là một phóng sự dài. ‘Tôi phải làm gì với cái này?’ tôi hỏi người phụ trách của mình. ‘Cậu phải hết sức cảnh giác,’ ông ta nói. ‘Nếu có bất kỳ từ nào cậu cảm thấy không chắc chắn, cứ việc gạch đi là xong. Tiếng Anh của cậu không tốt lắm, nhưng ông ta cũng chẳng làm gì được. Ông ta không thể cãi cậu được. Vì thế cứ việc mạnh dạn gạch những từ đó đi là xong. Đánh dấu nó lại rồi đưa cho người đánh điện. Đằng nào thì người ta cũng không bao giờ cho ông ta cơ hội hoạnh họe gì.’”” (The Spy Who Loved Us, page 55)

                Nhận xét: Hài!

  1. Chuyện “Phạm Xuân Ẩn” đi lính VNCH.
  2. năm 1954 Phạm Xuân Ẩn vẫn phải đi quân dịch.

“Bất chấp công việc làm thêm tại sở dây thép cho Phòng Nhì Pháp, năm 1954 Phạm Xuân Ẩn vẫn phải đi quân dịch vào Armée Nationale Viemienne (Quân đội Quốc gia Việt Nam). Để tránh bị ăn đạn trong những ngày tàn của cuộc chiến thuộc địa của người Pháp tại Đông Dương, ông lợi dụng những mối quan hệ gia đình vốn là cách giải quyết công việc ở Việt Nam. Ông nhờ anh họ mình, đại úy Phạm Xuân Giai, giúp đỡ. “Ổng là trưởng tộc,” Phạm Xuân Ẩn nói về ông Phạm Xuân Giai, con trưởng của bác ông. Lớn hơn Phạm Xuân Ẩn tám tuổi, Phạm Xuân Giai sinh ở Huế. Được người Pháp đào tạo thành sĩ quan quân sự, ông ta chiến đấu ở phe của Hồ Chí Minh năm 1945 và rồi ngay năm đó lại đổi phe, quay lại làm việc cho Pháp. Đại úy Giai là một người tham vọng và tháo vát, thăng tiến vùn vụt qua các chức vụ của ngành tình báo Pháp cho đến khi trở thành người đứng đầu G5, phòng Chiến tranh tâm lý thuộc Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam.

                Phạm Xuân Giai giúp em họ mình làm thượng sĩ đồng hóa, cấp cao nhất của ngạch hạ sĩ quan, và bố trí ông về làm việc tại Bộ Tư lệnh quân đội trên đường Galliéni, gần Chợ Lớn. ” (The Spy Who Loved Us, page 64)

                Nhận Xét: “Bất chấp công việc làm thêm tại sở dây thép cho Phòng Nhì Pháp, năm 1954 Phạm Xuân Ẩn vẫn phải đi quân dịch vào Armée Nationale Viemienne (Quân đội Quốc gia Việt Nam). “

  1. Lớn nhanh như thổi.

                “Đây chính là nơi đại tá Edward Ladale tìm thấy Phạm Xuân Ẩn khi ông ta đến để gặp đại úy Giai và đề nghị giúp đỡ công việc và tiền bạc. Ladale, một người từng làm việc trong ngành quảng cáo và là chuyên gia về chiến tranh tâm lý, được phái tới điều hành các hoạt động bí mật của CIA tại Việt Nam.”(The Spy Who Loved Us, page 65)

                “Nhận ra một học trò đầy triển vọng ở chàng thanh niên Phạm Xuân Ẩn, Ladale và các đồng nghiệp của ông ta bắt đầu dạy Phạm Xuân Ẩn những ngón nghề mà về sau ông sẽ dùng đến trong suốt 50 năm sau đó trên cương vị một điệp viên cộng sản. “Tôi là một học trò của Sherman Kent,” Phạm Xuân Ẩn nói, nhắc đến người giáo sư ở Đại học Yale đã giúp thành lập ra CIA, gồm cả cái mà ngày nay được gọi là Trường Phân tích Tình báo Sherman Kent. “Tình báo chiến lược,” Kent viết trong tác phẩm kinh điển của mình Tình báo chiến lược cho chính sách thế giới của Mỹ (1949), là một “công việc báo cáo” trên cơ sở nghiên cứu tính cách của các nhà lãnh đạo thế giới. “(The Spy Who Loved Us, page 65)

