Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 27) Rối loạn đường tiêu hóa!

1(hồi ức về một người bạn tù vong niên)

Ông già Minh tuy còn khỏe mạnh nhưng vì ông là người lớn tuổi nhất đội nên được quản giáo phân công ở nhà lo dọn dẹp phòng ốc, quét nhà, hốt rác…

Ông khỏi đi phá rừng, cuốc đất ngoài bãi. Lợi dụng ở nhà có chút thì giờ rộng rãi, già Bình may giúp cái áo lá, cái quần xà lỏn cho người nầy, người khác, để được anh em trả công bằng cái kẹo, cái bánh mà “bồi dưỡng”.

Về khoản may vá thì ai ai cũng công nhận ông là người  khéo tay, mũi chỉ ông ta may đã nhỏ lại đều, áo quần ông cắt vừa vặn, sít sao. Với ba cái túi vải đạn M-16, ông cắt may thành cái áo “may ô”. Bốn cái túi loại đó thì ông may được cái quần xà lỏn. Áo quần ông ta mặc, dù “tự biên tự diễn” bao giờ trông cũng đẹp mắt, sạch sẽ…

Dù được ở nhà, lâu lâu ông cũng phải lên bệnh xá khai đau bệnh nầy, bệnh khác. Mục đích của ông là ngoài cái già, ông còn thêm lý do bệnh để khỏi đi lao động ở ngoài, lỡ có ai moi móc, khiếu nại, v.v… Có thể đó là cái “tẩy” của người khôn nhưng nói như ông thánh Khổng thì “khôn chết, dại chết, biết sống”.

Ở đây thì khôn cũng bị người ta ghét, dại bị người ta chê mà dù có “biết”, không làm gì ai, không đụng tới ai thì vẫn cứ ngắc ngoải như thường…

Tối thứ bảy, họp đội kiểm điểm, Trần Văn Diệm  tố già Minh có thuốc thừa đem cho Diệm khi anh ta bệnh. Điều đó chứng tỏ già Minh có thuốc mà không uống, tức là không bệnh; không bệnh mà khai bệnh, tức là trốn tránh lao động, chưa thấy được “Lao động là vinh quang”, chưa “giác ngộ”, “học tập cải tạo chưa tiến bộ” như thế thì còn lâu “cách mạng” mới cứu xét cho trở về sum họp với gia đình…

Khiếp thật!

Chỉ một việc khai bệnh giả thôi mà có cả chục cái mũ chụp lên đầu. Phen nầy chắc già Minh “mục trại” luôn.

Người miền Nam “phù suy không phù thịnh”; có thể có người ít ưa già Minh nhưng không ai bất nhẫn như Diệm.

Mình đau, người ta cho mình thuốc, nhưng kèm một lời cám ơn là một lời tố cáo. Người ta chê Diệm ngu hơn là cho Diệm xấu tính; ngu ở cái chỗ “quá tin cách mạng”. Có người mỉa Diệm: “Tự giác là tự sát nghe em!”

            Có hôm, người ta hỏi đùa già Minh: “Anh tuổi giáp tý, ông Thiệu cũng tuổi giáp tý. Tại sao ông Thiệu làm ổng thống, còn anh thì đi ở tù?” Tội nghiệp, già Minh lúng túng trả lời không ra. Ông ta cho rằng tại khác giờ sinh, khác ngày sinh, tại ông ta không có chân mạng đế vương, v.v…

            Về lý lịch, ông ta dấu khá kĩ. Với Long, người có tuổi kém ông ta một giáp và Long cũng lớn hơn số đông anh em khác khoảng chừng đó tuổi, thường chuyện trò với ông mà thôi. Hai người cũng từng là giáo sư chế độ cũ trước khi họ nhập ngũ.

Có lần Long nói với anh em: “Trước 1945, ông ta là sinh viên trường luật Hà Nội đấy!” Có người tin Long nhưng cũng có người vì không ưa già Minh nên xuyên tạc lời Long: “Luật gì? Luật đi đường.” Có đứa nói tục: “Đường lụ đấy.” Có đứa lại nói: “Ông ta luật sư thật đấy. Không thấy khi phát biểu, ông ta nói dốc dữ lắm.”

            Già Minh nói với Long hồi kháng chiến chống Pháp, ông cùng với bố ông, cả hai cùng tham gia.

Hồi đó, ông ta phục vụ ở Liên Khu 3, trong ban phát thanh của Ủy ban Hành chánh Kháng chiến. Long rất thích nghe ông ta kể lại những kỷ niệm thời kháng chiến đó. Ông từng có dịp gặp Trần Chánh Thành khi ông Thành làm Chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Liên Việt, một tổ chức ngoại vi của Cộng Sản, nhằm “thu gom”, kiểm soát những sinh viên Hà Nội theo Việt Minh mà không theo Việt Cộng. Già Minh có cảm tình với ông Thành, khen ông Thành giỏi hơn nhiều cán bộ Cộng Sản cao cấp khác. Chỉ vì hai chữ Cộng Sản mà ông Thành bị họ gạt ra ngoài.

            Hỏi già Minh về ông việc phát thanh, già Minh cười: “Có gì đâu mà phát thanh! Bên quân sự cho biết có đánh nhau ở đâu đó thì bên phát thanh cứ thế mà tán dốc lên. Tây bị cháy một xe thì tán lên thành chín, mười xe. Tây chết một thì nói một trăm. Còn phe ta thì bao giờ cũng chỉ có một câu “Quân ta rút lui hoàn toàn vô sự.”

Long cười: “có khi khỏi rút.” Già Minh thật thà hỏi: “Sao lại khỏi rút?” Có người cười: “Chết mẹ hết, còn ai nữa mà rút.” Già Minh cười: “Các cậu đùa thâm thật!”

            Theo kháng chiến được vài năm, già Minh về thành. Hỏi lý do, già Minh nói: “Về để đi làm, kiếm tiền giúp mẹ, nuôi em!” Thế sao bố già Minh lại không về? Đúng ra, việc nuôi con là việc của bố ông ấy, đâu phải bổn phận già Minh.

Có điều bí ẩn gì chăng?

Té ra, bố già Minh trước 1945 là thợ in giỏi, nay ông ấy đang làm ở chỗ in bạc cho Cộng Sản. Bọn chúng canh kĩ lắm, ông ấy không về được.

            Sau khi về thành theo Pháp, già Minh vẫn còn liên lạc với cha. Có lần ông kể cho Long nghe: “Mình nói thật với Long một điều. Năm 1954, sau khi hiệp định Genève ký rồi, bố mình nhắn mình lên chiến khu để ông thăm. Ông ấy đang ở Việt Bắc, kế cận chỗ làm việc của Hồ Chí Minh. Ông bố dặn già Minh một điều: “Phải tìm mọi cách đưa gia đình vào Nam. Cha con từ đó bỏ nhau. Bố mình không bỏ kháng chiến được, cũng giống như mình không thể sống chung với Cộng Sản được. Cha con còn như thế, làm gì có hòa hợp hòa giải mà mong.”

            Bỏ kháng chiến về thành, già Minh dạy học ở một trường trung học tư, làm thêm “giáo tại gia” tại nhà một thương gia giàu có. Cũng nhờ nghề dạy tư nầy mà già Minh cưới vợ.

Mỗi lần ông tới dạy cho mấy đứa em thì cô chị ra mở cửa. Cô ta vòng tay, cúi đầu chào: “Lạy bác ạ!” Vậy mà ông ta xin cưới con nhỏ “Lạy bác ạ” ấy và được ông thương gia thuận cho. Có lẽ thời kỳ ấy cái “mác” giáo sư cũng có giá lắm. Đây là thời kỳ đầu chiến tranh, “sao” chưa lên, “mai” chưa nở thì dân khoa bảng còn chút giá trị. Thần tượng thầy giáo lúc bấy giờ chưa sụp đổ.

            Với cái “hào quang” đó, già Minh di cư vào Nam và thất nghiệp. Ông ta phải chạy đôn chạy đáo mới xin được một chân dạy tư ở Saigon, sống tạm đủ. Đến đầu năm 1960, khi có lệnh tổng động viên, già Minh vào Cảnh Sát.

            Từ đó, cuộc đời ông lên voi xuống chó những mấy lần, không còn những bình thản trước cuộc thế như khi ông làm giáo sư.

Năm 1965, tình hình miền Trung hết sức rối loạn sau khi ông Ngô Đình Diệm bị giết. Già Minh được bổ nhậm làm trưởng ty cảnh sát ở một tỉnh ngoài đó.

Ông không chạy chọt, ông không xin xỏ. Chuyện đi làm trưởng ty, với ông, tưởng như chuyện “trên trời rơi xuống” vậy. Mới vào ngành được 5 năm, từ một nhân viên, cấp trên bằng vào tư cách và khả năng, chọn ông ra ngoài ấy.

Cầm sự vụ lệnh, già Minh đâm lo. Trách nhiệm với chính phủ, với đồng bào, với ngành ông phục vụ, lại ở một tỉnh miền Trung vào một thời kỳ hết sức xáo trộn, già Minh lo nhiều hơn vui.

Từ cổng Tổng nha Cảnh sát đi ra, gặp hai người bạn từng làm trưởng ty ngoài ấy, thời ông Ngô Đình Diệm, già Minh mời họ đi uống càphê và hỏi han kinh nghiệm.

Hai người bạn ấy nói với già Minh, Tổng nha chỉ là nơi ký giấy tờ, còn đằng sau nó là ai, già Minh phải biết chứ!

Đây là cơ quan an ninh cấp quốc gia mà. Ông Diệm làm tổng thống mà không cần biết cái bóng sau lưng ông là ai nên ông phải chết.