  1. Là một điệp viên bốn mang,

“Ngoài những tác phẩm của Sherman Kent, Phạm Xuân Ẩn cũng được đưa cho đọc cuốn sách kinh điển của Paul Linebarger, Chiến tranh tâm lý (1948). “Sức lôi cuốn cộng sản là một sức lôi cuốn mạnh mẽ, tồi tệ,” Linebarger viết về những “nhân vật thù địch” tham gia cuộc chiến tranh tâm lý. “Chiến lược tâm lý được xây dựng trên mấp mé miệng vực của cơn ác mộng.” Là một điệp viên bốn mang, vừa làm thêm cho Phòng Nhì của Pháp vừa làm việc cho tổ chức tình báo thuần túy Việt Nam của anh họ mình cùng người tài trợ cho nó là CIA, và đồng thời lại báo cáo tình hình cho các cấp trên cộng sản của mình, Phạm Xuân Ẩn cũng bắt đầu sống trên miệng vực cơn ác mộng của riêng mình. “Tôi không lúc nào thảnh thơi được lấy một phút,” ông nói. “Đã là điệp viên, không sớm thì muộn anh cũng bị tóm thôi. Tôi phải tự chuẩn bị cho mình khả năng bị tra tấn. Đó rất có thể sẽ là số phận của tôi.” ” (The Spy Who Loved Us, page 66)

  1. Ổ Nhền Nhện.

                “Điều an ủi nhỏ nhoi là hầu hết các đồng nghiệp của Phạm Xuân Ẩn tại G5 cũng đều ở trong tình cảnh tương tự. “Một tay trong phòng làm việc cho CIA đang đấu đá với anh họ tôi, người làm việc cho Phòng Nhì. Lúc nào họ cũng theo dõi hoạt động của nhau, rồi báo cáo lại cho sếp của mình những gì đã xảy ra. Nhưng họ vẫn là bạn bè tốt của nhau. Chúng tôi luôn chơi bời khắp nơi cùng nhau. Đó là cung cách ở Việt Nam, thuần túy Việt Nam. Chúng tôi bị ném vào nhau như một lũ cua từ năm đại dương của thế giới.”

“Khi nào không do thám lẫn nhau, chúng tôi lại hút thuốc phiện và ăn chơi cùng nhau như bạn bè. Đó là cách mà mọi việc diễn ra. Tôi phải chia rạch ròi từng chuyện. Kể cũng khó khăn. Ban đầu anh làm thế như một kiểu phản xạ, và rồi, sau một thời gian dài, anh cũng quen với nó. Lúc nào tôi cũng phải cảnh giác. Anh họ tôi, và cũng là sếp của tôi, là người thân Pháp. Nên tôi phải giả vờ đứng về phía người Pháp, trong khi thực ra tôi là người chống Pháp. Tôi cũng chống lại những kẻ can thiệp, những người Mỹ, trong khi đồng thời tôi lại làm việc cho họ. Nhưng không thể lúc nào cũng giết chóc. Khi chiến tranh qua đi, đây là những người mà tôi sẽ phải chung sống cùng.”

Giữa mớ điệp viên hỗn độn này có hai người sau này trở thành bạn thân của Phạm Xuân Ẩn. Cao Giao là một người đàn ông đeo kính với chòm râu dê lưa thưa và làm việc cho những người cộng sản. Nguyễn Hưng Vượng, người có khuôn mặt bủng beo của dân nghiện hút, làm việc cho CIA. Phạm Xuân Ẩn và những đồng nghiệp của mình dành nhiều thời gian ở cùng nhau, lê la khắp thành phố và nhấm nháp cà phê trên đường Catinat, đến nỗi mà người ta bắt đầu gọi họ là Ba chàng ngự lâm pháo thủ. Họ mách nhau việc làm cũng như thông tin và vẫn luôn là những người bạn thân thiết trong suốt mấy cuộc chiến ở Việt Nam. Ban đầu, Phạm Xuân Ẩn đóng vai trò như một cậu em nhỏ so với những đồng nghiệp từng trải hơn của mình, khi họ dạy cho ông những gì họ biết về nghề điệp viên.” (The Spy Who Loved Us, page 66)

  1. Phạm Xuân Ẩn thất nghiệp.

“Khi rời khỏi Reuters năm 1964, Phạm Xuân Ẩn thất nghiệp nhưng không thiếu việc làm. Sự hiện diện của Mỹ tại Việt Nam đang tăng lên. Từ 17.000 “cố vấn”, nước Mỹ đang chuẩn bị đưa tới đây nửa triệu lính chiến đấu.

…Phạm Xuân Ẩn làm phóng viên tự do cho cánh phóng viên Mỹ tạp nham này, hai h hàng chính của ông là Robert Shaplen, phóng viên thường trú kỳ cựu tại châu Á cho tờ The New Yorker, và Beverly Ann Deepe, một phóng viên 27 tuổi, mặt non choẹt với những lọn tóc cắt ngang trán và kiểu đầu tổ ong cũng đang làm tự do” (The Spy Who Loved Us, page 145)

Nhận xét: Đang là “một điệp viên bốn mang” có nên đi học Mỹ, để  rồi “thất nghiệp“?

III.Phạm Xuân Ẩn: Quá tài và may mắn – Chuyện con rắn vuông.

  1. Phạm Xuân Giai phải đi trốn – Ẩn thăng tiến.

Sự nghiệp tình báo của Phạm Xuân Ẩn vô tình trở nên tiến triển khi anh họ của ông, Phạm Xuân Giai, bị buộc phải bỏ trốn ra nước ngoài sau một âm mưu đảo chính bất thành. “Người Pháp chi tiền để ổng thực hiện một vụ đảo chính chống lại Diệm tháng 12 năm 1954, nhưng vụ đảo chính đã bất thành. Người Mỹ phát hiện ra kế hoạch này và phá hỏng nó, nên ổng phải lưu vong sang Lào.”

“Khi ổng ở đó, người của CIA sử dụng ổng để làm việc cho người Mỹ, còn Phòng Nhì sử dụng ổng để làm việc cho người Pháp. Ổng tham gia việc chuẩn bị một vụ đảo chính tại Indonesia. Tất cả đều vô cùng phức tạp,” Phạm Xuân Ẩn

vừa nói vừa huơ huơ hai bàn tay trước mặt. “Những cha này có quá nhiều bộ não. Còn tôi là một trong những kẻ đần.”

Từ vai trò một chân loong toong trong cửa hàng của Phạm Xuân Giai chuyên sản xuất các truyền đơn chiến tranh tâm lý và chiến dịch tung tin đồn, Phạm Xuân Ẩn leo lên trở thành người chủ chốt tại TRIM phụ trách việc gửi các sĩ quan quân sự Việt Nam sang Mỹ huấn luyện. Đây là lúc ông bắt đầu tích lũy các mối giao thiệp và ân huệ giúp ông trở thành người có quan hệ rộng rãi nhất tại Việt Nam. “Tôi chọn ra những ứng viên tiềm năng, tập hợp hồ sơ lý lịch của họ, rồi sắp xếp các thủ tục rà soát an ninh với tình báo Việt Nam và Đại sứ quán Mỹ. Các sĩ quan Việt Nam được gửi sang những trường của Mỹ để học về chiến tranh chống du kích, như Thiệu, người về sau trở thành tổng thống của Nam Việt Nam. Ông ta được cử đến Fort Leavenworth ở bang Kaas. Tôi hoàn thành hồ sơ giấy tờ cho ông ta và theo dõi các báo cáo được gửi ngược lại cho MAAG.”” (The Spy Who Loved Us, page 97)