Từ nhận xét đó, khi ra miền Trung, già Minh tránh né các “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc” mọc lên ở nhiều tỉnh ngoài ấy. Nhờ vậy, ông không bị họ bắt nhốt vào khám lớn như  ông tỉnh trưởng của ông. Nhưng cũng vì sự xáo trộn ấy mà ông rớt chức trưởng ty. Ông lên cao nguyên làm trưởng ty một thời gian ngắn nữa, rồi ông về Tổng nha giữ một chức vụ bình thường.

Làm trưởng ty thì ông có xe hơi, có tài xế, có “tà-lọt”, có bồi bếp, và tùy theo lương tâm mỗi người, người ta có chút ít “tư lợi”. Vợ ông đi chợ, đi phố, con ông đi học, có xe đưa rước. Bữa ăn ngon hơn, tuy không cao lương mỹ vị. Mọi người trong gia đình ai ai cũng ăn mặc đẹp hơn, sang hơn.

Với ông, những cái đó không quan trọng. Không có xe hơi đi làm thì ông đi xe Honda. Ông muốn sống bằng đồng lương của ông để ông khỏi phải lo bị điều tra, bị hạch hỏi. Đi xe Honda, không có tài xế, khỏi phải lưu tâm tài xế chờ đợi. Để ai chờ đợi, ông thấy phiền.

Ông muốn “Qui khứ lai từ” cho nó nhẹ.

Việc ông sống âm thầm nhiều năm trong trại cải tạo chứng minh tấm lòng đó của ông. Mỗi năm, vài lần, cô em gái ông nhà ở gần cầu Chà Và lên thăm. Gói quà nhỏ teo, ông cầm ở tay lặng lẽ vào trại, mở xem rồi gói cất, mặt không buồn không vui. Hình như ông quí cái tình gởi kèm theo gói quà, nó làm ông cảm động. Có ai hỏi thăm, ông nói nhỏ: “Em gái mình nghèo, con đông, tội nghiệp nó.”

Ông không than vãn đói rách như bao nhiêu người khác. Những lần thăm nuôi như thế, có thể làm cho ông nhớ vợ, nhớ con nhiều hơn. Bây giờ thì họ xa lắm, bên kia nửa vòng địa cầu, cách một đại dương mênh mông và không chắc chi ông còn gặp họ nữa. Biết bao nhiêu nhớ thương xoáy động trong tâm hồn một người tù già như già Minh.

            Tôi nghiệp già Minh!

Ông cũng là người như mọi người, cũng xương da. Cái thân xác nó cũng đòi hỏi được ăn no, được bồi bổ theo lẽ tự nhiên của tạo hóa. Nó đòi hỏi chất thịt, chất cá, cục muối, cục đường vậy chứ! Nhưng những thứ “bồi dưỡng” ấy, ít khi ông được có, được ăn. Ngay cả những thức ăn thường ngày như bắp, khoai mì do trại phát cũng thiếu, cũng ít, nên ông cũng không mấy khi được no.

Anh em trong đội, khi được thăm nuôi, phần thực phẩm trại phát, hôm đó, họ không ăn, họ bỏ đi. Ông xin cái đó để ăn thêm cho no. Ông xin cái người ta bỏ đi, không xin cái người ta cất giữ.

Rồi càng ngày cuộc sống bên ngoài càng khó khăn, thân nhân thăm nuôi ít đi, thì cái anh em bỏ ra cũng ít đi, ông đành ăn đói.

Cái đói của ông đâu phải vài ba bữa, đôi ba ngày. Nó kéo dài lê thê từ ngày nầy sang ngày khác, từ tuần nầy sang tuần nọ, từ tháng nầy qua tháng kia, tiếp nối năm hằng năm. Già Minh ở trại năm sáu năm nay, cái đói cứ triền miên như thế.

            Vậy mà cũng hay; ông âm thầm chịu đựng, không vì đói mà ông sinh ra tật nầy tật khác, không nịnh hót, không xin xỏ, không chạy chọt để xin làm nhà bếp, giữ nhà kho, hay một công việc nào đó khỏe hơn, no hơn. Ông vẫn cứ cái công việc giúp anh em như cũ: Vá giùm cho người nầy cái áo, cái quần, lên lai quần, đơm hột nút để được anh em trả công chút ít, bằng cục đường, củ khoai…

            Vậy mà tội nghiệp!

Chẳng ai chơi với ông, chẳng ai chuyện trò với ông. Chỉ có Long được ông ta tâm sự, chuyện trò một đôi lần. Điều đó cũng dễ hiểu. So với tuổi tác giữa ông và anh em trong đội, ông hơn họ những hai mươi năm. Hai thế hệ, xa nhau quá. So với tuổi, Long thuộc thế hệ ở giữa, không kém tuổi ông nhiều quá, và cũng không hơn tuổi số đông anh em nhiều quá. Thành ra Long như là người đứng giữa, là nhịp cầu giữa hai thế hệ xa nhau. Long có thể hiểu ông nhưng số đông anh em không thể thông cảm được.