                – Hài

Lần cuối cùng Phạm Xuân Ẩn nổ súng là khi ông bắn vào một trung đội lính Pháp đang hành quân ở vùng châu thổ sông Mê Công tháng 4 năm 1946, nhưng ông lại được trang bị vũ khí lần nữa khi ra chiến trường cùng hai quân nhân Mỹ tháng 1 năm 1956. Ông mang theo khẩu súng ngắn do ông anh họ đưa cho trước khi ông này trốn ra nước ngoài sống lưu vong. “Đó là một khẩu Walther 7,65 mm, với phần báng màu nâu và nòng súng ánh lên màu xanh biếc, bóng loáng. Đó là loại mà tụi tôi gọi là ‘súng ngắn tình ái’. Nó được thiết kế để mang theo trong túi xách hoặc túi áo và rút ra mỗi khi cần bắn vợ mình hay nhân tình của cô ta.”

“Tôi chưa bao giờ sử dụng khẩu súng đó, và tôi thậm chí còn không biết nó hoạt động như thế nào, cho đến một hôm tôi ra chiến trường với tư cách là sĩ quan liên lạc cho đại tá Glenn và đại tá Hicks, hai cố vấn Mỹ. Tụi tôi đang vào vùng châu thổ để theo dõi binh lính của Diệm chiến đấu với những lực lượng cộng sản cuối cùng đã bị rớt lại. Chúng tôi lái xe jeep tới Long Hà rồi đi xuồng từ đó tới Mộc Hóa, ở Đồng Tháp Mười, gần biên giới Campuchia. Khi ra chiến trường cùng với người của Ladale, tôi buộc khẩu súng vào khuy thắt lưng của mình bằng một sợi dây, để nếu nó có bị rơi ra khỏi túi tôi cũng không mất được.”

Khi họ đòi xem thứ gì bên trong túi của Phạm Xuân Ẩn, đại tá Hicks và đại tá Glenn đã cười nhạo khẩu súng lục nhỏ bé của ông. Như tất cả các cố vấn Mỹ, họ mang theo những khẩu Colt to bự. Họ hỏi Phạm Xuân Ẩn đã bắn súng bao giờ chưa và sau đó lắc đầu không thể nào tin nổi.

“Ẩn, anh là người lính tệ nhất mà cả đời nay chúng tôi mới gặp,” họ nói. “Anh thông minh lắm, nhưng anh không có óc sáng kiến. Cái anh cần bây giờ là cấy ghép não. Anh cần một bộ não Mỹ được ghép vào bộ não Việt Nam của anh. Sau đó thì anh có thể đi ra ngoài thế giới và làm nên cơm cháo gì đó.”

Sau một khóa học cấp tốc tại chiến trường, Phạm Xuân Ẩn biết cách tháo súng ra và lau chùi nó. Ông cũng biết cách hút thuốc thế nào cho đúng. Các viên cố vấn nhận ra là Phạm Xuân Ẩn đang rít những điếu Lucky Strike mà không nuốt khói. Ông có thói quen hoang toàng của một thanh tra hải quan chuyên xài thuốc lá và những thứ hàng lậu miễn phí.” (The Spy Who Loved Us, page 99)

  1. Sếp và em trai bị bắt – Ẩn không sao!

“Em trai tôi bị bắt khi tôi đang ở Mỹ,” Phạm Xuân Ẩn nói. “Chúng tra hỏi cậu ấy về Mười Hương và hỏi tại sao ông ấy lại đến nhà gặp tôi. Em trai tôi bị cảnh sát Sài Gòn bắt giam cho đến sau Tết năm 1958. Anh họ tôi đưa cậu ấy ra khỏi nhà giam – chính là người làm việc cho Ngô Đình Cẩn trên cương vị trùm mật thám và chỉ huy lực lượng cảnh sát tại miền Trung Việt Nam. Ổng tới Sài Gòn gặp trưởng nha cảnh sát. Em trai tôi được trả tự do dưới sự bảo lãnh trực tiếp của ổng.

“Em trai tôi viết cho tôi một bức thư với ngụ ý rằng hai cấp trên trực tiếp của tôi đã bị bắt. Cậu ấy nói bóng gió đủ cho tôi hiểu.” Khi Phạm Xuân Ẩn kể cho tôi nghe câu chuyện này, một trong những con chim của ông bắt đầu hót inh ỏi từ đâu đó phía sau nghe như một chiếc xe tuần tra của cảnh sát bật còi hụ hết công suất.

Nếu như em trai ông là Phạm Xuân Đính thoát tội khá dễ dàng, thì tình cảnh của Mười Hương không được như vậy. Ông bị tra tấn tại nhà tù Chín Hầm khét tiếng ở miền Trung Việt Nam suốt sáu năm trời. Ông không khai ra Phạm Xuân Ẩn, nhưng đó là một thời khắc hiểm nghèo cho tất cả các điệp viên trong mạng lưới của ông.” (The Spy Who Loved Us, page 111)

                Nhận xét: “Chúng tra hỏi cậu ấy về Mười Hương và hỏi tại sao ông ấy lại đến nhà gặp tôi.

  1. Trần Kim Tuyến mắc tội – Ẩn không mắc tội!

“Tuyến là người đỡ đầu cho Phạm Xuân Ẩn trong ba năm, cho đến khi ông ta mất sạch quyền lực sau một vụ đảo chính bất thành tháng 12 năm 1962. “Cứ khi nào âm mưu một chuyện gì đó là ông ấy lại bàn bạc với tôi,” Phạm Xuân Ẩn nói. “Khi ông ấy lên kế hoạch tiến hành một vụ đảo chính, ông ấy đề nghị tôi tới văn phòng của mình và giúp ông ấy.” Sau âm mưu đảo chính bất thành, Trần Kim Tuyến trải qua 13 năm tiếp theo trong tình trạng bị giam lỏng tại nhà, suốt ngày ấp ủ ý định hạ bệ hết chính phủ này đến chính phủ . Sự ràng buộc bằng tình bạn và nghĩa vụ giữa Phạm Xuân Ẩn và Trần Kim Tuyến vẫn bền chặt cho đến tận ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, khi Phạm Xuân Ẩn giúp bạn mình trốn thoát khỏi tay các lực lượng cộng sản đang tiến vào Sài Gòn. ” (The Spy Who Loved Us, page 127)

  1. 25 nhân viên trong đơn vị của ông đã hy sinh” – “Cả gia đình Phạm Xuân Ẩn không ai bị gì”

““Những thông tin ông ấy cung cấp cho chúng tôi rất quan trọng,” Tư Cang nói về Phạm Xuân Ẩn, điệp viên nổi bật nhất trong mạng lưới của ông tại Sài Gòn. “Ông ấy biết trước Mỹ sẽ đưa lực lượng của họ tới đâu. Ông ấy đánh động cho chúng tôi về những cuộc tấn công và không kích sắp xảy ra. Ví dụ như năm 1967, ông ấy cho chúng tôi biết thời điểm máy bay B-52 sẽ ném bom sở chỉ huy của chúng tôi. Điều đó cho phép chúng tôi sơ tán. Ông ấy cứu được mạng sống của rất nhiều người. Chúng tôi cũng biết được qua Phạm Xuân Ẩn là người Mỹ đã biết gì về chúng tôi. Điều này cũng quan trọng không kém.” Sau đó Tư Cang kể cho tôi nghe về 25 nhân viên trong đơn vị của ông đã hy sinh khi chuyển tin tình báo của Phạm Xuân Ẩn ra khỏi thành phố.