Tuy nhiên, chuyện trò với Long thì có mà ăn uống với Long thì ông tránh mặt. Ông sợ, nhận của ai mà không thể trả lại thì ông tránh. Điều đó giữ cho ông được sự kính trọng.

            Trong trại cải tạo có nhiều cái phức tạp, mâu thuẫn. Người ta ganh ghét đố kỵ nhau không kém gì ở ngoài đời, có khi còn tệ hơn nữa.

Ở ngoài đời, có ghét ai, thương ai thì lâu lâu mới gặp. Ở trong trại, sáng ra, mới mở mắt đã thấy “đối tượng” rồi. Thương nhiều khi trở thành ghét, và nhiều khi đã ghét lại càng ghét hơn.

Vì đói nên người ta ghét nhau vì ăn. Người được thăm nuôi ít ghét người được thăm nuôi nhiều. Người ở đội cuốc đất ghét người ở đội trồng rau, vì người trồng rau có rau “cải thiện”. Người đội trồng rau thì ghét người đội cấp dưỡng vì cấp dưỡng nhiều khi ăn cắp được đồ ăn, mỉa nhau bằng câu “Giàu nhà kho, no nhà bếp”.

Già Minh ở ngoài đám “trần tục” đó, tránh không ghét ai, đố kỵ ai. Ông thuộc hạng nhất theo đúng nghĩa của nó: Ít được thăm nuôi nhất, sống âm thầm, cô đơn nhất; so với anh em, ông có chức vụ cao nhất và có vợ đẹp nhất.

            Một dịp nào đó, em gái ông lên thăm, mang cho ông mấy tấm ảnh con ông chụp ở Mỹ, mới gởi về. Đứa nào cũng mập mạnh béo tốt. Có lẽ chúng học hành đàng hoàng vì đứa nào cũng mặc áo thụng, đội mũ vuông, thứ trang phục mặc khi tốt nghiệp cấp ba hay đại học. Con trai thì giống già Minh, quắc thước. Con gái thì đẹp, giống mẹ! Già Minh cầm mấy bức hình đi khoe với anh em: “Con mình đây! Hình con mình ở Mỹ mới gởi về đây!” Tiếng nói của già Minh thường thì nhẹ, hơi nhỏ, bây giờ lại đượm vẻ thân yêu, trìu mến khi nói về các con.

Chỉ có hình con, không có hình vợ ông. Chẳng ai hỏi. Người ta tế nhị, ai chẳng biết ông bị vợ bỏ đã lâu! Bà ấy đã có chồng khác thì gởi hình cho ông làm gì. Vậy mà có điều lạ! Chẳng ai tỏ ý thương già Minh bị vợ bỏ trước ngày “sập tiệm” những mấy năm.

Bà ấy bỏ ông đi lấy một kẻ quyền cao chức trọng hơn ông. Nặng định kiến, người ta trở thành bất công với ông. Ông ta bị cướp vợ, nói trắng ra là một kẻ quyền thế chế độ cũ cướp vợ ông.

Ngày nay, bọn cán bộ ngoài Bắc vào cướp vợ của người miền Nam. Cũng nói trắng ra, dựa vào quyền lực chính trị hoặc quyền lực của đồng tiền cũng vậy thôi. Anh em chung đội chưởi rủa bọn ngày nay cướp vợ người, vợ bạn bè của họ. Thế tại sao họ không nguyền rủa kẻ cướp vợ già Minh. Có gì khác nhau giữa những người cướp vợ người khác, dù bọn đó thuộc chế độ cũ hay chế độ mới. Dù ở chế độ nào, cướp vợ người khác là hành động man rợ của loài dã thú đội lốt người, dù người đó là Tào Tháo trong truyện Tam Quốc.

            Bây giờ không ít bà bỏ chồng đi lấy chồng khác, lại lấy cán bộ mới đau lòng. Trước kia, người ta lấy chồng là lấy ông sĩ quan, ông giám đốc, ông trưởng ty… lương cao, bỗng hậu, có kẻ hầu người hạ, có lính tráng, có xe Jeep gắn hai ba cần câu.

Bây giờ là “thằng tù”. Có ai gọi là “ông tù” không nhỉ? Bỏ cái loon ra rồi, vô tù là coi như hai bàn tay trắng. May mắn, có người vợ chung thủy thì người đàn bà lặn lội nuôi chồng trong tù, còn khổ hơn cả “Con cò lặn lội bờ sông…”

Cũng có người “Anh đường anh, tôi đường tôi”. Người ta trách móc phê phán người đàn bà bạc bẽo ngày nay, thế vợ già Minh bỏ chồng đi lấy một ông lớn thì sao? Ghét Việt Cộng nên người ta phê phán người đàn bà ngày nay. Nhưng có thể nào vì “bênh phe ta” mà không phê phán ông quan, ông tướng… chế độ cũ. Than ôi: “Giặc giã triền miên, nhân tâm ly tán…” Có phải đó là chân lý muôn đời của loài người còn mang tâm dã thú?