” (The Spy Who Loved Us, page 204)

  1. Tôi thúc giục Việt Cộng tổ chức một đợt phản công.

““Kế hoạch ban đầu là giải phóng toàn bộ miền Nam chỉ trong một đợt,” Phạm Xuân Ẩn nói. “Tôi nghi ngờ việc có thể đạt được mục tiêu đó chỉ trong một đợt tấn công, nhưng tôi ủng hộ Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Sau khi Mỹ bắt đầu đưa quân vào Việt Nam, tôi thúc giục Việt Cộng tổ chức một đợt phản công. Đến năm 1966 tôi tin rằng họ cần phải làm như vậy để nâng cao thanh thế. Đó là lý do tại sao Tư Cang phải vào Sài Gòn từ trước cuộc tấn công đến hai năm. Ông ấy phải bắt đầu lên kế hoạch. Chúng tôi phải làm việc đó.”” (The Spy Who Loved Us, page 198)

  1. Tôi yêu cầu họ ngừng oanh tạc

                “Như kế hoạch do tướng Trà tổ chức, Tổng tấn công Tết Mậu Thân sẽ được tiếp nối bằng đợt tấn công thứ hai trong tháng 5 năm 1968. Khởi đầu cho cái được gọi là Tổng tấn công Tết Mậu Thân đợt hai (cỡ nhỏ), lực lượng cộng sản bắt đầu nã rốc két 12 mm của Nga không phân biệt mục tiêu vào Sài Gòn, làm nổ tung nhiều tòa nhà và làm nhiều người chết. “Tôi gửi tin cho các chỉ huy ở chiến trường và đề nghị họ ngừng bắn vào thành phố,” Phạm Xuân Ẩn nói. “Tôi yêu cầu họ ngừng oanh tạc. Nó chẳng mang lại kết quả quân sự nào mà chỉ càng khiến mất lòng dân.”

“Chuyện gì xảy ra sau đó?” tôi hỏi.

“Màn pháo kích đã chấm dứt. Có thể là do đề nghị của tôi. Có thể là tự ý họ làm vậy. ” ” (The Spy Who Loved Us, page 199)

                “Đến tháng 1 năm 1973, Hiệp định Hòa bình Paris đã được ký kết, dẫn đến quá trình “Việt Nam hóa” chiến tranh, và đến tháng 3 thì hầu hết những lực lượng trên mặt đất của Mỹ đã rời khỏi Việt Nam. Trong suốt những cuộc đàm phán tại Paris, dựa vào những tin tức rò rỉ từ người đứng đầu Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo Việt Nam, Phạm Xuân Ẩn đã cập nhật kịp thời cho cả Time và những người cộng sản về những trò nghi binh trong đàm phán của Henry Kissinger và việc Nam Việt Nam phản đối hiệp định này, mà Tổng thống Thiệu coi là hành động bán đứng sớm muộn sẽ dẫn đến ngày tàn cho miền Nam. Nhờ những thông tin của Phạm Xuân Ẩn, những người cộng sản đã xỏ mũi Kissinger ở Paris và Time xỏ mũi được Newswe ở New York. “Chúng tôi hớt tay trên của họ với câu chuyện hấp dẫn hơn. Đó là một ngày tươi đẹp đối với chúng tôi,” ông nói.”(The Spy Who Loved Us, page 218)

  1. Ẩn thuyết phục họ rằng cuối cùng thì cũng đã đến lúc chiếm lấy Sài Gòn.

                “Một lần nữa Phạm Xuân Ẩn lại phân tích tình hình chính trị một cách vô cùng nhạy bén khi ông chứng kiến vụ bê bối Watergate và việc Tổng thống Richard Nixon từ chức tháng 8 năm 1974. Ông biết rằng Quốc hội Mỹ sẽ không bao giờ cho phép tổng thống đưa lực lượng mặt đất của Mỹ quay trở lại cuộc chiến. Với sức mạnh quân sự của Mỹ bị kiềm chế, Phạm Xuân Ẩn thúc giục những người cộng sản triển khai đòn tấn công cuối cùng. Họ còn rất e dè về mặt quân sự, cho đến khi Phạm Xuân Ẩn thuyết phục họ rằng cuối cùng thì cũng đã đến lúc chiếm lấy Sài Gòn. Tấm huân chương Quân công cuối cùng của Phạm Xuân Ẩn là để tặng thưởng cho vai trò ông đảm nhiệm trong Chiến dịch Hồ Chí Minh – những trận đánh cuối cùng trong cuộc chiến tranh kết thúc với sự sụp đổ của Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975.” (The Spy Who Loved Us, page 218)

                Nhận xét: “Phạm Xuân Ẩn thuyết phục họ rằng cuối cùng thì cũng đã đến lúc chiếm lấy Sài Gòn.