            Người đời nay mất vợ vì bọn có quyền, có tiền; người ngày trước mất vợ cũng vì những lý do tương tự.

Tội nghiệp cho già Minh, nỗi đau của ông lớn lắm! Ông đau khổ cho ông mà cũng đau khổ cho con ông nữa. Sáu đứa con về với mẹ, rồi lên đường ra xứ người. Bỗng dưng, chúng trở thành những đứa bé không cha.

Với cõi lòng buồn bã, ông thường lang thang, chân ông bước đi mà ông không biết chân mình nằm ở đâu, tưởng như người ông lướt trên mặt đất vậy. Ông tưởng như ông không còn là người nữa. Ông biết ông không làm gì được nữa rồi. Những thứ vợ ông cần, ông không có, không thể nào có được.

Tiền bạc, may ra ông có thể trúng số. Nhưng quyền cao chức trọng, cái đó phải có thời gian gầy dựng, phải trúng bè trúng đảng, trúng phe trúng nhóm. Giả tỉ như bây giờ ông có “lon lá” này nọ, chưa chắc ông có thể đứng về phe nầy nhóm kia. Cái đó không thể có ông. Ông không thể lập bè lập nhóm với ai được. Như việc ông đi trưởng ty vậy. Người ta thấy ông có khả năng mà cho ông đi chứ ông không xum xoe che dù, cho lọng cho ai để có thể có một chỗ ngồi ngon.

Sau khi ông mất chức trưởng ty, mấy lần bà vào sở ông làm, khi năn nỉ, khi đay nghiến, khi hậm hực, buộc ông phải ký giấy ly dị. Ban đầu thì ông còn năn nỉ, ông chần chừ, rồi ông hẹn lần hẹn lữa. Cuối cùng thì ông phải chìu bà. Suốt đời ông ta chìu bà, cái gì cũng nghe bà, chìu bà, kể cả việc chìu bà mà ký giấy ly dị cho bà đi lấy chồng khác.

Chiếc xe đã chuẩn bị sẵn sàng, hành lý đã chất lên xe, cột buộc đâu đó rồi, tài xế, chủ xe đã ngồi trên xe, chỉ chờ ông đưa chìa khóa “công tắc” là xe nổ máy lên đường.

Ông không còn ngăn cản được nữa, không năn nỉ gì được nữa, không thể nhắc nhở một chút tình cảm nào, kỷ niệm nào để mong cho người ta hồi tâm suy nghĩ. Ông vẫn cứ trì hoãn, cho đến một ngày ông thúc thủ đầu hàng. Và lúc đó thì ông chỉ còn đứng lại một bên đường, nhìn theo bánh xe lạnh lùng quay tít. Và đám bụi đường cuộn lên mù mịt. Đứng đó, ông chỉ còn ngửi bụi mà thôi. Đám bụi đó đâu phải là “hồng trần”. Xe đó, đâu có gập ghềnh như xe Mã Giám Sinh đưa Kiều về Lâm Chuy. Chiếc xe hơi bóng loáng, đẹp đẽ, chạy trên đường êm như ru; nhưng lòng ông thì sóng gió tơi bời, bão táp ầm ĩ, sấm chớp long trời lỡ đất.

Già Minh, đúng là con người hèn nhát. Ông không có bản lĩnh, mạo hiểm, liều mạng chấp nhận cuộc đời này như một trường đấu tranh ưu thắng liệt bại. Ông đã phủ phục, đã cam chịu, đã đầu hàng. Ông là một võ sĩ hạng bét, thấy đối thủ của mình to con quá, vai u thịt bắp quá mà sợ. Chưa lên võ đài, trọng tài chưa thổi còi, người ta chẳng thấy ông đâu nữa. Ngay cả đối với vợ, ông cũng vậy. Bao giờ ông cũng dành cho bà cái thế chủ động, quyết định mọi việc trong nhà. Sự thụ động đó đã đưa lại kết quả ngày hôm nay.

            Ngày đám cưới – tổ chức tại nhà hàng lớn nhứt Saigon – Bao nhiêu tai to mặt lớn đều có hết, kể cả những nhân vật số 1, số 2 của miền Nam máu lửa nầy. –  Người ta tới chứng kiến việc một người đàn ông giàu có, quyền thế, “cưới” bà vợ của một người đàn ông nghèo hèn.

Ông cho thế là không tình không nghĩa, là cuộc sống của bầy thú hoang theo luật rừng xanh. Con “vật đực” mạnh nhất giành lấy những gì nó muốn; và con “vật cái” ngoan ngoãn phục tùng con “vật đực” mạnh nhất ấy để được sự thụ hưởng, che chở.  Đó là xã hội của bản năng, không phải là xã hội của lý trí, chưa đạt tới tính chất “Người”.

Cô ca sĩ hát bài “Em chỉ yêu anh binh nhì” nhưng chỉ chịu làm đám cưới với ông sĩ quan. Đằng sau cái mà người ta gọi là danh giá, là quyền thế, là giàu có, hiện ra trần truồng một sự thật đáng buồn, đáng ghê sợ: Giống cái tìm sự hưởng thụ và che chở ở giống đực. Đó là bản năng sinh tồn, sự bảo toàn nòi giống, như con ngựa cái đến lúc động cởn, nó sẽ bỏ chạy thật nhanh, chỉ có anh ngựa đực nào chạy nhanh nhất mới  được chọn làm “người hôn phối”.

Đó không phải tình yêu. Người ta chọn một ông chồng giàu, một người có thế lực quyền hành, một người trong tay có binh hùng tướng mạnh, dù cho “làm bé ông lớn còn hơn làm lớn ông bé” thì đó là tình yêu chăng? Già Minh không tin điều ấy. Không có tình yêu thì không có bình đẳng. Đó chỉ là sự lợi dụng lẫn nhau. Người “mạnh” thì muốn có kẻ “nô lệ” để nó phục vụ mình, người “yếu” thì chịu làm nô lệ để được đền bù lại bằng cái mình ham muốn.

            Với già Minh, ông ta yêu vợ thật sự, yêu ghê gớm. Vì vậy, ông vô cùng đau khổ khi mất vợ. Ông gởi xe ở nhà hàng Eden rồi ra ngồi nơi bậc thềm Hạ Viện cũ, để nhìn qua nhà hàng lớn, nơi vợ ông ta và người khác đang làm đám cưới. Phải chi ông còn trẻ một chút, để tâm hồn còn nóng bỏng một chút mà huởng cái “thú dau thương”, để nhìn “em” lên xe hoa về nhà chồng, nhìn xác pháo hồng mà nhớ kỷ niệm xưa.

Trớ trêu hơn, ông đã gần năm chục, tuổi “tri thiên mệnh” rồi. Ông đau khổ, ông nhớ thương, ông tiếc nuối, oán hờn. Nói chung, ruột gan, phèo phổi ông rối oạn lung tung. Chỉ có một điều ông tự hào; ông cúi sát mặt, nói với người bạn trẻ: “Long biết không, bà ấy mặc áo cưới bằng nhung đỏ, không dám mặc nhung trắng.” Rồi ông cười, nói tiếp: “Sáu con rồi, còn gì mà mặc áo trắng!” Giọng nói ông đượm vẻ buồn và tự hào rằng ông là người đến trước.

            Ông còn thương vợ ông lắm. Ông chỉ trách vợ một điều, buộc ông ký giấy ly dị. Nói xấu vợ thì không, không bao giờ ông nói xấu vợ. Tuy nhiên, đối với gia đình nhà vợ, ông chẳng có chút lòng kính trọng, những người ông gọi họ là bọn con buôn.

&

            Kể từ khi chuyển ra trại C, gần đồi Phượng Vĩ cũ – già Minh không cần khai bệnh nữa rồi, bởi vì lúc nầy ông bệnh thật, bệnh dữ lắm! Hình như ba năm nay, người em gái của ông không lên thăm ông nữa. Ban đầu, ông còn trông ngóng. Cứ mỗi lần người coi thăm nuôi bươn bả đi vào trại để gọi tên những người được thăm thì ông còn hướng mắt nhìn người ấy, có khi ông còn bước tới gần người ấy để nghe cho rõ có tên ông hay không.

Rồi dần dần, vẻ trông chờ đó không còn nơi ông nữa. Ông thất vọng, rồi ông tuyệt vọng, tuyệt vọng thật sự.

Tội nghiệp, đời ông nhiều nỗi tuyệt vọng quá! Ba năm nay ông không được thăm nuôi mà đời tù của ông thì dài những gấp đội: Sáu năm. Sáu năm đói khát. Sức thanh niên còn chưa chịu nỗi huống gì một người đã được anh em gọi là già.

Ban đầu, ông chỉ bệnh lai rai, đi muốn té, ngồi không vững. Những người ở chung phòng với ông thì thầm với nhau: “Ông ta không bệnh gì đâu! Ông ta đói quá đấy! Đói quá là yếu đi. Vậy rồi ông nằm liệt giường, liệt chiếu.

“Bác sĩ” Hảo xuống tận nơi xem bệnh cho ông, quyết định đưa ông vào bệnh xá và ông qua đời ở đó vì bệnh “Rối loạn đường tiêu hóa.” Phải chi lúc đó có kẻ từ tâm, đến thăm nuôi hay chia sẻ đồ ăn cho ông mỗi ngày thì ông có thể qua được.

            Già Minh chết rồi, qua lời anh em bàn tán, Long lại thường nhắc tới câu ca dao “Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người.”

Ai đang xây chùa, ai đang xây nhà thờ, có ai nghĩ tới những người như già Minh, lúc nầy đây, ngay giờ phút nầy đây đang đói ăn, đang thèm chén cơm, con cá, miếng rau trong trại tù Cộng Sản.