  1. “Ngang tàng – không tuân lệnh” – Nhưng đến năm 1975 – Ẩn sợ.
  2. “Ngang tàng – không tuân lệnh”
  3. Tôi chỉ việc phủi tay bỏ đi là xong.

“Tôi hỏi Phạm Xuân Ẩn là ông đã bao giờ chụp ảnh những mật chưa. “Có chứ, thỉnh thoảng tôi cũng làm như vậy, nhưng như thế rất nguy hiểm,” ông nói. “Những này thường được đóng dấu mật, chỉ được xem, tuyệt mật. Anh phải hết sức cẩn thận khi xử lý loại như thế này. Có thể địch đang giăng bẫy anh. Ai đó chìa cho anh , anh mang nó về nhà rồi chụp ảnh lại. Bất thình lình cảnh sát phá cửa xông vào và tóm anh. Đó là lý do tại sao tôi hình thành nên thói quen đọc những này rồi trả lại chúng ngay lập tức. Như thế là đủ cho những gì tôi cần. Nhớ là tôi làm việc trong lĩnh vực tình báo chiến lược. Tôi không phải là một gián điệp. Gián điệp lại là một chuyện . Anh phải đánh cắp các . Anh chụp ảnh . Những anh gửi về được chuyển đi nguyên văn. Tôi không bị yêu cầu làm những việc loại này, chỉ trừ trường hợp họ buộc tôi phải làm như thế. Điều này chỉ xảy ra khi họ không tin tưởng cách tôi phân tích sự việc. Họ sẽ yêu cầu bằng chứng, và tôi sẽ đưa cho họ một số để chứng minh cho phân tích của mình. ‘Không có , chúng tôi không thể hiểu nổi những gì anh nói,’ họ sẽ bảo tôi như vậy.”

Khi cuộc chiến tranh tiếp diễn và Phạm Xuân Ẩn ngày càng trở nên quan trọng và tình hình của ông mỗi lúc một nguy hiểm hơn, thì ông trở nên ít tuân lệnh cấp trên của mình hơn. Ông được tiếp cận những mật và được tham gia mọi khía cạnh liên quan đến kế hoạch tác chiến cũng như tin tình báo của đối phương. Những cấp trên cộng sản của ông – giống như các chỉ huy tình báo ở bất kỳ đâu – rất khát khao những này. Khi họ gây sức ép buộc Phạm Xuân Ẩn phải đánh cắp và chụp ảnh chúng, ông đã từ chối. Ông sẽ không đời nào chịu chết vì lấy cắp những mẩu giấy đóng dấu tuyệt mật này. Thay vào đó, ông sẽ diễn giải lại những gì ông đã đọc và thuật lại các số liệu trong những báo cáo gửi tới cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và tướng Võ Nguyên Giáp. Họ phải tin ông, bởi vì những lời của Phạm Xuân Ẩn là vàng.

                “Nếu họ không tin thì tôi cũng không quan tâm,” ông nói. “Đối với tôi điều đó rất đơn giản. Tôi làm việc cho họ. Tôi làm việc vì chính nghĩa, vì nhân dân Việt Nam. Tôi không làm việc cho bất kỳ cá nhân nào. Nếu họ không tin tôi, tôi chỉ việc phủi tay bỏ đi là xong. Thỉnh thoảng họ nói: ‘Chúng tôi tin anh, nhưng chúng tôi cần có thêm chi tiết để hiểu những gì anh nói’. Trong trường hợp đó, có thể tôi sẽ gửi cho họ ảnh chụp . Nhưng việc đó rất nguy hiểm, chụp ảnh những mà theo quy định là không bao giờ được mang ra khỏi phòng của ai đó.”” (The Spy Who Loved Us, page 178)

                Nhận xét: “Nếu họ không tin thì tôi cũng không quan tâm,” Vậy mà chịu Giám sát đến chết?

  1. “Vì lúc ấy tôi quá bận,”

“Ví dụ, tôi đang ăn tối và nói chuyện với một người kể cho tôi biết rằng Norodom Sihanouk sắp bị lật đổ trong một vụ đảo chính. Đây là sự khởi đầu cho sự xâm lược của Mỹ vào Campuchia tháng 4 năm 1970, khi họ tấn công Đường mòn Sihanouk. Đây là thông tin quan trọng, nhưng tôi không báo cáo lại cho những người cộng sản. Lẽ ra tôi phải báo cáo, và giá kể tôi làm như vậy, tôi đã cứu được rất nhiều mạng sống.”

“Tại sao ông không báo cáo tin đó?” tôi hỏi.

“Vì lúc ấy tôi quá bận,” ông nói. “Tôi còn cả trăm thứ để báo cáo. Những người bạn cho tôi biết chi tiết của vụ đảo chính, nhưng tôi không chuyển chúng đi. Đây là một sai lầm lớn. Tôi bị trách cũng đáng. Lẽ ra tôi phải báo cáo cho cấp trên của mình. Sau đó tôi nói với họ rằng tôi đã phạm sai lầm.” Đây có thể coi như một trong những lời xin lỗi hiếm hoi của Phạm Xuân Ẩn với những cấp trên của mình. Nhìn chung thì với họ ông có thái độ khá phớt lờ. Ông nắm chắc tình hình hơn và cũng khôn ngoan hơn họ. Họ là những người miền Bắc mặc quần áo rách rưới, đi dép cao su, mẫu người khắc khổ, đa nghi, nếu so với những người miền Nam vui tính và khá giả hơn. “Thỉnh thoảng họ cật vấn tôi,” ông nói. “Họ nghi ngờ thông tin của tôi. Cứ khi nào họ hỏi tôi về tin của những nguồn tin, thì tôi lại nói: ‘Tôi là nguồn tin. Nếu các anh không tin tôi, hãy quên nó đi.’””” (The Spy Who Loved Us, page 180)

  1. But until 1975… “Ông đang hành động theo lệnh của cấp trên.”

                “vào tháng 1 năm 2006, chúng tôi đang chuẩn bị cho cái mà tôi nghĩ sẽ là một đêm trò chuyện dài, sự pha trộn thông thường giữa những câu chuyện và những lời đùa cợt, thì ông cho tôi biết đây sẽ là lần gặp nhau cuối cùng của chúng tôi. Không thể có chuyện đảo ngược lại quyết định này của ông. Chúng tôi sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa.

Đến thời điểm này thì tôi biết là Phạm Xuân Ẩn đang làm việc với một nhà viết tiểu sử “chính thức” . “Có gì nhau giữa cuốn sách của tôi với cuốn sách kia?” tôi hỏi. “Cuốn sách của ông đang được viết từ bên trong Việt Nam,” ông nói, ám chỉ rằng tôi đã tiếp cận với những thông tin nhạy cảm lẽ ra không được tiết lộ. Tôi coi đây là một lời khen ngợi đối với những trợ lý nghiên cứu người Việt Nam của mình, công việc đi lại và sự bền bỉ của họ nhiều lúc cũng xuất sắc không kém gì Phạm Xuân Ẩn trong những ngày ông còn là phóng viên làm việc chăm chỉ nhất tại Việt Nam.

Tôi thấy bị tổn thương trước quyết định của Phạm Xuân Ẩn về việc không gặp tôi nữa, và tôi rất tự ái với thông tin này, cho đến khi tôi biết rằng ông đang hành động theo lệnh của cấp trên. ” (The Spy Who Loved Us, page 7)

Đã xem 7 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
1 Comment
Oldest
Newest Most Voted
Inline Feedbacks
View all comments