@

Anh Minh thân mến,

            Mấy tháng trước khi anh qua đời, một sáng chủ nhựt, tôi, anh và anh Phí Ích Bành treo võng nằm chơi ở hội trường. Phí Ích Bành và tôi khẳng định với anh rằng Cộng Sản sẽ sụp đổ.

Anh hỏi bao lâu?

Tôi nói rằng cứ những cái mốc trong lịch sử Việt Nam và thế giới hiện đại, người ta phải tính bằng chục năm: 1945, Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai chấm dứt; 1955, người Mỹ thay chân người Pháp ở Việt Nam; 1965, Mỹ đổ quân trực tiếp tham chiến; 1975, người Mỹ cuốn cờ ra đi. Như vậy, ít ra, năm 1985, Cộng Sản mới chuyển mình, mười năm sau mới thay đổi, và sau năm hai ngàn mới thấy những biến chuyển trọng đại. Anh lên tiếng than: “Dài quá! Sức mình không chờ nỗi.” Rồi anh thở dài. Tội nghiệp cho anh. Anh biết cái chết không còn xa với anh nữa. Con ngựa ký đã gối mỏi chân chồn trên con đường thiên lý.

Anh Minh thân mến,

Thế hệ chúng ta gánh chịu quá nhiều đau khổ, phải không anh? Lịch sử đất nước chúng ta chưa bao giờ trải qua một cuộc chiến tương tàn dai dẳng như cuộc chiến vừa qua: Những ba mươi năm!

Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, chỉ mấy năm là giành được độc lập. Lê Lợi chỉ có “Mười năm bình định giặc Minh”. Lâu dài như “Nam Bắc phân tranh” giữa Trịnh Nguyễn thì đánh nhau cũng chỉ có 7 trận hai bên bờ sông Gianh. Cũng chưa đầy hai mươi năm, Nguyễn Ánh dẹp nhà Tây Sơn, “thống nhất sơn hà.”

Cuộc chiến tranh của thời đại chúng ta là ngu muội nhất. Với sự hỗ trợ từ bên ngoài, vũ khí từ bên ngoài, chúng ta đánh nhau trối chết, giết nhau rất tận tình mà dân tộc chúng ta thì chẳng có lợi gì trong đó cả.

Chúng ta có lý tưởng đấy chứ, sao lại không?

Chúng ta chiến đấu cho Tự Do, nhưng khi cần thì cái gọi là “Thế giới Tự Do” bán đứng chúng ta cho Cộng Sản.

Chúng ta, dân tộc chúng ta gánh chịu nhiều gian lao, nhiều hy sinh để nhân loại thắng Cộng Sản. Đớn đau chính là chỗ đó vậy. Anh đã chết! Nhưng tôi vẫn cứ hỏi anh một điều, từ 1945 đến giờ, gia đình Việt Nam nào không có người chết, nghĩa là người “hy sinh” trong chiến tranh, hoặc sau chiến tranh như anh. Gia đình nào cũng có bàn thờ, thờ một “người lính” đã được “Tổ Quốc Ghi Ơn”.

Gia đình tôi cũng vậy đó anh. Mẹ tôi sinh bốn người con trai. Anh cả tôi bị giết vì chống Pháp, em út tôi, hy sinh trong “Mùa Hè Đỏ Lửa” khi nó dẫn lính về đánh đuổi Cộng Sản ra khỏi cổ thành Quảng Trị, giành lại quê nhà, nơi chôn nhau cắt rún của anh em chúng tôi.

Chúng ta đã hy sinh cho đời, cho dân tộc quá nhiều. Mồ hôi, nước mắt, xương máu và cả tính mạng. Đời cho ta cái gì? Tù tội như tôi hay nằm xuống lòng đất như anh?

Một hôm đi cuốc đất ngang vườn xoài – Nghĩa địa tù, nơi anh nằm lại đó! Tôi ngoái cổ vào cố tìm mộ anh mà không thấy.

Thật ra, thì có nghĩa lý gì đâu một nấm mồ hoang, một nắm xương tàn. Nhưng khi nhìn vào nghĩa trang ấy, tôi thấy lòng tôi thương anh lắm! Mà khóc cho anh thì tôi không còn khóc được nữa. Ngay cả những người bạn tù, khi liệm anh vào hòm, khi khiêng anh đem đi chôn, họ cũng thương anh lắm. Nhưng họ cũng như tôi, khóc cho anh thì họ cũng không thể khóc được. Biết đâu trong số họ, trong số những người tù Cộng Sản, họ cũng mong ước được như anh.

Nằm im trong mấy tấm ván gỗ tạp, thế là khỏe! Khỏe thật sự! Thế là không còn nhớ, không còn thương; cả oán trách, thù hận cũng không!

Anh biết quá rõ cuộc đời nầy là hư ảo, bởi vì đời anh, anh đã qua biết bao nhiêu rối loạn. Thời kháng chiến chống Pháp, không chịu nỗi Việt Minh, bỏ mà về. Đó không phải là sự rối loạn đầu tiên trong đời anh sao?! Năm 1954, di cư vào miền Nam hàng triệu người, đó là sự rối loạn của dân tộc nhưng cũng có anh trong đó. Lại vì sự “Rối loạn miền Trung” như báo chí hồi ấy gọi, anh mất chức trưởng ty. Sự mất chức nầy, anh tiến mà thoái cũng được, nhưng vợ anh thì không. Vợ anh không lùi được. Ngày vợ anh lấy chồng khác, lòng anh “rối loạn” tơi bời. Ba mươi tháng Tư, “rối loạn” cả miền Nam.

Đời anh quá nhiều rối loạn, và anh chết vì sự rối loạn đó, mỗi lúc chết một ít, chứ anh đâu có phải chỉ vì một sự “Rối loạn đường tiêu hóa” để ra người thiên cổ như “bác sĩ” Hảo nói đâu!

Anh Minh thân mến,

Chung trại tù với anh sáu năm, tôi buồn cho anh, thương anh và phục anh nhiều lắm. Thành ra cái chết của anh cứ ám ảnh tôi hoài. Tôi định viết về cuộc đời của anh, ít ra, cũng thời gian chúng ta gặp nhau trong trại tù Cộng Sản. Để làm chi vậy? Tôi có bổn phận hay hứa hẹn gì với anh đâu! Nhưng tôi cứ nghĩ rằng nếu tôi viết được những gì về anh, lòng tôi sẽ nhẹ nhõm lắm, bớt đi những nỗi nhớ, nỗi thương, nỗi tiếc…

Với lại, may ra các con anh ở đâu đấy, chúng nó sẽ đọc bài tôi viết về anh. Chúng sẽ tự hào chứ anh! Có một người cha giữ được tiết tháo của mình, sự trong sạch và đứng đắn của mình, lòng tự trọng và không quì xuống trước mặt kẻ thù cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay trong trại tù Cộng Sản, là điều đáng quí và tự hào lắm.

Hồi còn ở Việt nam, có những buổi chiều buồn, tôi ra ngồi ở  bờ sông Thanh Đa, nhìn ra sông Saigon lững lờ chảy xuôi mà tiếc rằng cuộc đời chúng ta đã không được êm đềm như vậy.

Cuộc đời những thanh niên thuộc thế hệ chúng ta bao giờ cũng cuồn cuộn như thác lũ. Tiếng bom, tiếng đại bác, tiếng súng trường, súng liên thanh, tiếng máy bay, xe tăng gầm thét, bao giờ cũng đánh thức chúng ta dậy, gọi ta đi…

Và chúng ta đã trải qua những đoạn đường binh lửa, thật dài.

Dù tôi không trở lại chiến trường cũ, dù tôi không còn đi ngang nghĩa địa Vườn Xoài, nơi anh còn nằm đó, nhưng trí tôi không bao giờ nguôi được những hình ảnh của cuộc chiến đấu ngày trước với những nỗi băn khoăn, nhớ thương như trong mấy câu thơ Chinh Phụ Ngâm:

                        “Dấu binh lửa nước non như cũ,

                        Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.

                        Phận trai già ruỗi chiến trường,

                        Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về”    

Ôi! Ban Siêu! Nhà ngươi sung sướng hơn ta nhiều lắm!

Bảy mươi tuổi, nhà ngươi đi đánh giặc trở về, và từ đó, ngươi được sống một đời êm ấm. Còn ta? Ta giã từ vũ khí khi ta mới bốn mươi tuổi đầu, bước vào vòng tù tội tính bằng con số “chục” năm và bạn ta thì không bao giờ về, không bao giờ về nữa.

Anh Minh thân mến,

Từ nơi bờ sông Saigon đó, tôi viết được một ít về anh. Tiếc thay, bọn Cộng Sản đã đến nhà kiếm tôi, khiến tôi phải bỏ bản thảo mà chạy lấy thân.

Nay ở trên bờ biển đảo Bidong nầy, vẫn một nỗi ray rứt như ngày trước, không một chút nguôi ngoai, không bớt đi một chút nào, tôi lại viết về anh. Tôi biết chắc chẳng có đứa nào dám đến tịch thu bản thảo của tôi một lần thứ hai nữa./

hoànglonghải

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

2 Comments on hoànglonghải – Vết Nám (Bài 27) Rối loạn đường tiêu hóa!

  1. Bài này hay quá đi, giống như một bài thơ, nhất là ở đoạn sau.

    Cám ơn anh nhiều đã cho đọc một bài rất cảm động.
    Nguyễn Châu
    Tokyo

    Số lượt thích

  2. Bài này hay quá đi, giống như một bài thơ, nhất là ở đoạn sau.

    Cám ơn anh nhiều đã cho đọc một bài rất cảm động.
    Nguyễn Châu
    Tokyo

    Số lượt thích

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: